1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện nguyễn đình chiểu, tỉnh bến tre năm 2014

106 12 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng hoạt động chăm sóc người bệnh của điều dưỡng viên và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, tỉnh Bến Tre năm 2014
Tác giả Nguyễn Thị Thùy Trâm
Người hướng dẫn TS Lã Ngọc Quang
Trường học Trường Đại Học Y Tế Công Cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 2,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1.1. Lịch sử ngành điều dưỡng (13)
    • 1.1.2. Các định nghĩa về điều dưỡng (13)
    • 1.1.3. Khái niệm về công tác chăm sóc người bệnh (14)
    • 1.1.4. Chức năng của người điều dưỡng (14)
    • 1.1.5. Vai trò và nhiệm vụ của người điều dưỡng (14)
    • 1.1.6. Nghĩa vụ nghề nghiệp của người điều dưỡng (15)
    • 1.2. Các Văn bản pháp lý liên quan đến công tác CSNB trong bệnh viện (16)
    • 1.3. Các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về nhiệm vụ CSNB (17)
      • 1.3.1. Các nghiên cứu trên thế giới về nhiệm vụ CSNB của ĐDV (17)
      • 1.3.2. Các nghiên cứu tại Việt Nam về nhiệm vụ CSNB của ĐDV (18)
    • 1.4. Thông tin chung về bệnh viện và công tác CSNB tại BVNĐC, Bến Tre (26)
      • 1.4.1. Giới thiệu chung về bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (26)
      • 1.4.2. Công tác CSNB tại bệnh viện Nguyễn Đình chiểu (0)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (28)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (28)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu: (28)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (28)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (29)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (32)
    • 2.7. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu và tiêu chí đánh giá (32)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (34)
    • 2.9. Đạo đức trong nghiên cứu (34)
    • 2.10. Hạn chế của nghiên cứu và hướng khắc phục (35)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
    • 3.1. Thực trạng về việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV tại BVNĐC (37)
      • 3.1.1. Thông tin chung về ĐDV tham gia nghiên cứu (37)
      • 3.1.2. Mức độ hoàn thành đối với từng nhiệm vụ CSNB của ĐDV (38)
      • 3.1.3. Việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV phân bố theo khoa (45)
    • 3.2. Một số yếu tố liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV (46)
      • 3.2.1. Yếu tố cá nhân liên quan đến thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV (0)
      • 3.2.2. Các yếu tố tổ chức liên quan đến thực hiện nhiệm vụ CSNB (0)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (52)
    • 4.1. Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV tại BVNĐC, tỉnh Bến (52)
      • 4.1.1. Các thông tin chung về ĐDV tham gia nghiên cứu (52)
      • 4.1.2. Mức độ hoàn thành đối với từng nhiệm vụ CSNB của ĐDV (53)
    • 4.2. Một số yếu tố có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV (64)
      • 4.2.1. Các yếu tố cá nhân có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB (64)
      • 4.2.2. Các yếu tố tổ chức có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB (68)
  • KẾT LUẬN (71)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (73)
  • PHỤ LỤC (80)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.2.1 Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11/2013 đến tháng 7/2014

Tại 10 khoa lâm sàng có tính chất công việc của ĐDV gần tương đồng nhau như: Cấp cứu; Hồi sức tích cực và Chống độc; Nội A, Nội tổng hợp; Nội thần kinh - Nội tiết, Tim mạch, Ngoại tổng quát, Ngoại thần kinh - Chấn thương chỉnh hình và Phục hồi chức năng, Nhi, Nhiễm.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Đối tượng nghiên cứu là toàn bộ ĐDV trực tiếp tham gia công tác CSNB tại 10 khoa lâm sàng đã nêu, không thuộc các tiêu chuẩn loại trừ Tổng cộng có 213 ĐDV đã đồng ý tham gia nghiên cứu.

Bảng 2.1 Số ĐDV đồng ý tham gia vào nghiên cứu tại 10 khoa lâm sàng

STT Khoa Số ĐDV đƣợc chọn vào nghiên cứu

4 Ngoại thần kinh - Chấn thương chỉnh hình và Phục hồi chức năng (NTK-CTCH và PHCN) 23

5 Hồi sức tích cực và chống độc (HSTC-CĐ) 21

9 Nội Thần kinh-Nội tiết 12

Đối tượng nghiên cứu là 639 hồ sơ bệnh án (HSBA) của bệnh nhân đang điều trị nội trú, được chọn ngẫu nhiên từ số HSBA do các đơn vị tham gia nghiên cứu trực tiếp phụ trách trong thời điểm thu thập dữ liệu.

 Danh sách điều dưỡng viên trực tiếp CSNB tại 10 khoa lâm sàng nêu trên

 Bảng phân công công việc điều dưỡng hàng ngày và bảng phân công trực của điều dưỡng trưởng khoa.

Phương pháp thu thập số liệu

Để đánh giá việc thực hiện 12 nhiệm vụ CSNB của ĐDV và các yếu tố liên quan, chúng tôi đã sử dụng hai phương pháp thu thập số liệu: quan sát và phỏng vấn.

Phương pháp quan sát nhằm đánh giá việc thực hiện 12 nhiệm vụ của CSNB do ĐDV thực hiện, bao gồm cả quan sát trực tiếp và gián tiếp.

Phương pháp phát vấn nhằm mô tả các yếu tố liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ kiểm soát nội bộ của đơn vị Một trong những cách thực hiện là quan sát trực tiếp đơn vị khi họ thực hiện các nhiệm vụ kiểm soát nội bộ.

 Sử dụng bảng kiểm được thiết kế dựa vào 12 nhiệm vụ CSNB được quy định

Theo Thông tư 07/2011/TT-BYT, HUPH đã xác định 8 nhiệm vụ cần quan sát trực tiếp, chi tiết được trình bày trong phụ lục 3 Bảng kiểm đã được thử nghiệm trên 10 ĐDV và được chỉnh sửa trước khi tiến hành quan sát chính thức, với mỗi bảng kiểm được sử dụng cho việc quan sát một ĐDV.

Quan sát viên (QSV) bao gồm nghiên cứu viên, 05 cán bộ phòng Điều dưỡng và 01 điều dưỡng trưởng khoa có kinh nghiệm trong việc kiểm tra công tác CSNB tại các khoa lâm sàng Các QSV đã được tập huấn kỹ lưỡng về bộ công cụ, thống nhất phương pháp quan sát và đánh giá mức độ đạt theo bảng hướng dẫn tiêu chí đánh giá đã được thiết kế sẵn, cùng với các bảng kiểm quy trình kỹ thuật điều dưỡng hiện đang áp dụng tại bệnh viện.

Các cuộc quan sát được thực hiện công khai và ngẫu nhiên từ thứ 2 đến thứ 6, tập trung vào các thời điểm cao điểm của hoạt động CSNB, cụ thể là từ 7 giờ 30 đến 11 giờ sáng và từ 13 giờ 30 đến 16 giờ chiều Để theo dõi hoạt động vệ sinh cá nhân của người bệnh, QSV tiến hành quan sát vào khoảng thời gian từ 4 giờ 30 đến 6 giờ 30 sáng.

Mỗi hoạt động chăm sóc của ĐDV được ghi nhận một lần cho mỗi tiểu mục trên bảng kiểm Mỗi tiểu mục sẽ được đánh giá ba lần để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ.

QSV thực hiện quan sát 03 lần dựa vào bảng hướng dẫn tiêu chí đánh giá và các bảng kiểm kỹ thuật điều dưỡng để xác định mức độ hoàn thành của hoạt động chăm sóc của ĐDV Nếu sau buổi quan sát, QSV chưa đánh dấu đủ 03 lần cho mỗi tiểu mục, họ sẽ tiếp tục quan sát trong buổi sau cho đến khi tất cả các tiểu mục trên bảng kiểm được đánh dấu đủ 03 lần Đối với những tiểu mục không thể đánh giá do ĐDV phụ trách CSNB không có nhu cầu thực hiện, QSV sẽ bỏ qua tiểu mục đó.

Nghiên cứu viên đóng vai trò là giám sát viên và kiểm tra thông tin ngay khi nhận phiếu quan sát từ các QSV sau khi hoàn thành quan sát Họ cũng có trách nhiệm bổ sung thông tin khi cần thiết Đồng thời, họ thực hiện quan sát gián tiếp về việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV thông qua HSBA.

Sử dụng bảng kiểm được thiết kế cho 4 nhiệm vụ còn lại trong 12 nhiệm vụ theo Thông tư 07/2011/TT-BYT là cần thiết, vì những nhiệm vụ này không thể được đánh giá chỉ qua quan sát trực tiếp.

HUPH đã tiến hành quan sát gián tiếp trên hồ sơ bệnh án (HSBA) của người bệnh với sự tham gia của 213 đơn vị dịch vụ (ĐDV) trong nghiên cứu Bảng kiểm đã được thử nghiệm trên 10 HSBA và được chỉnh sửa trước khi thực hiện chính thức Mỗi bảng kiểm được sử dụng cho 03 HSBA của một ĐDV trực tiếp phụ trách.

 Điều tra viên là nghiên cứu viên (NCV) để đảm bảo tính thống nhất khi đánh giá về việc thực hiện các nhiệm vụ CSNB của ĐDV qua HSBA

NCV tiến hành điều tra công khai và ngẫu nhiên các khoa từ thứ 2 đến thứ 6, vào buổi sáng từ 10 giờ đến 11 giờ và buổi chiều từ 15 giờ đến 17 giờ Mỗi ĐDV sẽ được rút ngẫu nhiên 03 HSBA để đánh giá các nhiệm vụ CSNB dựa trên bảng hướng dẫn tiêu chí đánh giá đã thiết kế sẵn Nếu tiểu mục nào không thể đánh giá do thiếu thông tin trên HSBA, sẽ không thực hiện đánh giá cho tiểu mục đó Ngoài ra, phỏng vấn ĐDV sẽ được thực hiện để tìm hiểu các yếu tố liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB.

Bộ câu hỏi được xây dựng dựa trên tham khảo từ các tác giả Phạm Anh Tuấn (2011) và Dương Thị Bình Minh (2012), bao gồm 5 phần: thông tin cá nhân, các yếu tố tổ chức CSNB, yếu tố điều kiện làm việc, sự quan tâm của lãnh đạo đến công tác điều dưỡng, và các chế độ, chính sách điều dưỡng Trước khi tiến hành điều tra chính thức, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm với 30 ĐDV và điều chỉnh cho phù hợp.

ĐTV gồm 02 cán bộ phòng Điều dưỡng đã được hướng dẫn chi tiết về nội dung nghiên cứu và thống nhất phương pháp điều tra Mỗi ĐTV phụ trách 05 khoa để phát phiếu hỏi cho ĐDV, dựa trên danh sách đã được chọn để quan sát ĐTV sẽ giải thích rõ ràng nội dung nghiên cứu và phát phiếu hỏi cho từng ĐDV tự điền Sau một tuần thu thập phiếu hỏi, ĐTV sẽ kiểm tra tính phù hợp của các câu trả lời và đề xuất điều chỉnh nếu cần thiết.

 Nghiên cứu viên làm sạch số liệu ngay khi nhận phiếu điều tra từ ĐTV

HUPH d Số liệu thứ cấp: Tạo bảng tổng hợp thông tin về số lượng nhân lực điều dưỡng viên trực tiếp tại các cơ sở chăm sóc sức khỏe, cùng với bảng phân công nhân lực điều dưỡng cho 10 khoa lâm sàng Các thông tin này được thu thập trực tiếp bởi nghiên cứu viên.

Các biến số nghiên cứu

Các biến số trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên 12 nhiệm vụ chuyên môn CSNB theo Thông tư 07/2011/TT-BYT của Bộ Y tế, chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam và bộ tiêu chuẩn chất lượng CSNB của Hội Điều dưỡng Việt Nam Yếu tố liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của điều dưỡng được tham khảo từ các tác giả như Phạm Anh Tuấn (2011) tại Bệnh viện Việt Nam, Thụy Điển Uông Bí và Dương Thị Bình Minh (2012) tại Bệnh viện Hữu Nghị.

Các nhóm biến số gồm:

 Các biến số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, gồm 05 biến: từ 1 - 5

 Các biến số về việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV, gồm 12 nhiệm vụ với 46 tiểu mục tương ứng 46 biến: từ A1 đến M3

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV được phân thành 4 nhóm với tổng cộng 15 biến số, từ N1 đến Q3 (Thông tin chi tiết về các biến số này có thể được tìm thấy trong phụ lục 2.)

Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu và tiêu chí đánh giá

Phân cấp chăm sóc người bệnh

Người bệnh cần chăm sóc cấp 1 thường là những trường hợp nặng, nguy kịch, như hôn mê, suy hô hấp, hoặc suy tuần hoàn Họ cần phải nằm bất động và yêu cầu sự theo dõi, chăm sóc toàn diện và liên tục từ đội ngũ y tế.

Người bệnh cần chăm sóc cấp 2 gặp khó khăn trong việc thực hiện các hoạt động hàng ngày và cần sự theo dõi, hỗ trợ từ đội ngũ dịch vụ y tế.

 Người bệnh cần chăm sóc cấp 3 là người bệnh tự thực hiện được các hoạt động hàng ngày và cần sự hướng dẫn chăm sóc của ĐDV [9]

Phiếu chăm sóc : là phiếu ghi diễn biến bệnh của người b ệnh và những can thiê ̣p điều dưỡng do ĐDV, HSV thực hiê ̣n [9]

Mô hình phân công chăm sóc:

Mô hình phân công điều dưỡng chăm sóc chính là một phương pháp trong đó một Điều dưỡng viên (ĐDV) hoặc Hộ sinh viên (HSV) đảm nhận trách nhiệm chính về việc nhận định, lập kế hoạch chăm sóc, tổ chức thực hiện và theo dõi đánh giá cho một số bệnh nhân trong thời gian họ nằm viện, với sự hỗ trợ từ các ĐDV hoặc HSV khác.

 Mô hình chăm sóc theo nhóm: Nhóm có từ 2-3 ĐDV hoặc HSV chịu trách nhiệm chăm sóc một số người bệnh ở một đơn nguyên hay một số buồng bệnh [9]

Môi trường làm việc: Là môi trường trong đó điều dưỡng chăm sóc cho người bệnh có thể xác định được chất lượng và sự an toàn cho CSNB [57], [58]

An toàn người bệnh, theo Viện Y học (IOM), được định nghĩa là công tác phòng chống tác hại cho người bệnh Điều này được thực hiện thông qua ba hệ thống phân công chăm sóc: (1) phòng ngừa lỗi, (2) rút kinh nghiệm từ các lỗi đã xảy ra, và (3) xây dựng nền văn hóa an toàn liên quan đến các chuyên gia chăm sóc sức khỏe, tổ chức và người bệnh.

2.7.2 Tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB của ĐDV

Tiêu chí đánh giá được xây dựng dựa trên Thông tư 07/2011/TT-BYT, hướng dẫn công tác điều dưỡng trong việc chăm sóc người bệnh tại bệnh viện Nội dung này cũng tham khảo từ hướng dẫn đánh giá chất lượng chăm sóc người bệnh (CSNB) của Hội điều dưỡng Việt Nam.

Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng Bệnh viện của Bộ Y tế [12], [18], [24]

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB của ĐDV được đánh giá thông qua quan sát trực tiếp trong quá trình thực hiện CSNB và quan sát gián tiếp qua HSBA, với 5 mức độ khác nhau Chi tiết về bảng hướng dẫn đánh giá được trình bày trong phụ lục 4 và phụ lục 6.

+ Mức 1 (M1) = 0 điểm: có người bệnh nhưng không thực hiện chăm sóc

+ Mức 2 (M2) = 1 điểm: thực hiện một phần

+ Mức 3 (M3) = 2 điểm: thực hiện chưa đầy đủ

+ Mức 4 (M4) = 3 điểm: thực hiện đầy đủ

+ Mức 5 (M5) = 4 điểm: thực hiện đầy đủ và rất tốt

Bài viết đề cập đến 12 nhiệm vụ CSNB với 46 tiểu mục, trong đó mỗi tiểu mục sẽ được đánh giá 03 lần Mức độ hoàn thành của từng tiểu mục được xác định dựa trên điểm trung bình của 03 lần đánh giá này.

Điểm trung bình của các tiểu mục được sử dụng làm ngưỡng cắt để đánh giá mức độ hoàn thành của từng nhiệm vụ và tổng thể 12 nhiệm vụ Nếu có tiểu mục nào không được đánh giá do ĐDV trực tiếp phụ trách CSNB không có nhu cầu thực hiện, điểm của tiểu mục đó sẽ không được tính Mức độ hoàn thành được chia thành hai nhóm: “Chưa hoàn thành” khi điểm trung bình dưới 2,6 và “Hoàn thành” khi điểm trung bình từ 2,6 trở lên.

2.7.3 Về các yếu tố liên quan:

Sử dụng thang điểm Likert từ 1 – 5 để xây dựng bộ câu hỏi phát vấn, gồm: + 1: Rất không phù hợp/Rất không tốt/Rất không quan tâm

+ 2: Không phù hợp/Không tốt/Không quan tâm

+ 4: Phù hợp/Tốt/Quan tâm

+ 5: Rất phù hợp/Rất tốt/Rất quan tâm

Thang điểm 5 được mã hóa thành hai nhóm:

 Nhóm 1: Chưa phù hợp/Chưa tốt/Chưa quan tâm với điểm từ 1  3

 Nhóm 2: Phù hợp/Tốt/Quan tâm với điểm từ 4  5.

Phương pháp phân tích số liệu

Sau khi thu thập, số liệu được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi Data 3.1 Để đảm bảo độ chính xác, quá trình nhập số liệu được thực hiện hai lần.

02 bảng số liệu khác nhau rồi đối chiếu sự trùng khớp của số liệu Sử dụng phần mềm SPSS 18.0 để phân tích số liệu

 Phần mô tả: Thể hiện tần số, tỷ lệ % và giá trị trung bình của các biến trong nghiên cứu

Phân tích sử dụng các kiểm định thống kê như kiểm định Khi bình phương và kiểm định t để mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ.

Đạo đức trong nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ về mục đích của nghiên cứu và đã đồng ý tham gia Tất cả thông tin cá nhân của họ sẽ được bảo mật, và các dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

 Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế Công cộng cho

HUPH phép thực hiện theo Giấy chấp thuận Số: 067/2014/YTCC-HD3, ngày 11 tháng 3 năm 2014 về việc chấp thuận các vấn đề đạo đức nghiên cứu y sinh học

Nội dung nghiên cứu đã nhận được sự đồng thuận và ủng hộ từ Ban Giám đốc, Hội đồng Khoa học kỹ thuật cùng lãnh đạo các khoa tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu.

Hạn chế của nghiên cứu và hướng khắc phục

Việc quan sát công khai trong quá trình thực hiện các công việc của ĐDV có thể khiến họ cảm thấy không tự nhiên và không thể thực hiện theo thói quen hàng ngày, dẫn đến khả năng đánh giá không chính xác.

Nghiên cứu được thực hiện tại 10 khoa lâm sàng với các nhóm chuyên khoa khác nhau, trong đó ĐDV được phân công tại các vị trí khác nhau như buồng bệnh thường và buồng bệnh nặng/đơn nguyên hồi sức tích cực Điều này dẫn đến sự khác biệt trong việc thực hiện các nhiệm vụ CSNB, có thể gây ra sai số trong đánh giá chung về mức độ hoàn thành nhiệm vụ của các ĐDV.

 Số lượng người bệnh do ĐDV được phân công trực tiếp chăm sóc khác nhau

Vì vậy, khó so sánh về mức độ hoàn thành nhiệm vụ giữa các ĐDV với nhau

QSV cần theo dõi nhiều tiểu mục cùng lúc, điều này có thể dẫn đến sự chủ quan trong việc đánh giá mức độ đạt của từng tiểu mục Hơn nữa, sự khác biệt trong đánh giá giữa các QSV có thể gây ra sai số trong kết quả.

Việc phỏng vấn ĐDV nhằm tìm hiểu các yếu tố liên quan đến thực hiện CSNB có thể dẫn đến sai số do ĐDV tự điền, có thể do cảm xúc cá nhân hoặc việc đọc không kỹ nội dung câu hỏi, dẫn đến việc đánh dấu một cách chủ quan hoặc theo thói quen.

QSV thực hiện quan sát ngẫu nhiên, không theo lịch trình cố định và không tuần tự giữa các khoa, trong suốt 02 tháng thu thập dữ liệu Phương pháp này giúp duy trì tính tự nhiên và thói quen làm việc của ĐDV.

Để đảm bảo đánh giá chính xác về mức độ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc người bệnh của đội ngũ y tế, cần xác định rõ các tiểu mục liên quan đến từng chuyên khoa và khu vực chăm sóc.

HUPH không thể thực hiện được do phụ trách CSNB không có nhu cầu để thực hiện, thì không đưa tiểu mục đó vào đánh giá chung

Để đảm bảo tính chính xác trong việc so sánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB giữa các ĐDV, cần thực hiện so sánh trong cùng một nhóm chuyên khoa.

Để đảm bảo sự đồng nhất trong cách quan sát và lựa chọn "Mức độ đạt" giữa các QSV, nghiên cứu viên đã phát bảng hướng dẫn tiêu chí đánh giá cho QSV Các QSV cần đọc kỹ bảng hướng dẫn này trước khi tham gia tập huấn, nhằm thảo luận và thống nhất nội dung cũng như tiến hành quan sát thử nghiệm.

ĐTV đã phát phiếu hỏi cho từng đối tượng nghiên cứu, giải thích rõ mục đích của cuộc điều tra và nội dung bộ câu hỏi Đồng thời, ĐTV cũng hướng dẫn kỹ lưỡng cách tự đánh giá cho ĐDV, nhằm tránh sự rập khuôn trong quá trình đánh giá.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng về việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV tại BVNĐC

3.1.1 Thông tin chung về ĐDV tham gia nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung về ĐDV tham gia nghiên cứu Đặc điểm Tần số Tỷ lệ %

Cấp cứu Hồi sức tích cực Nội

Trung cấp Cao đẳng trở lên

Vị trí được phân công CSNB

Buồng bệnh thường Buồng bệnh nặng/HSTC

Mô hình chăm sóc Điều dưỡng chăm sóc chính (CSTD) Chăm sóc nhóm

Đội ngũ ĐDV tham gia nghiên cứu chủ yếu là nhân lực trẻ dưới 30 tuổi (62,9%), trong đó nữ chiếm tỷ lệ cao (77,9%) Trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên chỉ chiếm 8,9% trong đội ngũ ĐDV trực tiếp CSNB Hơn nữa, 74,2% ĐDV có thâm niên công tác dưới 10 năm, và phần lớn làm việc trong mô hình phân công điều dưỡng chăm sóc chính (64,8%).

3.1.2 Mức độ hoàn thành đối với từng nhiệm vụ CSNB của ĐDV

3.1.2.1 Tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh

Biểu đồ 3.1 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ tƣ vấn GDSK

Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ tư vấn và hướng dẫn GDSK cho người bệnh chỉ đạt 20,2%, trong đó hoạt động phổ biến về quyền lợi và nghĩa vụ khi nằm viện có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 9,9%.

3.1.2.2 Chăm sóc về tinh thần

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc tinh thần đạt 69,5%, cho thấy sự thực hiện chưa cao Đặc biệt, hoạt động giải đáp kịp thời thắc mắc của người bệnh hoặc người nhà trong quá trình điều trị chỉ đạt 52,1%, thấp hơn nhiều so với các hoạt động khác trong nhiệm vụ chăm sóc này.

3.1.2.3 Chăm sóc vệ sinh cá nhân

Biểu đồ 3.3 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc vệ sinh cá nhân

Biểu đồ 3.3 chỉ ra rằng, tỷ lệ ĐDV hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh rất thấp, chỉ đạt 27,2% Điều này cho thấy phần lớn các hoạt động vệ sinh chưa được thực hiện đầy đủ.

HUPH cá nhân cho người bệnh chăm sóc cấp 1 ĐDV hoàn thành nhiệm vụ chỉ chiếm tỷ lệ từ 46,2% trở xuống

3.1.2.4 Chăm sóc về dinh dưỡng

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc dinh dưỡng của 192 ĐDV chỉ đạt 71,4%, cho thấy hiệu quả chưa cao Đặc biệt, có đến 12% ĐDV chưa thực hiện nhiệm vụ cho người bệnh ăn qua sonde dạ dày.

3.1.2.5 Chăm sóc phục hồi chức năng

Biểu đồ 3.5 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc phục hồi chức năng

Kết quả biểu đồ 3.5 cho thấy, tỷ lệ ĐDV thực hiện hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc phục hồi chức năng cho người bệnh đạt khá cao (73,7%)

3.1.2.6 CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB có phẫu thuật/thủ thuật đạt 86,3%, cho thấy sự thực hiện đánh giá chung là cao Tuy nhiên, vẫn còn 13,7% ĐDV chưa hoàn thành nhiệm vụ đánh giá DHST và tình trạng bệnh của người bệnh trước khi đưa đến nơi thực hiện phẫu thuật/thủ thuật.

3.1.2.7 Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh

Biểu đồ 3.7 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc

Tỷ lệ ĐDV hoàn thành nhiệm vụ dùng thuốc và theo dõi người bệnh đạt 76,1%, tuy nhiên, vẫn còn 66,2% ĐDV chưa hoàn thành việc thông báo cho người bệnh về tên thuốc, số lượng thuốc sử dụng và tác dụng của thuốc.

3.1.2.8 CSNB giai đoạn hấp hối/tử vong

Biểu đồ 3.8 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB giai đoạn hấp hối/tử vong

Tỷ lệ ĐDV hoàn thành nhiệm vụ CSNB trong giai đoạn hấp hối/tử vong đạt 63,9% Tuy nhiên, vẫn còn 45,9% ĐDV chưa hoàn thành nhiệm vụ thông báo và giải thích với NNNB về tình trạng của người bệnh.

3.1.2.9 Thực hiện các kỹ thuật điều dƣỡng

Biểu đồ 3.9 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ thực hiện các kỹ thuật điều dƣỡng

Tỷ lệ hoàn thành nhiệm vụ của đội ngũ điều dưỡng chỉ đạt 57,7% Đặc biệt, hoạt động giải thích cho bệnh nhân trước khi thực hiện các can thiệp điều dưỡng và tuân thủ quy định vô khuẩn vẫn chưa được thực hiện đầy đủ.

HUPH thành nhiệm vụ còn chiếm tỷ lệ khá cao (46% và 48,4%)

3.1.2.10 Theo dõi, đánh giá người bệnh

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ theo dõi và đánh giá người bệnh của ĐDV đạt 85,9%, cho thấy hiệu quả cao trong công việc này Tất cả các hoạt động liên quan đều có tỷ lệ hoàn thành từ 84% trở lên.

3.1.2.11 Bảo đảm người bệnh an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn kỹ thuật

Biểu đồ 3.11 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm người bệnh an toàn

Các hoạt động bảo đảm an toàn cho người bệnh và phòng ngừa sai sót trong chuyên môn kỹ thuật đã đạt tỷ lệ hoàn thành cao, lên tới 89,2%.

3.1.2.12 Ghi chép hồ sơ bệnh án

Biểu đồ 3.12 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ ghi chép hồ sơ bệnh án

Mức độ hoàn thành nhiệm vụ ghi chép HSBA của ĐDV đạt 86,4%, với hầu hết các hoạt động trong nhiệm vụ này được thực hiện hoàn thành chiếm tỷ lệ cao là 88%.

Bảng 3.2 Đánh giá chung việc thực hiện 12 nhiệm vụ CSNB của ĐDV

STT Các nhiệm vụ CSNB của ĐDV

1 Tư vấn, hướng dẫn GDSK 213 170 79,8 43 20,2

2 Chăm sóc về tinh thần 213 65 30,5 148 69,5

3 Chăm sóc vệ sinh cá nhân 213 155 72,8 58 27,2

4 Chăm sóc dinh dưỡng 192 55 28,6 137 71,4

5 Chăm sóc phục hồi chức năng 76 20 26,3 56 73,7

6 CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật 95 13 13,7 82 86,3

7 Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho người bệnh 213 51 23,9 162 76,1

8 CSNB giai đoạn hấp hối/tử vong 61 22 36,1 39 63,9

9 Thực hiê ̣n các kỹ thuâ ̣t điều dưỡng 213 90 42,3 123 57,7

10 Theo dõi, đánh giá người bệnh 213 30 14,1 183 85,9

11 Bảo đảm an toàn, phòng ngừa sai sót chuyên môn, kỹ thuật trong CSNB 213 23 10,8 190 89,2

12 Ghi chép hồ sơ bệnh án 213 29 13,6 184 86,4

Bảng 3.2 cho thấy, ĐDV thực hiện hoàn thành khá tốt ở các nhiệm vụ: CSNB

HUPH cho thấy có 86,3% chỉ định phẫu thuật/thủ thuật, 85,9% theo dõi và đánh giá người bệnh, 89,2% đảm bảo an toàn và phòng ngừa sai sót chuyên môn, cùng với 86,4% ghi chép hồ sơ bệnh án Tuy nhiên, 42,3% điều dưỡng viên (ĐDV) chưa hoàn thành nhiệm vụ thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng cơ bản Đặc biệt, tỷ lệ ĐDV hoàn thành nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn giáo dục sức khỏe và chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh chỉ đạt 20,2% và 27,2%.

3.1.3 Việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV phân bố theo khoa

Bảng 3.3 Mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB của ĐDV phân bố theo khoa

Khoa Tần số Chƣa hoàn thành Hoàn thành

Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %

Hồi sức tích cực-Chống độc 21 9 42,9 12 57,1

Nội Thần kinh-Nội tiết 12 5 41,7 7 58,3

Hầu hết các khoa có tỷ lệ ĐDV hoàn thành nhiệm vụ CSNB vượt quá 50% Tuy nhiên, khoa Nội tổng hợp và khoa Tim mạch có tỷ lệ ĐDV hoàn thành nhiệm vụ CSNB thấp hơn 50%, lần lượt là 44,4% và 42,9%.

Một số yếu tố liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV

3.2.1 Yếu tố cá nhân liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV Bảng 3.4 Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân với mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB của ĐDV

Các yếu tố Chƣa hoàn thành

OR (95% CI) χ2 p Nhóm tuổi < 30 tuổi

Vị trí phân công CSNB

Kết quả từ bảng 3.4 chỉ ra rằng các yếu tố cá nhân của ĐDV, bao gồm tuổi, thâm niên công tác và vị trí được phân công trong nhiệm vụ CSNB, có mối liên hệ thống kê đáng kể với mức độ hoàn thành nhiệm vụ này (với p < 0,05).

Các yếu tố cá nhân như giới tính và trình độ chuyên môn không có mối liên quan rõ ràng với mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB của ĐDV.

Bảng 3.5 Mối liên quan giữa tuổi, trình độ chuyên môn của ĐDV với các nhiệm vụ CSNB

Nhóm tuổi Chƣa hoàn thành

OR (95% CI) χ2 p Dùng thuốc và theo dõi dùng thuốc cho ngƣ ời bệnh (n = 213)

Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối/tử vong (n = 61)

Thƣ̣c hiê ̣n các kỹ thuâ ̣t điều dƣỡng (n = 213)

Tư vấn, hướng dẫn GDSK (n = 213)

Nhóm tuổi của điều dưỡng viên (ĐDV) có mối liên hệ thống kê đáng kể với mức độ hoàn thành nhiệm vụ liên quan đến việc sử dụng và theo dõi thuốc cho bệnh nhân, cũng như trong việc chăm sóc người bệnh ở giai đoạn hấp hối hoặc tử vong và thực hiện các kỹ thuật điều dưỡng (p < 0,05).

Trình độ chuyên môn của ĐDV có liên quan với mức độ hoàn thành nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn GDSK cho người bệnh (p < 0,05) HUPH

Bảng 3.6 Mối liên quan giữa giới tính của ĐDV với mức độ hoàn thành các nhiệm vụ CSNB

Giới tính Chƣa hoàn thành

OR (95% CI) χ2 p Chăm sóc vệ sinh cá nhân (n = 213)

Chăm sóc dinh dưỡng (n = 192)

Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật (n = 95)

Theo dõi, đá nh giá người bệnh (n = 213)

Ghi chép hồ sơ bệnh án (n = 213)

Kết quả từ bảng 3.6 chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ hoàn thành chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSNB) giữa nam và nữ trong các nhiệm vụ như chăm sóc vệ sinh cá nhân, dinh dưỡng, CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật, theo dõi và đánh giá người bệnh, cũng như ghi chép hồ sơ bệnh án (p < 0,05).

Bảng 3.7 Mối liên quan giữa thâm niên và vị trí đƣợc phân công với mức độ hoàn thành các nhiệm vụ CSNB

Thâm niên công tác Chƣa hoàn thành

OR (95% CI) χ2 p Chăm sóc người bệnh có chỉ định phẫu thuật, thủ thuật (n = 95)

Chăm sóc người bệnh giai đoạn hấp hối/tử vong (n = 61)

Thƣ̣c hiê ̣n các kỹ thuâ ̣t điều dƣỡng (n = 213)

Tư vấn, hướng dẫn GDSK (n = 213)

Vị trí phân công CSNB

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các nhiệm vụ như chỉ định phẫu thuật/thủ thuật, chăm sóc người bệnh hấp hối, thực hiện kỹ thuật điều dưỡng và tư vấn giáo dục sức khỏe có mối liên hệ thống kê đáng kể với thâm niên công tác và vị trí phân công của điều dưỡng viên (p < 0,05).

3.2.2 Các yếu tố tổ chức liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa số nhân lực điều dƣỡng và thời gian trực tiếp CSNB với mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB

Trung bình Độ lệch chuẩn

Số ĐDV trung bình trực tiếp

Thời gian trung bình ĐDV trực tiếp CSNB buổi sáng

Thời gian trung bình ĐDV trực tiếp CSNB buổi chiều

Kết quả từ bảng 3.8 chỉ ra rằng thời gian trung bình ĐDV trực tiếp vào buổi sáng có mối liên hệ thống kê đáng kể với mức độ hoàn thành nhiệm vụ của ĐDV (p < 0,05) Cụ thể, thời gian trung bình CSNB vào buổi sáng của ĐDV hoàn thành nhiệm vụ là 2,8 giờ, dài hơn so với 2,5 giờ của ĐDV chưa hoàn thành nhiệm vụ.

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa số người bệnh trung bình/ĐDV trực tiếp chăm sóc tại các chuyên khoa với mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB

Trung bình Độ lệch chuẩn

HSTC-CĐ Chưa hoàn thành 9 5,6 0,53

Bảng 3.9 chỉ ra rằng, trong khối Ngoại, số lượng bệnh nhân trung bình do đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc trực tiếp thấp hơn so với số bệnh nhân trung bình do ĐDV chưa hoàn thành nhiệm vụ này, và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

BÀN LUẬN

Thực trạng việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV tại BVNĐC, tỉnh Bến

BVNĐC có 18 khoa lâm sàng, nhưng nghiên cứu chỉ chọn 10 khoa có tính chất công việc tương đồng Để thuận tiện cho việc so sánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB, 10 khoa lâm sàng được phân thành 06 nhóm chuyên khoa, mỗi nhóm gồm các ĐDV thực hiện nhiệm vụ tương tự Tổng cộng có 213 ĐDV tham gia, trong đó tỷ lệ ĐDV ở các khoa Nội, Ngoại, Nhi gần tương đương (27,3%, 23,0% và 20,7%) và cao hơn so với các chuyên khoa khác Do tính đặc thù của từng chuyên khoa, không tiến hành so sánh mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB giữa các ĐDV của các chuyên khoa này.

Nghiên cứu đã được thực hiện thông qua việc quan sát trực tiếp 213 ĐDV trong quá trình thực hiện CSNB vào giờ hành chính trong các ngày làm việc, cùng với việc quan sát gián tiếp.

Bài viết đánh giá hoạt động chăm sóc người bệnh nội trú thông qua 639 HSBA và 213 ĐDV, dựa trên chỉ số thực hiện theo thông tư 07/2011/TT-BYT của Cục quản lý khám chữa bệnh Nghiên cứu này khác biệt so với các nghiên cứu trước, khi mà các nghiên cứu trước thường dựa vào phỏng vấn người bệnh và ĐDV hoặc kết hợp phỏng vấn với quan sát trực tiếp.

Nghiên cứu của chúng tôi dựa trên bằng chứng quan sát thực tế nhằm đánh giá việc thực hiện công tác kiểm soát nội bộ (CSNB) của đơn vị dịch vụ y tế (ĐDV) Mặc dù áp dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau, mục tiêu cuối cùng là củng cố các hoạt động CSNB theo tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện của Bộ Y tế, từ đó nâng cao chất lượng dịch vụ y tế.

4.1.1 Các thông tin chung về ĐDV tham gia nghiên cứu ĐDV tham gia nghiên cứu đa số là nhân lực trẻ, nhỏ hơn 30 tuổi (62,9%), thâm niên công tác dưới 10 năm chiếm tỷ lệ cao (74,2%), phần lớn là nữ giới (77,9%) Kết quả này cũng khá tương đồng với các nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn tại bệnh viện Việt Nam – Thụy Điển Uông Bí (2011), Dương Thị Bình Minh tại

Đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện Hữu Nghị và bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng chủ yếu là lực lượng trẻ, nữ giới, phù hợp với tính chất nghề nghiệp Họ có khả năng tiếp thu nhanh các kỹ thuật mới và dễ dàng thay đổi hành vi, thái độ trong công việc Tuy nhiên, đội ngũ này còn thiếu kinh nghiệm chuyên môn và kiến thức, kỹ năng về chuyên khoa sâu Do đó, cần rèn luyện thêm kỹ năng chuyên môn để đáp ứng nhu cầu chăm sóc ngày càng cao của bệnh nhân.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ ĐDV có trình độ từ cao đẳng trở lên trong lực lượng ĐDV trực tiếp CSNB chỉ chiếm 8,9%, thấp hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đó (Phạm Anh Tuấn 38,7%, Dương Thị Bình Minh 15,5%, Trần Ngọc Trung 11,7%) So với tiêu chuẩn của Bộ Y tế, chỉ tiêu phấn đấu đến năm 2015 là 30% ĐDV, HSV có trình độ từ cao đẳng trở lên Hiện tại, tỷ lệ này tại BV NĐC còn rất thấp, do đó, bệnh viện cần tạo điều kiện cho ĐDV, HSV nâng cao trình độ và ưu tiên tuyển dụng những ứng viên có trình độ từ cao đẳng trở lên.

4.1.2 Mức độ hoàn thành đối với từng nhiệm vụ CSNB của ĐDV

4.1.2.1 Tư vấn, hướng dẫn GDSK Đây là một nhiệm vụ quan trọng cần được thực hiện ngay từ khi người bệnh vào viện, trong thời gian nằm viện và trước khi ra viện, nhằm giúp người bệnh và NNNB hiểu được nội quy, quy định của bệnh viện, biết về tình hình sức khỏe để hợp tác trong điều trị, duy trì và cải thiện sức khỏe Thông tư 07/2011/TT-BYT đặt nhiệm vụ này đầu tiên trong 12 nhiệm vụ của ĐDV và Bộ Y tế cũng đặt nhiệm vụ này trong tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện [9], [12]

Kết quả nghiên cứu cho thấy, ĐDV hoàn thành chung đối với nhiệm vụ tư vấn, hướng dẫn GDSK chỉ đạt 20,2% Trong đó, tỷ lệ hoàn thành các hoạt động trong nhiệm vụ này đều thấp, với hoạt động hướng dẫn người bệnh cách phòng bệnh khi ra viện đạt cao nhất chỉ 52,7%.

Tỷ lệ người bệnh/NNNB được tư vấn và hướng dẫn GDSK tại HUPH chỉ đạt 9,9%, cho thấy ĐDV chưa chú trọng đến công tác này Theo quy định của Bộ Y tế, người bệnh cần được tư vấn GDSK phù hợp khi vào viện, trong quá trình điều trị và khi ra viện, nhưng nhiều ĐDV chỉ thực hiện khi có yêu cầu từ người bệnh Mặc dù bệnh viện đã có quy định về tư vấn GDSK, việc giám sát thực hiện còn thiếu Nghiên cứu của Aghakhani (2012) chỉ ra rằng rào cản lớn nhất trong tư vấn GDSK là do điều dưỡng thiếu kiến thức và tài liệu hỗ trợ Tỷ lệ ĐDV thực hiện nhiệm vụ tư vấn GDSK trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với các nghiên cứu trước đó, như của Châu Thị Hoa (76%) và Bùi Thị Bích Ngà (49,6%) Các nghiên cứu này chủ yếu dựa vào ý kiến người bệnh, có thể không phản ánh đầy đủ thực tế Nghiên cứu của Dương Thị Bình Minh cho thấy tỷ lệ 66,2% khi đánh giá qua quan sát ĐDV, trong khi nghiên cứu của Trần Thị Thảo đạt 74,1% nhờ vào mô hình chăm sóc theo đội.

Nghiên cứu cho thấy, để đội ngũ điều dưỡng viên (ĐDV) có kỹ năng và kiến thức vững vàng trong việc tư vấn giáo dục sức khỏe (GDSK) cho bệnh nhân và người nuôi bệnh, các bệnh viện cần tổ chức các khóa tập huấn nhằm hướng dẫn quy định, cập nhật kiến thức và rèn luyện kỹ năng GDSK cho ĐDV.

4.1.2.2 Chăm sóc về tinh thần:

Là nhiệm vụ không thể thiếu của người điều dưỡng, theo nghiên cứu của

Nguyễn Trường Sơn (2007) cho thấy rằng 86,5% người bệnh có nhu cầu chăm sóc tinh thần khi khám và chữa bệnh Trong đó, 28,7% người bệnh chọn điều dưỡng để chia sẻ và 27,2% để tư vấn Điều này nhấn mạnh vai trò quan trọng của điều dưỡng trong việc chăm sóc nhu cầu tinh thần của bệnh nhân.

Kết quả từ biểu đồ 3.2 cho thấy, ĐDV hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc tinh thần đạt tỷ lệ 69,5%, tương đương với nghiên cứu của Bùi Thị Bích Ngà (2011) là 66,2%, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Châu Thị Hoa (2010) với 90,7% và nghiên cứu của Trần Thị Thảo (2013) đạt 97,2%.

Sự khác biệt trong nghiên cứu giữa Châu Thị Hoa và Trần Thị Thảo có thể do phạm vi nghiên cứu khác nhau; Châu Thị Hoa tập trung vào người bệnh ung thư hạ họng – thanh quản, trong khi Trần Thị Thảo đánh giá đội chăm sóc qua ý kiến người bệnh, dẫn đến sự gắn bó hơn giữa đội chăm sóc và bệnh nhân Nghiên cứu của chúng tôi, thực hiện tại 10 khoa lâm sàng với hai mô hình chăm sóc khác nhau, cho thấy kết quả đánh giá nhiệm vụ của đội ngũ điều dưỡng (ĐDV) đạt tỷ lệ thấp hơn do được đánh giá qua quan sát trực tiếp Mặc dù ĐDV đã thực hiện tốt hoạt động động viên người bệnh an tâm điều trị với tỷ lệ 75,6%, nhưng kết quả này vẫn thấp hơn so với nghiên cứu của Trần Thị Thảo và cao hơn so với nghiên cứu của Trần Ngọc Trung (39,5%).

Việc giải đáp kịp thời những thắc mắc của người bệnh trong quá trình điều trị là rất quan trọng, tuy nhiên chỉ có 52,1% điều dưỡng viên (ĐDV) hoàn thành nhiệm vụ này, thấp hơn nhiều so với nghiên cứu của Trần Thị Thảo (96,8%) và cao hơn nghiên cứu của Trần Ngọc Trung (46,9%) Sự hỗ trợ này giúp người bệnh cảm thấy thoải mái, yên tâm và tin tưởng vào bệnh viện Tuy nhiên, ĐDV vẫn chưa thực sự chủ động hoặc thiếu tự tin trong việc thực hiện nhiệm vụ này, do đó cần có sự tập huấn và hướng dẫn cho điều dưỡng.

HUPH về vấn đề này là hết sức cần thiết

Một số yếu tố có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV

Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan thống kê giữa mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB với nhóm tuổi và thâm niên công tác của ĐDV (p < 0,05) Cụ thể, ĐDV dưới 30 tuổi có mức độ chưa hoàn thành nhiệm vụ CSNB cao gần gấp 2 lần so với ĐDV từ 30 tuổi trở lên, và ĐDV có thâm niên công tác dưới 10 năm cũng có mức độ chưa hoàn thành cao gấp 2 lần so với ĐDV làm việc từ 10 năm trở lên Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí cũng xác nhận mối liên quan giữa độ tuổi, thâm niên công tác, giới tính và trình độ chuyên môn với mức độ thực hiện nhiệm vụ CSNB Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan giữa giới tính và trình độ chuyên môn với mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB, có thể do cỡ mẫu nghiên cứu của nhóm ĐDV nam và nhóm trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên quá nhỏ.

Nhóm tuổi và thâm niên công tác của điều dưỡng viên có mối liên hệ thống kê đáng kể với việc thực hiện nhiệm vụ chăm sóc người bệnh trong giai đoạn hấp hối và tử vong, cũng như trong việc áp dụng các kỹ thuật điều dưỡng.

Trong nhiệm vụ CSNB giai đoạn hấp hối/tử vong, ĐDV dưới 30 tuổi có tỷ lệ chưa hoàn thành nhiệm vụ cao gấp 7 lần so với ĐDV từ 30 tuổi trở lên.

Mức độ chưa hoàn thành nhiệm vụ của điều dưỡng viên (ĐDV) có thâm niên dưới 10 năm cao gấp 5 lần so với ĐDV có thâm niên từ 10 năm trở lên, cho thấy ĐDV lớn tuổi có kinh nghiệm và tự tin hơn trong việc hỗ trợ bệnh nhân Đặc biệt, ĐDV dưới 30 tuổi có mức độ chưa hoàn thành nhiệm vụ trong kỹ thuật điều dưỡng gần gấp 2 lần so với ĐDV từ 30 tuổi trở lên Nguyên nhân là do ĐDV trẻ chưa thành thạo các kỹ thuật và quy trình điều dưỡng, dẫn đến hiệu suất công việc thấp Do đó, bệnh viện cần triển khai kế hoạch đào tạo liên tục và giám sát chặt chẽ hoạt động chăm sóc của ĐDV, đặc biệt là đối với ĐDV trẻ mới tuyển dụng.

Yếu tố tuổi tác có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ sử dụng và theo dõi thuốc cho bệnh nhân Cụ thể, những điều dưỡng viên (ĐDV) dưới 30 tuổi có tỷ lệ chưa hoàn thành nhiệm vụ cao gấp 2 lần so với ĐDV từ 30 tuổi trở lên Điều này phản ánh thực tế rằng ĐDV lớn tuổi thường có nhiều kinh nghiệm và kiến thức về thuốc hơn, giúp họ dễ dàng hơn trong việc hướng dẫn và giải thích cho bệnh nhân về cách sử dụng và tác dụng của thuốc.

Nghiên cứu cho thấy, ĐDV có thâm niên công tác trên 10 năm có mức độ chưa hoàn thành nhiệm vụ CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật cao gấp 3,5 lần so với ĐDV có thâm niên dưới 10 năm Mặc dù ĐDV có thâm niên từ 10 năm trở lên chiếm 25,8% và sở hữu nhiều kinh nghiệm, kỹ năng và kiến thức chuyên môn, nhưng một số ĐDV lớn tuổi lại gặp khó khăn do sức khỏe hạn chế.

HUPH yêu cầu độ chính xác cao trong các kỹ năng và kỹ thuật chuyên môn, đặc biệt là trong các khoa liên quan đến phẫu thuật Nghiên cứu của Trần Ngọc Trung chỉ ra rằng 10% điều dưỡng viên (ĐDV) tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng cho rằng tuổi tác là yếu tố cản trở lớn nhất đến hoạt động chăm sóc người bệnh (CSNB) Do đó, bệnh viện cần có chính sách phù hợp để luân chuyển các điều dưỡng viên lớn tuổi sang các khoa hoặc bộ phận khác, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho họ hoàn thành nhiệm vụ.

Mặc dù chưa có mối liên hệ rõ ràng giữa giới tính và mức độ hoàn thành nhiệm vụ CSNB tổng thể, nhưng phân tích chi tiết cho thấy có sự liên quan thống kê đáng kể giữa giới tính và một số nhiệm vụ cụ thể trong CSNB (p < 0,05) như được trình bày trong bảng 3.6.

Nghiên cứu cho thấy, nam giới trong đội ngũ điều dưỡng (ĐDV) có mức độ chưa hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc người bệnh (CSNB) về vệ sinh cá nhân cao gấp 2,5 lần, chăm sóc dinh dưỡng gấp 2 lần, CSNB có chỉ định phẫu thuật/thủ thuật gấp 4,5 lần, theo dõi và đánh giá người bệnh gấp 2 lần, và ghi chép hồ sơ bệnh án gấp 3,5 lần so với nữ giới Đặc biệt, nam ĐDV thực hiện nhiệm vụ chăm sóc vệ sinh cá nhân cho người bệnh ít thường xuyên hơn nữ giới Nghiên cứu của Ozdemir (2008) chỉ ra rằng nghề điều dưỡng vẫn được xem là phù hợp cho phái nữ, nhưng một số hoạt động CSNB cần sự hỗ trợ của nam điều dưỡng, đặc biệt tại các khu vực ICU và khoa cấp cứu Những phát hiện này giúp các nhà quản lý điều dưỡng có kế hoạch bố trí nhân lực và phân công nhiệm vụ phù hợp, nhằm phát huy năng lực của ĐDV nam trong việc hoàn thành nhiệm vụ CSNB.

Trình độ chuyên môn của ĐDV: nghiên cứu chưa tìm thấy mối liên quan

Trình độ chuyên môn của điều dưỡng viên (ĐDV) có mối liên quan đáng kể đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ tư vấn và hướng dẫn giáo dục sức khỏe (GDSK) cho người bệnh, với p < 0,05 Đặc biệt, ĐDV có trình độ trung học có tỷ lệ chưa hoàn thành nhiệm vụ cao gấp 3 lần so với những người có trình độ từ cao đẳng trở lên Điều này cho thấy ĐDV có trình độ cao hơn nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng truyền đạt thông tin tốt hơn, từ đó thuận lợi hơn trong việc tư vấn GDSK Thực tế, tỷ lệ ĐDV có trình độ từ cao đẳng trở lên trực tiếp chăm sóc người bệnh chỉ chiếm 8,9%, và tỷ lệ thực hiện nhiệm vụ tư vấn GDSK cũng chỉ đạt 20,2% Do đó, bệnh viện cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ điều dưỡng để cải thiện chất lượng chăm sóc.

Kết quả từ bảng 3.4 cho thấy có mối liên quan thống kê giữa vị trí chăm sóc bệnh nhân (CSNB) và mức độ hoàn thành nhiệm vụ ĐDV ở buồng bệnh thường có tỷ lệ chưa hoàn thành nhiệm vụ cao gấp 2 lần so với ĐDV ở buồng bệnh nặng/đơn nguyên HSTC (p < 0,05) Cụ thể, ĐDV ở buồng bệnh thường có tỷ lệ chưa hoàn thành nhiệm vụ tư vấn và hướng dẫn GDSK cao gần gấp 3 lần so với ĐDV ở buồng bệnh nặng/đơn nguyên HSTC Sự khác biệt này được lý giải bởi ĐDV ở buồng bệnh thường phải phụ trách từ 8 bệnh nhân trở lên và không thường xuyên có mặt tại buồng bệnh, dẫn đến hoạt động tư vấn và hướng dẫn GDSK không được thực hiện đầy đủ Trong khi đó, ĐDV ở buồng bệnh nặng/đơn nguyên HSTC chỉ phụ trách từ 3 đến 6 bệnh nhân, giúp cho các hoạt động chăm sóc diễn ra tập trung hơn và ĐDV luôn có mặt tại buồng bệnh.

HUPH vách kính giúp đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của người bệnh, từ đó nâng cao mức độ hoàn thành nhiệm vụ so với ĐDV CSNB ở buồng các bệnh thường.

4.2.2 Các yếu tố tổ chức có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB 4.2.2.1 Thời gian trực tiếp CSNB có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB của ĐDV

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy thời gian trung bình ĐDV trực tiếp CSNB vào buổi sáng có mối liên hệ thống kê đáng kể với mức độ hoàn thành nhiệm vụ (p < 0,05) Cụ thể, ĐDV hoàn thành nhiệm vụ có thời gian trung bình trực tiếp CSNB là 2,8 giờ, dài hơn so với 2,5 giờ của ĐDV chưa hoàn thành nhiệm vụ Kết quả này cũng nhất quán với nghiên cứu của J.Needleman và các cộng sự (2002), cho thấy thời gian trung bình mà mỗi bệnh nhân được điều dưỡng chăm sóc hàng ngày có liên quan đến chất lượng CSNB tốt và thời gian nằm viện ngắn hơn.

So với nghiên cứu của Bùi Ngọc Tuyền tại khoa Bệnh nhiệt đới Bệnh viện Chợ Rẫy năm 2009, thời gian ĐDV trực tiếp chăm sóc trung bình cho bệnh nhân cấp 1 là 5,5 giờ trong 24 giờ Nghiên cứu của chúng tôi thực hiện trên 10 khoa lâm sàng, tính tổng thời gian ĐDV trực tiếp CSNB vào buổi sáng và buổi chiều, dẫn đến thời gian chăm sóc ngắn hơn Thực tế cho thấy, các hoạt động CSNB chủ yếu diễn ra vào buổi sáng, khi điều dưỡng dành nhiều thời gian hơn cho việc chăm sóc bệnh nhân mới và thực hiện y lệnh Đặc biệt, tại các đơn nguyên HSTC, thời gian chăm sóc trực tiếp vào buổi sáng chiếm ưu thế, trong khi các hoạt động chăm sóc gián tiếp thường diễn ra vào buổi chiều Do đó, thời gian trung bình ĐDV trực tiếp CSNB vào buổi sáng dài hơn, dẫn đến mức độ hoàn thành nhiệm vụ cao hơn.

4.2.2.2 Số người bệnh trung bình trên ĐDV trực tiếp chăm sóc có liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ CSNB

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Thị Bình (2013), "Khảo sát về kỹ năng thực hành của điều dưỡng viên khi chăm sóc bệnh nhân và các yếu tố ảnh hưởng", Tạp chí Y học Thực hành, 884(10), tr. 123-128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về kỹ năng thực hành của điều dưỡng viên khi chăm sóc bệnh nhân và các yếu tố ảnh hưởng
Tác giả: Lê Thị Bình
Nhà XB: Tạp chí Y học Thực hành
Năm: 2013
2. Bộ Nội vụ (2005), Quyết đinh Số 41/2005/QĐ-BNV ngày 22/042005 về việc ban hành Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức y tá điều dưỡng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết đinh Số 41/2005/QĐ-BNV
Tác giả: Bộ Nội vụ
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
3. Bộ Y tế (1993), Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế số 526-BYT/QĐ ngày 10 tháng 6 năm 1993 ban hành chế độ trách nhiệm của y tá trong việc chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định của Bộ trưởng Bộ Y tế số 526-BYT/QĐ ngày 10 tháng 6 năm 1993 ban hành chế độ trách nhiệm của y tá trong việc chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1993
5. Bộ Y tế (2004), "Điều dưỡng học và các nguyên lý cơ bản về điều dưỡng", Tài liệu Quản lý điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 345-346 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng học và các nguyên lý cơ bản về điều dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
6. Bộ Y tế (2004), "Điều dưỡng học và các nguyên lý cơ bản về điều dưỡng", Tài liệu Quản lý điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 347 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng học và các nguyên lý cơ bản về điều dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
7. Bộ Y tế (2004), "Điều dưỡng học và các nguyên lý cơ bản về điều dưỡng", Tài liệu Quản lý điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 344 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều dưỡng học và các nguyên lý cơ bản về điều dưỡng
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
8. Bộ Y tế (2004), "Hệ thống tổ chức ngành điều dưỡng Việt Nam", Tài liệu Quản lý điều dưỡng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr. 163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tổ chức ngành điều dưỡng Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2004
9. Bộ Y tế (2011), Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 về việc Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 07/2011/TT-BYT ngày 26 tháng 01 năm 2011 về việc Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2011
10. Bộ Y tế (2012), Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam (Ban hành kèm theo Quyết định số: 1352/QĐ-BYT ngày 21 tháng 4 năm 2012 của Bộ Y tế), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn năng lực cơ bản của điều dưỡng Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
11. Bộ Y tế (2012), Chương trình hành động Quốc gia về tăng cường dịch vụ điều dưỡng, hộ sinh giai đoạn 2012 - 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động Quốc gia về tăng cường dịch vụ điều dưỡng, hộ sinh giai đoạn 2012 - 2020
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2012
12. Bộ Y tế (2013), Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện (Ban hành kèm theo Quyết định số 4858/QĐ-BYT ngày 03 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế), Hà Nội.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: HUPH
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm