Nghiên cứu định tính với 5 cuộc phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp tổng hợp- Vật tư thiết bị y tế, 02 Điều dưỡng trưởng khoa sử dụng, 01 nhân viên thiết bị
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
====== ======
TRẦM QUANG VINH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ SỬ DỤNG, BẢO DƯỠNG- SỬA CHỮA TRANG THIẾT BỊ
Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TIM MẠCH AN GIANG NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
Hà Nội, 2022HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
====== ======
TRẦM QUANG VINH
THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ SỬ DỤNG, BẢO DƯỠNG- SỬA CHỮA TRANG THIẾT BỊ
Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN TIM MẠCH AN GIANG NĂM 2021
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ NGỌC CỦA
Hà Nội, 2022 HUPH
Trang 3MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm và phân loại trang thiết bị y tế 4
1.1.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế 4
1.1.2 Phân loại TTBYT 5
1.2 Nội dung quản lý TTBYT 7
1.2.1 Quản lý đầu tư TTBYT 8
1.2.2 Quản lý thực trạng TTBYT 8
1.2.3 Quản lý sử dụng TTBYT 9
1.2.4 Quản lý bảo dưỡng- sửa chữa TTBYT 10
1.3 Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa TTB 10
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới 10
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước 12
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa TTBYT 13
1.4.1 Yếu tố bên ngoài 13
1.4.2 Yếu tố bên trong 21
1.5 Giới thiệu về Bệnh viện Tim mạch An Giang 26
1.6 Khung lý thuyết 27
2 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Nghiên cứu định lượng 28
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 28
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ 28
2.2 Nghiên cứu định tính 28
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn 28
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ 29
HUPH
Trang 42.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 29
2.4 Thiết kế nghiên cứu 29
2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 29
2.5.1 Nghiên cứu định lượng 29
2.5.2 Nghiên cứu định tính 30
2.6 Phương pháp thu thập số liệu 31
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng 31
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính 31
2.7 Các biến số trong nghiên cứu 32
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá 34
2.9 Xử lý và phân tích số liệu 34
2.9.1 Đối với số liệu định lượng 34
2.9.2 Đối với số liệu định tính 34
2.10 Đạo đức nghiên cứu 34
3 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Mô tả thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa trang thiết bị y tế tại BVTM An Giang năm 2021 36
3.1.1 Thực trạng về số lượng TTB tại các khoa 36
3.1.2 Thực trạng về điều kiện lắp đặt, an toàn sử dụng 40
3.1.3 Thực trạng TTB về tần suất sử dụng 43
3.1.4 Thực trạng quản lý hồ sơ TTB 45
3.1.5 Thực trạng quản lý sử dụng TTB 46
3.1.6 Thực trạng quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTB 49
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa tại bệnh viện Tim mạch An Giang năm 2021 53
3.2.1 Yếu tố bên ngoài Bệnh viện 53
3.2.2 Yếu tố trong Bệnh viện 58
4 CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 64
4.1 Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa trang thiết bị y tế 64
4.1.1 Số lượng, thời gian sử dụng, tình trạng của TTB 64
HUPH
Trang 54.1.2 Điều kiện lắp đặt, an toàn sử dụng TTB 65
4.1.3 Tần suất sử dụng TTB 66
4.1.4 Hồ sơ TTB 67
4.1.5 Tình hình bảo dưỡng, sửa chữa 69
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng 70
4.2.1 Yếu tố bên ngoài BV 70
4.2.2 Yếu tố bên trong 73
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 78
KẾT LUẬN 80
KHUYẾN NGHỊ 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 86
Phụ lục 1: Đánh giá tình hình quản lý sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa TTB tại khoa 86
Phụ lục 2: PVS Phó Giám đốc bệnh viện 90
Phụ lục 3: PVS Trưởng phòng KHTH- VT TBYT 92
Phụ lục 4: PVS Nhân viên TBYT 94
Phụ lục 5: PVS điều dưỡng trưởng khoa HSTC 96
Phụ lục 6: PVS điều dưỡng trưởng khoa PTT 98
Phụ lục 7: Thảo luận nhóm 1- Khoa CĐHA 101
Phụ lục 8: Thảo luận nhóm 2- Khoa XN 104
Phụ lục 9: Danh mục TTB theo tiêu chuẩn, định mức 106
Phụ lục 10: Danh mục TTBYT trong nghiên cứu 107 Phụ lục 11: Các biến số trong nghiên cứu 110 HUPH
Trang 6HUPH
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Số lượng TTB tại các khoa 36
Bảng 3 2 Thực trạng TTB tại các khoa theo thời gian sử dụng 37
Bảng 3 3 Thực trạng TTB tại các khoa theo tình trạng hoạt động 39
Bảng 3 4 Thực trạng TTB theo điều kiện lắp đặt, an toàn sử dụng 40
Bảng 3 5 Đánh giá chung thực trạng TTB tại các khoa đạt điều kiện lắp đặt, an toàn sử dụng theo tiêu chí chung 42
Bảng 3 6 Thực trạng tần suất sử dụng TTBYT tại các khoa 43
Bảng 3 7 Thực trạng quản lý, lưu giữ hồ sơ TTB 45
Bảng 3 8 Thực trạng về bàn giao, HDSD, cung ứng vật tư, phụ kiện TTB 46
Bảng 3 9 Tuân thủ quy định quản lý sử dụng TTB tại khoa 46
Bảng 3 10 Nhân viên y tế kiểm tra TTB trước khi sử dụng 47
Bảng 3 11 Đào tạo sử dụng nâng cao/ Đào tạo lại cho nhân viên y tế 48
Bảng 3 12 Thực trạng bảo dưỡng TTBYT tại các khoa sử dụng 49
Bảng 3 13 Tình trạng TTB được bảo dưỡng định kỳ trong thời gian bảo hành 49
Bảng 3 14 Các TTB được ký hợp đồng bảo dưỡng trong năm 2021 50
Bảng 3 15 Nhân sự bảo dưỡng thiết bị 51
Bảng 3 16 Thực trạng sửa chữa TTB tại các khoa trong năm 51
Bảng 3 17 Bảng kinh phí sử dụng cho TTB trong năm 2020 62
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Tỷ lệ TTB giá trị từ 500 triệu trong số TTB tại các khoa 36
HUPH
Trang 8TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trang thiết bị y tế góp phần quan trọng trong công tác thăm khám và điều trị tại các bệnh viện Quản lý trang thiết bị y tế gồm 04 nội dung cơ bản, trong đó nâng cao khả năng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa là yếu tố ít hao tốn tài lực cũng như sức lực nhất nhưng mang lại hiệu quả to lớn nhất trong việc luôn bảo đảm thiết bị ở tình trạng sẵn sàng hoạt động Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Tim mạch
An Giang với 2 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa trang thiết bị y tế tại bệnh viện Tim mạch An Giang năm 2021 (2) Phân tích một số
yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa tại bệnh viện Tim mạch
An Giang năm 2021
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định lượng tiến hành trước, nghiên cứu định tính tiến hành sau để bổ sung giải thích cho kết quả nghiên cứu định lượng Phần định lượng mô tả tình hình quản lý sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa toàn bộ trang thiết bị có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên (55 thiết bị) trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 8 năm 2021 Nghiên cứu định tính với 5 cuộc phỏng vấn sâu (lãnh đạo bệnh viện, trưởng phòng Kế hoạch tổng hợp tổng hợp- Vật
tư thiết bị y tế, 02 Điều dưỡng trưởng khoa sử dụng, 01 nhân viên thiết bị y tế); 02 cuộc thảo luận nhóm với khoa Chẩn đoán hình ảnh và khoa Xét nghiệm để tập trung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình quản lý sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị
Kết quả nghiên cứu cho thấy100% thiết bị: lưu giữ đầy đủ hồ sơ kỹ thuật, có biên bản bàn giao, được đào tạo tập huấn sử dụng, lý lịch máy, các công ty/ hãng cung cấp đầy đủ vật tư, phụ kiện, linh kiện khi bệnh viện có nhu cầu Tuy nhiên, có đến 69,09% chưa có nhật ký sử dụng, sử dụng trên 10 năm là 5,45% thiết bị có bảo dưỡng định kỳ chiếm 34.55%; có 24/55 thiết bị chưa đảm bảo đầy đủ điều kiện an toàn theo khuyến cáo của hãng sản xuất
Nghiên cứu cho thấy có 1 số yếu tố từ bên trong và bên ngoài bệnh viện đều có ảnh đến công tác quản lý sử dụng, bảo dưỡng, sửa chữa gồm: cơ chế chính sách, đơn
vị cung cấp, điều hành quản lý, nhân lực, kinh phí cho hoạt động quản lý sử dụng,
HUPH
Trang 9bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị Trong đó có một số thuận lợi gồm: (1) Phòng Kế hoạch tổng hợp- Vật tư thiết bị y tế thường xuyên cập nhật và triển khai các văn bản pháp luật trong quản lý trang thiết bị, (2) các đơn vị cung cấp tuân thủ các quy định khi bàn giao, dịch vụ bảo dưỡng- sửa chữa đáp ứng kịp thời khi bệnh viện có yêu cầu, (3) trang thiết bị tại các khoa đều được phân công nhân sự phụ trách, thiết bị được vệ sinh bên ngoài sạch sẽ, bảng hướng dẫn sử dụng luôn luôn đặt bên cạnh thiết bị Tuy nhiên cũng có một số khó khăn: (1) bệnh viện chưa thành lập phòng Vật tư thiết bị y
tế nên công tác quản lý trang thiết bị chưa được triển khai đầy đủ về chức năng và quyền hạn, nhân sự chuyên ngành trang thiết bị còn hạn chế, chưa có khả năng bảo dưỡng sửa chữa các thiết bị kỹ thuật cao (2) bệnh viện chưa tổ chức các buổi tập huấn
về sử dụng, quản lý sử dụng cho nhân viên y tế tại các khoa hàng năm (3) Có 24 thiết
bị chưa tương thích dây để đảm bảo đầy đủ điều kiện an toàn theo khuyến cáo của hãng sản xuất (4) bệnh viện chưa chủ động kinh phí bảo dưỡng định kỳ trang thiết
bị hàng năm
Bệnh viện cần tiếp tục thực hiện đầy đủ và chặt chẽ các nguyên tắc, quy định
về quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa trang thiết bị Bổ sung kinh phí để bảo dưỡng trang thiết bị hàng năm, bổ sung nhân sự kỹ thuật chuyên ngành thiết bị y tế
để có thể bảo dưỡng- sửa chữa, không phụ thuộc hoàn toàn vào đơn vị cung cấp
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang thiết bị y tế (TTBYT) là một loại hàng hóa đặc biệt có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người; là một trong những yếu tố quan trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ cho người thầy thuốc trong chẩn đoán, điều trị bệnh nhân được chính xác, nhanh chóng, an toàn và hiệu quả Nghị định số 36/2016/NĐ-CP (1) được ban hành ngày 15/ 05/ 2016, đây là văn bản pháp luật cao nhất trong lĩnh vực TTBYT, thừa kế một số nội dung về chính sách quốc gia về TTBYT theo xu hướng hội nhập quốc tế và khu vực nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý TTBYT của nước ta hiện nay và trong những năm sắp tới
Quản lý TTBYT gồm 04 nội dung chính: (1) Quản lý đầu tư; (2) Quản lý thực trạng; (3) Quản lý sử dụng; (4) Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa Trong đó, quản lý sử dụng hiệu quả dựa vào tần suất sử dụng TTB, điều kiện lắp đặt, hoạt động, cán bộ chuyên ngành kỹ thuật TBYT, quản lý bảo dưỡng- sửa chữa cần nắm rõ chu kỳ vật
tư, phụ tùng thay thế, kế hoạch bảo dưỡng, xác định đúng mức độ hư hỏng, nguyên nhân, biện pháp khắc phục
Hiện nay, mỗi bệnh viện dựa trên những quy định chung, quy chế bệnh viện và các quy định liên quan quản lý tài sản để thực hiện quản lý TTBYT Điều này thật sự chưa đầy đủ và chưa có được tính thống nhất cao cho các cơ sở y tế thực hiện Nghiên cứu của Phạm Mạnh Tiến (2) về thực trạng TTB chẩn đoán tại khoa CĐHA và khoa
XN hóa sinh BV Nhi đồng 1 năm 2017 cho thấy 26.83% TTB tại khoa CĐHA và 5.9% TTB tại khoa XN hóa sinh không sử dụng Nghiên cứu của Bùi Việt Dũng (3)
về thực trạng hoạt động vận hành, theo dõi, bảo dưỡng, sửa chữa một số TTB tại bệnh viện E năm 2018 cho thấy tỷ lệ TTB được phân công quản lý trực tiếp đạt 77.4%, 100% TTB được bảo trì định kỳ mỗi năm, 92.5% các TTB có sẵn vật tư, phụ tùng trong kho là yếu tố thuận lợi nên có thể xử lý nhanh chóng và hiệu quả các trường hợp hư hỏng TTB
Bệnh viện Tim mạch An Giang (BVTMAG) là bệnh viện chuyên khoa hạng 2 tuyến tỉnh Hiện nay, bệnh viện đang được đầu tư cải tạo, mở rộng (02 giai đoạn) với quy mô 200 giường nâng tổng số giường điều trị lên trên 400 giường Tổng số máy/
HUPH
Trang 11TBYT hơn 90 loại với số lượng trên 520 máy, với số tiền đầu tư tương đương 130 tỷ đồng từ nhiều nguồn vốn khác nhau Trong đó ODA và ngân sách chiếm 80%, số còn lại từ viện phí Với nhiều thiết bị hiện đại, kỹ thuật cao như: máy DSA, máy CT- scan
128 lát cắt, hệ thống EP, máy siêu âm xuyên sọ, hệ thống phòng mổ phẫu thuật tim
hở và hồi sức hậu phẫu, …
Từ tình hình thực tế đó, nâng khả năng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa TTBYT là yếu tố ít hao tốn tài lực cũng như sức lực nhất nhưng mang lại hiệu quả to lớn nhất trong việc luôn bảo đảm thiết bị ở tình trạng sẵn sàng hoạt động Câu hỏi đặt
ra là thực trạng về quản lý sử dụng, bảo bảo dưỡng, sửa chữa TBYT hiện nay như thế nào? Các yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa TTBYT tại bệnh viện Tim mạch An Giang?
Chất lượng dịch vụ y tế có liên quan mật thiết đến TTBYT khi được khai thác
sử dụng hiệu quả, do vậy chúng tôi chọn đề tài: "Thực trạng và một số yếu tố ảnh
hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa trang thiết bị y tế tại Bệnh viện Tim mạch An Giang năm 2021" để nghiên cứu, với hy vọng góp phần nâng cao hiệu
quả quản lý TTBYT, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao về chăm sóc sức khỏe của
nhân dân
HUPH
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa trang thiết bị y tế tại bệnh viện Tim mạch An Giang năm 2021
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa tại bệnh viện Tim mạch An Giang năm 2021
HUPH
Trang 131 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Khái niệm và phân loại trang thiết bị y tế
1.1.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế
Theo quy định của Pháp luật, khái niệm về trang thiết bị y tế (TTBYT) được quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị định số 36/2016/NĐ-CP (1) ngày 15/05/2016 của Chính phủ và được sửa đổi, bổ sung tại nghị định 169/2018/NĐ-CP (4) như sau:
“Trang thiết bị y tế là các loại thiết bị, dụng cụ, vật liệu, vật tư cấy ghép, thuốc thử
và chất hiệu chuẩn in vitro, phần mềm (software) được sử dụng riêng lẻ hay phối hợp với nhau theo chỉ định của chủ sở hữu trang thiết bị y tế để phục vụ cho con người nhằm một hoặc nhiều mục đích sau đây:
a) Chẩn đoán, ngăn ngừa, theo dõi, điều trị và làm giảm nhẹ bệnh tật hoặc bù đắp tổn thương, chấn thương;
b) Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ giải phẫu và quá trình sinh lý; c) Hỗ trợ hoặc duy trì sự sống;
d) Kiểm soát sự thụ thai;
e) Thử khuẩn trang thiết bị y tế, bao gồm cả hóa chất sử dụng trong quy trình xét nghiệm;
f) Vận chuyển chuyên dụng hoặc sử dụng phục vụ cho hoạt động y tế;
g) Cung cấp thông tin cho việc chẩn đoán, theo dõi, điều trị thông qua biện pháp kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người
Trang thiết bị y tế chẩn đoán in vitro (In vitro diagnostic medical device) gồm thuốc thử, chất hiệu chuẩn, vật liệu kiểm soát, dụng cụ, máy, thiết bị hoặc hệ thống được sử dụng riêng rẽ hoặc kết hợp theo chỉ định của chủ sở hữu để phục vụ cho việc kiểm tra các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể con người
Phụ kiện là một sản phẩm được chủ sở hữu trang thiết bị y tế chỉ định dùng cho mục đích cụ thể cùng với một thiết bị y tế cụ thể nhằm tạo điều kiện hoặc hỗ trợ thiết
bị đó sử dụng đúng với mục đích dự định của nó”
HUPH
Trang 141.1.2 Phân loại TTBYT
TTBYT là yếu tố quan trọng trong bộ ba: Thầy thuốc- TTBYT- Thuốc, hỗ trợ đắc lực cho công tác chẩn đoán, điều trị, theo dõi diễn tiến của bệnh tật và chăm sóc sức khỏe của con người (2)
Dựa vào công dụng, có thể phân loại TTBYT thành 10 nhóm chính (5):
1 Nhóm thiết bị chẩn đoán hình ảnh: Máy X-quang các loại, máy cộng hưởng từ, máy chụp cắt lớp điện toán, máy chụp mạch máu, …
2 Thiết bị chẩn đoán điện tử sinh lý: Máy điện tâm đồ, điện não, điện cơ, …
4 Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ: Máy thở, máy gây mê, monitor tại giường, máy sốc điện, …
5 Thiết bị vật lý trị liệu: Máy điện phân, máy điều trị sóng ngắn, điện giao thoa, …
6 Thiết bị quang điện tử: Laser CO2, phân tích máu bằng laser, …
thính giác, …
nhiệt kế, …
trùng, máy giặt, xe ô tô cứu thương,
HUPH
Trang 15Đến năm 2018, tại Điều 4 Chương 2 Nghị định 169/2018/NĐ-CP (4) TTBYT gồm có 2 nhóm, chia thành 4 loại dựa trên mức độ rủi ro tiềm ẩn liên quan đến thiết kế-kỹ thuật và sản xuất các TTBYT đó:
HUPH
Trang 161.2 Nội dung quản lý TTBYT
Giới thiệu về vòng đời của TTBYT: hội nghị phổ biến triển khai Nghị định
36/2016/NĐ-CP về quản lý TTBYT (6) đã nêu: việc quản lý trang thiết bị (TTB) phải được thực hiện xuyên suốt theo vòng đời của sản phẩm
Tài liệu quản lý bệnh viện cơ bản (2014) của Bộ Y tế và tài liệu môn học quản
lý TTBYT (bài 4: Quản lý TTBYT trong bệnh viện) - Trường Đại học Y tế Công cộng đã nêu 04 nội dung cơ bản về quản lý TTBYT (7, 8)HUPH
Trang 171.2.1 Quản lý đầu tư TTBYT
Tổ chức Y tế thế giới WHO đã khẳng định: “trang thiết bị y tế thuộc vào một chuyên môn của Ngành y tế, nó thâm nhập và phát triển sâu rộng vào các kỹ thuật khám chữa bệnh của tất cả các chuyên khoa, bộ môn của Ngành y tế Trong thời kỳ phát triển như vũ bão hiện nay của công nghệ trên thế giới chỉ sau có công nghiệp vũ trụ, quốc phòng và an ninh, nên công nghiệp thiết bị y tế đã nhanh chóng ứng dụng những thành tựu mới nhất vào việc chẩn đoán và điều trị để đạt được mục tiêu cao nhất vì sức khỏe của con người” (9) Chính vì vậy, việc đầu tư TTBYT trở nên vô cùng quan trọng và quyết định chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh
Có 02 hình thức tiến hành mua sắm (10):
+ Mua sắm tập trung: “là cách tổ chức đấu thầu rộng rãi để lựa chọn nhà thầu thông
qua đơn vị mua sắm tập trung nhằm giảm chi phí, thời gian, đầu mối tổ chức đấu thầu, tăng cường tính chuyên nghiệp trong đấu thầu, góp phần tăng hiệu quả kinh tế” Mua sắm tập trung được thực hiện theo một trong hai cách sau đây: (1) Đơn
vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu, trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ; (2) Đơn vị mua sắm tập trung tập hợp nhu cầu mua sắm, tiến hành lựa chọn nhà thầu,
ký văn bản thỏa thuận khung với một hoặc nhiều nhà thầu được lựa chọn làm cơ
sở để các đơn vị có nhu cầu mua sắm trực tiếp ký hợp đồng với nhà thầu được lựa chọn cung cấp hàng hóa, dịch vụ
+ Mua sắm không tập trung (gọi khác là mua sắm phân tán): “là việc chủ đầu tư
hoặc đơn vị dự toán trực tiếp sử dụng vốn ngân sách để tổ chức đấu thầu mua sắm theo luật định mà không thông qua đơn vị mua sắm tập trung”
1.2.2 Quản lý thực trạng TTBYT
Quản lý thực trạng TTBYT là công việc cần phải thường xuyên cập nhật, theo dõi tài sản TBYT xuyên suốt vòng đời của một thiết bị
- Số đầu thiết bị
- Đơn vị nào, ai được giao trực tiếp quản lý?
- Model, hãng/ năm/ nước sản xuất
- Ngày nhận, nguồn vốn, giá thiết bị?
HUPH
Trang 18- Chất lượng, tần suất khai thác của thiết bị Vật tư y tế
- Yêu cầu bảo quản
- Hạn dùng
- Số lượng hiện còn trong kho
1.2.3 Quản lý sử dụng TTBYT
Quy chế Bệnh viện (11) nêu rõ việc giao trách nhiệm quản lý sử dụng vật tư, thiết
bị y tế (TBYT) như sau:
a Giao trách nhiệm quản lý sử dụng vật tư, thiết bị y tế:
Giám đốc bệnh viện căn cứ vào đề nghị của trưởng khoa, trưởng phòng được trang thiết bị y tế kỹ thuật cao ra quyết định giao trách nhiệm quản lý và sử dụng cho từng cá nhân, đảm bảo mọi thiết bị y tế kỹ thuật cao đều có chủ
b Người sử dụng vật tư, thiết bị y tế phải:
Có tinh thần trách nhiệm, thực hiện nghiêm ngặt nội quy
Có chứng chỉ đã được đào tạo nghiệp vụ, kỹ thuật đúng chủng loại TBYT được giao
Nắm được tình trạng hoạt động của TBYT và ghi sổ kết quả hoạt động hàng ngày
c Mở sổ theo dõi vật tư, thiết bị y tế:
Trưởng khoa, trưởng phòng phải lập hồ sơ, lý lịch TBYT theo quy định, ghi rõ mỗi thiết bị có sự cố hư hỏng, bộ phận thay thế và bảo dưỡng định kỳ
Có sổ nhật ký theo dõi sử dụng TBYT hàng ngày và bàn giao ca
Có bảng quy định kỹ thuật bệnh viện về vận hành treo tại TBYT
d Khai thác sử dụng vật tư, thiết bị:
Trưởng phòng vật tư thiết bị y tế cùng với trưởng khoa hoặc trưởng phòng được trang bị vật tư, thiết bị y tế có nhiệm vụ:
- Khai thác sử dụng hết các tính năng kỹ thuật của thiết bị đã lắp đặt, đảm bảo đạt hiệu suất hoạt động cao, hợp lý, tiết kiệm, tiến tới từng bước xác định khả năng thu hồi vốn thiết bị y tế
lần kiểm tra phải ghi vào sổ để theo dõi
HUPH
Trang 191.2.4 Quản lý bảo dưỡng- sửa chữa TTBYT
1.2.4.1 Bảo dưỡng TTBYT
- Khái niệm: “bảo dưỡng TTBYT là biện pháp kỹ thuật để duy trì tính năng kỹ thuật của TTBYT đảm bảo độ tin cậy, độ bền vững và khả năng sẳn sàng hoạt động khi cần sử dụng” (12)
- Hình thức bảo dưỡng của đa số các BV tại Việt Nam gồm:
+ Bảo dưỡng thường xuyên: là công việc vệ sinh TTBYT sau mỗi làn sử dụng và thực hiện hàng ngày (Người sử dụng thực hiện dựa theo bảng phân công cá nhân phụ trách từng TBYT của khoa)
+ Bảo dưỡng định kỳ: 3 tháng/ lần; 6 tháng/ lần; 12 tháng/ lần (Dựa theo kế hoạch bảo dưỡng của Phòng TBYT được giám đốc BV phê duyệt từ đầu năm) Gồm có
02 phương án: bảo dưỡng do nhân viên kỹ thuật TBYT thực hiện tại Bệnh viện
và ký hợp đồng bảo dưỡng với Hãng/ Công ty
1.2.4.2 Sửa chữa TTBYT
Khái niệm: “sửa chữa TTBYT là quá trình phục hồi chức năng làm việc của TTB bằng cách loại trừ các hư hỏng, đảm bảo sự an toàn hoạt động của thiết bị sau khi hư hỏng” (12)
Hình thức sửa chữa TTBYT được áp dụng tại các bệnh viện:
+ Phòng VT- TTBYT tự sửa chữa: Nhân viên TBYT/ Tổ sửa chữa tiến hành sửa chữa tại bệnh viện
+ Sửa chữa bên ngoài bệnh viện: Thông qua các hợp đồng sửa chữa với hãng/ Cty
1.3 Thực trạng quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa TTB
1.3.1 Các nghiên cứu trên thế giới
nhận định tổng quan về quản lý bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT gồm: trình độ chuyên môn của CB kỹ thuật cũng như các nhân viên sử dụng thiết bị; ngân sách hạn chế; cơ
sở hạ tầng phục vụ công tác bảo dưỡng phải đầy đủ, đặc biệt là các vật tư, phụ kiện cần được dự trù sẵn, được cung cấp thường xuyên; hợp đồng bảo dưỡng, sửa chữa phải liệt kê chi tiết nội dung cần thực hiện, biên bản bảo dưỡng được ghi chép đầy đủ
HUPH
Trang 20sau mỗi lần bảo dưỡng, sửa chữa và cần giám sát việc thực hiện Phần mềm quản lý
sẽ giúp theo dõi việc bảo dưỡng, sửa chữa có hiệu quả hơn: quản lý bằng máy tính tạo điều kiện dễ dàng cho báo cáo định kỳ, tài chính hoặc các hoạt động của nhân viên, đây là một công cụ bổ ích cho người quản lý, đặc biệt liên quan đến dự báo ngân sách yêu cầu cho các dịch vụ bảo dưỡng, sửa chữa Tài liệu kỹ thuật gồm: hướng dẫn
sử dụng, hướng dẫn vận hành hoặc sổ tay bộ phận, sổ số liệu các thành phần điện tử, sách tham khảo mạch điện tử cần phải có cấu trúc tốt và được cung cấp bằng ngôn ngữ thích hợp, có chất lượng tốt và luôn có sẵn đi kèm với TTB Việc kiểm kê định
kỳ giúp ích trong việc lập kế hoạch và tổ chức lịch trình bảo dưỡng (13)
Tại 9 bệnh viện ở Bangladesh (lựa chọn từ 50 địa phương trong 3 vùng Rajshahi, Dhaka và Chittagong) để phỏng vấn nhằm tìm hiểu quan điểm của người sử dụng TTBYT Nhóm nghiên cứu của tập đoàn Simed đã ghi nhận: chỉ có 75% các TBYT lớn được khai thác sử dụng hiệu quả, ¼ các thiết bị còn lại sử dụng không hiệu quả mặc dù các bệnh viện đã có những cố gắng đưa vào khai thác sử dụng Những lý do chính sử dụng không hiệu quả là: chưa xây dựng được kế hoạch toàn diện cho thiết
bị trước khi đầu tư, thiếu hệ thống phân phối của các hãng tại địa phương và khả năng bảo dưỡng, sửa chữa khi TBYT hoặt động không ổn định/ hư hỏng (14)
Kết quả sơ bộ trong một khảo sát năm 2010 của WHO, tại các quốc gia có thu nhập thấp, chỉ có 33% quốc gia có chính sách y tế cho các công nghệ y tế, 55% các quốc gia ủy quyền có trách nhiệm thực hiện các quy định về TTBYT (15)
Tổ chức hài hòa các thủ tục trên toàn cầu (GHTF) đã hỗ trợ trong việc thực hiện các quy định mới của Hiệp định ASEAN về TTBYT Theo lộ trình và cam kết của Chính phủ và các nhà lãnh đạo ASEAN, Cộng đồng kinh tế ASEAN là một khối kinh
tế khu vực của các quốc gia thành viên ASEAN, sẽ được thành lập vào năm 2015 và thực hiện mục tiêu của hội nhập kinh tế trong "Tầm nhìn ASEAN 2020", nhằm hình thành một khu vực kinh tế ASEAN ổn định, thịnh vượng và có khả năng cạnh tranh cao, trong đó có lĩnh vực TTBYT trong lộ trình hội nhập về y tế Đây cũng là cơ hội giúp các nhà quản lý các Bộ, ngành liên quan cùng nắm bắt, tăng cường hiểu biết và nhận thức rõ hơn vai trò cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng môi trường pháp lý và triển khai hoạt động kinh doanh TTBYT có chất lượng, hiệu quả,
HUPH
Trang 21đáp ứng yêu cầu của công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân và lộ trình hội nhập khu vực và thế giới (16)
1.3.2 Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam cũng đã có một số nghiên cứu về thực trạng quản lý sử dụng bảo dưỡng sửa chữa trang thiết bị Theo Đinh Thị Lan (2015), nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý TTBYT tại bệnh viện Lâm Hà tỉnh Lâm Đồng năm 2015” chỉ ra công tác quản lý TTB ở BV cần làm tốt những nội dung sau: quản lý TTBYT theo định hướng, theo chiến lược; theo số lượng, chất lượng và theo giá trị của thiết bị Bên cạnh đó cần chú ý tạo điều kiện môi trường thuận lợi để thiết bị hoạt động chính xác và an toàn để có thể khai thác tốt, nâng cao tần suất hoạt động của thiết bị (17) Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc và cộng sự (2004) về
“Kiểm kê và đánh giá thực trạng đầu tư trang thiết bị chẩn đoán tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh” cho thấy việc sử dụng TTB vẫn chưa hợp lý, chưa sử dụng hết công suất (18)
Công tác bảo quản TBYT do Huỳnh Thanh Huynh thực hiện đã chỉ ra việc bảo quản TTB còn rất nhiều hạn chế tại các khoa, chưa thực hiện đầy đủ các quy định của đơn vị lắp đặt Các lỗi được ghi nhận là: môi trường ẩm thấp, vị trí đặt máy không cố định, nguồn điện chưa đảm bảo, vệ sinh máy chưa tốt, sau khi sử dụng TTB chưa được gọn gàng (19) và theo nghiên cứu do Nguyễn Thị Thanh Thảo (20) thực hiện năm 2017 tại BV đa khoa Từ Sơn, Bắc Ninh đã cho thấy việc lắp đặt TTB tại BV vẫn còn nhiều lúng túng, vướng mắc: chỉ có khoảng 2/3 số thiết bị được đặt ở những nơi khô ráo, an toàn và thuận tiện sử dụng
Tác giả Nguyễn Thanh Hương (2017)- Trường ĐH YTCC Hà Nội đã nghiên cứu “Các yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động của trang thiết bị y tế nhằm nâng cao năng lực quản lý trong hệ thống y tế tại Việt Nam” chỉ ra rằng: Ở Việt Nam, cũng như nhiều nước khác có mức thu nhập tương đương, việc quản lý công nghệ y tế chưa phát triển tốt Không có bằng chứng xác thực về hiệu quả của các công nghệ y tế Theo một báo cáo gần đây, tỷ lệ trang thiết bị y tế trong tình trạng sử dụng tốt từ 20% đến 50% tổng số trang thiết bị y tế đang sử dụng tại BV các tuyến Ngoài ra, tỷ lệ
HUPH
Trang 22trang thiết bị được bảo dưỡng giảm xuống còn 30% ở bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh, thậm chí 10% ở bệnh viện tuyến huyện (21) Tuy nhiên, với các nghiên cứu của Ngô Đức Lễ (2016) và Nguyễn Thị Thanh Thảo (2017) đều cho thấy 90% số TBYT tham gia khảo sát đều được bảo dưỡng định kỳ Báo cáo của BYT năm 2017 cũng đã chỉ ra các BV tuyến TW của Việt Nam đều đủ khả năng tự bảo dưỡng, sửa chữa TBYT ở mức trung bình trong tháp mức độ bảo dưỡng, sửa chữa TBYT Hầu hết (88.7%) TTBYT trong nghiên cứu tại Bệnh viện E của Bùi Việt Dũng (2018) đều có nhật ký vận hành, số còn lại (11.3%) TTB không có nhật ký vận hành dẫn đến việc theo dõi TTB gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng công tác sửa chữa không được thực hiện kịp thời nếu máy có trục trặc bất ngờ (3)
Quản lý hồ sơ TTB rất quan trọng trong việc truy xuất nguồn gốc, tính năng kỹ thuật, công suất hoạt động, … Do đó, đòi hỏi việc lưu giữ hồ sơ TTB cần tiến tới ứng dụng tin học vào một cách mạnh mẽ Trong tài liệu quản lý BV của Bộ Y tế (2014)
đã nêu ra các giải pháp tăng cường quản lý TTB và nâng cao hiệu quả đầu tư của bệnh viện, trong đó việc ứng dụng công nghệ thông tin bao gồm các chương trình (2):
- Phần mềm quản lý hồ sơ Trang thiết bị y tế
- Phần mềm quản lý sử dụng Trang thiết bị y tế
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa
HUPH
Trang 23không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết công suất trang thiết bị hiện có Năng lực của cán
bộ kỹ thuật trang thiết bị y tế chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ Chất lượng đào tạo, bố trí sử dụng nhân lực chuyên sâu về kỹ thuật thiết bị y tế còn thấp so với yêu cầu Nhiều bệnh viện tỉnh chưa có phòng quản lý Vật tư – thiết
HUPH
Trang 24Bộ Khoa học công nghệ đánh giá: “ Trong những năm qua, ngành Y
tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ từ việc đầu
tư, ứng dụng các TTB kỹ thuật công nghệ cao: Đã thành công trong một số lĩnh vực với trình độ ngang tầm trong khu vực và một số nước tiên tiến, tiết kiệm cho xã hội hàng trăm tỷ đồng mỗi năm như: phẫu thuật nội soi, kỹ thuật can thiệp nội mạch, ghép tạng, y học hạt nhân, ứng dụng sóng siêu cao tần, laze, kỹ thuật bơm bóng đối xung động mạch chủ, siêu lọc máu, tuần hoàn ngoài cơ thể, kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, nuôi cấy tế bào gốc sinh tinh để điều trị vô sinh, xây dựng ngân hàng tế bào gốc và bước đầu có những nghiên cứu cơ bản về biệt hóa tế bào gốc, ứng dụng tế bào gốc tạo máu tự thân và đồng loại trong điều trị ung thư, tim mạch, xương khớp” (Nguồn Bộ Khoa học công nghệ- Đánh giá hoạt động KHCN 2006-2010)
2014
Tài liệu quản lý bệnh viện tài liệu cơ bản của nhà xuất bản y học năm
2014 đã nêu: “mục tiêu của quản lý trang thiết bị y tế là sử dụng, vận hành, bảo quản, phát triển hệ thống trang thiết bị y tế của bệnh viện có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân” Quản lý sử dụng TTBYT nhằm khai thác sử dụng TTBYT có hiệu quả
và phụ thuộc vào: “Nhu cầu thăm khám, tần suất sử dụng thiết bị của đơn vị nhiều hay ít Trình độ cán bộ chuyên môn sử dụng và cán bộ
kỹ thuật TTBYT? Điều kiện lắp đặt và hoạt động? Kinh phí đảm bảo hoạt động Tìm mọi cách để đưa thiết bị vào khai thác, sử dụng, tránh
“đắp chiếu” gây lãng phí (9)
định Asean về trang thiết bị y tế của Chính Phủ (24)
HUPH
Trang 252018
Tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định 169/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 36/2016/NĐ-CP về quản lý trang thiết bị y tế (4), có quy định 5 nguyên tắc về quản lý TTBYT như sau:
+ Bảo đảm chất lượng, an toàn và sử dụng hiệu quả trang thiết bị y tế + Thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời về đặc tính kỹ thuật, công dụng của trang thiết bị y tế và các yếu tố nguy cơ có thể xảy ra đối với người sử dụng
+ Bảo đảm truy xuất nguồn gốc của trang thiết bị y tế
+ Quản lý trang thiết bị y tế phải dựa trên phân loại về mức độ rủi ro
và tiêu chuẩn quốc gia, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tương ứng do
cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành, thừa nhận hoặc
do tổ chức, cá nhân công bố áp dụng theo quy định của pháp luật Trang thiết bị y tế là phương tiện đo, thiết bị bức xạ phải được quản
lý theo quy định của pháp luật về đo lường, pháp luật về năng lượng nguyên tử và quy định
HUPH
Trang 26Thông tư số: 14/2020/TT-BYT (25) ngày 10/7/2020: quy định một
số nội dung trong đấu thầu TTBYT tại cơ sở y tế công lập Áp dụng đối với việc mua sắm TTBYT tại các cơ sở y tế công lập sử dụng một trong các nguồn kinh phí: nguồn chi thường xuyên NSNN, nguồn vốn sự nghiệp, vốn tín dụng, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), Nguồn thu phí, lệ phí; Nguồn kinh phí từ thu hoạt động sự nghiệp, quỹ phát triển; Nguồn quỹ bảo hiểm y tế và Nguồn thu hợp pháp khác
2020
Thông tư số: 33/2020/TT-BYT(26) ngày 31/ 12/ 2020: quy định danh
mục trang thiết bị y tế phải kiểm định an toàn và tính năng kỹ thuật Theo
đó các thiết bị: máy thở, máy gây mê kèm thở, dao mổ điện, lồng ấp trẻ
sơ sinh, máy phá rung tim, máy thận nhân tạo phải kiểm định an toàn và tính năng kỹ thuật Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/03/2021
Trang 27Quản lý bệnh viện trong cơ chế thị trường hiện nay là một nhiệm vụ nặng nề với chức năng và nhiệm vụ đa dạng và phức tạp Trong quản lý bệnh viện, quản lý TTBYT là một nội dung rất quan trọng (9) Do vậy, để quản lý tốt TTBYT chúng ta cần phải tăng cường học hỏi- nâng cao năng lực quản lý của bản thân
Năm 2016, theo Vụ Trang thiết bị và công trình y tế- Bộ Y tế: cả nước chỉ có
02 cơ sở cung cấp chứng chỉ cho kỹ thuật viên TBYT, 04 cơ sở đào tạo về Đại học
Kỹ thuật Y học và 02 cơ sở đào tạo Thạc sĩ Kỹ thuật Y học Mỗi cơ sở chỉ đào tạo được vài chục học viên trong 1 năm Báo cáo về thực trạng nhân lực đang làm việc trong lĩnh vực TTBYT tại đơn vị đã ghi nhận thực tế tại các đơn vị thì nhân lực TTBYT còn đến từ nhiều nguồn khác như: cơ khí, viễn thông, điện tử, điện, Do không đúng chuyên ngành nên nguồn nhân lực này cần được đào tạo liên tục để đáp ứng nhu cầu công việc Tuy nhiên do việc đào tào không được tổ chức tốt và ngân sách cho đào tạo còn hạn chế, cán bộ kỹ thuật TBYT tại BV chỉ có khoảng 40%- 50%
đủ kỹ năng nghiệp vụ và kỹ thuật (27)
Theo quy định tại Thông tư 45/2018/TT-BTC của Bộ Tài chính thì TTBYT thuộc vào loại 2, nhóm tài sản cố định hữu hình và phải tuân thủ theo nguyên tắc quản
lý tài sản cố định Tài sản phải được tính khấu hao trong quá trình khai thác sử dụng (TTBYT quy định thời gian trích khấu hao là 10 năm), thực hiện báo cáo tình hình quản lý, sử dụng tài sản theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản công Mỗi tài sản cố định phải được quản lý theo nguyên giá, số hao mòn luỹ kế và giá trị còn lại trên sổ sách kế toán (28):
Giá trị còn lại trên sổ
HUPH
Trang 28Khấu hao tài sản được xác định như sau :
loại mới 100%
Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2015, nhận xét về năm sử dụng TTB
có nêu: “chuẩn vàng mà các nước OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) và các nước phát triển đang áp dụng để bảo đảm chất lượng và sự an toàn cho bệnh nhân
là ít nhất 60% các TTB hiện đang dùng phải có tuổi đời dưới 5 năm, không quá 30% TTB có tuổi đời từ 6 – 10 năm và không quá 10% TTB có tuổi đời > 10 năm Tỷ lệ này ở các BV tuyến tỉnh cả nước (số liệu năm 2015) chỉ đạt <20% số TTBYT có tuổi đời <5 năm” (29)
Hiện nay vẫn chưa có tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức kỹ thuật thiết
bị y tế Hội thảo “Xin ý kiến về tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức kỹ thuật thiết bị y tế” ngày 20/01/2021, Ông Nguyễn Hồng Sơn, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán
bộ, Bộ Y tế cho biết: “Cán bộ kỹ thuật TTBYT có vai trò quan trọng trong việc thammưu cho lãnh đạo đơn vị đầu tư mua sắm và quản lý TTBYT đảm bảo an toàn, chất lượng, hiệu quả phục vụ công tác chuyên môn, đúng quy định và tránh tình trạng mua thiết bị kém chất lượng hoặc thổi giá như ở một số nơi hiện nay” Việc quy định tiêu chuẩn này sẽ giúp các cơ sở đào tạo về kỹ thuật TBYT nắm bắt nhu cầu đào tạo, tăng cường đào tạo chuyên sâu và đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật TBYT được an tâm công tác
Đơn vị cung cấp TTB/ Dịch vụ
Tại điều 46, Nghị định 36/2016/NĐ-CP (1), nghĩa vụ của cơ sở mua bán trang thiết bị y tế gồm: thực hiện các biện pháp kiểm soát nội bộ để duy trì chất lượng trang thiết bị y tế theo quy định của chủ sở hữu số lưu hành Cung cấp đầy đủ, kịp thời cho người sử dụng các thông tin về: (a) Hướng dẫn sử dụng trang thiết bị y tế; các điều kiện bảo đảm an toàn, bảo quản, hiệu chuẩn, kiểm định, bảo dưỡng bảo trì trang thiết
HUPH
Trang 29bị y tế; (b) Thông báo về trang thiết bị y tế có lỗi Duy trì hồ sơ theo dõi trang thiết
bị y tế và thực hiện truy xuất nguồn gốc, thu hồi trang thiết bị y tế Kịp thời thông báo với chủ sở hữu số lưu hành và cơ quan quản lý Nhà nước về các trường hợp trang thiết bị y tế có lỗi
Tại BV Thủ Đức, hầu hết người sử dụng TTBYT không được đào tạo qua các lớp bảo dưỡng thiết bị, việc vận hành thiết bị chủ yếu được các Cty cung cấp hướng dẫn hoặc được các đồng nghiệp hướng dẫn lại Tác giả khuyến nghị cần tạo điều kiện tốt để thường xuyên tổ chức các lớp chuyển giao công nghệ, tập huấn từ đơn vị cung cấp TTB cho nhân viên kỹ thuật TBYT (30) Chất lượng bảo dưỡng TTBYT có sự khác biệt rất lớn trong nghiên cứu của Dương Phú Hoài giai đoạn 2011 đến 2013 tại
BV đa khoa tỉnh Ninh Thuận: nhân viên kỹ thuật TBYT của BV chỉ thực hiện các công việc đơn giản như: vệ sinh, cân chỉnh, tra dầu mỡ, thời gian thực hiện 20-30 phút/ TTB Tuy nhiên các kỹ sư của Cty bên ngoài thực hiện từ 4- 16 giờ tùy theo thiết bị (31)
Về khả năng cung cấp vật tư, phụ tùng: trong luận văn CKI ngành YTCC, tác giả Huỳnh Kim Hồng (2009) tại các BV huyện thuộc tỉnh Cà Mau năm 2008 đã ghi nhận một số TTB chẩn đoán: mức độ hư hỏng của thiết bị quyết định thời gian sửa chữa, ngoài ra còn phụ thuộc vào thời gian mua hoặc nhập linh kiện, phụ tùng Đôi khi linh kiện thay thế giá trị nhỏ nhưng phải đặt hàng (từ nước ngoài) sẽ phải chờ đợi rất lâu Nếu đơn vị cung cấp linh kiện từ các tỉnh phía Bắc thì thời gian sửa chữa càng kéo dài hơn Việc sửa chữa sẽ khó khăn hơn đối với thiết bị viện trợ do nhà cung ứng không có những ràng buộc về bảo dưỡng- sửa chữa (32)
Luận văn chuyên khoa II- Quản lý tổ chức y tế của tác giả Lê Ka Thủy (2017) tại 4 khoa cận lâm sàng bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk cho thấy 79,4% các TBYT
có chuẩn bị sẵn sàng các vật tư, phụ tùng thay thế trong kho BV có thể xử lý các trường hợp hỏng hóc tại BV một cách nhanh chóng hơn (33) Cùng ý kiến này, Ngô Trương Ngọc Bích đã đề xuất BV cần trích lập quỹ bảo dưỡng- sửa chữa TTB đảm bảo các linh kiện thay thế thường dùng luôn được có sẵn (30)
HUPH
Trang 301.4.2 Yếu tố bên trong
Điều hành quản lý:
Quản lý TBYT là một trong những nội dung cơ bản trong công tác quản lý Mỗi khoa, phòng trong các BV phải nghiên cứu, phân tích sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng tới việc quản lý TBYT nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh của đơn vị mình Đầu tiên phải nói đến là Phòng Vật tư, thiết bị y tế có vị trí rất quan trọng của BV: là phòng nghiệp vụ chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Giám đốc BV; phòng quản lý toàn bộ vật tư TBYT trong bệnh viện, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về công tác này Tuy nhiên, một số BV tỉnh không có tổ chức phòng VT-TBYT mà hoạt động với hình thức Tổ VT- TBYT Không đủ biên chế kỹ sư, lại không có linh kiện, phụ kiện, phụ tùng thay thế khi cần điều này có thể làm giảm khả năng bảo dưỡng- sửa chữa của nhân viên kỹ thuật TBYT
Tại 9 bệnh viện ở Bangladesh (lựa chọn từ 50 địa phương trong 3 vùng Rajshahi, Dhaka và Chittagong) để phỏng vấn nhằm tìm hiểu quan điểm của người sử dụng TTBYT (2012) Nhóm nghiên cứu của tập đoàn Simed đã ghi nhận: chỉ có 75% các TBYT lớn được khai thác sử dụng hiệu quả, ¼ các thiết bị còn lại sử dụng không hiệu quả mặc dù các bệnh viện đã có những cố gắng đưa vào khai thác sử dụng Nguyên nhân sử dụng không hiệu quả là: chưa xây dựng được kế hoạch toàn diện cho TBYT trước khi đầu tư, thiếu hệ thống phân phối của các hãng tại địa phương nên khả năng bảo dưỡng, sửa chữa khi TBYT hoạt động không ổn định/ hư hỏng còn hạn chế (34) Đánh giá “Thực trạng công tác quản lý TTBYT tại bệnh viện đa khoa Xanh Pôn năm 2009”, tác giả Bùi Việt Hùng đã cho thấy có 45,32% NVYT biết lãnh đạo khoa
có phân công trực tiếp quản lý TTBYT và có 34.16% NVYT nắm đầy đủ quy trình TBYT do mình phụ trách Ngoài ra, công tác kiểm định TTB còn yếu do quá tải khối lượng công việc, quá tải bệnh nhân (35)
Liên quan đến việc giám sát sử dụng TTBYT, với nghiên cứu của Phan Thị Khuê (2011) kết quả cho thấy TTB đang sử dụng tại Labo Xét Nghiệm: trên 10 năm (2,54%); từ 1 đến 5 năm (85,7%), trên 5 năm là 8,4% (36)
“Đánh giá công tác quản lý TBYT tại BV Y học cổ truyền TW 2011” của Mai Văn Sâm (2011) kết quả cho thấy nhiều TBYT thiếu tài liệu hướng dẫn bảo dưỡng
HUPH
Trang 31Các TBYT được tài trợ chỉ có 15,2% được cung cấp đủ phụ tùng và vật tư thay thế tại khoa Đông y Dẫn tới việc bảo dưỡng, kiểm chuẩn định kỳ có tỷ lệ thấp hơn các khoa khác (37)
Việc kiểm tra, giám sát sử dụng TBYT tại các khoa là rất cần thiết, nghiên cứu của Trần Xuân Thắng (2016) ở bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk, khảo sát về việc vệ sinh các thiết bị cho kết quả 80,77% số thiết bị được vệ sinh sạch sẽ Tỷ lệ này tương đối cao, điều này chứng tỏ BV rất chú trọng việc bảo quản các thiết bị nhằm kéo dài tuổi thọ và đảm bảo an toàn trong quá trình sử dụng (38) Nghiên cứu tại BV đa khoa Xanh Pôn của Bùi Việt Hùng (2010) đã cho thấy công tác quản lý và giám sát sử dụng TTBYT của phòng Vật tư- Thiết bị y tế là tương đối tốt Tuy nhiên, lãnh đạo các khoa thực hiện chưa tốt công tác này, tần số giám sát ít và chưa có phân công cụ thể cá nhân phụ trách từng TBYT
Qua các nghiên cứu cho thấy việc điều hành quản lý TTB cần sự phối hợp chặt chẽ và được thống nhất từ BGĐ, Phòng TBYT và khoa sử dụng, mỗi nơi có quyền hạn và trách nhiệm cụ thể Điều hành quản lý TTB gồm các công việc tạo mọi điều kiện để TTB hoạt động an toàn, hiệu quả, chính xác cần được thực hiện xuyên suốt vòng đời của TTB Điều hành quản lý không tốt sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng
đó là lãng phí trong đầu tư, không an toàn trong sử dụng và điều trị, các sự cố hư hỏng thiết bị có thể xảy ra
Nhân lực:
Nhân lực là yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến việc sử dụng TTB, để sử dụng TTB đạt hiệu quả cao thì việc đào tạo nhân lực sử dụng TTB là rất cần thiết (39) Cơ sở đào tạo nguồn nhân lực kỹ thuật thiết bị y tế còn rất ít so với nhu cầu sử dụng tại các BV Khu vực các tỉnh phía Bắc: trường đại học Bách khoa Hà nội, trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật thiết bị y tế Hà Nội, Học viện kỹ thuật Khu vực các tỉnh phía Nam: Bách khoa Thành Phố Hồ Chí Minh, trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật thiết
bị y tế Bình Dương Trong đó 2 trường cao đẳng là nhân lực kỹ thuật chủ yếu cung cấp cho các bệnh viện công lập (đào tạo bậc trung cấp, cao đẳng) mỗi năm có khoảng
300 học viên ra trường nên khả năng đáp ứng còn rất thiếu về số lượng và hạn chế về năng lực
HUPH
Trang 32Theo nghiên cứu của Hà Đắc Biên (2012) hiện nay chất lượng đào tạo của các trường chuyên ngành kỹ thuật TBYT chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, chưa cập nhật thường xuyên công nghệ mới Sinh viên thường được thao tác bảo dưỡng, sửa chữa một vài thiết bị minh họa hoặc các “mô hình động”, một số mạch của các TTB đơn giản Từ đó nguồn nhân lực này chưa thể đáp ứng nhiệm vụ bảo dưỡng, sửa chữa tại BV, ngoài ra một số phụ tùng, vật tư, công nghệ, còn phụ thuộc vào nhà sản xuất dẫn đến các TTB ngoài tầm với của nhân viên TBYT Để làm tốt công tác bảodưỡng, sửa chữa TTBYT đòi hỏi trình độ của đội ngũ cán bộ kỹ thuật phải có chuyên môn cao Cán bộ kỹ thuật TTBYT của nhiều BV còn hạn chế về số lượng và chất lượng dẫn đến khả năng khai thác sử dụng TTB chưa hợp lý, hiệu quả sử dụng thấp
và “tuổi thọ làm việc” của thiết bị không cao (40)
Tại bệnh viện E, nghiên cứu của Bùi Việt Dũng (2018) cho thấy đội ngũ cán
bộ kỹ thuật TBYT vẫn còn thiếu, số lượng TTBYT chưa có cán bộ bảo dưỡng chuyên trách là 24,5% (3) Kết quả tương đương tại bệnh viện đa khoa Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 2017 trong nghiên cứu của Nguyễn Thi Thanh Thảo (20) Tại Bệnh viện Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh (2015), Hoàng Đình Sơn thì chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế tại đơn vị Nhưng BV lại không có chỉ tiêu biên chế để tuyển dụng vị trí nhân viên kỹ thuật TBYT (41) Đây cũng là tình hình chung của các bệnh viện công trong cả nước
Kiến thức sử dụng, bảo quản TTBYT của NVYT trong nghiên cứu của Đinh Thị Lan (2015) thì chủ yếu NVYT tiếp thu từ đồng nghiệp đi trước hướng dẫn lại với
tỷ lệ 66,7%, đơn vị cung cấp TTB khi lắp đặt là 33,32% Về đánh giá kiến thức bảo quản sử dụng TTB có 28,2% NVYT được đánh giá là có kiến thức tốt, 54,8% có ở mức đạt yêu cầu, số còn lại 16,7% không đạt yêu cầu (17)
Nhóm tác giả: Nguyễn Nhật Linh, Nguyễn Minh Tuấn và các thành viên khác đánh giá kiến thức, thực hành về quản lý TTBYT của cán bộ y tế (2017) Nghiên cứu
mô tả cắt ngang thực hiện trên 460 cán bộ y tế tại 27 bệnh viện trên toàn quốc với kết luận và khuyến nghị: kiến thức, thực hành quản lý TTBYT của đối tượng cán bộ y tế các bệnh viện giảm dần theo tuyến, trong đó tuyến trung ương có kết quả cao hơn hẳn các tuyến khác Không có sự khác biệt lớn về kiến thức, thực hành của cán bộ y tế
HUPH
Trang 33giữa BV đa khoa và BV chuyên khoa Cần tăng cường chất lượng đào tạo, đào tạo thường xuyên về lĩnh vực TTBYT cho cán bộ tại các BV (42)
Tài chính
Việc đầu tư TTB phải gắn liền với kế hoạch khai thác sử dụng TTB, hiện nay
có nhiều BV chưa quan tâm việc khai thác sử dụng TTB nên đã xảy ra tình trạng TTB
“đắp chiếu”, cất kho, không sử dụng, hoặc sử dụng vài lần, không khai thác được hiệu quả của TTB Gây lãng phí ngân sách, ảnh hưởng lớn đến tài chính BV
Nghiên cứu về quản lý TTBYT của Pradip Shahi Thakuri và Ramila Joshi (2012) tại Nepal cho thấy việc mua sắm chưa thực sự khoa học do không đánh giá chính xác nhu cầu sử dụng thích hợp dẫn đến một số trường hợp: nhập khẩu các thiết
bị không cần thiết, việc bảo dưỡng, sửa chữa mất nhiều thời gian (34) Tác giả Feek- Jan Ronner (2012) cho thấy có nhiều điểm bất cập trong thực tế mua sắm TTB tại bệnh viện ở Hà Lan Bất cập nhất là: thiếu sự phối hợp từ giai đoạn đầu tư đến giai đoạn khai thác Việc xác định yêu cầu kỹ thuật, năng lực của các nhà thầu và hoạt động bảo dưỡng chưa có ràng buộc rõ ràng (43)
Tài chính luôn là yếu tố quan trọng để BV có thể xây dựng kế hoạch bảo dưỡng, sửa chữa để khai thác hiệu quả TTBCĐ được đầu tư Từ đó xây dựng các kế hoạch đầu tư TTBYT theo từng giai đoạn phát triển của bệnh viện (39) Theo nghiên cứu Nguyễn Thị Kim Chúc và cộng sự (2004) về kiểm kê, đánh giá thực trạng đầu tư TTB chẩn đoán tại các BV đa khoa tuyến tỉnh cho thấy hiệu quả đầu tư chưa cao, vẫn còn tình trạng “máy có thì không cần, máy cần thì không có” (18)
Các tác giả Võ Thi Ngọc Hương (2013) tại bệnh viện đa khoa tỉnh Long An (44), Ngô Đức Lễ (2016) tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai (39) và Bùi Việt Dũng (2018) tại Bệnh viện E (3) có kết quả tương tự nhau: đều cho thấy các quyết định chi tiêu của BGĐ bệnh viện với sự tham mưu, đánh giá của các khoa phòng dựa trên nhu cầu thực tế sử dụng TTBYT sẽ góp phần giúp cho BGĐ có thể cân đối kinh phí, từ
đó chọn ra các thiết bị ưu tiên để đầu tư, bảo dưỡng, sửa chữa Nhưng kết quả không tương đồng với nghiên cứu của Huỳnh Thanh Huynh (2016) nhận xét: kinh phí tại
BV hạn chế vẫn chưa thể chủ động trong công tác bảo dưỡng- sửa chữa TTBYT (19)
HUPH
Trang 34Tại Bệnh viện E có chuẩn bị kinh phí mua dự phòng vật tư- phụ tùng nên 92,5% vật tư- phụ tùng thay thế có sẵn ngay trong kho BV để có thể xử lý các trường hợp hỏng hóc TTB một cách nhanh chóng (3) Điều này góp phần giúp thời gian ngừng hoạt động của TTB rất thấp, từ đó làm tăng công suất hoạt động, phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh.
HUPH
Trang 351.5 Giới thiệu về Bệnh viện Tim mạch An Giang
Bệnh viện Tim mạch An Giang hình thành trên cơ sở Ban Bảo vệ chăm sóc sức
khỏe cán bộ tỉnh, với tên gọi ban đầu là “Trung tâm Tim mạch cấp cứu và điều trị dự
phòng”, thành lập ngày 18/11/1991
Hiện nay BVTMAG là BV chuyên khoa hạng 2, với qui mô 380 giường bệnh
Kế hoạch lâu dài, Bệnh viện đã được qui hoạch xây mới theo dự án, sẽ là Bệnh viện
chuyên khoa tim mạch hạng I cấp vùng đồng bằng sông Cửu Long với qui mô 600
giường
Hiện tại BV có 304 nhân sự , với 05 khoa lâm sàng, 03 khoa cận lâm sàng, 05
phòng chức năng Về chuyên môn kỹ thuật, BV đã thực hiện: can thiệp mạch vành
(2013), phẫu thuật tim hở (2017), kỹ thuật thăm dò điện sinh lý, điều trị rối loạn nhịp
bằng đốt điện (2018)
Phòng KHTH- VT TTBYT là đơn vị quản lý TTBYT của BV Tổng số máy/
TBYT hơn 90 loại, với số lượng trên 520 máy Với số lượng lớn TTB và đa dạng về
chủng loại Hiện tại BV chia làm 02 nhóm như sau:
scanner 128 lát cắt, hệ thống EP, máy siêu âm xuyên sọ, hệ thống phòng mổ phẫu
thuật tim hở và hồi sức hậu phẫu, … Với nhóm này, nhân sự kỹ thuật TBYT tại BV
không có khả năng thực hiện bảo dưỡng, sửa chữa mà phải liên hệ với hãng để thực
hiện
điện, máy đo SpO2, máy đo huyết áp tự động… Với nhóm này, nhân sự tại BV có
khả năng bảo dưỡng, sửa chữa Việc duy trì tình trạng hoạt động liên tục có nhiều ý
nghĩa: giảm tải bệnh viện, nâng cao nguồn thu nhập, tránh lãng phí, …
HUPH
Trang 361.6 Khung lý thuyết
Quản lý TTBYT gồm có 4 nội dung gồm: (1) Quản lý đầu tư; (2) Quản lý thực trạng; (3) Quản lý sử dụng; (4) Quản lý bảo dưỡng, sửa chữa Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ giới hạn phạm vi trong 2/4 nội dung là quản lý sử dụng và quản lý bảo dưỡng, sửa chữa
Xây dựng khung lý thuyết dựa trên khung lý thuyết quản lý TTB của Bùi Việt Dũng (3), Lê Ka Thủy (33), Ngô Đức Lễ (39) Ngoài ra các văn bản pháp luật được sử dụng trong khung lý thuyết bao gồm: quy chế bệnh viện (11), tài liệu quản lý bệnh viện
của Bộ Y tế (8) , Nghị định 36/2016/NĐ-CP (1)
QUẢN LÝ SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ
- Số lượng, thời gian sử dụng, tình trạng hoạt động của TTB
- Điều kiện lắp đặt, an toàn sử dụng
- Tần suất sử dụng
- Hồ sơ TTB
QUẢN LÝ BẢO DƯỠNG- SỬA CHỮA TRANG THIẾT BỊ
- Tình hình bảo dưỡng, sửa chữa
YẾU TỐ NGOÀI BV
Cơ chế chính sách:
- Các văn bản pháp luật về TTBYT
- Chính sách đào tạo nhân lực kỹ
thuật TBYT của ngành
Trang 372 CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Nghiên cứu định lượng
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
lên
- Số liệu thứ cấp liên quan đến quản lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa của các TTB được lựa chọn: biên bản kiểm kê tài sản, kinh phí bảo dưỡng- sửa chữa
2.1.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
trị từ 500.000.000 đồng trở lên Các TTB có biên bản bàn giao, phân bổ sử dụng cho các khoa Các TTB có liên quan trực tiếp và gián tiếp trong quá trình khám- chữa bệnh tại bệnh viện
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
nghiên cứu);
- Những đối tượng đi học, bị ốm phải nằm viện và nghỉ theo chế độ thai sản
2.2 Nghiên cứu định tính
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
+ Lãnh đạo BV, lãnh đạo 05 khoa và lãnh đạo phòng Kế hoạch tổng hợp-Vật tư Thiết bị y tế
+ Cán bộ y tế tại khoa trực tiếp quản lý sử dụng, bảo quản TTB
KHTH- VT TTBYT
2.2.2 Tiêu chuẩn lựa chọn
HUPH
Trang 38- Nhóm CB, NVYT trực tiếp sử dụng, quản lý sử dụng TTB tại 5 khoa: Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên
TBYT: kỹ sư, kỹ thuận viên
2.2.3 Tiêu chuẩn loại trừ
nghiên cứu)
nghỉ theo chế độ thai sản
2.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian thu thập số liệu từ tháng 4 đến tháng 8 năm 2021
2.4 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng Nghiên cứu định lượng tiến hành trước, nghiên cứu định tính tiến hành sau để bổ sung giải thích cho kết quả nghiên cứu định lượng
2.5 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Nghiên cứu định lượng
- Chọn toàn bộ TTBYT đủ tiêu chuẩn lựa chọn: gồm 55 thiết bị Tất cả các TTBYT này nằm ở 5 khoa gồm: Khoa Hồi sức tích cực & CĐ (HSTC), Tim mạch can thiệp (TMCT), Phẫu thuật- Gây mê hồi sức (PTT), Chẩn đoán hình ảnh (CĐHA), Xét nghiệm (XN)
- Số liệu thứ cấp: Số liệu về quản lý sử dụng TTBYT thu thập từ báo cáo kiểm kê TTBYT các năm 2018-2020; sổ lý lịch máy, sổ quản lý tài sản cố định, sổ nhật ký
sử dụng máy, quy trình sử dụng và hướng dẫn sử dụng máy, …
+ Các báo cáo kiểm kê TTB của Bệnh viện Tim mạch An Giang từ năm 2018 đến 2020
+ Danh sách các TTB thỏa mãn 03 tiêu chí lựa chọn tại thời điểm tiến hành nghiên cứu
HUPH
Trang 39+ Kinh phí dành cho quản lý sử dụng và bảo dưỡng- sửa chữa TTB của BV từ năm 2020- 2021
+ Số liệu về hoạt động TTB của 05 khoa trong nghiên cứu và của phòng KHTH-
VT TBYT giai đoạn từ năm 2020- 2021
2.5.2 Nghiên cứu định tính
- Thu thập thông tin định tính (hướng dẫn, gợi ý thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu) được thiết kế phù hợp với từng nhóm đối tượng
+ Thảo luận nhóm:
Nhóm 1: Chọn mẫu có chủ đích 05 người được phân công quản lý sử dụng các
TTB có liên quan tia X tại khoa CĐHA thành 1 nhóm
Nhóm 2: Chọn mẫu có chủ đích 05 người được phân công quản lý sử dụng các
TTB Xét nghiệm tại khoa XN thành 1 nhóm
+ Phỏng vấn sâu: Chọn mẫu có chủ đích 05 người gồm 04 nhóm đối tượng để
HSTC và PTT
HUPH
Trang 402.6 Phương pháp thu thập số liệu
Điều tra viên gồm 3 người: học viên, mời thêm 01 cán bộ phòng Điều dưỡng và
01 cán bộ của phòng KHTH- VT TBYT làm cộng tác viên
2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng
dụng phương pháp đánh giá dựa trên bảng kiểm: (A) Quan sát việc quản lý sử dụng TTBYT, (B) Điều kiện lắp đặt, an toàn theo quy định, (C) Đánh giá thực trạng quản
lý sử dụng, bảo dưỡng- sửa chữa (chi tiết xem phụ lục 1)
tổng hợp- VT TBYT và 05 khoa nghiên cứu, sử dụng bộ công cụ thu thập số liệu thứ cấp tương ứng NCV liên hệ với lãnh đạo các khoa, phòng và trình bày lý do xin số liệu cần thiết Để đảm bảo chính xác, tin cậy, các số liệu thu thập đều được ban lãnh đạo khoa, phòng kiểm tra- ký xác nhận
2.6.2 Phương pháp thu thập thông tin định tính
Phòng KHTH- VT TBYT, 02 điều dưỡng trưởng khoa, NV kỹ thuật TBYT sử dụng
bộ công cụ (các câu hỏi) hướng dẫn phỏng vấn sâu tương ứng
và phương pháp nghiên cứu, xin phép PVS, thảo luận nhóm Gửi trang thông tin, phiếu tự nguyện tham gia và những gợi ý cho phần nghiên cứu Sau đó xin lịch hẹn
cụ thể để tiến hành
đối tượng đồng ý tham gia thì ký vào phiếu đồng ý Để thông tin được ghi nhận đầy
đủ, nhóm NCV xin phép được ghi âm và phân công thêm người ghi chép chi tiết trong khi phỏng vấn Mỗi cuộc PVS, thảo luận nhóm diễn ra từ 30 đến 45 phút
của lãnh đạo, hội trường, phòng giao ban tại khoa, phòng làm việc … Địa điểm thảo luận nhóm: hội trường, phòng giao ban tại khoa, phòng làm việc …
HUPH