1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020

117 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện Đắk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2020
Tác giả Tô Văn Cường
Người hướng dẫn PGS.TS. Hoàng Cao Sạ
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 3,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2020”.. K

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TÔ VĂN CƯỜNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN CỦA CÁC BÀ MẸ NGƯỜI

DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN ĐĂK TÔ

TỈNH KON TUM NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ CHUYÊN NGÀNH: 8720702

HÀ NỘI, 2020 HUPH

Trang 2

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Cao Sạ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TÔ VĂN CƯỜNG

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SINH CON THỨ BA TRỞ LÊN CỦA CÁC BÀ MẸ NGƯỜI

DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI HUYỆN ĐĂK TÔ

TỈNH KON TUM NĂM 2020

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ CHUYÊN NGÀNH: 8720702

HÀ NỘI, 2020 HUPH

Trang 3

DS-KHHGĐ Dân số - Kế hoạch hóa gia đình

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT……… ……… i

MỤC LỤC……….……….…….……….………… ii

DANH MỤC BẢNG ……….……….……….…….……….………… iv

DANH MỤC HÌNH ……….……….…….……….………… v

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU……….……….…….……….……… vi

ĐẶT VẤN ĐỀ……….…….………….…… ……….………… 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU…….…….………….…… ……….………… 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ……… 4

1.1 Các khái niệm, quy định, tiêu chí, phương pháp đánh giá liên quan đến nội dung nghiên cứu……… … ………

4 1.2 Tổng quan các nội dung liên quan đến mục tiêu nghiên cứu của đề tài ………

9 1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu ……….……… 18

1.4 Khung lý thuyết nghiên cứu……… 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU………… 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu ……… ….…… 21

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu ………….……….………… 21

2.3 Thiết kế nghiên cứu ……… 21

2.4 Cỡ mẫu ………… ……… 21

2.5 Phương pháp chọn mẫu …… ….……….……… 23

2.6 Phương pháp thu thập số liệu …… ….……….……… 24

2.7 Biến số, chỉ số nghiên cứu ……… ……… 27

2.8 Phương pháp phân tích số liệu ….….………….……… 28

2.9 Đạo đức nghiên cứu ……… 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 30

3.1 Đặc điểm chung của ĐTNC ….……… 30

3.2 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng……… 32

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên ………… 37

Chương 4 BÀN LUẬN ……… ……… 49

HUPH

Trang 5

4.1 Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng ……… 49

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên ………… 53

4.3 Hạn chế nghiên cứu……… ………… 62

KẾT LUẬN ……… 64

KHUYẾN NGHỊ……… ……… 65

TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… 66

Phụ lục 1 Phiếu phỏng vấn ……… 69

Phụ lục 2 Hướng dẫn PVS bà mẹ sinh con thứ 3…… 77

Phụ lục 3 Hướng dẫn PVS mẹ chồng của bà mẹ sinh con thứ 3…… 79

Phụ lục 4 Hướng dẫn PVS mẹ đẻ của bà mẹ sinh con thứ 3…… 81

Phụ lục 5 Hướng dẫn PVS chồng của bà mẹ sinh con thứ 3…… 83

Phụ lục 6 Hướng dẫn TLN bà mẹ sinh con thứ 3…… 85

Phụ lục 7 Hướng dẫn TLN bà mẹ sinh từ 1-2 con… 87

Phụ lục 8 Hướng dẫn TLN cán bộ phụ nữ, cán bộ phụ trách công tác dân số 89 Phụ lục 9 Biến số nghiên cứu……… 91

HUPH

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

1.1 Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chi theo thành

thị/nông thôn, giai đoạn 2006-2013 9

1.2 Tỷ lệ % phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên theo vùng 11

2.1 Đối tượng tham gia PVS 21

2.2 Đối tượng tham gia TLN 22

3.1 Đặc điểm chung của ĐTNC 30

3.2 Thông tin về phía gia đình bà mẹ 31

3.3 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên 32

3.4 Giới tính của các con hiện tại đang sống 32

3.5 Người quyết định chính trong việc sinh con thứ 3 trở lên … 34

3.6 Sở thích về giới tính khi sinh con ……… 35

3.7 Sử dụng BPTT trước lần sinh con thứ 3… 35

3.8 BPTT được sử dụng hiện tại 36

3.9 Mối liên quan giữa một số yếu tố từ cá nhân và việc sinh con thứ 3 trở lên ……….……… ….……… 37

3.10 Mong muốn của người chồng về giới tính của con khi sinh… 40 3.11 Mối liên quan giữa một số yếu tố từ cá nhân người chồng và việc sinh con thứ 3 trở lên 41

3.12 Mối liên quan giữa một số yếu tố gia đình với việc sinh con thứ 3 trở lên 42

3.13 Mối liên quan giữa một số yếu tố dịch vụ KHHGĐ với việc sinh con thứ 3 trở lên 43

3.14 Hình phạt khi sinh con thứ 3 trở lên……… 44

3.15 Hiểu biết quy định của pháp lệnh dân số……… 45

3.16 Mối liên quan giữa tình trạng bất đồng ngôn ngữ với việc sinh con thứ 3 trở lên 47

HUPH

Trang 7

DANH MỤC HÌNH

1.1 Dự báo dân số thế giới năm 2050 6

1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu 20

3.1 Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên 32

3.2 Lý do sinh con thứ 3 trở lên 33

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Đăk Tô là huyện miền núi thuộc tỉnh Kon Tum, dân số 50.811 người Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của huyện năm 2019 là khá cao so với tỷ lệ chung của tỉnh (25,29% so với 16,8%) Đăk Tô là huyện có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống,

có nhiều xã đặc biệt khó khăn như: Văn Lem, Đăk Rơ Nga, Ngọc Tụ, Đăk Trăm và

Pô Kô và đây cũng là những xã có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao nhất của huyện (29,7%) Để trả lời câu hỏi thực trạng sinh và những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ như thế nào? Chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của

các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2020”

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang và mô tả hồi cứu, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn

235 bà mẹ sinh con trong năm 2019, đồng thời thực hiện 14 cuộc phỏng vấn sâu và

4 cuộc thảo luận nhóm Thời gian nghiên cứu từ tháng 1/2021 đến tháng 7/2021

Kết quả nghiên cứu: Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 37,45% Lý do sinh con thứ 3 trở lên chủ yếu: do thích có nhiều con 77,27%; kế tiếp là cần có trai có gái chiếm 69,32%; do muốn có nhiều lao động (44,32%) Có 63,4% bà mẹ đang áp dụng BPTT; trong đó đa số (42,95%) bà mẹ sử dụng BPTT truyền thống Các yếu

tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên là các yếu tố cá nhân (theo đạo, trình độ học vấn thấp và kết hôn sớm); các yếu tố gia đình (trình độ học vấn của người chồng thấp; nghề nghiệp của người chồng (làm nông) và kinh tế gia đình khó khăn); các yếu tố tiếp cận dịch vụ KHHGĐ (Khó khăn trong tiếp cận dịch vụ KHHGĐ và nhà

ở xa CSYT (≥ 10km)); thiếu sự phối hợp giữa các ban, ngành, chính quyền địa phương, công tác truyền thông chưa hiệu quả và bất đồng ngôn ngữ Khuyến nghị: tiếp tục tăng cường công tác truyền thông nâng cao nhận thức của các bà mẹ về KHHGĐ; chú trọng đến các bà mẹ theo đạo, trình độ học vấn thấp, những bà mẹ kết hôn sớm, những bà mẹ kinh tế gia đình thuộc hộ nghèo/cận nghèo Khuyến khích các bà mẹ áp dụng BPTT hiện đại; Vận động già làng, thôn trưởng xây dựng quy định, hương ước tại địa phương, để người dân ký cam kết thực hiện; từ đó có cơ sở

để xử lý đối với những trường hợp vi phạm

HUPH

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dân số thế giới hiện nay là hơn 7,8 tỷ người, dân số tăng nhanh gây ra những khó khăn lớn trong việc bảo vệ môi trường, chất lượng dân số, tình trạng nghèo đói và sự phát triển chung của nhiều quốc gia (1) Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác DS&KHHGĐ, xem công tác này là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là một trong những vấn đề KTXH hàng đầu ở nước ta, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân, mỗi gia đình và toàn xã hội (2)

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm thực hiện công tác Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ) Năm 2003, Quốc Hội đã ban hành Pháp lệnh

số 06/2003/PL-UBTVQH11, ngày 09 tháng 01 năm 2003 về dân số (3) Ngày 27 tháng 12 năm 2008 Quốc Hội ban hành Pháp lệnh số 08/2008/PL-UBTVQH12 về sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số 2003, trong số các nội dung sửa đổi có nội dung quy định về quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợi chồng được sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định (4) Pháp lệnh dân số 2003

và Pháp lệnh sửa đổi 2008 (sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số 2003) có hiệu lực áp dụng đến ngày nay; là cơ sở pháp lý và căn cứ cho các ban, ngành, người dân thực hiện

Hiện nay nước ta có khoảng hơn 97 triệu người (03/8/2020) Số dân tăng thêm hằng năm của nước ta từ mức 0,9-1,2 triệu người Về cơ bản Việt Nam đã đạt mức sinh thay thế, tuy nhiên trong những năm gần đây tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng tăng nhanh trở lại kể từ năm 2015 lên mức gần 16% và năm 2016

là 16,3%, 2017 là 17,3%, bình quân tăng 0,5 điểm phần trăm năm Tỷ lệ này không đồng đều giữa các vùng miền; cao nhất là ở Tây Nguyên (28,3%), thấp nhất

ở Đồng bằng sông Cửu Long (10,9%) (5) Kết quả nhiều nghiên cứu cho thấy có các yếu như trình độ học vấn càng cao thì tỷ lệ sinh con thứ 3 càng thấp, tâm lý mong muốn có con trai; mong muốn có nhiều con, điều kiện kinh tế khá giả hoặc kinh tế khó khăn; nghề nghiệp, yếu tố văn hóa vùng miền; tôn giáo, tín ngưỡng; yếu tố gia đình; dịch vụ KHHGĐ đều là những yếu tố ảnh hưởng đến việc sinh con thứ 3 trở lên của các cặp vợ chồng (6), (7), (8), (9)

HUPH

Trang 10

Kon Tum là tỉnh miền núi, dân số khoảng 540.440 người (ngày 01/4/2019), với 43 dân tộc sinh sống (10) Dân số tỉnh Kon Tum sau 10 năm kể từ cuộc Tổng điều tra trước đã tăng hơn 110.000 người, bình quân mỗi năm tăng 11.000 người,

tỷ lệ tăng dân số bình quân là 2,28%, đây là tốc độ tăng dân số ở mức hợp lý, góp phần duy trì sự ổn định quy mô dân số, đáp ứng các yêu cầu về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, xã hội Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 16,8% Tuy nhiên tỷ lệ này không đồng đều giữa các khu vực; tỷ lệ sinh con thứ 3 chủ yếu ở những người dân tộc thiểu số, đời sống kinh tế còn khó khăn (11) Điều này gây khó khăn cho công công tác phát triển kinh tế xã hội của tỉnh

Đăk Tô là huyện miền núi thuộc tỉnh Kon Tum, dân số 50.811 người Tổng

số trẻ sinh ra trong năm 2019 là 1.202 trẻ, trong đó 256 trẻ là con thứ 3 trở lên Tỷ

lệ sinh con thứ 3 trở lên của huyện năm 2019 là khá cao so với tỷ lệ chung của tỉnh (25,29% so với 16,8%) (11), (12) Đăk Tô là huyện có nhiều người dân tộc thiểu

số sinh sống, có nhiều xã đặc biệt khó khăn như: Văn Lem, Đăk Rơ Nga, Ngọc

Tụ, Đăk Trăm và Pô Kô và đây cũng là những xã có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao nhất của huyện (29,7%) (12) Việc sinh nhiều con sẽ ảnh hưởng đến nhiều vấn

đề, trong đó có việc phát triển kinh tế xã hội của địa phương và ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống người dân nơi đây Để trả lời câu hỏi thực trạng sinh con thứ

3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ? Chúng tôi tiến hành

nghiên cứu đề tài “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3

trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu

số tại 5 xã thuộc huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà

mẹ người dân tộc thiểu số tại 5 xã thuộc huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum năm 2020

HUPH

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Các khái niệm, quy định, tiêu chí, phương pháp đánh giá liên quan đến nội dung nghiên cứu

1.1.1 Các khái niệm liên quan đến nội dung nghiên cứu:

- Khái niệm kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ): là biện pháp chủ yếu để

điều chỉnh mức sinh góp phần bảo đảm cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.Kế hoạch hoá gia đình là nỗ lực của Nhà nước, xã hội để mỗi cá nhân, cặp

vợ chồng chủ động, tự nguyện quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh nhằm bảo vệ sức khoẻ, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn mực xã hội và điều kiện sống của gia đình

- Biện pháp thực hiện kế hoạch hoá gia đình bao gồm:

+ Tuyên truyền, tư vấn, giúp đỡ, bảo đảm để mỗi cá nhân, cặp vợ chồng chủ động, tự nguyện thực hiện kế hoạch hoá gia đình;

+ Cung cấp các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình bảo đảm chất lượng, thuận tiện, an toàn và đến tận người dân;

+ Khuyến khích lợi ích vật chất và tinh thần, thực hiện các chính sách bảo hiểm để tạo động lực thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình sâu rộng trong nhân dân

- Công tác dân số: là việc quản lý và tổ chức thực hiện các hoạt động tác

động đến quy mô dân số, cơ cấu dân số, phân bố dân cư và nâng cao chất lượng dân số

- Dịch vụ dân số: là các hoạt động phục vụ công tác dân số, bao gồm cung

cấp thông tin, tuyên truyền, giáo dục, vận động, hướng dẫn, tư vấn về dân số (sau đây gọi chung là tuyên truyền, tư vấn); cung cấp biện pháp chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, nâng cao chất lượng dân số và các hoạt động khác

theo quy định của pháp luật

1.1.2 Chính sách dân số tại Việt Nam

Năm 1961, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 216/CP, ngày 1961; đây là văn bản pháp quy đầu tiên của Việt Nam về công tác DS-KHHGĐ và

26-12-HUPH

Trang 13

mang đậm tính nhân văn “Vì sức khoẻ của người mẹ, vì hạnh phúc hoà thuận của gia đình và để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp” Để kỷ niệm và đánh dấu sự kiện này, ngày 19/5/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 326, lấy ngày 26/12 hàng năm làm Ngày Dân số Việt Nam (13)

Dân số là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển bền vững của đất nước Để nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội trong công tác dân số; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; tăng cường, thống nhất quản lý nhà nước về dân số; Quốc Hội đã ban hành Pháp lệnh số 06/2003/PL-UBTVQH11, ngày 09 tháng 01 năm 2003 về dân số (3); trong Pháp lệnh đã quy định đầy đủ quyền và nghĩa vụ của công dân về công tác dân số

Ngày 27 tháng 12 năm 2008 Quốc Hội ban hành Pháp lệnh số UBTVQH12 về sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số 2003; nội dung sửa đổi của Điều 10 của Pháp lệnh dân số năm 2003 cụ thể:

08/2008/PL-“Điều 10 Quyền và nghĩa vụ của mỗi cặp vợ chồng, cá nhân trong việc thực hiện cuộc vận động dân số và kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe sinh sản:

1 Quyết định thời gian và khoảng cách sinh con;

2 Sinh một hoặc hai con, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định;

3 Bảo vệ sức khỏe, thực hiện các biện pháp phòng ngừa bệnh nhiễm khuẩn đường sinh sản, bệnh lây truyền qua đường tình dục, HIV/AIDS và thực hiện các nghĩa vụ khác liên quan đến sức khỏe sinh sản” (4)

Hiện nay không có văn bản, quy định cụ thể nào về việc quy định xử phạt hay kỷ luật đối với các trường hợp (là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, người dân) sinh con thứ 3 trở lên Việc xử lý, kỷ luật tùy theo quy định, quy chế của cơ quan đơn vị hay hương ước của địa phương quy định Đối với Đảng viên vi phạm trong trường hợp sinh con thứ 3 trở lên (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác) thì kỷ luật bằng hình thức khiển trách (tại khoản 1 Điều 27 Quyết định 102-QĐ/TW năm 2013) (14)

HUPH

Trang 14

1.1.3 Tình trạng gia tăng dân số trên thế giới

Dân số thế giới tính đến ngày 20 tháng 9 năm 2020 ước tính khoảng hơn 7,8 tỷ người và tiếp tục tăng, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới với 1,39 tỷ người, đứng thứ 2 là Ấn Độ với 1,27 tỷ người, Indonesia là nước có dân số đứng thứ 4 thế giới và đứng đầu các nước ở khu vực Đông Nam Á với hơn 254 triệu người Dân số thế giới đạt mốc 6 tỷ người vào năm 1999, 7 tỷ người năm 2011 và dự đoán mùa xuân năm 2024 dân số thế giới đạt mốc 8 tỷ người, năm 2050 con số này lên đến 9,5 tỷ người (1)

Hình 1.1: Dự báo dân số thế giới năm 2050

Dân số thế giới đang gia tăng với tỷ lệ trung bình là 1,2%/năm; tức cứ 1 giây lại có 4,4 em bé chào đời; tăng 78 triệu người hàng năm; bình quân cứ 13 năm dân số thế giới đã tăng thêm 1 tỷ người Tốc độ tăng dân số sẽ giảm xuống còn 0,5% năm 2050 Khi đó, Ấn Độ sẽ vượt Trung Quốc trở thành nước đông dân nhất thế giới (15)

Theo UNFA, các chỉ báo về nhân khẩu học năm 2012, dân số Thế giới là 7,052 tỷ người, thì các vùng kém phát triển chiếm 5.8076 tỷ người Tỷ lệ tăng dân số trung bình hàng năm giữa vùng phát triển là 0,3% trong khi đó tỷ lệ này ở các vùng kém phát triển là 1,3% Tỷ suất sinh/phụ nữ từ năm 2010 - 2015 ở các nước phát triển là 2 và ở các nước kém phát triển là 3 Những thay đổi về tỷ lệ sinh trong vòng vài thập kỷ tiếp theo có thể gây hậu quả lớn về quy mô, cấu trúc

và phân bổ dân số trong thời gian dài hạn (16)

HUPH

Trang 15

Theo báo cáo triển vọng dân số thế giới năm 2012, dân số tại khu vực phát triển sẽ giữ ở mức không thay đổi vào khoảng 1,3 tỷ người từ nay cho tới

2050 Dân số của châu Âu được dự báo giảm khoảng 700 triệu dân vào năm

2050 thì tại 49 nước kém phát triển dự báo sẽ có quy mô tăng gấp đôi ở mức

900 triệu người vào năm 2013 lên 1,8 tỷ người vào năm 2050 (17), (18) Khu vực dân số tăng nhanh nhất thế giới là Châu Phi khoảng 1 tỷ người (2011) Dân

số Châu Á và Châu Mỹ La Tinh cũng được dự báo sẽ tăng thêm khoảng 25% trong 50 năm tới (15)

Trong số bốn yếu tố tác động đến tốc độ tăng dân số là mức sinh, mức chết, di dân và cơ cấu dân số trẻ thì cơ cấu dân số trẻ có ảnh hưởng lớn nhất Theo Ngân hàng Thế giới, quy mô dân số ở các nước đang phát triển năm 2010

sẽ tăng 1,81 lần so với năm 2000 thì phần tăng do cơ cấu dân số trẻ là 1,39 lần,

do mức chết giảm là 1,15 lần và do mức sinh là 1,13 lần Với cơ cấu dân số trẻ -

tỷ lệ phụ nữ dưới 30 tuổi theo Tổng điều tra dân số 1999 chiếm gần 59,6% dân

số nữ, đúng bằng trung bình của các nước đang phát triển năm 2000 (59,3%), dân số Việt Nam sẽ vẫn tiếp tục tăng trong nhiều năm nữa trước khi đạt đến quy

mô dân số ổn định (19)

1.1.4 Tình trạng gia tăng dân số tại Việt Nam

Sự thay đổi dân số bất bình thường của Việt Nam đã diễn ra trong vòng 30 năm từ 1921 đến 1951, tỷ lệ tăng bình quân hàng năm 1,9% trong thời kỳ 1921 -

1926 đã giảm xuống còn 0,7% thời kỳ 1926 - 1931 Thời kỳ 1954 - 1960 sau khi miền Bắc được giải phóng nền kinh tế được phục hồi và phát triển, quy luật dân số tăng đã làm cho dân số tăng với tốc độ kỷ lục, tới 3,9%/năm

Những năm gần đây, 1976 - 1979, tốc độ phát triển dân số giảm nhanh do tác động của giảm tỷ suất sinh Trong 10 năm kể từ 1979 - 1989, tỷ lệ tăng dân số bình quân cả nước ở mức 2,1% Từ 1989 - 1992, tỷ lệ sinh có giảm nhưng chậm Trong khi tỷ lệ sinh còn cao, tỷ lệ chết giảm đáng kể nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của dân số trong những năm sau tổng điều tra dân số 1989 vẫn còn ở mức cao, ngoài ra còn có tác động của yếu tố di dân từ nước ngoài về (20)

HUPH

Trang 16

Theo báo cáo của Tổng cục Dân số và KHHGĐ, dân số Việt Nam năm

2000 là 77,6 triệu người, tăng lên 82,4 triệu người vào năm 2005 và 86,92 triệu người vào năm 2010, đạt mục tiêu Chiến lược đề ra là dưới 89 triệu người Trong 10 năm (2001-2010), dân số đó tăng thêm 11,2 triệu người Tỷ lệ phát triển dân số từ 1,28% (2001) xuống 1,17% (2005) và đạt 1,05% năm 2010, vượt mục tiêu đề ra là 1,1% vào năm 2010 Từ năm 2000 đến nay, mức sinh giảm chậm và có sự dao động “lên xuống” qua các năm (21)

Ngày 1/4/2013 dân số Việt Nam ước tính là 89,5 triệu người (tăng 952.131người so với 1/4/2012) trong đó có 45.215.396 người nữ, theo xếp hạng dân số Việt Nam đứng thứ 13 trên thế giới và đang đứng thứ 8 trong khu vực Châu Á Trong đó, dân số thành thị là 28,9 triệu người, chiếm 32,3%; dân số nông thôn là 60,6 triệu người, chiếm 67,7% Với 20,4 triệu người, Đồng bằng sông Hồng là vùng có quy mô dân số lớn nhất, chiếm 22,8%, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,3 triệu người) chiếm 21,5%, Tây Nguyên là vùng có số dân ít nhất (5,5 triệu người) chỉ chiếm 6,1% dân số cả nước Dân số Việt Nam vẫn tiếp tục có xu hướng gia tăng Tổng tỷ suất sinh năm 2013 đạt 2,1 con/phụ nữ, tăng so với mức 2,05 con/phụ nữ của năm 2012

Tỷ suất sinh thô đạt 17 trẻ sinh ra sống trên 1000 người dân Tỷ số giới tính của trẻ em là 113,8 bé trai/100 bé gái, tăng so với mức 112,3 bé trai/100 bé gái của năm 2012 Tỷ suất chết thô năm 2013 là 7,1‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi là 15,3‰; tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi là 23,1‰ (22)

Tổng điều tra dân số tại Việt Nam năm 2019 xác định quy mô dân số dựa trên khái niệm nhân khẩu thực tế thường trú Kết quả cho thấy, tổng dân số của Việt Nam vào thời điểm 0 giờ ngày 01/4/2019 là 96.208.984 người Trong đó, dân

số nam là 47.881.061 người, chiếm 49,8%͖ dân số nữ là 48.327.923 người, chiếm 50,2% Việt Nam là quốc gia đông dân thứ ba trong khu vực Đông Nam Á (sau in-đô-nê-xi-a và Phi-li-pin) và thứ 15 trên thế giới Sau 10 năm, quy mô dân số Việt Nam tăng thêm 10,4 triệu người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 2009-

2019 là 1,14%/năm, giảm nhẹ so với giai đoạn 1999 - 2009 (1,18%/năm) (23)

HUPH

Trang 17

Với quy mô dân số hơn 96,2 triệu người và duy trì mức sinh thay thế (mỗi phụ nữ sinh từ 2-2,1 con), mỗi năm dân số Việt Nam tăng hơn 1 triệu người và sẽ đạt quy mô dân số cực đại vào năm 2050 với khoảng 110 triệu dân, trong đó dân

số già trên 65 tuổi chiếm 18% Đây là cơ cấu dân số này là mong muốn của nhiều nước, đảm bảo hài hòa giữa các lứa tuổi và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước Hiện nay, dân số Việt Nam đang đứng thứ 14 trên thế giới cũng sẽ là áp lực rất lớn trong việc bảo vệ môi trường cũng như các chính sách an sinh xã hội (24)

1.2. Tổng quan các nội dung liên quan đến mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Tình hình sinh con thứ 3 tại Việt Nam

Tình hình sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam đang trở thành mối quan tâm của Đảng và nhà nước ta Sinh con thứ 3 trở lên hiện không chỉ tồn tại ở nông thôn

mà còn là vấn đề của các thành phố lớn, không chỉ ở bộ phận có trình độ hiểu biết thấp mà còn ở cả những người có trình độ học vấn cao, cán bộ, đảng viên Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên biểu thị số phụ nữ có sinh con thứ ba trở lên trong

12 tháng trước điều tra trên 100 phụ nữ sinh con trong thời kỳ đó

Bảng 1.1 Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ 3 trở lên chia theo thành

thị/nông thôn, thời kỳ 2008 - 2015

Bảng 1.1 trình bày tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên ở Việt Nam từ năm 2008 đến 2015 chia theo thành thị và nông thôn Số liệu cho thấy, trong thời gian qua, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong cả nước giảm dần qua các năm, từ 16,9% năm 2008 xuống 14,2% năm 2012, tuy nhiên năm 2015 tỷ

lệ này có xu hướng tăng nhẹ 15,8% (25)

Nơi cư trú 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015

Thành thị 9,7 9,3 9,5 9,8 9,6 9,9 9,2 10,8 Nông thôn HUPH19,6 18,9 17,1 16,5 16,3 16,4 16,9 18,0

Trang 18

Bảng 1.2 Tỷ lệ % phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên theo vùng (25)

Nguồn: Kết quả Điều tra Biến động dân số và KHHGĐ 2016 và Niên giám thống kê 2017, NXB Thống kê, Hà Nội 2018

Trong những năm qua, tỷ lệ sinh con thứ ba của phụ nữ thành thị thay đổi không đáng kể trong khi tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn giảm mạnh Tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên cao nhất ở Tây Nguyên (28,3%), tiếp theo là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,7%) Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long là hai vùng có tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên trên thấp nhất, dao động 10,9-11,3% Tây Nguyên là nơi sinh sống của các dân tộc ít người, việc tiếp cận các phương tiện tránh thai cũng như phương tiện truyền thông về kế hoạch hóa gia đình có hạn chế nên đây cũng có thể là một trong những nguyên nhân khiến tỷ lệ phụ nữ 15-49 tuổi sinh con thứ ba trở lên của vùng này cao nhất nước (25) Tỷ lệ phụ nữ thôi không sinh thêm trẻ em sau sinh từ 1 đến 2 con ở cả khu vực thành thị và nông thôn đều tăng lên, đặc biệt ở khu vực thành thị đã góp phần tích cực làm giảm mức sinh ở Vệt Nam Xu hướng này giúp Việt Nam có cơ hội ổn định dân số, giảm bớt gánh nặng phụ thuộc, tạo thời cơ thuận lợi cho Việt Nam thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế bền vững và chất lượng (25) Một số mục tiêu cụ thể của vấn đề dân số và sức khỏe sinh sản đặt ra trong 10 năm tới là:

- Đáp ứng nhu cầu KHHGĐ của nhân dân, để số con trung bình của một cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ (tổng tỷ suất sinh) đạt mức 1,8 con/phụ nữ; quy

mô dân số không quá 98 triệu người vào năm 2020 (25)

HUPH

Trang 19

- Khống chế tốc độ gia tăng tỷ lệ giới tính khi sinh, phấn đấu tỷ số này không vượt quá 115 vào năm 2020, tiến tới đưa tỷ số này trở lại mức bình thường

- Giảm mạnh phá thai, đưa tỷ số phá thai xuống còn 25/100 ca sinh sống vào năm 2020; cơ bản loại trừ phá thai không an toàn

- Tăng khả năng lồng ghép các biến đổi dân số và hoạch định chính sách và lập kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; đảm bảo cung cấp đầy đủ kịp thời chính xác thông tin, số liệu về dân số đáp ứng nhu cầu quản lý, điều hành chương trình dân số, sức khỏe sinh sản, yêu cầu xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh

tế - xã hội đến năm 2020 các cấp, các ngành (25)

Tỷ lệ sinh con thứ 3 đã giảm xuống còn 15,8% (2017) Tuy nhiên tỷ lệ này không đồng đều giữa các vùng địa lý trong cả nước Tỷ lệ này tập trung cao nhất ở Tây Nguyên (28,3%), kế tiếp là bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (19,7%)

Từ đó có thể thấy những nơi có trình độ phát triển cao thì tỷ lệ sinh con thứ 3 càng thấp và ngược lại ở nhứng nơi xa xôi, hẻo lánh, cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên càng cao, nhất là vùng dân tộc thiểu

số sinh sống (25)

Trong những năm qua tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có xu hướng giảm ở hầu hết các vùng địa lý, nhưng lại có xu hướng tăng cao ở vùng Trung du và miền núi phía Bắc (Đông Bắc và Tây Bắc) và Tây Nguyên (25)

1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên tại Việt Nam

1.2.2.1 Trình độ học vấn:

Giữa trình độ học vấn và tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên có mối quan

hệ tỷ lệ nghịch: trình độ học vấn càng cao, tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ ba trở lên càng thấp Tỷ lệ phần trăm phụ nữ sinh con thứ ba trở lên trong năm của những phụ nữ chưa đi học tới 45,4%, giảm dần xuống còn 27,4% đối với phụ nữ chưa tốt nghiệp tiểu học, 21,1% đối với phụ nữ tốt nghiệp tiểu học, 16,2% đối với phụ nữ tốt nghiệp trung học cơ sở và chỉ còn 5,7% đối với phụ nữ có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên (22)

HUPH

Trang 20

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng trình độ học vấn có ảnh hưởng lớn đến sinh con thứ 3 trở lên Trình độ học vấn càng thấp thì tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên càng cao Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên có sự hiểu biết về xã hội còn hạn chế và tập trung cao nhất ở những bà mẹ có trình độ dưới tiểu học (26), (27) Đến sau những năm 2010, những nghiên cứu về tình trạng sinh con thứ 3 trở lên của các tác giả Nguyễn Thế Hùng tại tỉnh Quảng Trị, Nguyễn Ngọc Nha tại Phú Yên, Lang Đình Bính tại tỉnh Bình Định đã cùng nhận định nhưng tình trạng sinh con thứ 3 trở lên

ở những bà mẹ có học vấn thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao Dù đã sau hơn 10 năm nhưng

tỷ lệ này vẫn tập trung chủ yếu ở nhóm bà mẹ có trình độ học vấn dưới Tiểu học (28), (29), (7)

1.2.2.2 Tâm lý mong muốn có nhiều con, đủ trai đủ gái

Tại Việt Nam, yếu tố tâm lý có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi sinh con thứ

3 trở lên Yếu tố tâm lý là lý do những gia đình quyết định sinh thêm con, những yếu tố tâm lý này đã tồn tại trong tâm thức nhiều người Việt Nam từ lâu, với tư tưởng trọng nam khinh nữ, muốn có con trai để nối dõi tông đường, tâm lý thích đông con hơn đông của, để có thêm lao động hay về già có nơi nương tựa (27) Tư tưởng trọng nam khinh nữ là yếu tố hàng đầu ảnh hưởng tới mong muốn sinh con trai Nghiên cứu của Ph Kamala Devi năm 2013 tại vùng biên giới đông bắc Ấn

Độ và nghiên cứu của Tongkholal Baite, L Tombi Singh (2013) cũng cho kết quả mong muốn sinh con trai là nguyên nhân dẫn đến việc sinh con thứ 3 tại nơi đây (30), Nghiên cứu của Sharat Singh N (2011) cho rằng nguyên nhân dẫn đến sinh con thứ 3 là do mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng ở Ấn Độ (31)

Việt Nam, nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, từ thành thị cho đến vùng nông thôn, miền núi thì lý do sinh thêm con vì muốn có con trai để nối dõi tông đường Tại Bắc Ninh 44% người chồng cho biết lý do sinh thêm con là vì muốn có con trai để nối dõi tông đường Tại các tỉnh miền Trung tâm lý của những người có sinh con thứ 3 trở lên mong muốn nhất thiết phải có con trai cao nhất chiếm 89% tại huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị và tại Đông Hòa, Phú Yên là 54% (29), (7)

HUPH

Trang 21

Bên cạnh việc mong muốn phải có cho được con trai, thì hiện nay tâm lý mong muốn có nhiều con để vui cửa vui nhà, mong muốn có đủ cả con trai và con gái cũng làm ảnh hưởng làm tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên Nhiều gia đình khi

đã có con trai nhưng họ vẫn sinh thêm để mong sao có con gái cho có “nếp có tẻ” Thậm chí có những gia đình khi đã có đủ trai và gái thì họ mong muốn có nhiều con để vui cửa vui nhà Từ những quan niệm này đã làm tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (6), (32)

1.2.2.3 Điều kiện mức sống

Điều kiện mức sống có ảnh hưởng lớn đến việc sinh con thứ 3 trở lên, nhiều gia đình có điều kiện nuôi con, kinh tế khá giả mặc dù đã có 2 con, đủ trai

đủ gái nhưng vẫn mong muốn sinh nhiều con Theo Nguyễn Thị Hà tại Bắc Giang

có 6,3% gia đình có điều kiện nuôi con nên đã đẻ thêm mặc dù đã có cả trai và gái (26) Tại Hà Nội, hầu hết các gia đình sinh con thứ 3 trở lên đều có kinh tế khá giả; nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thu cho thấy lý do chính của các gia đình sinh con thứ 3 trở lên trong nghiên cứu là do kinh tế khá giả (46,4% cặp vợ chồng lựa chọn) (8) Nghiên cứu Ngô Văn Vinh tại huyện Hương Trà tỉnh Thừa Thiên Huế (2008) lại cho thấy tỷ lệ sinh con 3 trở lên giữa các nhóm đối tượng có kinh tế giàu chiếm 23,9% (33) Nghiên cứu của Vũ Ngọc Dũng (2011) cho thấy có 92,48% ĐTNC có sinh con thứ 3 trở lên có thu nhập nghèo và trung bình (34) Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nha tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo chiếm tỷ lệ 57,55% (7)

Như vậy, xu thế sinh con hiện nay xuất hiện ở hai nhóm, nhóm kinh tế không khá giả mong muốn sinh nhiều con với quan niệm “trời sinh voi sinh cỏ”, thì nhóm còn lại cho rằng mình có kinh tế, sinh nhiều con vẫn đảm bảo được chất lượng cuộc sống cho con Sự khác biệt quan niệm này tập trung ở nhóm gia đình khá giả ở vùng đồng bằng, thành thị và một nhóm gia đình khó khăn ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa

1.2.2.4 Yếu tố nghề nghiệp

Sự phân bố tỷ lệ những người sinh con thứ 3 trở lên theo nghề nghiệp có sự khác nhau tùy theo đặc điểm vùng miền (6) Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng có

HUPH

Trang 22

đến 63,3% nghề nghiệp làm ruộng, 20,8% là ngư nghiệp, 5,8% cán bộ công chức (29) Kết quả của Nguyễn Ngọc Nha cho thấy có đến 57,55% ĐTNC sinh con thứ

3 trở lên là ngư nghiệp, 18,87% là nghề nông, 6,6% là cán bộ công nhân viên chức (7) Nghiên cứu của Lang Đình Bính có đến 99,5% ĐTNC là nghề nông (28)

Tại Hà Nội, nghề nghiệp chủ yếu của những người chồng sinh con thứ 3 trở lên là buôn bán (42,9%), 27,1% là CBCN, 10% thất nghiệp và 6% làm nông nghiệp Tỷ lệ này ở người vợ 40% ở nhà làm nội trợ, 32,9% buôn bán, 17,1% là CBCN và 10% làm nông nghiệp Trong đó, có tổng số 34,3% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc cả hai người là CBCN; 18,6% hộ gia đình có vợ hoặc chồng hoặc

cả hai người là đảng viên (35)

1.2.2.5 Yếu tố văn hóa vùng miền

Nhiều nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở các dân tộc cũng khác nhau rõ rệt Tỷ lệ sinh con thứ 3 cao tập trung chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa, ở vùng núi và Tây Nguyên Nghiên cứu của Vũ Ngọc Dũng chỉ ra dân tộc Ba Na có tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên cao nhất 49,5%, dân tộc Ê Đê 43,44%

và dân tộc Tày 38% (34)

Tuy vậy, trong điều kiện của nước ta hiện nay, việc gia tăng dân số đang đặt ra những khó khăn, thách thức trước mắt như: thiếu việc làm, thất nghiệp, học vấn của dân cư thấp, tật tăng, bất bình đẳng giới đang là những rào cản hạn chế nâng cao mức sống của người dân Do đó, chính sách của Nhà nước cần có biện pháp hạn chế, giảm và ổn định mức sinh ở mức độ thấp nhằm nâng cao mức sống dân cư ở Việt Nam cần được quán triệt và xuyên suốt trong tiến trình phát triển kinh tế xã hội

1.2.2.6 Yếu tố tôn giáo tín ngưỡng

Tôn giáo tín ngưỡng cũng là một nhân tố có ảnh hưởng đến mức sinh, mức

độ ảnh hưởng này rất khác nhau giữa các tín đồ tôn giáo và không tôn giáo Nguyên nhân cơ bản của tình trạng trên xuất phát từ chủ thuyết của các tôn giáo đối với sinh đẻ, áp dụng các biện pháp tránh thai và nạo phá thai Ở Việt Nam, pháp luật tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Tôn giáo là một đặc trưng của dân số (36), (37)

HUPH

Trang 23

Nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của người Lương là 55,84%, người theo đạo Phật là 23,38% và người theo đạo Công giáo là 20,45% (29) Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nha tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của người theo đạo Công giáo là 34,91%, những người không có đạo là 32,08% những người theo đạo Phật và đạo Tin lành là 16,04% (7) Tuy nhiên theo nghiên cứu của Lang Đình Bính đã cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của người có tôn giáo là 0,49%, tỷ lệ này ở đối tượng không tôn giáo là 99,51%, điều này có thể do ĐTNC tại đây có tôn giáo chiếm tỷ lệ rất nhỏ (28)

Một số nghiên cứu cũng chỉ ra rằng người ra quyết định sinh con thứ 3 trở lên không phải chủ yếu là người chồng, bố mẹ chồng mà là người vợ (38)

1.2.2.7 Yếu tố cá nhân người chồng

Nghề nghiệp người chồng có tác động đến việc sinh con thứ 3 trở lên Nhiều nghiên cứu cho thấy, nhiều phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên có chồng là nghề nông chiếm 66,6% (29) Tại Hà Nội, nghề nghiệp chủ yếu của những người chồng sinh con thứ 3 trở lên là buôn bán (42,9%) (17)

Bên cạnh đó là yếu tố trình độ học vấn của người chồng Theo nghiên cứu của Nguyễn Thế Hùng năm 2010, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của nhóm đối tượng

có chồng học vấn dưới Trung học cơ sở là là 72,4% (29) Nguyễn Hải và Lê Cự Linh tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh kết quả tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên ở những người chồng có trình độ học ở bậc trung học phổ thông chiếm đa số trong mẫu nghiên cứu (60,7%) (9) Một lý do cũng được quan tâm là người chồng là con trưởng, trưởng tộc hoặc con trai duy nhất trong gia đình hay dòng họ

1.2.2.8 Yếu tố gia đình

Tại Việt Nam, thường có quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đó”, “Giấy rách phải giữ lấy lề”, “Áo mặc không qua khỏi đầu”… thì ý kiến của người cha, người mẹ thường được quan trọng Những ý kiến này có khi là những vấn đề áp đặt trong một gia đình mà con cái phải làm theo Điều đó cho thấy các ý kiến mong muốn có thêm con cháu của người cha, người mẹ thường tác động lớn đến quyết định sinh con của con cái Bên cạnh đó, những người xung quanh như xóm

HUPH

Trang 24

giềng, bàn bè, đồng nghiệp khi thấy người ta có đủ trai đủ gái, những dèm pha… cũng ảnh hưởng đến việc sinh con thứ 3 trở lên

Nghiên cứu của Nguyễn Hải và Lê Cự Linh cho thấy, có trên 30% cặp vợ chồng sinh thêm con thứ 3 trở lên là vì áp lực gia đình và những người lớn xung quanh (9) Tỷ lệ này tại Bắc Giang chỉ chiếm 1,8% (26) Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Lệ Thu 21,4% số cặp vợ chồng cho biết họ sinh con thứ 3 trở lên là vì

áp lực phải có con trai từ gia đình và dòng tộc (8)

1.2.2.9 Các yếu tố dịch vụ dân số kế hoạch hóa gia đình

Kết quả cuộc Điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình 1/4/2013 cho thấy, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại tại thời điểm 1/4/2013 đạt mức 67%, tăng 0,4% so với kết quả điều tra 1/4/2012 (38)

Hiểu biết các BPTTHĐ và nguồn cung cấp là nhân tố quan trọng giúp cho các cặp vợ chồng quyết định sử dụng BPTTHĐ hay không Thông tin về BPTTHĐ đang được phổ biến ở nước ta như đình sản, tiêm thuốc tránh thai, bao cao su, vòng tránh thai và hai biện pháp truyền thống là tính vòng kinh và xuất tinh ngoài âm đạo Một thái độ đúng đối với các BPTTHĐ sẽ là điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng biện pháp tranh thai thành công Thái độ thích hay không thích sử dụng BPTTHĐ hoặc chỉ quan tâm đến biện pháp tránh thai truyền thống Nếu việc sử dụng các biện pháp tránh thai thất bại cộng với không nạo phá thai dẫn đến việc sinh con ngoài ý muốn và có thể góp phần tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên

Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Nha (2011) vẫn còn nhiều bà mẹ không hiểu biết và không sử dụng đúng cách biện pháp tránh thai dẫn đến vỡ kế hoạch là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (7) Điều này cho thấy sự hạn chế của chất lượng cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ, phụ nữ chưa được tư vấn một cách đầy đủ khi sử dụng BPTTHĐ Mặt khác, ở những phụ nữ khi bị vỡ kế hoạch,

do không nhận biết, hoặc có nhận biết nhưng ngại đến cơ sở dịch vụ hoặc do điều kiện khó khăn không đến được, họ thường để đẻ con, do vậy mặc dầu đã có đủ số con theo ý muốn nhưng họ vẫn đẻ con thứ ba trở lên Do đó, cần đào tạo lại cho nhân viên y tế cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ về kiến thức, kỹ năng thực hành

HUPH

Trang 25

và tư vấn trước, trong, sau khi cung cấp dịch vụ DS-KHHGĐ cho khách hàng để tăng hiệu quả sử dụng của các BPTT

Năm 2011, Nguyễn Thế Hùng đã nghiên cứu thực trạng sinh con thứ 3 và các yếu tố liên quan của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ tại huyện Triệu Phong, Quảng Trị cho rằng các bà mẹ không sinh con thứ 3 trở lên có sự hiểu biết

về BPTTHĐ cao hơn số bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên Tỷ lệ những bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên có thời gian sử dụng BPTTHĐ không liên tục cao hơn những bà mẹ không sinh con thứ 3 trở lên Tác giả cũng chỉ ra rằng sử dụng BPTTHĐ làm giảm nguy cơ sinh con thứ 3 trở lên (29)

Bên cạnh đó những người phụ nữ có khả năng tiếp cận dịch vụ DS - KHHGĐ một cách dễ dàng thể hiện vai trò tự quyết định trong việc sinh con thứ 3 trở lên cao hơn so với những người vợ khó tiếp cận các dịch vụ này

Nhiều nghiên cứu đã cho rằng mức hiểu biết biện pháp tránh thai của người phụ nữ càng thấp thì tỉ lệ sinh con thứ 3 trở lên càng cao Tuy nhiên những nghiên cứu này lại chưa đưa ra được chất lượng của dịch vụ cũng như thái độ của cán bộ làm công tác DS-KHHGĐ ảnh hưởng như thế nào đến tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên (35), (39), (40), (6)

Tuy nhiên hiện nay việc cung cấp các dịch vụ DS-KHHGĐ không phải là miễn phí vì vậy sẽ khó khăn trong việc sử dụng các BPTTHĐ nhất là những vùng kinh tế còn khó khăn, người dân nghèo không đủ tiền mua dịch vụ và thói quen của người sử dụng luôn được miễn phí hoàn toàn Bên cạnh đó các BPTTHĐ dành cho nam giới tỷ lệ sử dụng còn rất thấp (41) Hiện nay vẫn còn nhiều nam giới không muốn sử dụng các biện pháp tránh thai, không tạo điều kiện cho người vợ sử dụng các biện pháp tránh thai (42) Nhiều phụ nữ rơi vào tình trạng bị bạo lực gia đình, cưỡng bức… và hậu quả của những lần ép buộc tình dục đã làm tăng nguy cơ lây truyền các qua đường tình dục, HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn, sẩy thai, đẻ non, thậm chí vô sinh

HUPH

Trang 26

1.2.2.10 Yếu tố chính sách DS- KHHGĐ

Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ở Châu Á triển khai chương trình dân số và kế hoạch hóa gia đình Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 04 về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình Đồng thời ban hành Pháp lệnh dân số

2008 sửa đổi điều 10 của Pháp lệnh dân số năm 2003 Quyết định số TTg ngày 14/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược dân số và sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (43)

2013/QĐ-Nghiên cứu Nguyễn Hải (năm 2006) đã chỉ ra rằng có 14,7% người chồng và 19,9% người vợ sinh con thứ 3 trở lên là do chính phủ ban hành Pháp lệnh dân số Có một số cặp vợ chồng hiểu sai hoặc cố tình không hiểu về Pháp lệnh dân số, những gia đình có vợ hoặc chồng có sinh con thứ 3 là đảng viên chiếm tỷ lệ cao (9) Theo thống kê của Tổng cục Dân số - Kế hoạch hoá gia đình đầu năm 2008, đối tượng sinh con thứ 3 không chỉ dừng lại ở những hộ nông dân mà gần đây lại có xu hướng xuất hiện ở đối tượng Đảng viên, công chức nhà nước, những gia đình khá giả (6)

Hiện nay các văn bản, quy định của Nhà nước không đề cập đến việc xử phạt người dân vi phạm pháp lệnh dân số Nghị định 117/2020/NĐ-CP, thay thế Nghị định 176/2013/NĐ-CP (đã hết hiệu lực thi hành) về xử phạt vi phạm hành chính về dân số và trẻ em đã không đề cập gì đến việc “xử lý việc sinh con thứ ba” nữa (44) Đây là chính sách mở để đối phó với tình trạng già đi của dân số Việt Nam trong thời gian tới Việc ban hành các chính sách tạo điều kiện thuận lợi để các ban ngành, chính quyền địa phương và người dân có căn cứ thực hiện Tuy nhiên, việc áp dụng chính sách của nhà nước ở một số địa phương còn gặp nhiều khó khăn; điều này đã ảnh hưởng đến công tác DS-KHHGĐ cũng như làm ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên Một số người dân cũng chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp lệnh dân số, còn có một bộ phận không nhỏ hiểu sai về các quy định nên dẫn đến tình trạng sinh con thứ 3 trở lên vẫn còn cao ở các vùng nông thôn, miền núi Các quy định về xử phạt đối với những người dân vi phạm pháp lệnh dân số không còn, việc xử lý vi phạm tùy thuộc vào quy định của các địa phương nên chưa tạo được sự đồng bộ về quy

HUPH

Trang 27

đinh nên khó thực hiện và chưa mạng lại hiệu quả nhất định Việc cấm thông báo giới tính khi sinh được ban hành một cách chặt chẽ, tuy nhiên tại các phòng khám, việc người ta vẫn dùng những thuật ngữ “giống bố” hay “tiểu ngồi”, “tiểu đứng” để mục đích thông báo giới tính (27)

1.3 Giới thiệu địa bàn nghiên cứu

Huyện Đăk Tô là một huyện miền núi và vùng cao nằm ở phía Bắc tỉnh Kon Tum, gồm 8 xã và 1 thị trấn với diện tích tự nhiên: 50.870,31 ha chiếm 5,29

% diện tích toàn tỉnh Phía Bắc giáp huyện Tu Mơ Rông, Phía Tây giáp huyện Ngọc Hồi, phía Nam giáp huyện Sa Thầy, phía Đông giáp huyện Đăk Hà, huyện

có đường quốc lộc 14 chạy qua rất thuận lợi cho việc giao thông đi lại giao lưu với các huyện bạn và các tỉnh giáp danh Hệ thống giao thông, chất lượng các con đường từ huyện xuống xã đang dần xuống cấp, chưa đáp ứng được yêu cầu đi lại của nhân dân

Dân số trung bình năm 2020 là 51.317 người, dân tộc thiểu số chiếm 54%

(chủ yếu là người dân tộc Xơ Đăng) Đời sống của người dân gắn liền với canh

tác nương rẫy, lúa nước và rừng với quá trình sản xuất còn lạc hậu, tự cung tự cấp; một số phong tục tập quán còn lạc hậu như sinh con tại nhà, cúng bái khi đau ốm,… đang là thách thức lớn cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện Mức sống dân cư còn thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, chiếm 9,36 %, với 1.073 hộ nghèo (theo tiêu chí mới) (45)

Đời sống văn hóa và các phong tục, tập quán của người dân tộc Xơ Đăng rất phong phú Một trong số nét đặc trưng của văn hóa truyền thống của người Xơ Đăng đó là chế độ mẫu hệ; tuy nhiên hiện nay chế độ mẫu hệ cùng dần thay thế bằng chế độ phụ hệ nơi người đàn ông là trụ cột gia đình Mỗi làng Xơ Đăng có nhà rông, có bãi mộ chôn người chết Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau Già làng được trọng nể nhất, là người điều hành mọi sinh hoạt chung trong làng và đại diện của dân làng Trong số các lễ cúng, lễ hội truyền thống của người Xơ Đăng thì lễ đâm trâu được tổ chức long trọng nhất, đông vui nhất; ngoài ra còn có các lễ quan trọng khác như: Lễ cúng thần nước vào

HUPH

Trang 28

dịp sửa lại máng nước, Lễ tạ ơn thần lúa Người Xơ Đăng còn lưu giữ được văn hóa cồng chiêng Rượu cần là thức uống không thể thiếu (45)

Theo báo cáo của Phòng Dân số, Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô năm 2020, dân số toàn huyện là 51.317 người Tổng số trẻ sinh ra 925 trẻ, trong đó 216 trẻ là con thứ 3 trở lên Công tác DS-KHHGĐ đã được triển khai đồng bộ ở tất cả các

xã Tuy kết quả hoạt động chưa cao: tỷ lệ áp dụng các BPTT của phụ nữ độ tuổi sinh đẻ thấp (58%); chỉ có 49 % sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của huyện năm 2020 là 23,3% còn cao so với tỷ lệ chung của tỉnh (16,8%) Tuy nhiên tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên không đồng đều giữa các xã;

tỷ lệ này tập trung chủ yếu ở người dân tộc thiểu số tại 5 xã (Đăk Trăm, Văn Lem, Pô Kô, Đăk Rơ Nga, Ngọc Tụ) Đây là 5 khó khăn của huyện Đăk Tô; có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống (chủ yếu là người Xơ Đăng) với nhiều phong tục tập quán lạc hậu và đời sống kinh tế còn gặp nhiều khó khăn Công tác truyền thông được thực hiện thường xuyên nhưng chưa mang lại hiệu quả đáng

kể, tỷ lệ áp dụng BPTT của người dân còn thấp, các BPTT chủ yếu là các biện pháp truyền thống Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên tại 3 xã liên tục tăng trong các năm gần đây và không có xu hướng giảm (12) Việc sinh nhiều con đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của người dân tại đây; kinh tế khó khăn cộng với việc đông con khiến cho các gia đình không đủ ăn, đủ mặc; con cái thường phải bỏ học giữa chừng để làm nương rẫy phụ giúp gia đình Các bà mẹ không có thời gian, điều kiện để chăm sóc sức khỏe bản thân, nhất là việc chăm sóc sức khỏe sinh sản Việc sinh con thứ 3 trở lên không chỉ ảnh hưởng đến kết quả công tác DS-KHHGĐ; mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương

và đặc biệt ảnh hưởng lớn đến đời sống người dân nơi đây

HUPH

Trang 29

1.4 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên tình hình thực tế của địa phương và

tham khảo nghiên cứu của tác giả Lê Thị Thu Thủy (2014) tại Chương Mỹ, Hà

Nội (46) và nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Huyền Trang (2013) tại Gia Lâm,

Hà Nội (38)

Hình 1.2 Khung lý thuyết nghiên cứu

Đặc điểmcá nhân và gia đình

- Đặc điểm cá nhân: Tuổi,

tuổi kết hôn; dân tộc, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp,

số con hiện tại; tâm lý thích con trai; thích đông con, hiểu biết về chính sách, áp dụng

BPTT không

- Gia đình:

+ Trình độ học vấn của chồng, nghề nghiệp của chồng, người chồng là con trưởng hay con thứ

+ Đối tượng chung sống

- Truyền thông tư vấn

về KHHGĐ: kênh truyền thông; ngôn ngữ sử dụng,

Sinh con thứ 3 trở lên

HUPH

Trang 30

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Các bà mẹ người dân tộc thiểu số sinh con trong năm 2020 tại 5 xã của huyện Đăk Tô (Văn Lem, Đăk Rơ Nga, Ngọc Tụ, Đăk Trăm và Pô Kô)

* Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Đang sinh sống trên địa bàn nghiên cứu;

- Sinh con trong năm 2020 ;

- Đồng ý tham gia nghiên cứu

* Tiêu chuẩn loại trừ

- Các bà mẹ không có khả năng trả lời các câu hỏi;

- Có vấn đề về sức khỏe tâm thần

2 .2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu:

- Địa điểm nghiên cứu: Tại huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 2/2021 đến tháng 10/2021, trong đó thời

gian thu thập số liệu tại thực địa từ tháng 5/2021 đến tháng 6/2021

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang phân tích, sử dụng phương pháp

nghiên cứu định lượng kết hợp nghiên cứu định tính

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để mô tả thực trạng sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ dân tộc thiểu số tại 5 xã (Văn Lem, Đăk Rơ Nga, Ngọc

Tụ, Đăk Trăm và Pô Kô) của huyện Đăk Tô; đồng thời phân tích các yếu tố liên quan đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ dân tộc thiểu số

Sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ dân tộc thiểu số tại 5 xã của huyện Đăk Tô

2.4 Cỡ mẫu:

* Nghiên cứu định lượng

Dùng công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ, ta có:

2 ) 2 / 1 ( (1 )

d

p p

HUPH

Trang 31

+ Z(1-α/2) = Hệ số tin cậy (khoảng tin cậy 95%, Z(1-α/2) = 1,96)

- Theo công thức trên ta tính được: n = 215 Dự phòng 10% không tiếp cận được đối tượng Như vậy cỡ mẫu cuối cùng là 235 đối tượng

* Nghiên cứu định tính: Thực hiện 14 cuộc PVS và 4 buổi TLN

Phỏng vấn sâu: tổng cộng 14 cuộc/14 người:

Chọn chủ đích đại diện lãnh đạo TTYT huyện, đại diện cán bộ phòng dân

số huyện; những bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên, sinh con một bề (là con trai và một

bề là con gái) và bà mẹ sinh con 2 bề (có cả trai và gái); là những bà mẹ nhanh nhẹn, có khả năng trả lời câu hỏi (việc lựa chọn để PVS được thực hiện sau khi phỏng vấn thu thập thông tin nghiên cứu định lượng)

Bảng 2.1 Đối tượng tham gia PVS

PVS

Ghi chú

1 Đại diện lãnh đạo Trung tâm Y tế huyện 01

2 Đại diện cán bộ phòng dân số huyện 01

3

Về phía bà mẹ: là những bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên

- Bà mẹ hai lần sinh đầu sinh một bề là con trai 02

- Bà mẹ hai lần sinh đầu sinh một bề là con gái 02

- Bà mẹ hai lần sinh đầu có cả con trai và con gái 02

4

Về phía gia đình

- Mẹ chồng phụ nữ sinh 3 con trở lên 02

- Các ông chồng của bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên 02

HUPH

Trang 32

Thảo luận nhóm: Thực hiện 4 buổi TLN với tổng số 30 người tham gia:

- Đối bà mẹ: Chọn chủ đích những bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên, sinh con một bề là con trai hoặc một bề là con gái và bà mẹ sinh con 2 bề (có cả trai và gái);

là những bà mẹ nhanh nhẹn, có khả năng trả lời câu hỏi (việc lựa chọn để TLN được thực hiện sau khi phỏng vấn thu thập thông tin nghiên cứu định lượng)

- Về phía cộng đồng: Chọn chủ đích cán bộ hội phụ nữ (là hội trưởng hoặc hội phó của Hội phụ nữ xã) là những bà mẹ nhanh nhẹn, có khả năng trả lời câu hỏi để tiến hành TLN

- Về phía cơ sở y tế: Chọn cán bộ phụ trách dân số của xã đó để tiến hành TLN

Bảng 2.2 Đối tượng tham gia TLN

TLN

Ghi chú

1

Về phía bà mẹ

- Bà mẹ sinh 3 con trở lên (2 người/xã X 5 xã = 10 người) 01

- Bà mẹ sinh 2 con (2 người/xã X 5 xã = 10 người) 01

2 Về phía cộng đồng dân cư (Cán bộ Hội phụ nữ của 5 xã) 01

3 Về cơ sở y tế: Cán bộ phụ trách dân số của 5 xã 01

2.5 Phương pháp chọn mẫu

* Nghiên cứu định lượng: Sử dụng phương pháp ngẫu nhiên hệ thống

- Bước 1: Tạo khung mẫu, lập danh sách các bà mẹ người dân tộc thiểu số sinh con trong năm 2020 tại 5 xã là 554 người

- Bước 2: Tính khoảng cách mẫu: k = N/n = 554/235 = 2,36 làm tròn k = 2

- Bước 3: Theo danh sách khung mẫu chọn ngẫu nhiên một số từ 1 đến 2, đây là người đầu tiên Người thứ hai được chọn bằng cách lấy số thứ tự của người thứ nhất cộng với hệ số k Người thứ ba được chọn bằng cách lấy số thứ

tự của người thứ hai cộng với hệ số k Những người còn lại được chọn bằng phương pháp tương tự như trên cho đến người thứ 235 Nếu người được chọn

HUPH

Trang 33

không đồng ý tham gia nghiên cứu, chúng tôi chọn người kế tiếp trong danh sách đã được lập sẵn; thực tế chúng tôi chọn đủ 235 người tham gia vào nghiên cứu

* Nghiên cứu định tính: Được tiến hành sau khi thu thập xong số liệu nghiên

cứu định lượng Kết quả của nghiên cứu định tính nhằm hỗ trợ cho kết quả của nghiên cứu định lượng Chọn có chủ đích các đối tượng tiến hành phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, bao gồm 12 cuộc PVS và 2 cuộc TLN

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Công cụ thu thập thông tin

- Phiếu phỏng vấn có cấu trúc (Phụ lục 1): Sử dụng phiếu câu hỏi phỏng vấn

đã soạn sẵn để phỏng vấn trực tiếp đối tượng Bộ câu hỏi được biên soạn dựa trên tổng quan nghiên cứu, khung lý thuyết và có tham khảo bộ câu hỏi của một số nghiên cứu liên quan về sinh con thứ 3 trở lên (46), (38)

- Hướng dẫn phỏng vấn sâu (Phụ lục 2,3,4,5) và hướng dẫn thảo luận nhóm phụ lục (5,6,7,8)

2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu

- Cấu phần định lượng: Phỏng vấn trực tiếp bà mẹ sinh con trong năm

2020, bao gồm các thông tin chung của ĐTNC, thông tin về gia đình, cộng đồng; thực trạng sinh con thứ 3,… (Phụ lục 1)

- Cấu phần định tính:

+ Phỏng vấn sâu bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên: Tìm hiểu lý do sinh con thứ 3 trở lên Thực tế về việc tiếp cận dịch vụ KHHGĐ, thuận lợi, khó khăn Lý do không áp dụng các biện pháp tránh thai Các biện pháp xử lý khi sinh con thứ 3 tại địa phương Phong tục tập quán liên quan đến sinh con thứ 3 Kiến thức về ảnh hưởng của việc sinh con thứ 3 với bàn thân, gia đình và xã hội (Phụ lục 2)

+ Phỏng vấn sâu mẹ chồng của bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên: Tìm hiểu lý do sinh con thứ 3 trở lên Các biện pháp xử lý khi sinh con thứ 3 tại địa phương Phong tục tập quán liên quan đến sinh con thứ 3 Ảnh hưởng của việc sinh con thứ

3 với bàn thân, gia đình và xã hội (Phụ lục 3)

HUPH

Trang 34

+ Phỏng vấn sâu mẹ đẻ của bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên: Tìm hiểu lý do sinh con thứ 3 trở lên Các biện pháp xử lý khi sinh con thứ 3 tại địa phương Phong tục tập quán liên quan đến sinh con thứ 3 Ảnh hưởng của việc sinh con thứ

3 với bàn thân, gia đình và xã hội (Phụ lục 4)

+ Phỏng vấn sâu chồng của bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên: Tìm hiểu lý do sinh con thứ 3 trở lên Các biện pháp xử lý khi sinh con thứ 3 tại địa phương Phong tục tập quán liên quan đến sinh con thứ 3 Ảnh hưởng của việc sinh con thứ

3 với bàn thân, gia đình và xã hội (Phụ lục 5)

+ Thảo luận nhóm bà mẹ sinh con thứ 3 trở lên và bà mẹ sinh từ 1-2 con: Tìm hiểu lý do sinh con thứ 3 trở lên Thực tế về việc tiếp cận dịch vụ KHHGĐ, thuận lợi, khó khăn Ý định sinh con thứ 3; các biện pháp xử lý khi sinh con thứ 3 tại địa phương Phong tục tập quán liên quan đến sinh con thứ 3 Kiến thức về ảnh hưởng của việc sinh con thứ 3 với bàn thân, gia đình và xã hội (Phụ lục 6-7)

+ Thảo luận nhóm cán bộ phụ nữ xã và cán bộ phụ trách công tác dân số xã: Tìm hiểu thực trạng sinh con thứ 3; thực trạng sử dụng dịch vụ CSSKSS; lý do sinh con thứ 3 trở lên Thuận lợi, khó khăn trong công tác KHHGĐ Các cơ chế chính sách, các hình thức xử phạt khi sinh con thứ 3 tại địa phương Phong tục tập quán liên quan đến sinh con thứ 3 (Phụ lục 8)

2.6.3 Quy trình thu thập số liệu

Nghiên cứu định lượng

- Chọn 02 Điều tra viên (ĐTV) (02 cán bộ y tế của khoa Kiểm soát bệnh tật

& HIV/AIDS) có kinh nghiệm điều tra, thu thập thông tin tại cộng đồng; 02 giám sát viên (GSV) là cán bộ có trình độ đại học của phòng Dân số của Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô Tại mỗi thôn điều tra có 01 nhân viên y tế thôn hỗ trợ công tác liên

hệ tại cộng đồng Ngoài ra, tại mỗi thôn chọn thêm 01 cộng tác viên dẫn đường là người có uy tín và có khả năng giao tiếp được với người dân tộc tại thôn đó

- Trước khi điều tra, tổ chức tập huấn/hướng dẫn điều tra cho ĐTV và GSV; Tiến hành điều tra thử tại cộng đồng 23 phiếu và thực hiện chỉnh sửa bộ công cụ thu thập thông tin sau điều tra thử cho phù hợp

HUPH

Trang 35

- Chia thành 2 nhóm điều tra với mỗi nhóm có 3 người gồm: 01 GSV, 01 ĐTV, 01 người dẫn đường

+ Nhóm điều tra tiến hành thu thập thông tin tại cộng đồng Khi gặp người được phỏng vấn, ĐTV tự giới thiệu về bản thân mình cho người được phỏng vấn biết và hợp tác Sau khi sàng lọc đúng đối tượng đảm bảo yêu cầu của nghiên cứu, ĐTV thực hiện các bước giới thiệu về nghiên cứu, mục đích và nội dung nghiên cứu để đảm bảo cung cấp thông tin trung thực và chỉ phỏng vấn khi được sự đồng

ý của ĐTNC và thực hiện các bước theo đúng quy trình Hội đồng đạo đức phê duyệt ĐTV đặt câu hỏi theo Phiếu phỏng vấn cho người được phỏng vấn (Phụ lục 1) và ghi kết quả trả lời vào Phiếu phỏng vấn này

+ GSV đi cùng ĐTV trong quá trình thực hiện 10 phiếu phỏng vấn đầu tiên Sau đó, GSV thực hiện rà soát, kiểm tra lại các phiếu ĐTV đã hoàn thành, yêu cầu ĐTV bổ sung những thông tin còn thiếu, điều tra bổ sung ĐTNC đối với các phiếu điều tra không đạt yêu cầu

- Sau khi hoàn thành điều tra đủ số lượng mẫu nghiên cứu, GSV nộp phiếu phỏng vấn ĐTNC có đủ chữ ký của ĐTV và GSV cho nghiên cứu viên chính NCV chính kiểm tra số lượng, chất lượng các thông tin ghi trên từng phiếu, yêu cầu ĐTV và GSV bổ sung thông tin chưa đạt yêu cầu Tiến hành nhập thông tin của các phiếu vào phần mềm quản lý nhập liệu (Epidata 3.1)

Nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi thu thập xong số liệu định lượng; nhóm nghiên cứu lựa chọn có chủ đích các đối tượng tiến hành PVS và TLN NCV chính là người trực tiếp thực hiện các cuộc PVS và TLN dựa trên hướng dẫn phỏng vấn sâu (hướng dẫn PVS chi tiết cho từng đối tượng tại các Phụ lục 2,3,4,5,6) Địa điểm PVS là tại đơn vị nhà của ĐTNC (đối với các bà mẹ và người nhà bà mẹ) và tại TYT xã (đối với cán bộ phụ nữ và cán bộ phụ trách công tác dân số)

+ NCV chính liên hệ trực tiếp với các đối tượng được chọn PVS và TLN,

đề nghị họ tham gia vào nghiên cứu Chọn và hẹn thời gian và địa điểm để phỏng vấn

HUPH

Trang 36

+ NCV chính đọc giới thiệu mục đích của nghiên cứu và các thông báo các nội dung liên quan Tiến hành phỏng vấn các ĐTNC đồng ý tham gia nghiên cứu Tuân thủ thực hiện nghiêm túc các quy trình nghiên cứu do Hội đồng đạo đức phê duyệt

+ NCV chính tiến hành phỏng vấn, ghi biên bản và ghi âm cuộc phỏng vấn (phải có sự đồng ý của người cung cấp thông tin)

2.7 Biến số nghiên cứu

2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng (Phụ lục 9)

- Thông tin chung của bà mẹ: Tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, độ tuổi kết hôn

- Thông tin chung của người chồng: Trình độ học vấn, nghề nghiệp, số con người chồng mong muốn sinh

- Thực trạng sinh con thứ 3 trở lên: Số lần sinh con; giới tính của các con,

số con hiện tại, lý do sinh con thứ 3 trở lên, người quyết định sinh con thứ 3, áp lực khi sinh con thứ 3, người gây áp lực sinh con thứ 3, mong muốn giới tính của con; lý do thích con trai, con gái; số con bà mẹ mong muốn sinh

- Yếu tố gia đình: Mong muốn giới tính của người chồng, lý do thích con trai, con gái; đối tượng chung sống, kinh tế gia đình, khoảng cách từ nhà tới CSYT

- Dịch vụ CSSKSS: Áp dụng BPTT trước lần sinh con thứ 3, các BPTT được áp dụng trước lần sinh con thứ 3; các BPTT đang sử dụng, lý do không sử dụng; tiếp cận các BPTT, nguồn thông tin về KHHGĐ, bất đồng ngôn ngữ

- Hiểu biết về pháp lệnh dân số: Biết quy định của PLDS không được sinh con thứ 3, xử phạt khi sinh con thứ 3, nguồn thông tin về pháp lệnh dân số; tuổi kết hôn quy định trong PLDS, khoảng cách giữa các lần sinh

2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính

- Yếu tố tâm lý mong muốn sinh con trai

- Tâm lý mong muốn có nhiều con, đủ trai đủ gái

- Yếu tố phong tục tập quán

- Yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng

HUPH

Trang 37

- Các yếu tố về dịch vụ DS KHHGĐ

- Các quy định, chính sách, pháp lệnh dân số KHHGĐ

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

2.8.1 Đối với số liệu định lượng

Số liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1

Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 14.0 Kết quả được chia thành 2 phần:

- Phần mô tả: Thể hiện tần số, tỷ lệ của các biến số nghiên cứu Các biến số được phân nhóm như trong phần biến số nghiên cứu

- Phần phân tích đơn biến xác định mối liên quan giữa tình trạng sinh con thứ 3 trở lên với các yếu tố: nhóm tuổi, tôn giáo, nghề nghiệp, tuổi kết hôn, sinh con 1 bề, trình độ học vấn, điều kiện kinh tế, nghề nghiệp của chồng Tình trang chung sống; tiếp cận dịch vụ KHHGĐ; áp dụng BPTT Tỷ số chệnh (OR) cùng khoảng tin cậy của OR (CI95% OR) được dùng để phù hợp để xác định độ mạnh của mối liên quan và tính p

Các biến số có thể được phân nhóm lại trong quá trình phân tích Trong phần mô tả và phân tích có liên hệ, so sánh với các kết quả nghiên cứu khác đã thực hiện

Các kết quả phân tích số liệu được trình bày dưới dạng các bảng và hình, biểu đồ

2.8.2 Đối với thông tin định tính

Các băng ghi âm các cuộc PVS sẽ được gỡ băng và được đánh máy dưới

dạng văn bản Word NCV chính đọc nội dung các cuộc PVS để mã hoá thông tin

Áp dụng phương pháp phân tích theo chủ đề để phân tích các kết quả

Kết quả phân tích thông tin định tính sẽ được bổ sung, giải thích cho các kết quả định lượng Ngoài ra, một số thông tin do ĐTNC cung cấp được trích dẫn, minh hoạ cho kết quả nghiên cứu

2.9 Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua theo Quyết định số 74/2021/YTCC-HD3, ngày

HUPH

Trang 38

- Thông tin và ý kiến cá nhân của các đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật, chỉ sử dụng để tổng hợp, phân tích đưa ra nhận định chung

- Số liệu nghiên cứu được thông báo lại cho các bên liên quan nhằm giúp các cơ quan chức năng có thêm thông tin trong việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến chính sách dân số

- Những thông tin thu được chỉ phục vụ cho nghiên cứu và các mục đích nhằm thực hiện và cải thiện chính sách dân số

HUPH

Trang 39

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Thông tin chung của ĐTNC

3.1.1 Thông tin nhân khẩu học của ĐTNC

Bảng 3.1 Đặc điểm chung của các bà mẹ (n=235)

Trang 40

Bảng 3.2 Thông tin về phía gia đình bà mẹ (n=235)

10 km trở lên

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bách khoa toàn thư. Dân số thế giới 2020 [cited 2020 3/8/2020]. Available from: https://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_s%E1%BB%E1%BB%9Bi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số thế giới 2020
Tác giả: Bách khoa toàn thư
Năm: 2020
2. Tổng cục thống kê. Báo cáo kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014, Hà Nội. Hà Nội: 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả chủ yếu điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ thời điểm 1/4/2014
Tác giả: Tổng cục thống kê
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2014
4. Pháp lệnh số 08/2008/PL-UBTVQH12 về sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số 2003, (2008) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp lệnh số 08/2008/PL-UBTVQH12 về sửa đổi Điều 10 của Pháp lệnh dân số 2003
Năm: 2008
5. Dân số. Dân số Việt Nam 2020 [truy cập ngày 04/8/2020]. Available from: https://danso.org/viet-nam/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân số Việt Nam 2020
6. Nguyễn Thanh Bình. Một số đánh giá về thực trạng phụ nữ sinh con thứ ba ở Việt Nam giai đoạn hiện nay. Tạp chí Dân số và Phát triển. 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đánh giá về thực trạng phụ nữ sinh con thứ ba ở Việt Nam giai đoạn hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Tạp chí Dân số và Phát triển
Năm: 2011
7. Nguyễn Ngọc Nha. Tình hình sinh con thứ 3 ba và các yếu tố liên quan tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên năm 2010 [Luận văn Chuyên khoa cấp I chuyên ngành YTCC]. Huế: Trường Đại học Y Dược Huế; 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình sinh con thứ 3 ba và các yếu tố liên quan tại huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên năm 2010
Tác giả: Nguyễn Ngọc Nha
Nhà XB: Trường Đại học Y Dược Huế
Năm: 2011
8. Nguyễn Thị Lệ Thu. Những yếu tố văn hóa xã hội liên quan đến hành vi con thứ 3 trở lên ở phụ nữ có chồng tại thị trấn Lấp Vò, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2007- 2009, [Luận văn Thạc sỹ Y tế Công Cộng]. Hà Nội: Đại học Y tế Công cộng; 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố văn hóa xã hội liên quan đến hành vi con thứ 3 trở lên ở phụ nữ có chồng tại thị trấn Lấp Vò, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2007- 2009
Tác giả: Nguyễn Thị Lệ Thu
Nhà XB: Đại học Y tế Công cộng
Năm: 2009
9. Nguyễn Hải, Lê Cự Linh. Thực trạng sinh con thứ ba trở lên và một số lý do ảnh hưởng tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tạp chí Y học Dự phòng. 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sinh con thứ ba trở lên và một số lý do ảnh hưởng tại huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Hải, Lê Cự Linh
Nhà XB: Tạp chí Y học Dự phòng
Năm: 2006
11. Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Kon Tum. Báo cáo hoạt động công tác dự phòng năm 2019. Kon Tum: 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoạt động công tác dự phòng năm 2019
Tác giả: Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Kon Tum
Nhà XB: Kon Tum
Năm: 2019
12. Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô. Báo hoạt động công tác y tế năm 2019. Đăk Tô: 2019.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo hoạt động công tác y tế năm 2019
Tác giả: Trung tâm Y tế huyện Đăk Tô
Nhà XB: Đăk Tô
Năm: 2019
10. Cổng thông tin điện tử tỉnh Kon Tum. Tổng kết Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 Kon Tum2019 [29/10/2020]. Available from:https://www.kontum.gov.vn/pages/detail/337-tra-dan-so-va-nha-o-nam-2019.html Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1: Dự báo dân số thế giới năm 2050 - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Hình 1.1 Dự báo dân số thế giới năm 2050 (Trang 14)
Bảng 1.2. Tỷ lệ % phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên theo vùng (25) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 1.2. Tỷ lệ % phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên theo vùng (25) (Trang 18)
Hình 1.2. Khung lý thuyết nghiên cứu - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Hình 1.2. Khung lý thuyết nghiên cứu (Trang 29)
Bảng 2.1. Đối tượng tham gia PVS - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 2.1. Đối tượng tham gia PVS (Trang 31)
Bảng 2.2. Đối tượng tham gia TLN - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 2.2. Đối tượng tham gia TLN (Trang 32)
Bảng 3.2. Thông tin về phía gia đình bà mẹ (n=235) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.2. Thông tin về phía gia đình bà mẹ (n=235) (Trang 40)
Bảng 3.3. Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên (n=235) - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.3. Tỷ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 trở lên (n=235) (Trang 41)
Bảng 3.5. Người quyết định chính trong việc sinh con thứ 3 trở lên và áp - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.5. Người quyết định chính trong việc sinh con thứ 3 trở lên và áp (Trang 43)
Bảng 3.8. Tình hình sử dụng BPTT để KHHGĐ - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.8. Tình hình sử dụng BPTT để KHHGĐ (Trang 45)
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của người mẹ với tình - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa một số yếu tố cá nhân của người mẹ với tình (Trang 46)
Bảng 3.10. Mong muốn của người chồng về giới tính của con khi sinh ra - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.10. Mong muốn của người chồng về giới tính của con khi sinh ra (Trang 49)
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa một số yếu tố gia đình với việc sinh con thứ 3 - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa một số yếu tố gia đình với việc sinh con thứ 3 (Trang 52)
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tiếp cận dịch vụ KHHGĐ và khoảng cách - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.13. Mối liên quan giữa tiếp cận dịch vụ KHHGĐ và khoảng cách (Trang 53)
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa bất đồng ngôn ngữ với tình trang sinh - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa bất đồng ngôn ngữ với tình trang sinh (Trang 58)
Hình thức xử phạt - Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sinh con thứ 3 trở lên của các bà mẹ người dân tộc thiểu số tại huyện đăk tô, tỉnh kon tum năm 2020
Hình th ức xử phạt (Trang 106)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w