1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét và một số yếu tố liên quan của người dân tại các xã vùng biên giới tỉnh quảng bình năm 2022

113 5 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, Thái độ, Thực hành phòng chống sốt rét và một số yếu tố liên quan của người dân tại các xã vùng biên giới tỉnh Quảng Bình năm 2022
Tác giả Trịnh Thị Hoài
Người hướng dẫn TS. Lưu Quốc Toản
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 2,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG TRỊNH THỊ HOÀI KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC XÃ VÙNG

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRỊNH THỊ HOÀI

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC XÃ VÙNG BIÊN GIỚI TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

Hà Nội, năm 2023HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRỊNH THỊ HOÀI

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI CÁC XÃ VÙNG BIÊN GIỚI TỈNH QUẢNG BÌNH NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN

TS LƯU QUỐC TOẢN

Hà Nội, năm 2023HUPH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên em xin được gửi lời cảm ơn chân thành nhất tời Ban Giám hiệu trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội, Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Quảng Bình đã tạo điều kiện để em tham gia khóa học và triển khai nghiên cứu này

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: TS Lưu Quốc Toản đã tận tình hướng dẫn và truyền đạt những kiến thức khoa học cho em trong quá trình thực hiện luận văn

Cảm ơn Quý thầy cô trường Đại học Y tế Công cộng Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức vô cùng quý báu trong suốt thời gian học tập

Xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo các, khoa phòng cùng toàn thể cán bộ nhân viên Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Quảng Bình tạo điều kiện tốt nhất trong quá trình tôi triển khai nghiên cứu này

Và đặc biệt xin cám ơn UBND/TYT và nhân dân 09 xã biên giới tỉnh Quảng Binh: Thanh Hóa, Trọng Hóa, Dân Hóa, Hóa Sơn, Thượng Hóa, Thượng Trạch, Trường Sơn, Lâm Thủy và Kim Thủy đã giúp đỡ, phối hợp tôi thực hiện nghiên cứu

Cuối cùng xin cảm ơn gia đình và bạn bè, đồng nghiệp đã luôn động

viên, chia sẻ và khích lệ tôi trong suốt thời gian học tập, giúp tôi vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận văn

Tôi xin trân trọng cảm ơn! Quảng Bình, ngày 27 tháng 3 năm 2023

Học viên Trịnh Thị Hoài HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT

TẮT DANH MỤC BẢNG

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Tổng quan về bệnh sốt rét 4

1.1.1 Khái niệm về bệnh sốt rét 4

1.1.2 Đặc điểm dịch tễ học sốt rét 4

1.1.3 Các biện pháp phòng chống sốt rét 8

1.2 Thực trạng KAP PCSR của người dân trên thế giới và tại Việt Nam 9

1.2.1 Thực trạng KAP PCSR của người dân trên thế giới 9

1.2.2 Thực trạng KAP PCSR của người dân tại Việt Nam 11

1.3 Các yếu tố liên quan đến phòng chống sốt rét 13

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 19

1.4.1 Đặc điểm địa lý, khí hậu, dân số 19

1.4.2 Phân vùng dịch tễ sốt rét Quảng Bình 20

1.4.3 Tình hình sốt rét tại Quảng Bình và các xã biên giới 20

1.5 Khung lý thuyết 22

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 23

2.1 Đối tượng nghiên cứu 23

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 23

2.3 Thiết kế nghiên cứu 23

2.4 Cỡ mẫu 24

2.5 Phương pháp chọn mẫu 24

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 25

2.7 Biến số nghiên cứu 26

2.8 Các khái niệm và tiêu chuẩn áp dụng 27

2.9 Xử lý số liệu 28

2.10 Đạo đức nghiên cứu 28

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ 30

3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 30

3.2 Kiến thức, thái độ, thực hành PCSR của đối tượng nghiên cứu 34

HUPH

Trang 5

3.2.1 Kiến thức PCSR của đối tượng nghiên cứu 34

3.2.2 Thái độ PCSR của đối tượng nghiên cứu 34

3.2.3 Thực hành PCSR của đối tượng nghiên cứu 34

3.3 Một số yếu tố liên quan đến KAP PCSR của đối tượng nghiên cứu 38

3.2.4 Các yếu tố liên quan đến kiến thức 38

3.2.5 Các yếu tố liên quan đến thái độ 42

3.2.3 Các yếu tố liên quan đến thực hành 45

Chương IV: BÀN LUẬN 51

4.1 Kiến thức, thái độ, thực hành PCSR 51

4.1.1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu 51

4.1.2 Kiến thức PCSR đối tượng nghiên cứu 53

4.1.3 Thái độ PCSR của đối tượng nghiên cứu 56

4.1.4 Thực hành PCSR của đối tượng nghiên cứu 57

4.2 Một số yếu tố liên quan đến KAP về PCSR của đối tượng nghiên cứu 59

4.2.1 Các yếu tố liên quan đến kiến thức PCSR 59

4.2.2 Các yếu tố liên quan đến thái độ PCSR 61

4.2.3 Các yếu tố liên quan đến thực hành PCSR 63

4.3 Hạn chế nghiên cứu 66

KẾT LUẬN 67

KHUYẾN NGHỊ 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 1 77

PHỤ LỤC 2 83

PHỤ LỤC 3 89

PHỤ LỤC 4 90

HUPH

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

NDĐRNR: Người dân đi rừng ngủ rẫy

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Tình hình bệnh sốt rét tại Việt Nam giai đoạn 2017-2021 6

Bảng 1.2 Tình hình sốt rét tại các xã biên giới năm 2017 - 2021 20

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu 30

Bảng 3.2 Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu 31

Bảng 3.3 Tình hình tiếp nhận thông tin về bệnh sốt rét 31

Bảng 3.4 Kiến thức về nguyên nhân bệnh sốt rét 32

Bảng 3.5 Kiến thức về triệu chứng, điều trị bệnh sốt rét 32

Bảng 3.6 Kiến thức về phòng chống bệnh sốt rét 33

Bảng 3.7 Thái độ PCSR của các đối tượng 34

Bảng 3.8 Thực hành phòng chống sốt rét của các đối tượng 35

Bảng 3.9 Thực hành khi mắc sốt rét của các đối tượng 36

Bảng 3.10 Thực hành phòng chống sốt rét của dân di biến động 37

Bảng 3.11 Liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với kiến thức PCSR 38

Bảng 3.12 Liên quan giữa các yếu tố dịch tễ học với kiến thức PCSR 39

Bảng 3.13 Liên quan giữa số nguồn thông tin đã nhận với kiến thức PCSR 40

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa nguồn tư vấn hỗ trợ với kiến thức chung 41

Bảng 3.15 Liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với thái độ PCSR 42

Bảng 3.16 Liên quan giữa các yếu tố dịch tễ học với thái độ PCSR 43

Bảng 3.17 Liên quan giữa số nguồn thông tin đã nhận với thái độ PCSR 43

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nguồn tư vấn hỗ trợ với thái độ chung 44

Bảng 3.19 Liên quan giữa kiến thức và thái độ PCSR 45

Bảng 3.20 Liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với thực hành PCSR 45

Bảng 3.21 Liên quan giữa các yếu tố dịch tễ học với thực hành PCSR 46

Bảng 3.22 Liên quan giữa số NTT đã nhận với thực hành PCSR 47

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa nguồn tư vấn hỗ trợ với thái độ chung 48

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành PCSR 49

Bảng 3.25 Mối liên quan giữa thái độ với thực hành PCSR 49

HUPH

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Sơ đồ 1 Khung lý thuyết nghiên cứu… 22

Biểu đồ 3.1 Tình hình tiếp nhận thông tin về bệnh sốt rét 32

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ kiến thức chung về phòng bệnh sốt rét 34

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thái độ chung 35

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thực hành chung 38

HUPH

Trang 9

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2021 đến tháng 10 năm

2022 tại 09 xã biên giới Quảng Bình Phương pháp thu thập số liệu: Tiến hành phỏng vấn đại diện 864 hộ gia đình theo bộ câu hỏi trong phiếu điều tra và thực hiện 18 cuộc phỏng vấn sâu

Kết quả nghiên cứu cho thấy:Về đặc điểm nhân khẩu học của đôi tượng nghiên cứu nam giới chiến 52,5%; Độ tuổi >40 chiếm 56,0% Hầu hết các đối tượng là người dân tộc thiểu số chiếm 74,5%, nghề nghiệp chủ yếu là nông dân với 59,8% Tỷ lệ người dân có kiến thức về phòng chống sốt rét (PCSR) đạt là 62,0%; Tỷ lệ đạt về thái

độ PCSR là 80,6%; Thực hành của người dân về PCSR đạt là 47,2% Một số yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức PCSR là tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiền sử mắc và là dân đi biến động Các nguồn thông tin, nguồn hỗ trợ về PCSR mà người dân được tiếp nhận đều có mối liên quan đến kiến thức PCSR Đối với thái độ thì tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nguồn thông tin và hỗ trợ PCSR là những yếu tố có mối liên quan Thực hành PCSR thì các yếu tố có thể ảnh hưởng đến bao gồm: Tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, tiền sử mắc, dân di biến động, nguồn thông tin

và nguồn hỗ trợ Nghiên cứu cũng tìm thấy mối liên quan giữa giữa kiến thức - thái độ- thực hành: Những người có Kiến thức đạt thì có thái độ đạt; Những người có kiến thức, thái độ đạt thì có thực hành đạt

Từ những kết quả trên, chúng tôi đã đưa ra được các khuyến nghị cụ thể như sau: Tăng cường hoạt động truyền thông cả số lượng lẫn chất lượng cho các đối tượng đông bào dân tộc thiểu số, dân di biến động Công tác quản lý, phát hiện và điều trị sốt rét cho người dân cần được đẩy mạnh Tăng cường phối hợp liên ngành nâng cao hiệu quả của các biện pháp PCSR

HUPH

Trang 10

Tại Việt Nam, bệnh sốt rét xảy ra chủ yếu ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên (MT-TN) Khu vực này với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, với dân số chiếm hơn 17,0% dân số cả nước; dân số vùng sốt rét lưu hành chiếm khoảng 40,0% dân số khu vực và 7,3% dân số cả nước Trong những năm qua MT-TN cũng đã thu được nhiều kết quả trong việc thực hiện các mục tiêu giảm chết, giảm mắc, khống chế nguy cơ xảy ra dịch và duy trì các yếu tố bền vững Tuy nhiên, toàn miền vẫn phải tiếp tục đối mặt với các thách thức, khó khăn trong hoạt động phòng chống sốt rét do đây là khu vực có đặc điểm sốt rét phức tạp nhất trong cả nước (2)

Quảng Bình là một tỉnh nằm trong khu vực MT-TN, với trên 40% dân số nằm trong vùng sốt rét lưu hành, có đường biên giới dài 202 km giáp với Lào Toàn tỉnh có

8 huyện/thị xã/thành phố với 151 xã phường, trong đó có 9 xã (thuộc 5 huyện) giáp biên giới Việt Lào, tập trung nhiều dân tộc thiểu số sinh sống, nghề nghiệp chính là đi rừng ngủ rẫy, giao lưu biên giới có nguy cơ mắc sốt rét cao

Mặc dù trong 5 năm gần đây (từ 2017 - 2021) tình hình sốt rét tại Quảng Bình

có chiều hướng giảm, nhưng hàng năm trên địa bàn tỉnh vẫn còn rất nhiều ca mắc sốt rét với 147 ca mắc Đặc biệt 33,7% số ca bệnh sốt rét tập trung tại các xã nằm trên biên giới Việt - Lào nơi điều kiện giao thông đi lại khó khăn, dân cư thưa thớt, tản mạn, điều kiện kinh tế chậm phát triển Đây cũng là vùng tập trung chủ yếu người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, nhiều phong tục tập quán lạc hậu, điều kiện tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) gặp nhiều khó khăn Do đặc thù về địa hình,

HUPH

Trang 11

kinh tế và đặc điểm tự nhiên là nơi có sự giao lưu biên giới, dân di cư biến động rất lớn nên bệnh sốt rét vẫn lưu hành ở mức cao, theo phân vùng dịch tễ sốt rét năm 2019 toàn bộ 9 xã biên giới đều nằm trong phân vùng sốt rét lưu hành nặng (3) Trong giai đoạn 2017-2021 các xã biên giới Quảng Bình có số ca sốt rét chiếm tỷ lệ ngày càng tăng so với tỷ lệ mắc chung trên toàn tỉnh từ 28,3% năm 2017 lên 100% năm 2021 (4) Theo nghiên cứu của Phạm Văn Chung tại huyện biên giới Quảng Bình năm 2018 chỉ

có 36,3% người dân có kiến thức đạt về phòng chống sốt rét và tỷ lệ thực hành đạt chỉ

là 25,4% (5)

Như vậy sốt rét ở Quảng Bình, đặc biệt các xã vùng biên giới vẫn là vấn đề ảnh hưởng đến sức khoẻ cả người dân và sự phát triển kinh tế xã hội Để giải quyết có hiệu quả vấn đề trên đòi hỏi cần nắm bắt kịp thời tình hình sốt rét cũng như kiến thức, thái

độ và thực hành của người dân về phòng chống sốt rét như thế nào? Từ đó có biện pháp phòng chống hiệu quả hơn tại các xã vùng biên giới, nơi điểm “nóng” sốt rét tỉnh Quảng Bình

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành đề tài “Kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét và một số yếu tố liên quan của người dân tại các xã vùng biên giới tỉnh Quảng Bình năm 2022”

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân tại các

xã vùng biên giới tỉnh Quảng Bình năm 2022

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân tại các xã vùng biên giới tỉnh Quảng Bình năm 2022

HUPH

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Đến năm 2018 trên thế giới có 228 triệu bệnh nhân sốt rét (BNSR) và 584.000 tử vong sốt rét (TVSR), các nước thuộc tiểu vùng sa mạc Sahara Châu Phi chiếm 90% số trường hợp TVSR vàTVSR ở trẻ em dưới 5 tuổi chiếm 78%, khu vực Đông Nam Á chiếm 3,4% số trường hợp và khu vực Đông Địa Trung Hải chiếm 2,1%, khu vực châu

Mỹ có sự gia tăng chủ yếu ở Venezuela Năm 2019 sốt rét vẫn đang xuất hiện trên 91 quốc gia và vùng lãnh thổ với hơn 3 tỷ người sống trong vùng sốt rét lưu hành, số ca mắc trên toàn cầu là 229 triệu ca Đến năm 2020 từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO), ước

HUPH

Trang 14

tính có khoảng 241 triệu trường hợp mắc bệnh sốt rét mới và 627.000 trường hợp tử vong do sốt rét ở 85 quốc gia Trong đó, hơn 2/3 số ca tử vong là ở trẻ em dưới 5 tuổi sống ở Khu vực Châu Phi của WHO (7)

* Tại Việt Nam:

Việt Nam nằm trong vùng SR lưu hành của thế giới, là một trong những nước

có nguy cơ cao về bệnh SR với vùng sốt rét lưu hành rộng Theo báo cáo tại hội nghị

“Tổng kết công tác Phòng chống sốt rét, Phòng chống các bệnh ký sinh trùng và côn trùng năm 2017, triển khai Kế hoach năm 2018”, năm 2017 cả nước ghi nhận có 8.411 trườ ng hơp mắc sốt rét, 37 trường hợp bệnh nhân sốt rét ác tính và 6 trường hợp tử vong do sốt rét So với cùng kỳ năm 2016, số bệnh nhân sốt rét giảm 19,48%, số bệnh nhân sốt rét ác tính tăng 42,3% và số tử vong do sốt rét tăng 100% Cũng tại hội nghị, các báo cáo đều cho thấy năm 2017 mặc dù số người mắc sốt rét có giảm so với cùng

kỳ năm 2016 nhưng nguy cơ sốt rét quay trở lại và nguy cơ bùng phát dịch sốt rét vẫn còn cao (8) Theo kết quả phân vùng dịch tễ sốt rét năm 2019, cả nước hiện nay có 1.030 xã nằm trong vùng sốt rét có lưu hành với khoảng hơn 10 triệu dân số Như vậy, mức độ lưu hành sốt rét tại Việt Nam đã thu hẹp lại so với trước đây, tuy nhiên vẫn có

121 xã tăng vùng dịch tễ sốt rét so với phân vùng dịch tễ sốt rét năm 2014 thuộc 26 tỉnh, trong đó 63 xã tăng từ vùng nguy cơ sốt rét quay lại năm 2014 lên vùng có SRLH năm 2019 thuộc 23 tỉnh, 16 xã tăng từ vùng SRLH nhẹ lên vùng SRLH vừa và nặng Sốt rét vẫn tập trung nhiều tại các vùng còn khó khăn về kinh tế-xã hội, đặc biệt là các tỉnh thuộc khu vực miền Trung-Tây Nguyên (3)

Đến năm 2020, số người nhiễm ký sinh trùng sốt rét giảm 65,8% so với năm

2016 (1.733/4.161 trường hợp) Số TVSR trong 5 năm là 11 trường hợp, đặc biệt năm

2019 không có bệnh nhân sốt rét tử vong Số ký sinh trùng sốt rét trung bình/năm giai đoạn 2016 - 2020 giảm 75% so với giai đoạn 2011-2015 (3.921/15.692) Các chỉ tiêu

về giảm tỷ lệ mắc sốt rét và khống chế tỷ lệ chết do sốt rét theo mục tiêu của Chiến lược Chiến lược Quốc gia phòng chống và loại trừ bệnh sốt rét ở Viêt

2011 - 2020 đều đã vượt chỉ tiêu đặt ra

Nam giai đoạn

HUPH

Trang 15

Bảng 1.1 Tình hình bệnh sốt rét tại Việt Nam giai đoạn 2017-2021

(Nguồn: Đánh giá công tác PC&LTSR của Bộ Y tế)

Từ năm 2017 - 2021 tỷ mắc và tử vong do sốt rét tiếp tục giảm, số người có ký sinh trùng sốt rét năm 2021 giảm 67,4% và số tử vong do sốt rét giảm 100% so với

2017 Tuy nhiên tình hình SR kháng thuốc Artemisinin ở nhiều tỉnh khu vực miền Trung - Tây Nguyên (Quảng Nam, Khánh Hòa, Gia Lai, Đắk Lắc, Đắk Nông, Bình Phước) và có nguy cơ lan rộng sang các tỉnh khác trên phạm vi toàn quốc (9)

Tình hình sốt rét tuy có chiều hướng giảm nhưng trong những năm tới vẫn tiềm

ẩn nhiều nguy cơ Dự báo sốt rét có thể gia tăng ở các vùng có sốt rét lưu hành, đặc biệt tại các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, nhất là những tỉnh

có biên giới với Lào và Campuchia Bệnh sốt rét có thể quay trở lại các vùng nhiều năm không có sốt rét do số mắc sốt rét của cả nước vẫn ở mức cao và sự xuất hiện của sốt rét kháng thuốc cũng như sự di biến động dân cư giữa vùng sốt rét và vùng không

có sốt rét diễn ra phổ biến

Sự lan truyền bệnh sốt rét được quyết định bởi 3 yếu tố gồm: tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh và con người Sự lan truyền bệnh sốt rét có thể bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố tự nhiên, kinh tế và xã hội

a Tác nhân gây bệnh (KSTSR) Tác nhân gây bệnh SR là ký sinh trùng Plasmodium, nguồn bệnh có thể là bệnh

nhân hoặc người lành mang ký sinh trùng thể hữu tính Chu kỳ phát triển của KSTSR qua 2 vật chủ là người (giai đoạn sinh sản vô tính) và muỗi (giai đoạn sinh sản hữu

HUPH

Trang 16

tính) Người là vật chủ phụ, muỗi Anopheles là vật chủ chính và là trung gian truyền

bệnh

b Cơ thể cảm thụ (con người)

Tất cả mọi người đều có thể mắc bẹnh SR nếu bị muỗi nhiễm KSTSR (thể thoa trùng ở tuyến nước bọt) đốt Về tuổi thì tất cả các lứa tuổi đều có thể nhiễm KSTSR, tuy nhiên ở vùng sốt rét lưu hành (SRLH) những người có miễn dịch (tuy miễn dịch không bền vững)thường thấp hơn những người chưa có miễn dịch và trẻ em thường có

tỷ lệ nhiễm cao hơn người lớn Giới tính không liên quan đến yếu tố cảm thụ, nhưng một số ngành nghề liên quan đến núi rừng (làm rẫy, trồng rừng, khai thác lâm thổ sản, tìm trầm ) thường có tỷ lệ mắc sốt rét cao Người dân thành thị, vùng đồng bằng và vùng không có SRLH dễ nhiễm bệnh và bệnh dễ chuyển biến nặng vì chưa có miễn dịch sốt rét

c Trung gian truyền bệnh sốt rét (muỗi Anopheles) Anopheles (An.) thuộc họ Muỗi (Culicidae), họ này có khoảng 3.500 loài, được chia thành 3 phân họ: Toxorhynchitinae, Culicinae và Anophelinae Phân họ Anophelinae có 3 giống: Bironella, Chagasia và Anopheles Đến nay ở Việt Nam có mặt 64 loài Anopheles, với 15 loài đã được xác định là vector SR chính, vector phụ và vector nghi ngờ Các vector chính: An minimus phân bố khu vực rừng núi trên toàn quốc; An dirus phân bố khu vực rừng núi từ 20 độ vĩ Bắc trở vào Nam; An epiroticus phân bố ở vùng ven biển nước lợ duyên hải Nam bộ Các vector phụ: An jeyporiensis,

An maculatus, An aconitus (đồi núi toàn quốc), An subpictus, An sinensis, An vagus, An indefinitus (ven biển miền Bắc), An subpictus, An sinensis, An campestris (ven biển miền Nam) Vector nghi ngờ An culicifacies (núi rừng miền Bắc, miền Trung-Tây Nguyên), An interruptus (núi rừng Đông Nam Bộ), An lesteri (ven biển miền Bắc) và An nimpe (ven biển Nam Bộ)

d Mùa truyền bệnh sốt rét

Ở những nước xích đạo và nhiệt đới, nhiệt độ trung bình hằng ngày cao hơn

P ovale, và >16 oC đối với P falciparum) thì SR truyền bệnh quanh năm và SR phát

triển có từ 1-2 đỉnh cao trong năm Ở những nước có mùa đông rõ ràng thì SR không lây truyền một số tháng nào đó của mùa đông, mùa truyền bệnh ngắn hơn ở những nước nhiệt đới và cũng có từ 1-2 đỉnh trong năm Ở các nước nhiệt đới, tuy KSTSR có

HUPH

Trang 17

thể phát triển quanh năm trong cơ thể muỗi, nhưng các quần thể muỗi Anopheles lại

phát triển theo mùa (phụ thuộc vào nhiệt độ và lượng mưa, riêng ở vùng xích đạo thì chỉ phụ thuộc vào lượng mưa), nên sốt rét cũng có từ 1-2 điểm cao vào đầu mùa mưa

và cuối mùa mưa, hoặc trong suốt cả mùa mưa

1.1.3 Các biện pháp phòng chống sốt rét

1.1.3.1 Các biện pháp vật lý và môi trường

Các biện pháp vật lý có từ cổ xưa khá đơn giản nhằm để xua, diệt, ngăn muỗi tiếp xúc đốt người dưới các hình thức cơ học như đập, xua bằng cành lá, hun khói, đóng kín cửa, mặc quần áo dài… Các biện pháp mới hơn như lưới chống muỗi cho cửa nhà ở hoặc nằm màn tránh muỗi đốt và gần đây là vợt tích điện, bẫy đèn Các biện pháp cải tạo môi trường như phát quang bụi rậm, khơi thông cống rãnh, đổ dầu, bèo che mặt nước cũng được sử dụng phổ biến

1.1.3.2 Các biện pháp sinh học

Có thể kể đến như thả cá (cá chép, cá rô phi, một số loài cá cảnh ) ăn bọ gậy hoặc cá ăn rong, cỏ phá ổ đẻ của muỗi, nơi trú ẩn của bọ gậy Vi khuẩn diệt bọ gậy như chế phẩm Bacillus thunringesis H14 áp dụng trên một số thủy vực nước tù, đứng

để ngăn cản muỗi Anopheles đốt người Các chất dùng bôi ngoài da có hiệu quả với

nhiều loài côn trùng như dimethylphtalat, indalone, ethylhexanedrriol và diethyltoluamide (DEET) Biện pháp phun tồn lưu: phun tồn lưu hóa chất trên tường vách có tác dụng gây độc cho muỗi bằng con đường tiếp xúc Bởi các sinh thái của vector sau khi bay vào nhà tìm mồi có một khoảng thời gian đậu rình mồi trong nhà trước khi đốt mồi hoặc nghỉ sau khi đốt máu trước khi bay ra khỏi nhà Một số loài muỗi đậu trong nhà trong suốt thời gian tiêu máu và phát triển trứng Hóa chất phun tồn lưu được sử dụng hiện nay ở Việt Nam là Fendona 10SC, phun tồn lưu với liều

Biện pháp tẩm màn: Tẩm màn với hóa chất diệt côn trùng nhằm ngăn cản và làm giảm mức độ tiếp xúc giữa muỗi và người Biện pháp này thiên về bảo vệ cá nhân

HUPH

Trang 18

hơn là bảo vệ cộng đồng Tuy vậy, những con muỗi sau khi tiếp xúc với hoá chất tẩm trên màn có thể bị chết cho nên biện pháp này cũng có tác dụng bảo vệ cộng đồng, nhất là khi màn tẩm hóa chất được sử dụng trên diện rộng với tỷ lệ người ngủ trong màn cao Màn tẩm hóa chất tồn lưu lâu (Màn LLINs) có tác dụng kép, hoạt động như một rào cản vật lý ngăn chặn muỗi tiếp cận, nhưng cũng như một rào cản hóa học: hóa chất xua muỗi hoặc giết chúng khi chúng tiếp xúc với màn Màn LLINs đang được khuyến cáo bởi Tổ chức y tế thế giới (WHO) như một biện pháp hiệu quả và bền vững

để bảo vệ chống lại bệnh sốt rét

1.1.3.4 Truyền thông giáo dục phòng chống sốt rét

Một biện pháp không thể thiếu trong PCSR là truyền thông giáo dục nhằm vận động các cấp chính quyền, ban ngành đoàn thể, người dân tham gia PCSR Mục tiêu quan trọng khác của TTGD PCSR là chuyển biến hành vi của người dân theo hướng

có lợi để mọi người thực hiện tốt các biện pháp PCSR và tự bảo vệ mình khỏi mắc bệnh SR

1.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân trên thế giới và tại Việt Nam

1.2.1 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân trên thế giới

Năm 2017 Khairy S nghiên cứu tại Ả Rập Saudi cho kết quả: 98,4% cho biết họ

đã nghe nói về bệnh sốt rét, nhưng chỉ có 21,7% cho biết họ có đủ thông tin về bệnh Phần lớn những người được hỏi đều biết rằng bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm 89,1% và gây tử vong 70% Tuy nhiên, chỉ có 30,2% số người được hỏi cho rằng sốt rét là bệnh có thể điều trị được Hầu hết những người được hỏi có ý thức 97,5% đều có xu hướng muốn điều trị tại các cơ sở y tế và 63,2% muốn được điều trị trong vòng 24 giờ sau khi có triệu chứng Về các biện pháp phòng ngừa cá nhân, phương pháp phổ biến nhất được người trả lời áp dụng là phun thuốc tồn lưu trong nhà 47,3%, tiếp theo là phun thuốc chống muỗi 29,8%, mắc màn 13,2% và kết hợp thuốc xịt và lưới chống muỗi trên cửa sổ 4,7% (8) Nghiên cứu ở Iran năm 2017 cũng cho thấy rằng 93,0% số người được hỏi chọn vết đốt của muỗi là con đường lây truyền bệnh sốt rét, 76,5% đã trả lời chính xác các triệu chứng quan trọng nhất của bệnh sốt rét bao gồm sốt, rét run và ớn lạnh; 62,0% số người được hỏi cảm thấy chiến lược tốt nhất để kiểm soát véc tơ sốt rét là phun HC diệt muỗi, trong khi những người còn lại

HUPH

Trang 19

cảm thấy ngủ màn LLINs và diệt bọ gậy là phương pháp hiệu quả hơn để kiểm soát sốt rét lần lượt là 30,0% và 8,0% Có 55,5% số người tham gia cho rằng bệnh sốt rét có thể phòng ngừa được, 23,0% số người được hỏi thường ngủ trong màn (9) Tại Khu vực Châu Mỹ nghiên cứu của Mora-Ruiz tại Mexixo năm 2017 cho thấy: Trên 98,1% gia đình đã áp dụng một số biện pháp phòng chống muỗi đốt Trong số 94,3%, đã sử dụng màn ngủ Tổng cộng có 71,8% gia đình đã mua ít nhất một sản phẩm chống muỗi

(10) Tương tự một nghiên cứu tại Colombia cũng cho thấy rằng 86,9% biết rằng bệnh

sốt rét mắc phải do bị muỗi nhiễm bệnh đốt, 89,3% đã sử dụng thuốc để điều trị các triệu chứng và 86,0% người cho rằng cần uống thuốc đúng liều (11) Trong những năm gần đây khi sốt rét chuyển qua giai đoạn loại trừ ở một số quốc gia, các nghiên cứu về KAP PCSR đã được thực hiện nhằm tìm ra các chính sách phù hợp trong giai đoạn này DePina AJ nghiên cứu tại CaboVerde cho thấy khoảng 88,0% số biết đúng hình thức lây truyền, 96,0% xác định được các triệu chứng chủ yếu Về thái độ, 58,0% tìm đến cơ sở y tế gần nhất khi có triệu chứng, 64,0% trong 24h đầu và 88,0% trong 48h đầu Hơn 97,0% đã nghe nói về cửa lưới chống muỗi nhưng chỉ 19,0% đã sử dụng Trên thực tế 45,0% dựa vào bình xịt gia dụng và 43,0% được hưởng lợi từ việc phun HC chống muỗi (12) Nghiên cứu của Anteneh Fikrie miền Nam Ethiopia năm

2021 cho thấy77,6% biết nguyên nhân gây bệnh sốt rét 53,3% tin rằng ngủ màn là một trong những biện pháp phòng chống bệnh sốt rét Về thái độ PCSR có 92,5% đồng ý

về mức độ nghiêm trọng và mối đe dọa do bệnh sốt rét gây ra, 82,2% đồng ý rằng bệnh sốt rét là bệnh có thể phòng ngừa được 92,3% đồng ý dùng thuốc sốt rét đúng cách và đầy đủ; tuy nhiên 1,0% và 6,4% người tham gia nghiên cứu lần lượt không đồng ý và giữ thái độ trung lập với nhận định này Trong khi đó: 53,1% cho rằng việc

tự điều trị có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe của một người 42,0% sử dụng thuốc chống muỗi, 42,1% sử dụng thuốc xịt muỗi và 40,6% phun hóa chất chống muỗi Liên quan đến vệ sinh môi trường, lần lượt có 42,5% và 41,1% luôn thực hành vệ sinh môi trường và dọn sạch nước tù đọng gần nhà Trong số tất cả các hộ gia đình 30,3% luôn đến trung tâm y tế khi họ cảm thấy ốm Về thực hành PCSR có 54,3% đạt yêu cầu (13) Cũng tại Ethiopia Năm 2020 cho thấy có 98,2% cho biết muỗi đốt là nguyên nhân gây bệnh, 84,6% cho rằng màn chống muỗi như một biện pháp bảo vệ chống muỗi đốt Biện pháp bảo vệ chủ yếu được sử dụng là màn 73,3%, tiếp theo là phun thuốc

diệt côn trùng 13,0% (14) Nghiên cứu tại Senegal năm 2022 cho kết quả kiến thức tốt

HUPH

Trang 20

về bệnh sốt rét chỉ chiếm 34,4% và thực hành đạt các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét là 32,8% trong khi 59,0% có thái độ tích cực và 73,8% có hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc bệnh sốt rét tốt (7)

Đông Nam Á với đặc điểm của một khu vực từng là điểm nóng SR trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề trên Tại Lào năm 2021 nghiên cứu của cho Ken Ing Cherng Ong đã cho kết quả 44,6% biết về triệu chứng sốt rét, 40,6% biết chính xác đường truyền bệnh sốt rét, 29,2% biết nơi muỗi sinh sản 91,0% người dân chọn ngủ màn tẩm hóa chất diệt côn trùng.76,6% cho rằng hậu quả của sốt rét là

nghiêm trọng (16) Tại Campuchia nghiên cứu của Po Ly năm 2017 cho kết quả: Kiến

thức về muỗi truyền bệnh sốt rét và phòng chống bằng màn ngủ đạt trên 94,0% có 81,1% bệnh nhân đã được xét nghiệm chẩn đoán Chỉ 29,6% bệnh nhân sốt rét, 91,9%

số người được hỏi đã ngủ màn nhưng chỉ có 27,3% ngủ trong màn LLINs (17) Một nghiên cứu cắt ngang ở vùng nông thôn tỉnh Đông Nusa Tenggara, Indonesia của Robertus Dole Guntur năm 2022 cho thấy 86% đã từng nghe đến thuật ngữ sốt rét 82,4% người tìm cách điều trị tại các cơ sở y tế khi mắc SR, tuy nhiên chỉ có 46,8%

tham gia tìm cách điều trị trong vòng 24h (18) Tại Malaysia trong tổng số người tham

gia, 86% đã từng nghe đến thuật ngữ sốt rét, 13,9% người tham gia chưa bao giờ nghe nói về bệnh sốt rét (19)

Mặc dù sốt rét hiện nay đã là bệnh được biết đến nhiều trên thế giới, nhưng tỷ lệ KAP PCSR vẫn còn thấp tại nhiều khu vực nhất là các nước kém phát triển ở Châu phi

và Đông Nam Á Chính vì vậy công tác đẩy lùi SR vẫn đag gặp rất nhiều khó khăn, thách thức

1.2.2 Thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân tại Việt Nam

Nguyễn Qúy Anh (2005) nghiên cứu kiến thức, thái độ thực hành dân tộc Rắc lây huyện Khánh Vĩnh, Khánh Hòa cho thấy kiến thức về bệnh SR là 85,9%, biết muỗi truyền bệnh SR 80,7%, 73,8% người thực hành ngủ màn PCSR (20) Lê Khánh Thuận(2008) khi nghiên cứu "Đánh giá Thông tin - giáo dục - truyền thông và kiến thức - thái độ - hành vi của người dân trong PCSR sau can thiệp truyền thông – giáo dục sức khỏe" cho kết qủa kiến thức đạt về nguyên nhân gây bệnh SR của người dân là M’Mông (16%), Tày (15,2%); Ê-đê (25,9%); Giarai (7,4%); Bana (5%); biết muỗi là trung gian truyền bệnh SR là M’Mông (50,7%), Tày (80,4%); Ê-đê (56,9%); Giarai

HUPH

Trang 21

(33,3%); Bana (61,1%)(21) Tại Huyện Hướng Hóa - Quảng Trị, năm 2015 Trần Anh Tuấn nghiên cứu về KAP PCSR cho thấy tỷ lệ người dân có kiến thức chung PCSR đạt là 39,9% và có liên quan đến giới nghề, tiền sử mắc sốt rét (22) Theo nghiên cứu của Võ Trung Hoàng (2016) tại 3 nhóm người Ca-dong, Xơ- đăng, Mnông ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam năm 2012-2013 cho thấy tỷ lệ trả lời đúng bệnh SR có thể phòng chống được chung cho 3 nhóm người khá cao (83,7%), cao nhất là người Xơ-đăng (89,6%), theo sau là người Ca-dong (88,3%) và người Mnông (72,8%) (23)

Nguyễn Quý Anh (2016), “Thực trạng mắc sốt rét ở nhóm dân di biến động tại một số xã vùng sốt rét lưu hành nặng tỉnh Đắc Nông năm 2015” kết quả điều tra cắt ngang được thực hiện tại 4 xã Đăk Wil, Cư Knia huyện Cư Jút và xã Quảng Trực, Đăk Buk So huyện Tuy Đức trong tháng 10 năm 2015, cho thấy tỷ lệ hiện mắc sốt rét là 0,13% Tỷ lệ người dân biết về bệnh sốt rét là 78,0% và nguồn thông tin chủ yếu là từ cán bộ y tế Hiểu biết về muỗi truyền bệnh sốt rét chiếm tỷ lệ 67,2%, biết ngủ màn để phòng bệnh sốt rét là 56,7% (24) Hồ Đắc Thoàn (2006) nghiên cứu kiến thức, thái độ thực hành người H’roi huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên cho thấy trong số người ngủ lại trong rừng, rẫy có 73,7% người mang theo màn và 77,7% người dân đến cơ sở điều trị khi nghĩ mình bị bệnh SR (25) Nghiên cứu của Lê Xuân Hùng (2008) tại Hà Giang và Gia Lai cũng cho thấy: sau 2 năm can thiệp 95,8% số hộ mang màn đi rẫy so với 90,3% trước can thiệp Tỷ lệ BNSR ở 4 huyện nghiên cứu giảm thấp đáng kể từ 45%- 50% và hầu như không ai cúng ma hay không làm gì khi ốm Theo Trần Đỗ Hùng, Đinh Văn Thiên (2010) tại xã Phú Lý, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai cho thấy tỷ lệ thực hành ngủ màn vào ban đêm là 98,5%, ban ngày là 1,0%, không chấp nhận ngủ màn là 0,5% (26)

Nghiên cứu của Hoàng Hà (2014) về thực trạng sốt rét và đánh giá kết quả can thiệp phòng chống sốt rét tại một số xã biên giới của huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị cho thấy Tỷ lệ thực hành đạt: ngủ màn thường xuyên 50,5%; Tỷ lệ thực hành không đúng: không ngủ màn: 49,5% Tỷ lệ người dân có ngủ màn mắc sốt rét thấp hơn không ngủ màn (4,7% so với 28,5%) Tỷ lệ 4,5% người dân đi rừng, ngủ rẫy mắc sốt rét; không đi rừng, ngủ rẫy mắc sốt rét 2,3%; Người dân có đi sang Lào ngủ lại mắc sốt rét 5,6%; không đi sang Lào mắc sốt rét 4,3% Người dân sống gần rừng mắc sốt rét tỷ lệ 3,7%, người dân ở xa rừng mắc sốt rét tỷ lệ 2,1% Truyền thông giáo dục vệ sinh môi trường ở phòng chống sốt rét thường quy chỉ hoạt động bình thường, người

HUPH

Trang 22

dân chỉ được truyền thông trực tiếp trung bình 1 đợt/năm nên kết quả vẫn còn hạn chế,

tỷ lệ ngủ màn chống muỗi qua điều tra hộ gia đình còn thấp 57,1%; đặc biệt khi đi rừng, ngủ rẫy, qua lại biên giới ít ngủ màn (27) Tại Huyện Hướng Hóa - Quảng Trị, năm 2015 Trần Anh Tuấn nghiên cứu về KAP PCSR cho thấy tỷ lệ đạt chung về thái

độ là 37,7% và liên quan đến lứa tuổi; Tỷ lệ đạt chung về thực hành là 53,8% và có liên quan đến nhóm tuổi, nghề, từng mắc bệnh sốt rét (22) Võ Trung Hoàng (2016) nghiên cứu tại 3 nhóm người Ca-dong, Xơ- đăng, Mnông ở huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam năm 2012-2013 cho thấy tỷ lệ ngủ màn còn ở mức thấp khoảng 44,5% (504/1.131), trong đó ngủ màn thấp nhất là nhóm người Xơ-đăng 26,5% (104/393) rồi đến nhóm người Mnông 41,5% (154/371) cao hơn là nhóm người Ca-dong 67,0% (246/367) (23) Theo Nguyễn Quý Anh (2016), “Thực trạng mắc sốt rét ở nhóm dân di biến động tại một số xã vùng sốt rét lưu hành nặng tỉnh Đắc Nông năm 2015” kết quả điều tra cắt ngang được thực hiện tại 4 xã Đăk Wil, Cư Knia huyện Cư Jút và xã Quảng Trực, Đăk Buk So huyện Tuy Đức trong tháng 10 năm 2015, cho thấy tỷ lệ hiện mắc sốt rét là 0,13% Khi bị sốt, sốt rét có 80,0% chọn đến Trạm y tế xã để được khám và điều trị Tỷ lệ ngủ màn thường xuyên là 74,8% nhưng số người ngủ màn đêm trước điều tra là 85,5% (24)

Năm 2021 nghiên cứu của Nguyễn Thị Nương tại Tỉnh Đắk Lắk cho kết quả thực hành phòng chống sốt rét đạt yêu cầu chiếm 63,2% Trong đó, tỷ lệ đối tượng nghiên cứu luôn luôn mang theo màn/võng màn khi đi rừng chiếm 48,2%, Ngoài ra các đối tượng cũng có áp dụng các biện pháp dự phòng khác như mặc quần áo dài tay

và kem xua muỗi lần lượt 96,7% và 49,3% (28) Nghiên cứu của Nguyễn Văn Chuyên

về KAP PCSR tại xã Quảng Trực, huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông cho kết quả: Kiến thức chung về phòng bệnh SR đạt là 85,9% ĐTNC có ngủ lại khi giao lưu biên giới và

có sử dụng màn là 87,5% Thực hành chung về phòng bệnh SR đạt là 71,8% (29)

Tại Việt Nam hiện nay có rất nhiều các nghiên cứu về KAP PCSR, kết quả cho thấy rằng KAP PCSR giữa các dân tộc và các điểm điều tra khác nhau thường thay đổi theo thời gian Đặc biệt tỷ lệ kiến thức, thực hành PCSR ở các đối tượng là người dân tộc thiểu số, dân di biến động tại vùng biên giới khu vực Miền Trung - Tây Nguyên vẫn còn khá thấp Điều này dẫn đến tình hình sốt rét tại khu vực trên vẫn có nhiều biến phức tạp

HUPH

Trang 23

1.3 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân:

Yếu tố cá nhân:

Nghiên cứu của Anteneh Fikrie tại miền Nam Ethiopia năm 2021 chỉ ra rằng trình độ học vấn là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến KAP của người tham gia nghiên cứu khi: Những người tham gia có trình độ học vấn THCS có khả năng thực hành phòng chống sốt rét tốt cao gấp 5 lần so với những người mù chữ [OR = 5,0 (95% CI 2,24–12,03)] Tương tự, tỷ lệ này ở người có trình độ học vấn hết THPT cao gấp 7 lần [AOR = 7,3 (95% CI: 2,84–18,55)] (12) Một nghiên cứu khác ở Uganda năm 2015 cũng chỉ ra các yếu tố được tìm thấy có liên quan đến kiến thức về các biện pháp phòng chống sốt rét là tuổi (χ2 = 32,1; p < 0,01), tình trạng việc làm (χ2 = 18,1; p

< 0,01), trình độ học vấn (χ2 = 20,3; p = 0,01), thu nhập (χ2 = 14,5; p = 0,01) Những người đang đi làm có khả năng thực hành PCSR cao hơn so với những người thất nghiệp (OR 1.2, CI 1.01 – 1.53) Những hộ gia đình có thu nhập trung bình hàng tháng cao có khả năng PCSR cao hơn hộ có thu nhập thấp (OR 1.5, CI 1.05 – 2.03) Những người chưa từng bị sốt rét trước đó có nhiều khả năng nhận thấy hậu quả của bệnh sốt rét là nghiêm trọng hơn so với những người đã từng mắc bệnh sốt rét (OR =1,7, KTC 95%: 1,03 - 2,75) (30) Nghiên cứu tại Malaysia cho thấy rằng: Những người đã từng

bị nhiễm sốt rét cho thấy rằng hiểu biết của họ về SR tốt hơn so với những người

tham gia cho thấy mức độ hiểu biết về lây truyền bệnh sốt rét cao hơn so với người

thấy trình độ học vấn tiểu học (OR = 5,4, p = 0,002) hoặc trung học (OR = 10,4, p = 0,001) có liên quan đến kiến thức tốt về sự lây truyền, dấu hiệu và các biện pháp phòng chống bệnh sốt rét Nam giới có hiểu biết thấp hơn nữ (OR = 0,4, p = 0,001) Các cá nhân thuộc hộ gia đình khá giả có nhiều có thái độ tích cực hơn đối với bệnh sốt rét so với những người thuộc hộ gia đình nghèo (OR = 3,5, p = 0,004) Tỷ lệ thái độ tích cực đối với bệnh sốt rét giảm ở những người tham gia có trình độ học vấn tiểu học tương ứng (OR = 0,14, p = 0,005) (15)

Như vây các yếu tố cá nhân như: Độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, dân tộc, tiền

sử mắc bệnh….là những yếu tố góp phần tác động đến kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người tham gia nghiên cứu

HUPH

Trang 24

Yếu tố đặc thù địa phương:

Theo nghiên cứu năm 2019 ở Cabo Verd thì những người tham gia nghiên cứu

là cư dân thành thị có khả năng thực hành phòng chống sốt rét tốt cao hơn gần 2 lần so với cư dân nông thôn (12) Điều này phù hợp với một báo cáo nghiên cứu từ Malawi, nguyên nhân có thể là do người dân thành thị tiếp xúc nhiều hơn với các nguồn thông tin khác nhau giúp nâng cao kiến thức của người tham gia về các phương pháp phòng chống bệnh sốt rét và lợi ích của việc ngủ trong màn tẩm HC diệt muỗi (31) Theo nghiên cứu ở Uganda thì Chỉ có 29,6% số hộ gia đình đưa trẻ đi khám ngay khi bắt đầu sốt Số còn lại tìm cách điều trị từ 1- 3 ngày lý do chính được đưa ra khoảng cách

xa giữa nhà và CSYT: có 23,5% phải đi bộ 1 km; 9,2% hơn 5 km đây cũng là một thách thức đáng kể đối với người dân Tại Burkina Faso năm 2018 khoảng cách địa lý (OR = 2,7; 95% CI 2,1–3,7) và đã được truyền thông (AO = 1,8; 95% CI 1,3–2,5) là các yếu tố quyết định việc tìm kiếm dịch vụ chăm sóc kịp thời khi bị sốt (30)

Tập quán của người dân đi làm rừng, làm nương rẫy và ngủ lại qua đêm tại nơi làm việc: Những đối tượng này có tỷ lệ sử dụng màn và các biện pháp bảo vệ cá nhân khác rất thấp dẫn đến nguy cơ mắc bệnh SR cao Đi rừng, ngủ rẫy là thói quen canh tác phổ biến hiện nay của đồng bào dân tộc thiểu số các huyện miền núi Trung Bộ trong các dịp mùa vụ, trong mùa rẫy đồng bào thường kéo cả nhà lên chòi rẫy chỉ được làm tạm bợ để tiện việc làm ăn hoặc thu hoạch trong thời gian từ một tuần đến một tháng Nhà trong rẫy thường làm tạm bợ, sơ sài, vách có nhiều khe hở nên tác dụng tồn lưu của hóa chất phun trên vách thấp, màn tẩm hóa chất theo phương pháp truyền thống cũng ít hiệu quả, vì màn bị bẩn nhanh nên thường xuyên phải giặt, tác dụng diệt tồn lưu của hóa chất trên màn thấp, diện tích nhà rẫy nhỏ không có chỗ treo màn, biện pháp quản lý điều trị cũng rất khó thực hiện vì nhà rẫy rải rác khắp nơi trong rừng sâu Khi trở lại thôn bản, những người này trở thành nguồn lây truyền bệnh sốt rét cho cộng đồng Con đường “rẫy-thôn/bản-rẫy” là con đường đưa sốt rét quay trở lại thôn bản, nơi sốt rét đã giảm và tương đối ổn định

Theo nghiên cứu của tác giả Lục Nguyên Tuyên, và CS: Tình hình sốt rét ở nhóm dân đi rừng ngủ rẫy và một số biện pháp can thiệp tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa, cho thấy: Tỷ lệ nhiễm KSTSR chung trong cộng đồng dân cư

là 5,4% Tỷ lệ nhiễm KSTSR nhóm ngủ rẫy là 7,7% và nhóm không ngủ rẫy là 4,3% Nhóm ngủ rẫy có tỷ lệ KSTSR cao hơn nhóm không ngủ rẫy (p<0,05) (32) Đề tài

HUPH

Trang 25

nghiên cứu “Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét và hiệu quả của võng có bọc võng tẩm hóa chất diệt muỗi trong PCSR cho người đi rừng, ngủ rẫy tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị” của Hồ Văn Hoàng, Triệu Nguyên Trung (2010) cho thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR ở người đi rừng, ngủ rẫy chiếm 7,4% Nguyễn Xuân Thiện (2005) nghiên cứu thực trạng mắc sốt rét và áp dụng một số biện pháp PCSR cho đối tượng đi rừng ở huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị cho thấy nhóm người đi rừng có tỷ lệ nhiễm KSTSR là 8,2% (33) Nghiên cứu “Thực trạng mắc sốt rét và các yếu tố liên quan đến bệnh sốt rét của người dân đi rừng ngủ rẫy tại huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận” của Chế Ngọc Thạch (2010) cho thấy NDĐRNR có nguy cơ mắc SR cao gấp 5,0 lần ở những người không

đi rừng ngủ rẫy, nếu NDĐRNR nhiễm KSTSR thì có 69,3% số trường hợp nhiễn KSTSR trong quần thể là do đi rừng ngủ rẫy Nghiên cứu còn cho thấy có nhiều yếu tố gây khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp PCSR cho nhóm đối tượng đi rừng ngủ rẫy như: 75,0% trả lời diện tích nhà rẫy nhỏ không có chỗ treo màn; 54,8% trả lời không đủ màn (màn rách) (34) Nghiên cứu của Lục Nguyên Tuyên (2005) về “Tình hình sốt rét ở nhóm dân đi rừng ngủ rẫy và một số biện pháp can thiệp tại xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa” cho thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm dân ngủ rẫy là 29,7% cao hơn tỷ lệ 13,6% ở nhóm không ngủ rẫy; sau một năm can thiệp, nhóm ngủ rẫy giảm còn 15,1% và nhóm không ngủ rẫy giảm còn 12,2% (p<0,05) (35) Nghiên cứu của Tạ Thị Tĩnh (2003) tại xã Khánh Trung, huyện Khánh Vĩnh, tỉnh Khánh Hòa thì người đi làm rẫy có nguy cơ mắc SR cao gấp 1,6 lần so với người không đi làm rẫy và công bố việc cấp thuốc để người dân mang theo tự điều trị khi đi rừng ngủ rẫy đã góp phần làm giảm SR, cụ thể có hệ số hiệu quả là 95,0% trong nhóm

đi rừng, ngủ rẫy (36) Nghiên cứu “Xác định tỷ lệ nhiễm KSTSR và kiến thức, thái độ, thực hành ở người dân ngủ rẫy tại xã Vĩnh Kim, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” của Hồ Văn Hoàng, Nguyễn Duy Sơn (2010) cho thấy tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét ở người dân ngủ rẫy là 6,7% (95% CI: 4,52-9,58), chỉ có 58,4% người dân ngủ màn ban đêm ở nhà 42,8% người dân ngủ màn khi ngủ rẫy (33)

Di biến động dân: Dân số sống ở vùng SRLH chủ yếu là dân nghèo, sống ở các vùng rừng núi, vùng các dân tộc thiểu số, vùng sâu vùng xa, vùng biên giới Di biến động dân giữa các địa phương theo mùa vụ từ vùng không còn bệnh SR vào vùng SRLH nặng để làm kinh tế hàng năm rất lớn, ngoài tầm kiểm soát của Y tế làm cho tình hình SR không ổn định và có nguy cơ bùng phát dịch SR Tại các vùng biên giới

HUPH

Trang 26

Việt Nam - Lào, giao lưu biên giới làm cho nguy cơ lan truyền sốt rét tiếp diễn và phức tạp, việc kiểm dịch biên giới tập trung tại các cửa khẩu, nhưng sự giao lưu và nhiễm bệnh lại chủ yếu thông qua nhiều đường tiểu ngạch dọc theo biên giới với sự nhập cảnh của người đến từ nhiều nước như Lào, Thái Lan, Campuchia… nên rất khó khăn trong việc quản lý BNSR Dọc tuyến biên giới đối diện với tỉnh Quảng Bình

là 2 tỉnh Savanakhet và Khăm muộn (CHDCND Lào) Gần giáp ngay biên giới về phía Lào có những bản nghèo, điều kiện kinh tế - xã hội gặp nhiều khó khăn, trình độ văn hóa thấp, còn nhiều thủ tục lạc hậu, đa số ở rừng sâu đi lại rất khó khăn Thêm vào đó hiên nay Lào vẫn đang là một trong những quốc gia có tỷ lệ mắc sốt rét cao Nếu một phía biên giới có phòng chống sốt rét tốt, nhưng phía bên kia lại không, thì những người không có miễn dịch khi đi vào vùng lan truyền cao rõ ràng sẽ gặp nguy

cơ cao

Theo nghiên cứu tại các xã vùng biên giới tỉnh Quảng Bình năm 2019 của Đỗ Thanh Bình thì tỷ lệ BNSR từ Lào chiếm 50,0% (37) Năm 2020 trong tổng số 27 ca sốt rét được phát hiện tại Quảng Bình thì có đến 19 trường hợp có đi lại qua biên giới Lào (4).Theo Trịnh Đình Tuấn, Lê Văn Thanh, Hồ Tân Tiến và CS “Xác định tỷ lệ hiện mắc và một số yếu tố nguy cơ sốt rét ở nhóm dân di cư tự do xã Cư Pui, huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk năm 2005” cho thấy: Tỷ lệ mắc bênh SR ở nhóm DCTD cao hơn nhóm dân tại chỗ ( 8,0% so với 4,0%) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05); Tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm dân DCTD cao hơn nhóm dân tại chỗ ( 6,3% so với 1,9%) sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) (38) Nghiên cứu của Vũ Đức Chính và CS (2016), đánh giá tình hình sốt rét ở xã Đắk Nhau và xã Đắk Ơ tỉnh Bình Phước năm 2012 đến năm 2015 cho thấy lệ ký sinh trùng sốt rét ở xã Đắk Nhau có: 20,2% người từ Campuchia; tại thôn bản 2,42% Tỷ lệ ký sinh trùng sốt rét ở xã Đắk

Ơ có: 17,2% người nơi khác đến; 16,3% từ Campuchia; tại thôn bản 5,3% (39)

Yếu tố tăng cường:

Truyền thông: Năm 2017 tại Ả Rập Saudi nguồn thông tin về PCSR phổ biến nhất là internet và mạng xã hội 25,5%, tiếp theo là gia đình 21,7%, trong khi thông tin

từ cơ sở y tế chỉ đóng góp 12,4% (8) Theo nghiên cứu năm 2019 ở Cabo Verd thì Trong số những người chưa hiểu thông tin về cách PCSR, một số nguyên nhân được chỉ ra như: ít thông tin được cung cấp 24%, thông tin thiếu phù hợp với dân 19%, không có tivi 15%, không nghe đài 8% Khi được hỏi họ muốn nhận thông tin về bệnh

HUPH

Trang 27

sốt rét theo cách nào, đa số 59% thích được thông tin qua truyền hình và các chuyến thăm của NVYT 51,0% (12) Kết quả của một nghiên cứu ở Uganda cho thấy: Nguồn chính của thông tin sốt rét là đài phát thanh 70,6% trong khi các nguồn khác là cơ sở y

tế 9,5%, lãnh đạo cộng đồng 5,2% và truyền hình 4,3% Và đã nghe tin sốt rét trong 12 tháng trước đó (χ2 = 92,3; p < 0,01) [30] Tại Campuchia các nguồn thông tin y tế bao gồm phương tiện phổ biến nhất là radio 57,1%,(95% CI 53,3–60,6), tiếp theo là TV 31,3%, (95% CI 27,8–35,2), gia đình, bạn bè và hàng xóm 29,7% (95% CI 25,8– 33,2)

và biển quảng cáo 17,1% (95% CI 14,2–20,3) Về nơi tìm kiếm lời khuyên hoặc điều trị: 76,0% là trung tâm y tế; 3,6% bệnh viện và TYT xã hiệu thuốc lần lượt là 2,6% đến 10,6% (17) Nghiên cứu của nguyễn Văn Chuyên năm 2019 đã chỉ ra rằng, những người đã từng được nhận thông tin qua phương tiện thông tin đại chúng thực hành phòng bệnh SR cao gấp 2,8 lần người chưa từng tiếp nhận p<0,05 (40) Nghiên cứu của Nguyễn Đình Hòa (2015) cho thấy những người chưa từng nghe/nhìn thông tin về bệnh SR thực hành phòng bệnh SR chưa đạt cao gấp 3,9 lần những người đã từng nghe/nhìn thông tin, (p<0,05) Điều này cũng dễ hiểu vì những người đã từng nhận thông tin về bệnh SR, họ sẽ có Kiến thức đạt về bệnh và nhận thức được tầm quan trọng của việc phòng bệnh, do đó dẫn đến thực hành phòng bệnh tốt hơn Những người nhận thông tin qua tranh, pano, áp phích có thực hành đạt cao gấp 8,7 lần người không được nhận; những người nhận thông tin qua hệ thống truyền thanh có thực hành đạt cao gấp 32,4 lần người không nhận; những người đã từng nhận thông tin qua tài liệu tuyên truyền phát tay có thực hành đat cao gấp 26,6 lần người chưa từng nhận; p<0,05 (41) Vì vậy, công tác truyền thông thay đổi nhận thức, hành vi cho cộng đồng là hết sức quan trọng; hình thức truyền thông có thể được thực hiện phong phú, đa dạng bằng nhiều hình thức như loa đài, phát thanh, pano áp phích; truyền thông trực tiếp tại cụm dân cư,

Hỗ trợ từ địa phương: Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng các hoạt động PCSR của các tổ chức - đoàn thể tại địa phương có tác động đến KAP PCSR của người dân Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Quân (2017) cho thấy rằng, sau khi được địa phương triển khai các biện pháp tăng cường PCSR (truyền thông, cấp màn, tẩm màn, xét nghiệm, giám sát…) thì: Tỷ lệ hiểu biết của người dân về nguyên nhân sốt rét đã tăng từ 67,5% lên 97,4%; Biết bệnh sốt rét có thể phòng chống được tăng từ 71,3% lên 90,5%; Thực hành các biện pháp phòng chống sốt rét như ngủ màn thường

HUPH

Trang 28

xuyên tăng từ 80,1% lên 90,7% (42) Một nghiên cứu định tính ở Thái Lan năm 2022 cũng đã chỉ ra rằng: một số biện pháp can thiệp được thực hiện bởi các tổ chức ở địa phương đã giảm tình trạng sốt rét rừng, giảm sự lây truyền đang diễn ra giữa các nhóm dân cư di động, người giao lưu biên bao gồm: phát hiện ca bệnh tích cực bởi NVYT lưu động, sàng lọc và điều trị tại chỗ cho người dân, cấp màn/võng màn (43) Hiệu quả của việc cấp màn LLINs, tẩm màn HC đã được chứng minh tại một NC ở Madagascar khi hiệu quả PCSR của người dân tăng lên 72,0% Về truyền thông theo nghiên cứu thì có 81% cho biết đã nhận được thông tin liên quan đến bệnh sốt rét trong các chuyến thăm nhà của cán bộ địa phương, 77,0% trong số này hài lòng và tiếp nhận thông tin PCSR Cũng trong nghiên cứu này NVYT và địa phương đã phối hợp thực hiện nhiều hoạt động để tăng cường sự tuân thủ và sửa đổi hành vi PC vector như: cấp màn LlINs, phun HC (44)

Tại nghiên cứu của Hồ Văn Hoàng về Quân dân y trong phòng chống bệnh sốt rét cho người dân vùng biên giới tỉnh Đắk Nông các hoạt động PCSR đã được tăng lên nhờ biện pháp kết hợp quân dân y cụ thể: tăng cường các hoạt động quản lý, phát hiện

ca bệnh tại cộng đồng, tăng cường cấp thuốc điều trị có giám sát, tăng cường giám sát giao lưu biên giới, 100% hộ gia đình được giám sát véc tơ, tăng cường số hộ gia đình được phun hóa chất và tẩm màn, tăng cường các hoạt động truyền thông giáo dục kiến thức phòng chống bệnh sốt rét cho cộng đồng, huy động được cán bộ quân y biên phòng, bệnh xá quân y tham gia công tác phòng chống và giám sát bệnh sốt rét tại cộng đồng, huy động được nguồn lực bổ sung cho công tác phòng chống sốt rét Kết quả kiến thức cho cộng đồng về chống sốt rét đã tăng 34,7% thực hành về chống sốt rét tăng 26,8% (45)

Như vậy ngoài yếu tố cá nhân thì các yếu tố đặc thù địa phương, yếu tố truyền thông, sự hỗ trợ của các tổ chức tại địa phương góp phần quan trọng tác động đến KAP PCSR của người dân Đây là cơ sở để triển khai các hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả của các biện pháp PCSR

1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

1.4.1 Đặc điểm địa lý, khí hậu, dân số

Về địa lý, dân số:

Địa bàn nghiên cứu là vùng cao, biên giới trải dài trên dải Trường Sơn thuộc khu vực phía tây của tỉnh Quảng Bình, với nhiều núi đồi có độ cao phổ biến từ 200-

HUPH

Trang 29

800m, mạng lưới sông suối khá dày đặc rừng Phía tây có đường biên giới dài 156 km tiếp giáp với tỉnh Savannakhet và Khăm muộn (CHDCND Lào), có sông Sê Pôn (là đường biên giới tự nhiên giữa 2 nước) và nhiều khe suối nhỏ, rừng rậm rất thuận lợi cho bệnh sốt rét phát triển Thêm vào đó, 9 xã trên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa

và luôn bị tác động bởi khí hậu của phía Bắc và phía Nam và được chia làm hai mùa rõ rệt Trên địa bàn 9 xã biên giới có nhiều dân tộc cùng sinh sống nhưng chủ yếu là dân tộc ít người thuộc hai nhóm chính là Chứt và Bru-Vân Kiều chiếm 70,0% Đa số đồng bào dân tộc sống trong rừng, ven rừng, phân bố ở các xã vùng sâu, vùng xa

1.4.2 Phân vùng dịch tễ sốt rét Quảng Bình

Theo phân vùng dịch tễ sốt rét tại Việt Nam năm 2019 của Bộ Y tế, tỉnh Quảng Bình có 83/ 151 xã (chiếm 55,0% tổng số xã, phường) thuộc vùng SRLH với 417.437 người (chiếm 45,4% dân số tỉnh) sống trong vùng SRLH; trong đó có 25 xã vùng SRLH nặng, 16 xã vùng SRLH vừa, 42 xã vùng SRLH nhẹ (21) Toàn bộ các xã nằm trong khu vực biên giới tỉnh Quảng Bình - Khăm Muộn (Lào) đều thuộc vùng SRLH nặng

1.4.3 Tình hình sốt rét tại Quảng Bình và các xã biên giới

Trong 5 năm từ 2017 đến 2021 bệnh nhân sốt rét tại Quảng Bình giảm 78,5%; ký sinh trùng sốt rét giảm 82,0% Các trường hợp mắc bệnh tập trung chủ yếu ở nhóm đối tượng thường xuyên qua lại biên giới Lào, đi rừng, ở rẫy qua đêm Đặc biệt trong năm

2020 có 01 trường hợp tử vong sau một thời gian dài mắc SR tại Lào Từ 2017 đến nay

9 xã biên giới Quảng Bình luôn chiếm tỷ lệ cao trong cơ cấu BNSR toàn tỉnh (38,4%)

Và tỷ lệ này tăng dần qua các năm, trong năm 2021 tất cả các trường hợp BNSR tỉnh Quảng Bình đều được phát hiện tại các xã biên giới

Bảng 1.3 Tình hình sốt rét tại các xã biên giới năm 2017 - 2021

BNSR

Tỷ lệ mắc/

1.000

BNSR

Tỷ lệ mắc/

1.000

BNSR

Tỷ lệ mắc/

1.000

BNSR

Tỷ lệ mắc/

1.000

BNSR

Tỷ lệ mắc/ 1.000

Trang 30

và giao lưu biên giới với Lào thiếu các biện pháp bảo vệ, công tác báo cáo ca bệnh, thông tin các ca bệnh giữa các tuyến y tế còn hạn chế Một vài nơi thấy sốt rét giảm nên có phần chủ quan, lơ là Kinh phí chương trình mục tiêu PCSR cắt giảm Tất cả những yếu tố này sẽ là nguy cơ làm sốt rét biến động gia tăng tại các xã biên giới tỉnh Quảng Bình

HUPH

Trang 31

Quảng Bình

Yếu tố tăng cường

- Tiếp nhận thông tin về SR

- Thời gian đi khám

- Uống thuốc theo HD

- Dự phòng SR: Xin thuốc khi đi rừng rẫy

Thái độ với bệnh SR

- Thái độ về cách phòng bệnh

- Thái độ về thực hành phòng bệnh

- Thái độ về các hoạt động phòng, chống bệnh

Kiến thức về PCSR

- Nguyên nhân gây bệnh SR

- Đường lây truyền SR

- Triệu chứng bệnh SR

- Cách phát hiện bệnh SR

- Hậu quả khi bị bệnh SR

- Khả năng điều trị khỏi bệnh SR

Trang 32

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối với phương pháp nghiên cứu định lượng đối tượng nghiên cứu là người dân từ 18 tuổi trở lên sống tại 9 xã biên giới tỉnh Quảng Bình

- Đối với phương pháp nghiên cứu định tính đối tượng nghiên cứu là đại diện lãnh đạo UBND và trưởng Trạm Y tế 09 xã biên giới tỉnh Quảng Bình Nghiên cứu lựa chọn lãnh đạo UBND xã và Trạm y tế xã đại diện cho chính quyền và cơ quan y tế chuyên môn để có thể thu thập được các thông tin cần thiết cho nghiên cứu

* Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng điều tra KAP:

+ Người dân từ 18 tuổi trở lên có hộ khẩu hoặc đang sinh sống tại xã

+ Đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ:

+ Người không có khả năng nghe, hiểu và trả lời phỏng vấn được

+ Người đang mắc bệnh hoặc rối loạn tâm thần

+ Không phỏng vấn được sau 3 lần điều tra viên tới thăm

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu: Tại địa bàn 9 xã biên giới (theo thứ tự từ Bắc đến Nam) như sau: 1) Thanh Hóa, 2) Trọng Hóa, 3) Dân Hóa, 4) Hóa Sơn, 5)Thượng Hóa, 6) Thượng Trạch, 7) Trường Sơn, 8) Lâm Thủy và 9) Kim Thủy

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 10/2021 đến 10/2022

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

Phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính Trong đó, nghiên cứu định lượng được sử dụng để thực hiện mục tiêu 1 nhằm đánh giá KAP của người dân về phòng chống sốt rét của người dân và một phần mục tiêu 2 về một số yếu tố liên quan đến KAP của người dân về phòng chống sốt rét của người dân các xã vùng biên tỉnh Quảng Bình

Nghiên cứu định tính được sử dụng để làm rõ hơn mục tiêu 1 và tìm hiểu một

số yếu tố ảnh hưởng đến KAP phòng chống sốt rét của người dân các xã vùng biên tỉnh Quảng Bình

Nghiên cứu định lượng được thực hiện song song với nghiên cứu định tính

2.4 Cỡ mẫu

HUPH

Trang 33

a/ Nghiên cứu định lượng:

Z21-/2 p(1- p)

d2 Trong đó:

+ n: Cỡ mẫu cần nghiên cứu

+ Z1-/2 = 1,96 (Độ tin cậy 95%)

+ p = 0,53 Theo nghiên cứu của Trần Anh Tuấn tại 3 xã biên giới huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị năm 2015: Tỷ lệ người dân khu vực biên giới có thực hành đạt về phòng chống sốt rét là 53,83%; về thái độ đạt là 37,72%; Tỷ lệ kiến thức chung PCSR đạt là 39,97%(22) Chọn p = 0,53 sẽ đạt cỡ mẫu lớn nhất bao phủ cả ba nhóm kiến thức, thái

b/ Nghiên cứu định tính:

Cỡ mẫu phỏng vấn sâu:

+ Đại diện lãnh đạo UBND: 09 người + Trưởng Trạm Y tế : 09 người Tổng cộng: 18 mẫu

2.5 Phương pháp chọn mẫu:

a/ Nghiên cứu định lượng:

Dùng phương pháp chọn mẫu hệ thống:

HUPH

Trang 34

- Lập danh sách các hộ gia đình tại 9 xã biên giới tỉnh Quảng Binh ( Thanh Hóa, Trọng Hóa, Dân Hóa, Hóa Sơn, Thượng Hóa, Thượng Trạch, Trường Sơn, Lâm Thủy và Kim Thủy)

- Tại mỗi xã xác định khoảng cách mẫu:

k = N/n = N/96 (N là tổng số hộ của xã)

- Chọn ngẫu nhiên một số (i) giữa 1 và k

- Các hộ gia đình có số thứ tự i +1k; i + 2k; i + 3k sẽ được chọn vào mẫu nghiên cứu cho đến khi kết thúc danh sách

Khoảng cách mẫu của các xã/thị trấn:

Tại mỗi hộ gia đình chọn 01 đại diện HGĐ để trả lời phỏng vấn bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, đảm bảo người dân được chọn đáp ứng các tiêu chí trên 18 tuổi, đồng ý tham gia nghiên cứu, có đủ khả năng đọc hiểu và trả lời câu hỏi

b/ Nghiên cứu định tính:

Dùng phương pháp chọn mẫu không xác suất, có chủ đích Đối tượng nghiên cứu là Đại diện lãnh đạo UBND và Trưởng Trạm Y tế 9 xã biên giới

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

a/ Nghiên cứu định lượng:

- Điều tra viên được tập huấn, hướng dẫn phương pháp phỏng vấn, cách ghi chép phiếu điều tra

- Tại thực địa, sau khi có danh sách các hộ gia đình được chọn điều tra (ngẫu nhiên) của thôn bản, ĐTV sẽ lần lượt đi đến các hộ gia đình, phỏng vấn trực tiếp chủ

hộ (nếu chủ hộ vắng mặt thì phỏng vấn vợ hay chồng của chủ hộ, nếu cũng vắng thì

HUPH

Trang 35

phỏng vấn người lớn tuổi nhất trong gia đình có mặt khi điều tra) theo bộ câu hỏi trong Phiếu điều tra KAP PCSR Nếu là người dân tộc không biết rõ tiếng kinh thì cần sự hỗ trợ phiên dịch của cán bộ y tế địa phương Sau khi điều tra viên phỏng vấn và ghi xong các nội dung, phiếu điều tra được giám sát kiểm tra lại lần nữa trước khi đoàn rời khỏi

hộ gia đình

Công cụ thu thập số liệu: Sử dụng Phiếu điều tra KAP phòng chống sốt rét tại cộng

đồng để điều tra mô tả kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống sốt rét của người dân

tại địa bàn nghiên cứu (Phụ lục 1)

b/ Nghiên cứu định tính:

Phương pháp thu thập số liệu là phỏng vấn sâu là đại diện lãnh đạo UBND và

trưởng Trạm Y tế 9 xã/thị trấn bằng bộ câu hỏi phỏng vấn sâu (Phụ lục 2)

Người phỏng vấn là học viên Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn khoảng 30 phút Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu đều được ghi âm

2.7 Biến số nghiên cứu

2.5.1 Các số liệu cần thu thập

- Kiến thức của người dân về phòng chống sốt rét

- Thái độ của người dân về phòng chống sốt rét

- Thực hành của người dân về phòng chống sốt rét

2.5.2 Các biến số nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng mô tả KAP của người dân về phòng chống sốt rét, bao gồm các nhóm biến số sau đây:

- Nhóm biến số chung về người dân: các đặc điểm nhân khẩu học, điều kiện kinh

tế hộ gia đình, một số biến số về hoàn cảnh lao động liên quan đến bệnh sốt rét

- Nhóm biến số kiến thức của người dân về phòng chống bệnh sốt rét: kiến thức chung về bệnh, tác nhân gây bệnh, nguồn lây, hậu quả, cách điều trị

- Nhóm biến số thái độ của người dân về phòng chống bệnh sốt rét: thái độ của người dân về các biện pháp phòng và điều trị bệnh sốt rét

- Nhóm biến số thực hành của người dân về phòng chống bệnh sốt rét: thực hành của người dân về xử trí khi mắc bệnh, thực hiện các biện pháp phòng bệnh sốt rét

- Nhóm biến số về các hoạt động hỗ trợ của địa phương

(Chi tiết xem tại phụ lục 4) 2.5.3 Chủ đề nghiên cứu định tính

HUPH

Trang 36

STT Nội dung Đối tượng Phương pháp

TTSL

1

Các yếu tố nhân khẩu học, dịch tễ học ảnh hưởng đến hoạt động phòng chống sốt rét tại địa phương

Đại diện chính quyền

2

Các yếu tố đặc thù địa phương ảnh hưởng đến hoạt động phòng chống sốt rét

Đại diện chính quyền

3

Các hoạt động PCSR đã triển khai và hiệu quả tại địa phương

Đại diện chính quyền

2.8 Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá:

*Đánh giá về kinh tế hộ gia đình: Áp dụng quyết định 07/2021/NĐ-CP ngày

27/01/2021 về việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2021-2025 Trong đó, quy định rõ các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều Tiêu chí về thu nhập, quyết định quy định chuẩn nghèo, cận nghèo ở khu vực nông thôn là 1.500.000 đồng/người/tháng; ở khu vực thành thị 2.000.000 đồng/người/tháng

* Di biến động dân cư: Là những người đi vào rừng, qua lại biên giới có ở lại

* Đánh giá KAP:

Thang đo được thiết kế dựa vào nghiên cứu của tác giả Đỗ Thanh Bình 2019 (37) và các nghiên cứu trên thế giới đã được chỉnh sửa để phù hợp với nghiên cứu Kiến thức, thái độ, thực hành của người dân được đánh giá bằng cách cho điểm mỗi

câu trong bộ phiếu điều tra (Phụ lục 3) Điểm được phân tách thành biến nhị phân sử

dụng mức cắt 50%, (tham khảo từ thang đo KAP về PCSR của tác giả Đỗ Thanh Bình năm 2019 (37)

Đánh giá kiến thức của ĐTNC về PCSR gồm 10 câu hỏi Việc đánh giá kiến thức bằng cách cho điểm và điểm được tính theo từng lựa chọn cho mỗi câu Nếu câu hỏi chỉ có 1 lựa chọn thì câu trả lời đúng được 1 điểm Nếu câu hỏi có nhiều lựa chọn thì một ý đúng cho một điểm, không trả lời hoặc trả lời sai thì cho không điểm Tổng điểm tối đa của ĐTNC là 14 điểm, số điểm càng cao thì kiến thức PCSR càng cao

HUPH

Trang 37

Phân loại điểm với điểm cắt 50%: ĐTNC có tổng điểm kiến thức có tổng điểm ≥ 7 điểm được coi là đạt về kiến thức, < 7 điểm được coi là không đạt về kiến thức

Đánh giá thái độ của ĐTNC về PCSR gồm 6 câu hỏi Việc đánh giá thái độ bằng cách cho điểm và điểm được tính theo từng lựa chọn cho mỗi câu, mỗi lựa chọn đồng ý cho 01 điểm, không đồng ý cho 0 điểm Tổng điểm tối đa của ĐTNC là 06 điểm, số điểm càng cao thì thái độ PCSR càng cao Phân loại điểm với điểm cắt 50%: ĐTNC có tổng điểm thái độ có tổng điểm ≥ 3 điểm được coi là đạt về thái độ, < 3 điểm được coi là không đạt về thái độ

Thực hành của ĐTNC được đánh giá qua 09 câu hỏi Mỗi lựa chọn thực hành đạt được tính 01 điểm, sai cho 0 điểm Nếu câu hỏi có nhiều lựa chọn thì một ý đúng

cho một điểm, không trả lời hoặc trả lời sai thì cho không điểm Tổng số điểm cao nhất

về thực hành là 30 điểm, Phân loại điểm với điểm cắt 50%: nếu điểm thực hành ≥ 15 điểm thì thực hành đạt, nếu < 15 điểm thì thực hành không đúng

Căn cứ vào Phiếu điều tra ở phụ lục 1, điểm kiến thức, thái độ và thực hành của người dân được tính như sau:

2.9 Xử lý số liệu

Nghiên cứu định lượng: Số liệu sau khi thu thập xong được mã hóa để nhập liệu

và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS Mô tả các tần số, tỷ lệ, các giá trị trung bình, lớn nhất/ bé nhất, trung vị, của các biến số nghiên cứu; xác định mối liên quan giữa các biến số tuổi, giới tính, dân tộc, nghề nghiệp, trình độ học vấn với kiến thức,

Nghiên cứu định tính: Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được gỡ bản ghi và được trích dẫn để làm rõ kết quả định lượng

2.10 Đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện khi được hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng thông qua theo quyết định số 355/2022 YTCC-HD3 ngày 01/8/2022 Các số liệu

và kết quả nghiên cứu chỉ sử dụng vào mục đích phục vụ sức khoẻ nhân dân ngoài ra không sử dụng cho mục đích nào khác Đối tượng nghiên cứu được biết trước về mục

HUPH

Trang 38

đích của đề tài, được giải thích cặn kẽ, giải đáp những thắc mắc Sẵn sàng, tự nguyện tham gia nghiên cứu Giữ bí mật tuyệt đối về tình trạng sức khỏe, thông tin cá nhân của người tham gia nghiên cứu

HUPH

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu

(n)

Tỷ lệ (%)

HUPH

Trang 40

Bảng 3.2 Đặc điểm dịch tễ học của đối tượng nghiên cứu

(n)

Tỷ lệ (%)

Bảng 3.3 Nguồn thông tin về PCSR

Tiếp nhận thông tin Số lượng

(n)

Tỷ lệ (%)

Đã nghe nói về

bệnh sốt rét

Nguồn thông tin

Có 95,4% người phỏng vấn đã nghe về bệnh sốt rét Người dân biết được các thông tin về phòng chống sốt rét nhiều nhất từ truyền thông đại chúng (điện thoại, ti vi, radio, sách…) với 76,2%; nhân viên y tế (NVYT) chiếm tỷ lệ 67,8%; từ bộ đội biên phòng (BĐBP) 57,9%; đoàn thể, chính quyền (ĐT-CQ) địa phương 50,2%; pano/áp phích/tờ rơi 28,7%; người thân-bạn bè 24,8% Có đến 92,1% đã nghe thông tin từ 02 nguồn truyền thông

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w