ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Là người Người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên, hiện đang sinh sống tại Quận Tây Hồ ít nhất 12 tháng trở lên, đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Người không có khả năng giao tiếp trực tiếp
+ Có các rối loạn về tâm thần, không minh mẫn
Chúng tôi đã tiến hành thảo luận nhóm với 6 người cao tuổi (NCT) để tìm hiểu thêm về nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) tại nhà của họ.
Tiêu chí lựa chọn cho phỏng vấn bao gồm tình trạng sức khỏe cho phép, khả năng nghe rõ, và không mắc các bệnh tâm thần hay rối loạn trí nhớ Chúng tôi đã chọn 6 người cao tuổi tham gia phỏng vấn định tính, được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm gồm 3 người.
Nhóm 1: NCT đã từng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
Nhóm 2: NCT chưa từng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 8 năm 2016
Quận Tây Hồ - Thành phố Hà Nội
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính
2.1.2.4 Cỡ mẫu và cách chọn mẫu:
Cỡ mẫu: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho việc ước tính một tỷ lệ
N: cỡ mẫu nhỏ nhất phải đạt được
P: tỷ lệ có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ở người cao tuổi tại nhà 0,87 (87%), dựa theo kết quả nghiên cứu của Hoàng Trung Kiên tại Đông Anh, Hà Nội [20]
Để tính cỡ mẫu cho nghiên cứu với mức độ tin cậy 95%, ta sử dụng giá trị Z 2 1 - α/2 là 1,96 Mức độ sai số chấp nhận được được chọn là d = 0,04, dẫn đến cỡ mẫu n = 270 Ngoài ra, để dự phòng cho 10% người tham gia có thể bỏ cuộc hoặc từ chối phỏng vấn, cỡ mẫu cuối cùng được điều chỉnh lên 297, và làm tròn thành 300 người.
Phương pháp chọn ngẫu nhiên nhiều giai đoạn:
Bước 1: Lập danh sách toàn bộ 8 phường của quận Tây Hồ, bốc thăm ngẫu nhiên 2 phường trong danh sách, chọn được phường Bưởi và phường Thụy Khuê
Trong bước 2, cần lập danh sách tất cả các tổ dân phố theo địa bàn hành chính của từng phường Sau đó, tiến hành bốc thăm ngẫu nhiên 2 tổ dân phố từ mỗi phường, tổng cộng sẽ chọn ra 4 tổ Cuối cùng, lập danh sách toàn bộ người già từ Chi hội người cao tuổi của Phường Bưởi và phường Thụy Khuê trong các tổ đã chọn.
Tổ dân cư số 2 : 128 NCT
Tổ dân cư số 32: 104 NCT
Tổ dân cư số 7: 113 NCT
Tổ dân cư số 11: 98 NCT
Bắt đầu thu thập thông tin từ đối tượng đầu tiên trong danh sách dưới sự hướng dẫn của đại diện Chi hội người cao tuổi mỗi phường Chọn đối tượng theo phương pháp “nhà liền nhà” cho đến khi đủ 75 người trong mỗi tổ Nghiên cứu chỉ lựa chọn những người cao tuổi có khả năng tự trả lời phỏng vấn Nếu không gặp được đối tượng tại nhà, sẽ bỏ qua và tiếp tục đến nhà tiếp theo trong danh sách.
2.1.2.5 Phương pháp thu thập số liệu:
Bước 1: Xây dựng, thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu
- Xây dựng bộ câu hỏi phỏng vấn NCT dựa trên bộ công cụ (Phụ lục 1)
Thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu là bước quan trọng; sau khi bộ câu hỏi được xây dựng, cần tiến hành điều tra thử với 10 NCT để đánh giá tính khả thi Dựa trên phản hồi từ cuộc thử nghiệm, nội dung bộ câu hỏi sẽ được chỉnh sửa cho phù hợp trước khi tổ chức tập huấn và thực hiện điều tra chính thức.
Bước 2: Tập huấn (nội dung thu thập số liệu)
Nội dung tập huấn cho điều tra viên:
+ Mục đích cuộc điều tra
+ Kỹ năng kỹ năng phỏng vấn và điều tra nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà NCT và làm việc với cộng đồng
Bước 3: Điều tra, giám sát
- Giám sát: Là nghiên cứu viên
- Dẫn đường: 04 người là đại diện hội người cao tuổi tại 2 phường Tây Hồ và Bưởi
- Thời gian: Điều tra trong 7 ngày (chia làm 02 buổi: buổi sáng và buổi chiều)
- Tiến hành điều tra: Các nhóm nhận phiếu điều tra và danh sách NCT, địa chỉ, sau đó tiến hành điều tra tại thực địa
Bước 4: Thu thập phiếu điều tra
Sau mỗi buổi điều tra, các nhóm cần nộp phiếu điều tra cho GSV để kiểm tra và quản lý số lượng cũng như chất lượng của phiếu Nếu phát hiện thiếu sót, ĐTV sẽ được yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh các phiếu điều tra.
Trong quá trình thu thập dữ liệu, điều tra viên lập danh sách ứng viên phù hợp dựa trên tiêu chí lựa chọn mẫu định tính và mời họ tham gia phỏng vấn sâu Sau khi hoàn tất việc thu thập số liệu định lượng, nghiên cứu viên sẽ liên lạc với người tham gia (NCT) để hẹn ngày phỏng vấn Các cuộc phỏng vấn được thực hiện tại nhà của NCT, kéo dài khoảng 30 phút, dựa trên các chủ đề trong hướng dẫn phỏng vấn sâu (PVS) đã được xây dựng.
2.1.2.6 Biến số nghiên cứu, các khái niệm dùng trong nghiên cứu: (Phụ lục 6) 2.1.2.7 Phương pháp phân tích số liệu Định lượng:
Quản lý số liệu là một bước quan trọng trong nghiên cứu, trong đó các phiếu điều tra được kiểm tra kỹ lưỡng trước khi tiến hành làm sạch và mã hóa Dữ liệu được nhập vào bằng phần mềm Epidata 3.1 và được xử lý bằng phần mềm SPSS 22.0.
Phân tích số liệu: Kết quả phân tích được chia làm 2 phần:
Mô tả các đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng, tình trạng sức khỏe và nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà
Xác định mối liên hệ giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà và các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu thông qua kiểm định khi bình phương với mức độ tin cậy 95% và α = 0,05.
Sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến và đưa các biến có mối liên quan vào mô hình hồi quy Định tính:
Các số liệu định tính sẽ được mã hóa, phân tích và tổng hợp theo các chủ đề cụ thể Những ý kiến phù hợp sẽ được chọn lọc để trích dẫn, nhằm minh họa cho kết quả nghiên cứu.
2.1.2.8 Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục:
Do hạn chế về nguồn lực và thời gian, nghiên cứu chỉ thực hiện được ở một số phường nên chưa thể khái quát được toàn bộ Quận Tây Hồ
Trong nghiên cứu này, sai số chủ yếu là sai số chọn mẫu và sai số do thu thập số liệu Cỡ mẫu được tính toán dựa trên số liệu đại diện cao từ điều tra dịch tễ học về người cao tuổi, đồng thời dự phòng trường hợp bỏ cuộc và không hợp tác Khung mẫu được xây dựng với sự hỗ trợ của y tế địa phương và cộng đồng, và việc lựa chọn cá nhân tham gia nghiên cứu định tính được thực hiện theo quy trình đúng Tuy nhiên, do chưa có định nghĩa rõ ràng và không thể đo lường chính xác khả năng nghe, nói, đi lại, ăn uống của đối tượng, có thể dẫn đến việc họ trả lời không chính xác về sức khỏe bản thân Để khắc phục sai số thu thập thông tin tại thực địa, nhóm nghiên cứu đã thực hiện các biện pháp cần thiết.
Bộ công cụ được thiết kế đơn giản và dễ hiểu, với nội dung sắp xếp một cách logic Trước khi sử dụng, các nội dung đã được thử nghiệm và điều chỉnh để phù hợp với thực tế, đảm bảo câu văn dễ hiểu cho người cao tuổi.
Trong buổi tập huấn, các điều tra viên (ĐTV) được hướng dẫn cách xác định đúng đối tượng nghiên cứu và sử dụng bộ công cụ hiệu quả Nghiên cứu viên đã giải đáp các thắc mắc liên quan đến mục tiêu nghiên cứu, phương pháp tiếp cận đối tượng, và bộ câu hỏi Đồng thời, các tình huống có thể phát sinh từ phía đối tượng trong quá trình thu thập dữ liệu cũng được thảo luận để tìm ra cách giải quyết phù hợp.
2.1.2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Tuân thủ các nguyên tắc, các bước của Hội đồng đạo đức
Nghiên cứu cộng đồng được thực hiện dựa trên sự tự nguyện của người cao tuổi (NCT) và có sự đồng ý của các cấp ủy đảng, chính quyền và ngành y tế địa phương Nghiên cứu không tác động trực tiếp đến đối tượng tham gia và kết quả sẽ được trình bày cho chính quyền huyện, xã, cũng như thông báo cho NCT và cộng đồng Không có can thiệp nào ảnh hưởng đến sức khỏe của NCT, và những người không đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ không bị đối xử khác biệt.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung
Bảng 3.1 – Thông tin đối tượng nghiên cứu (n = 300) Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần suất Tỷ lệ %
Từ sơ cấp trở lên* 34 11,3
*Trình độ từ sơ cấp trở lên gồm sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, ĐH và sau ĐH
Ly thân/ Ly dị/Góa/Chưa lập gia đình 28 9,3
*Cháu, họ hàng, độc thân
Nguồn thu nhập hiện tại
Sống dựa vào lương hưu 132 44
Sống dựa vào con cái 76 25,3
Chỉ có tiền tiết kiệm 31 10,3
Tham gia các hoạt động xã hội
Hiếm khi, không bao giờ 81 27
Trong nghiên cứu với 300 người cao tuổi, tỷ lệ nam và nữ gần như tương đương (nam 50,3%, nữ 49,7%) Nhóm tuổi từ 60 – 64 chiếm tỷ lệ cao nhất (39%), tiếp theo là nhóm 65 – 69 (26,3%) và từ 70 tuổi trở lên (34,7%) Đối tượng nghiên cứu chủ yếu có trình độ học vấn dưới tiểu học (42,7%), tiếp theo là THPT (26%), THCS (20%) và thấp nhất là từ sơ cấp trở lên (11,3%) Nghề nghiệp trước đây của người cao tuổi ở quận Tây Hồ chủ yếu là cán bộ, viên chức nghỉ hưu (41%), với 90,7% đã kết hôn và 35,3% sống cùng bạn đời.
Theo đánh giá của người cao tuổi, mức sống hiện tại chủ yếu được xem là vừa đủ, chiếm 86%, trong khi đó, tỷ lệ người cảm thấy sung túc và giàu có chỉ đạt 10,7%, và 3,3% cho rằng họ đang sống trong tình trạng thiếu thốn Mặc dù đã đến tuổi nghỉ hưu, vẫn có 20,3% người cao tuổi tiếp tục tham gia lao động.
HUPH hiện tại chủ yếu dựa vào lương hưu (44%), sự hỗ trợ từ con cái (25,3%) và tiền tiết kiệm (10,3%) Phong trào hoạt động xã hội dành cho người cao tuổi là thế mạnh của hội người cao tuổi quận Tây Hồ, với 14,3% người cao tuổi tham gia thường xuyên và 58,7% tham gia thỉnh thoảng.
Bảng 3.2 – Phân bố tình trạng sử dụng các chất kích thích của NCT Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần suất Tỷ lệ % Thuốc lá
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy 25% NCT sử sử dụng thuốc lá thường xuyên và 18% NCT sử dụng thường xuyên bia rượu
Tình trạng sức khỏe và thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người
3.2.1 Tình trạng sức khỏe người cao tuổi:
Bảng 3.3 - Phân bố tình trạng sức khỏe người cao tuổi ( n = 300) Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần suất Tỷ lệ %
Bệnh tật gây ảnh hưởng sinh hoạt
Khó Khăn/Không đi lại được 53 17,7
Tình trạng nghe Nghe bình thường 253 84,3
Tình trạng nhìn Bình thường 207 69
Sức khỏe tinh thần của người cao tuổi chủ yếu bị ảnh hưởng bởi bệnh tật, chiếm tới 71,8% Các bệnh thường gặp bao gồm bệnh nội tiết – chuyển hóa (25%), bệnh xương khớp (24%), bệnh tim mạch (21,3%) và chấn thương (0,3%) Những bệnh này tác động đến khả năng vận động (17,7%), tình trạng nhai nuốt (18,3%), khả năng nghe (15,7%) và khả năng nhìn (31%) Do đó, 73,3% người cao tuổi nhận thấy rằng các bệnh này ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt hàng ngày của họ.
Bảng 3.4 – Phân bố trung bình số bệnh mắc phải của NCT (n00)
Trung bình số bệnh mắc phải Tần suất Tỷ lệ %
Chỉ có 8,3% người cao tuổi mắc từ 3 bệnh trở lên, trong khi 43,7% chỉ mắc 1 bệnh và 14,7% mắc 2 bệnh Đáng chú ý, 33,3% người cao tuổi lại cho rằng họ không mắc bệnh, điều này phản ánh sự đánh giá chủ quan của họ về tình trạng sức khỏe.
3.2.2 Thực trạng sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh của người cao tuổi:
Bảng 3.4 – Tình hình sử dụng dịch vụ y tế 6 tháng qua của người cao tuổi
(n00) Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần suất Tỷ lệ % Khám bệnh trong 6 tháng qua
Lý do khám bệnh trong 6 tháng qua
Số lần khám bệnh trong 6 thang qua
Trong 6 tháng vừa qua 47,7% người cao tuổi ít nhất một phải đi đến cơ sở y tế để khám/điều trị bệnh Lý do phải đi đến CSYT do phải cấp cứu chiếm 9,1%, chủ yếu vẫn là đi khám định kỳ để lấy thuốc do mắc các bệnh mãn tính (70,6%), khám theo hẹn của thầy thuốc (17,5%) Số lần khám từ 1 – 2 lần trong 6 tháng qua chiếm 79,7% và từ 3 lần trở lên chiếm 20,3%
Cô, 65 tuổi, hiện đang điều trị huyết áp cao nhẹ theo chỉ định của bác sĩ, nhưng tình trạng sức khỏe của cô vẫn bình thường.
Bác đã mắc bệnh huyết áp cao hơn 15 năm và hiện đang sử dụng thuốc theo đơn cũng như được theo dõi bởi một giáo sư nổi tiếng trong lĩnh vực Tim Mạch.
Bảng 3.5 – Phân bổ đặc điểm cơ sở Y tế do NCT lựa chọn (n00) Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần suất Tỷ lệ % Khoảng cách đến
CSYT thường xuyên khám/điều trị bệnh
Rất xa/Xa ( > 10km) 104 34,7 Bình thường ( từ 5 đến 10km) 124 41,3
Nơi khám/điều trị bệnh
Bệnh viện Thành phố/TW 119 39,7
Mua thuốc tự điều trị 39 13 Đông y /thầy lang 11 3,7
Khi người cao tuổi tự đánh giá khoảng cách đến cơ sở y tế mong muốn, 41,3% cho biết khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế là từ 5-10 km, trong khi 34,7% cho rằng khoảng cách rất xa hoặc xa Nghiên cứu tại Hà Nội cho thấy 39,7% người cao tuổi chọn các bệnh viện lớn để khám và điều trị, trong khi 28% lựa chọn y tế tư nhân.
Cô, 65 tuổi, trước đây thường khám tại phòng khám số 10 Trường Chinh, nhưng hiện nay đã chuyển sang Bệnh viện Đa khoa MEDLATEC để được kiểm tra và điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa.
Chú thường xuyên khám sức khỏe định kỳ tại các bệnh viện tư nhân như Thu Cúc, Hồng Ngọc và MEDLATEC Tuy nhiên, khi cần điều trị nội trú, chú chọn Bệnh viện Bạch Mai, vì chú ưu tiên chất lượng chuyên môn và dịch vụ chu đáo, không quan trọng khoảng cách.
Bảng 3.6 – Phân bổ tỷ lệ lý do lựa chọn CSYT khám bệnh (n00) Đặc điểm đối tượng nghiên cứu Tần suất Tỷ lệ %
Giá cả chấp nhận được 59 19,7 Được miễn phí 50 16,7
Thái độ phục vụ tốt 84 28
Chất lượng chuyên môn tốt 76 25,3
Lý do lựa chọn các cơ sở này do chất lượng chuyên môn tốt (25,3%), thái độ phục vụ tốt (28%), giá cả chấp nhận được (19,7%)
Sau khi được bác sĩ tư vấn về cơ sở y tế uy tín tại Hà Nội, cô đã quyết định trải nghiệm dịch vụ của MEDLATEC Sau nhiều lần sử dụng, cô cảm thấy tin tưởng vào chất lượng dịch vụ, sự tiếp đón thân thiện của nhân viên y tế, cũng như thái độ phục vụ dễ chịu của điều dưỡng và sự tận tình của các bác sĩ.
“ Chị thấy cở sở đấy chất lượng tốt, thuận tiện , nhân viên nhiệt tình “ ( Người cao tuổi, 61 tuổi)
3.2.3 Nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSK tại nhà :
Biều đồ 3.1- Tỷ lệ NCT từng nghe và sử dụng dịch vụ CSSK tại nhà (n00)
Tại quận Tây Hồ, 41,7% người cao tuổi đã từng nghe về dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, trong khi 31,7% đã sử dụng dịch vụ này ít nhất một lần.
“Bác có nghe qua do cán bộ y tế tại bệnh viện giới thiệu” (Người cao tuổi, 72 tuổi)
“ Có nghe thấy dịch vụ CSSK tại nhà , nhưng chưa hiểu nội dung cụ thể” ( Người giám hộ, nữ, 42 tuổi)
Biểu đồ 3.2 – Phân bố nguồn thông tin về DV CSSK tại nhà của NCT (n)
Trong số 31,7% người đã từng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, nguồn thông tin chủ yếu đến từ người thân và bạn bè (71,6%) Tiếp theo là cán bộ y tế (20%), sách báo (16,8%), và thấp nhất là đài và radio (4,2%).
“ Bác được một bác sỹ giới thiệu” ( Người cao tuổi, 72 tuổi)
Bảng 3.7 – Phân bố lý do sử dụng DV CSSK tại nhà (n)
Lý do Tần số Tỷ lệ
Khó khăn trong việc đi đến cơ sở y tế 27 28,4
Không có người chăm sóc 6 6,3
Tình trạng bệnh chưa đến mức phải đến bệnh viện 23 24,2 Hài lòng với chất lượng CS trước đây nên tiếp tục sử dụng 41 43,2
Người cao tuổi chọn dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà chủ yếu vì tiết kiệm thời gian (74,7%) và không phải chờ đợi khi đến cơ sở y tế Họ cũng tiếp tục sử dụng dịch vụ này do đã hài lòng với chất lượng chăm sóc trước đó (43,2%) Ngoài ra, một số lý do khác bao gồm khó khăn trong việc đến cơ sở y tế (28,4%), tình trạng bệnh chưa nghiêm trọng đến mức phải vào bệnh viện (24,2%), và một phần nhỏ (6,3%) chọn dịch vụ này vì không có người chăm sóc.
Cô vừa trải qua phẫu thuật ruột thừa và không thể di chuyển Cô đánh giá cao mô hình bác sĩ gia đình đến tận nhà để khám và chăm sóc bệnh nhân, vì điều này mang lại sự thuận tiện lớn, đặc biệt cho những người đang trong tình trạng ốm nặng hoặc gặp khó khăn trong việc di chuyển.
Bác sĩ gia đình cung cấp dịch vụ khám và chăm sóc sức khỏe cho các thành viên trong gia đình ngay tại nhà, giúp người cao tuổi, như những người 72 tuổi, không cần phải đến bệnh viện như trước đây.
Bảng 3.8- Phân bố loại hình DV CSSK tại nhà người cao tuổi đã từng sử dụng
Loại hình dịch vụ Tần số Tỷ lệ
Khám/điều trị bệnh chuyên khoa 19 20
Chăm sóc sau điều trị 6 6,3
Chăm sóc điều dưỡng tại nhà 7 7,4
Lấy bệnh phẩm xét nghiệm, siêu âm 77 81,1
Tư vấn sức khỏe/phòng bệnh/chữa bệnh 5 5,3
Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà được người cao tuổi ưa chuộng bao gồm lấy mẫu bệnh phẩm (81,1%), chiếm tỷ lệ cao nhất, tiếp theo là khám và điều trị bệnh chuyên khoa (20%), cùng với một số hình thức dịch vụ khác.
Bảng 3.9 - Phân bố quan điểm của người cao tuổi về thái độ phục vụ, chất lượng dịch vụ, giá cả của dịch vụ CSSK tại nhà (n)
Quan điểm Tần suất Tỷ lệ %
Về thái độ phục vụ của NVYT chăm sóc tại nhà
Rất hài lòng/hài lòng 94 98,9
Về chất lượng dịch vụ CSSK tại nhà
Về giá cả dịch vụ CSSK tại nhà Đắt 21 22,1
Mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi với một số yếu tố cá nhân, tiền sử sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
3.3.1 Mối liên quan đơn biến giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi với một số yếu tố cá nhân, tiền sử sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe:
Bảng 3.12 trình bày mối liên quan giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi với một số yếu tố nhân khẩu học Các đặc điểm này có thể ảnh hưởng đến quyết định và mức độ sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi.
Có nhu cầu Không có nhu cầu OR p n % n %
Nghiên cứu về nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi tại quận Tây Hồ cho thấy nhóm tuổi 65-69 có nhu cầu chỉ bằng 0,401 lần so với nhóm 60-65 tuổi, trong khi nhóm từ 70 tuổi trở lên chỉ bằng 0,492 lần Đối với trình độ học vấn, người có học vấn dưới THPT có nhu cầu chỉ gấp 0,307 lần so với nhóm có trình độ từ THPT trở lên Đặc biệt, người cao tuổi là cán bộ, viên chức về hưu có nhu cầu sử dụng dịch vụ này cao gấp 3,455 lần so với nhóm nghề khác Tuy nhiên, tình trạng hôn nhân và giới tính không có mối liên quan rõ ràng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe tại nhà.
Cán bộ, công nhân viên chức
Tình trạng hôn nhân Đã kết hôn 191 94,6 87 88,8
Ly thân/ Ly dị/Góa/Chưa lập gia đình
Bảng 3.11 trình bày mối liên quan đơn biến giữa nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà của người cao tuổi với tình trạng khám bệnh trong 6 tháng qua và tình trạng sức khỏe (n00).
Những người cao tuổi đã đi khám bệnh trong 6 tháng qua có nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà cao gấp 2,69 lần so với nhóm không khám bệnh, với kết quả có ý nghĩa thống kê (p