PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Phụ nữ đến nạo phá thai tại Trung tâm chăm sóc SKSS TP Cần Thơ
Phụ nữ tại các quận/huyện của TP Cần Thơ được chẩn đoán có thai trong tử cung và đến Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ để nhận dịch vụ nạo phá thai.
- Phụ nữ nạo phá thai không biết tình trạng nhiễm HIV của bản thân, hoặc không làm XN HIV gần đây
- Tuổi từ 18 tuổi trở lên
- Đồng ý tham gia nhiên cứu
- Phụ nữ được xác định có thai, nhưng nạo phá thai vì thai bệnh lý (thai lưu, thai trứng…)
Phụ nữ thực hiện nạo phá thai cần lưu ý nếu họ đã biết mình nhiễm HIV hoặc đã làm xét nghiệm HIV trong vòng 3 tháng trước khi lấy mẫu nghiên cứu.
- Phụ nữ được xác định có thai nhưng có các bệnh lý về thần kinh hoặc tinh thần không ổn định
- Nhân viên cung cấp dịch vụ NPT và dịch vụ XN HIV tự nguyện:
Nhân viên y tế tại phòng tư vấn của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ đã được đào tạo về tư vấn xét nghiệm HIV, phù hợp với quy định tại khoản 3 điều 26 của Luật phòng, chống HIV/AIDS.
Nhân viên y tế tại phòng xét nghiệm của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ đã được đào tạo và tập huấn chuyên sâu về xét nghiệm HIV.
Nhân viên cung cấp dịch vụ tham gia vào quá trình nạo phá thai cho phụ nữ cần được tập huấn về tư vấn xét nghiệm HIV Việc lựa chọn một bác sĩ và một hộ sinh có kinh nghiệm là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng dịch vụ và an toàn cho bệnh nhân.
- Cán bộ lãnh đạo các khoa/phòng thuộc phòng khám Trung tâm chăm sóc SKSS TP Cần Thơ
- Lãnh đạo đơn vị phụ trách công tác chuyên môn của Trung tâm chăm sóc SKSS TP Cần Thơ
- Đồng ý tham gia nhiên cứu
Nhân viên y tế tại phòng tư vấn của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ chưa được đào tạo về tư vấn xét nghiệm HIV, điều này không phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
Nhân viên y tế tại phòng XN của Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ chưa được đào tạo hoặc tập huấn về xét nghiệm HIV.
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 03/2018 đến tháng 6/2018
- Địa điểm: tại Trung tâm chăm sóc SKSS TP Cần Thơ.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính Cấu phần định lượng được tiến hành trước, sau đó là cấu phần định tính.
Cấu phần định lượng nhằm xác định tỷ lệ phụ nữ tham gia xét nghiệm HIV tự nguyện tại NPT ở phòng khám, đồng thời đánh giá kiến thức và thái độ của họ về phòng chống HIV/AIDS thông qua phỏng vấn với bảng hỏi đã được chuẩn bị sẵn (mục tiêu 1).
Cấu phần định tính được thực hiện thông qua các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) nhằm giải thích và làm rõ thêm các kết quả từ nghiên cứu định lượng đã được phân tích.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cấu phần định lượng Áp dụng công thức ước tính một tỉ lệ:
- n : Là cỡ mẫu nghiên cứu
- z 1 - /2 : Hệ số tin cậy, với độ tin cậy 95% thì Z = 1,96
- p : Tỷ lệ PN nạo phá thai xét nghiệm HIV tự nguyện
- Chọn p = 40% (kết quả, qua khảo sát nhanh XN HIV tự nguyện của PN NPT tại phòng khám Trung tâm chăm sóc SKSS thành phố Cần Thơ trong 6 tháng qua)
- d = 0,06 độ chính xác tuyệt đối
Theo công thức đã nêu, với n = 256 và ước lượng khoảng 10% đối tượng không trả lời hoặc số liệu không đạt yêu cầu, cỡ mẫu cần thu thập sẽ là n = 256 + 25 = 281.
Thực tế có 288 đối tượng tham gia nghiên cứu và trả lời phỏng vấn đạt yêu cầu
2.4.2 Cỡ mẫu cấu phần định tính : 18 đối tượng bao gồm
- 05 phụ nữ đồng ý làm XN HIV tự nguyện trong mẫu nghiên cứu;
- 05 phụ nữ không đồng ý làm XN HIV tự nguyện trong mẫu nghiên cứu;
- 01 cán bộ lãnh đạo Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ (phụ trách chuyên môn);
- 02 nhân viên y tế đang làm tại phòng tư vấn xét nghiệm HIV;
- 01 nhân viên phòng xét nghiệm;
- 02 nhân viên cung cấp dịch vụ có liên quan;
- 02 cán bộ lãnh đạo cấp khoa/phòng chuyên môn (mỗi khoa 1 cán bộ).
Phương pháp chọn mẫu
- Phương pháp chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu toàn bộ
Để chọn mẫu, cần lựa chọn tất cả phụ nữ đến NPT đáp ứng các tiêu chí đã đề ra, bắt đầu từ khi nghiên cứu cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu Tại Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ, trung bình mỗi ngày có khoảng 5 - 10 phụ nữ đến NPT.
HUPH mẫu nghiên cứu sẽ được thu thập trong khoảng thời gian từ tháng 3 - 6/2018 (281 đối tượng, tương ứng với khoảng 60 ngày thu thập số liệu)
Chọn mẫu theo phương pháp thuận tiện:
- Chọn 05 phụ nữ đồng ý làm XN HIV tự nguyện trong mẫu NC, đồng ý tham gia PVS (chọn ngẫu nhiên trong số những ĐTNC đồng ý XN HIV tự nguyện);
- Chọn 05 phụ nữ không đồng ý làm XN HIV tự nguyện trong mẫu NC, đồng ý tham gia PVS (chọn ngẫu nhiên trong số ĐTNC không đồng ý XN HIV tự nguyện)
Trong quá trình phỏng vấn định lượng, điều tra viên cần chọn ĐTNC có thái độ hợp tác tốt và khả năng trả lời lưu loát, rõ ràng Nếu ĐTNC là đối tượng chủ đích của nghiên cứu định tính, điều tra viên sẽ tiến hành phỏng vấn sâu.
Chọn chủ đích 08 cán bộ y tế:
- 01 cán bộ lãnh đạo Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ phụ trách chuyên môn (giám đốc trung tấm);
- 02 nhân viên y tế làm công tác tư vấn XN HIV tại phòng khám;
- 01 nhân viên phòng xét nghiệm: phụ trách công tác XN HIV;
- 02 nhân viên cung cấp dịch vụ có liên quan (tham gia hoạt động chuyên môn trong quá trình nạo phá thai cho phụ nữ);
- 02 cán bộ lãnh đạo cấp khoa/phòng chuyên môn (mỗi khoa 1 cán bộ).
Phương pháp thu thập số liệu
Công cụ thu thu thập số liệu: sử dụng bộ công cụ được thiết kế sẵn gồm:
- Phiếu sàng lọc đối tượng NC
- Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu
- Phiếu phỏng vấn định lượng phụ nữ nạo phá thai
- Giấy cam kết XN HIV tự nguyện
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã phát triển bộ câu hỏi dựa trên khung theo dõi đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành năm 2007 và tham khảo bộ câu hỏi của tác giả Phan Thanh Xuân về "Hiệu quả can thiệp dự phòng lây truyền HIV ở phụ nữ mang thai tại hai quận, huyện Thành phố Hồ Chí Minh."
Bộ câu hỏi của tác giả Phan Thanh Xuân được xây dựng chi tiết với 60 câu, trong đó chúng tôi đã chọn 26 câu để tạo ra phần thông tin chung về kiến thức HIV và xét nghiệm HIV Chúng tôi đã loại bỏ các câu hỏi liên quan đến thái độ, thực hành và điều trị lây truyền HIV từ mẹ sang con.
Bổ sung các câu hỏi B1, B2, B5 - B7, B10 - B12 liên quan đến thông tin về xét nghiệm HIV và các yếu tố nguy cơ nhiễm HIV cho đối tượng nữ thanh niên, nhằm phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của tác giả Phan Thanh Xuân về can thiệp dự phòng lây truyền HIV ở phụ nữ mang thai Các câu hỏi về thái độ và một phần câu hỏi thực hành (từ D4 – D10) về xét nghiệm HIV được xây dựng dựa trên khung theo dõi đánh giá chương trình phòng, chống HIV/AIDS của Bộ Y tế.
Bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 10 phụ nữ đến nhận dịch vụ nạo phá thai tại phòng khám Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ trước khi thu thập số liệu và đã được chỉnh sửa để phù hợp sau thử nghiệm.
Nhóm nghiên cứu: Điều tra viên (ĐTV) và điều hành giám sát
- Điều tra viên gồm 03 người: 02 nhân viên y tế phụ trách công tác tư vấn XN HIV tại phòng khám của trung tâm chăm sóc SKSS và nghiên cứu viên
Nhóm giám sát tại phòng khám bao gồm giám sát viên, người lãnh đạo phụ trách công tác chuyên môn Nghiên cứu viên có nhiệm vụ giám sát các hoạt động của đội ngũ điều tra viên (ĐTV) và tham gia vào quá trình điều tra, nhằm giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình thu thập dữ liệu.
Các thành viên trong nhóm NC đã được đào tạo về quy trình thu thập thông tin, bao gồm bộ câu hỏi phỏng vấn, giấy cam kết và phương pháp sàng lọc đối tượng, nhằm đảm bảo tuân thủ đúng các tiêu chí chọn mẫu và thực hiện theo trình tự.
Kỹ thuật thu thập số liệu:
- Nghiên cứu viên và ĐTV chủ động tiếp cận với phụ nữ đến nhận dịch vụ NPT
Sử dụng phiếu sàng lọc (phụ lục 3) để chọn ĐTNC theo đúng các tiêu chí chọn mẫu
ĐTV giới thiệu về nghiên cứu (NC), nêu rõ mục đích và nội dung của NC, đồng thời trình bày cách thức tiến hành phỏng vấn Bên cạnh đó, ĐTV cam kết đảm bảo tính bảo mật thông tin và mời gọi đối tượng tham gia vào NC.
- Nếu ĐTNC đồng ý tham gia, đề nghị ký tên vào phiếu đồng ý tham gia NC
- Tiến hành thu thấp số liệu: phỏng vấn trực tiếp ĐTNC theo bộ câu hỏi (phụ lục
Trong quá trình phỏng vấn để thu thập thông tin, ĐTV có thể kết hợp tư vấn xét nghiệm HIV vào quy trình tư vấn về NPT, bao gồm phương pháp phá thai, quy trình thủ thuật, theo dõi và tái khám.
+ Trường hợp đối tượng đồng ý XN HIV Việc ký giấy cam kết XN HIV sẽ được thực hiện ngay sau khi kết thúc tư vấn XN HIV
Trong trường hợp Đối tượng nghiên cứu không muốn tiết lộ thông tin cá nhân, nhà nghiên cứu sẽ không ghi họ tên mà thay vào đó sử dụng mã số cho Đối tượng nghiên cứu trong các phiếu sàng lọc và phiếu thu thập thông tin (phụ lục 3).
4) Mã số là mã hồ sơ do phòng khám tại trung tâm chăm sóc SKSS qui định
Trước khi hoàn tất, ĐTV cần đọc và kiểm tra lại toàn bộ câu trả lời trong bảng câu hỏi Nếu ĐTNC đồng ý xét nghiệm HIV, ĐTV sẽ xác nhận việc xét nghiệm HIV tự nguyện của ĐTNC thông qua giấy cam kết đã ký Cuối cùng, ĐTV cảm ơn và kết thúc quá trình thu thập thông tin.
- Nếu ĐTNC không đồng ý tham gia NC, hướng dẫn phụ nữ nhận dịch vụ NPT theo qui trình tại phòng khám
Công cụ thu thu thập số liệu:
- Phiếu phỏng vấn sâu phụ nữ đồng ý XN HIV
- Phiếu phỏng vấn sâu phụ nữ không đồng ý XN HIV
- Phiếu phỏng vấn sâu cán bộ y tế
- Máy thu và băng ghi âm dùng trong phỏng vấn sâu, giấy, viết
Bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu được thiết kế cho từng nhóm đối tượng, nhằm mục tiêu nghiên cứu và làm rõ các kết quả phân tích từ phần định lượng.
Hướng dẫn phỏng vấn sâu đã được thử nghiệm trên một cán bộ y tế và hai phụ nữ NPT, trong đó có một người đồng ý và một người không đồng ý xét nghiệm HIV tự nguyện Các hướng dẫn này được xây dựng sẵn nhằm làm rõ các mục tiêu nghiên cứu và đã được chỉnh sửa sau thử nghiệm để phù hợp trước khi tiến hành phỏng vấn chính thức.
Người phỏng vấn sâu: nghiên cứu viên và ĐTV
Kỹ thuật thu thập số liệu:
Trước khi tiến hành phỏng vấn sâu, ĐTV giới thiệu về mục đích của nghiên cứu, xin ý kiến chấp thuận tham gia nghiên cứu của các ĐTNC, cụ thể:
Nhóm phụ nữ NPT sẽ thực hiện phỏng vấn sâu với 5 phụ nữ đồng ý xét nghiệm HIV và 5 phụ nữ không đồng ý xét nghiệm HIV tự nguyện Thời gian phỏng vấn có thể diễn ra ngay sau khi hoàn tất thu thập thông tin định lượng hoặc được lên lịch cho lần tái khám sau Mỗi cuộc phỏng vấn dự kiến kéo dài từ 30 đến 45 phút, sử dụng hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 6 - 7) để đảm bảo tính nhất quán và hiệu quả trong quá trình phỏng vấn.
Cuộc phỏng vấn sâu với cán bộ y tế sẽ được thực hiện tại phòng làm việc của ĐTNC, tập trung vào tình hình xét nghiệm HIV tự nguyện, kiến thức và thái độ của phụ nữ nạo phá thai về xét nghiệm này, cùng với các yếu tố liên quan Thời gian phỏng vấn dự kiến kéo dài từ 30 đến 45 phút, sử dụng hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 6) để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ thông tin.
Trong quá trình phỏng vấn, điều tra viên sẽ ghi âm và ghi chép để đảm bảo không bỏ sót thông tin và thu thập dữ liệu một cách hiệu quả hơn.
Các biến số nghiên cứu
2.7.1 Các biến số tương ứng với mục tiêu 1 (xem chi tiết tại phụ lục 1)
2.7.2 Các biến số tương ứng với mục tiêu 2 (mối liên quan đến XN HIV tự nguyện)
- Nhóm biến về yếu tố cá nhân
- Nhóm biến kiến thức về HIV và XN HIV
- Nhóm biến vê thái độ XN HIV
- Đánh giá về cơ sở y tế (câu D4 - D10, phần 4, phụ lục 4)
Biến phụ thuộc: Hành vi đồng ý hoặc không đồng ý XN HIV tự nguyện của ĐTNC (Biến nhị phân – câu D1, phần 4, phụ lục 4)
Chủ đề nghiên cứu định tính:
- Yếu tố thuộc về cơ sở y tế:
+ Chất lượng cung cấp dịch vụ
- Yếu tố thuộc về cán bộ y tế
+ Đào tạo/tập huấn về XN HIV
+ Cung cấp và bảo mật thông tin về HIV và XN HIV cho phụ nữ NPT
- Yếu tố thuộc về gia đình, xã hội
+ Quan tâm đến XN HIV
+ Đối xử, kỳ thị với người nhiễm HIV và XN HIV
+ Kiến thức, thái độ, thực hành về XN HIV
Tiêu chuẩn đánh giá
Có XN HIV tự nguyện khi một cá nhân đồng ý thực hiện xét nghiệm và ký vào phiếu xác nhận đồng ý xét nghiệm HIV (phụ lục 8).
Tỉ lệ xét nghiệm HIV tự nguyện được xác định bằng cách chia số người tham gia đồng ý xét nghiệm HIV tự nguyện cho tổng số người tham gia trong mẫu nghiên cứu, bao gồm cả những người đồng ý và không đồng ý xét nghiệm.
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức, thái độ về XN HIV
Khi so sánh nghiên cứu của Võ Thị Hoàng Loan và Phan Thanh Xuân, cả hai đều có nội dung tương tự Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá và cách tính điểm của Phan Thanh Xuân được thực hiện chi tiết theo tỷ lệ từng tiểu mục và qua hai giai đoạn: trước và sau can thiệp, trong khi nghiên cứu của Võ Thị Hoàng Loan lại không được trình bày rõ ràng như vậy.
Nghiên cứu của chúng tôi áp dụng thiết kế NC theo phương pháp mô tả cắt ngang tương tự như nghiên cứu của Võ Thị Hoàng Loan [31] Các tiêu chí đánh giá và cách tính điểm kiến thức, thái độ về XN HIV được dựa trên phương pháp của nghiên cứu này, nhằm tạo điều kiện cho tác giả so sánh và thảo luận về kết quả nghiên cứu Thang điểm được tính theo cách đã được xác định trong nghiên cứu trước đó.
- Dựa vào phần trả lời các câu hỏi và theo thang điểm để tính điểm:
+ Nếu câu hỏi chỉ có 1 lựa chọn, thì câu trả lời đúng được 1 điểm
+ Nếu câu hỏi có nhiều lựa chọn, thì mỗi câu trả lời đúng cho 1 điểm, không biết, không trả lời, trả lời sai, hoặc khác không cho điểm
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về HIV bao gồm hai phần: kiến thức chung về HIV và kiến thức về xét nghiệm HIV Phần kiến thức về HIV gồm 9 câu hỏi (từ B1 đến B9), trong đó câu B3 bổ sung cho B1 và B2, còn câu B6 và B7 giải thích cho B5 Điểm số cho phần kiến thức về HIV được tính dựa trên 6 câu hỏi chính, không bao gồm B3, B6, và B7, với điểm tối đa là 12 Để đánh giá kiến thức về HIV là “Đạt”, người tham gia cần đạt ít nhất 50% tổng số điểm của phần kiến thức này.
XN HIV, tương đương 6 điểm
Kiến thức về xét nghiệm HIV bao gồm 7 câu hỏi (từ B10 đến B16) với tổng điểm tối đa là 13 Để đánh giá kiến thức về xét nghiệm HIV là "Đạt", người tham gia cần đạt ít nhất 50% tổng số điểm, tương đương với 7 điểm.
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về HIV và xét nghiệm HIV bao gồm 16 câu hỏi (từ B1 đến B16), trong đó 13 câu hỏi được tính điểm, không bao gồm B3, B6 và B7 Điểm tối đa cho phần trả lời của 13 câu hỏi là 27 điểm Để đánh giá kiến thức về HIV và xét nghiệm HIV là "Đạt", người tham gia cần đạt ít nhất 50% tổng số điểm, tương đương 14 điểm (tham khảo bảng hướng dẫn tính điểm, phụ lục 9).
+ Nếu đạt từ 14 điểm trở lên là kiến thức “Đạt”
+ Nếu đạt dưới 14 điểm là kiến thức “Không đạt”
Tiêu chuẩn đánh giá thái độ về xét nghiệm HIV bao gồm 8 câu hỏi (C1 – C8), trong đó câu C8 chỉ bổ sung cho câu C7, do đó điểm số được tính dựa trên 7 câu hỏi chính Điểm thái độ được xác định từ tổng điểm của các tiểu mục trong phần thái độ về xét nghiệm HIV, với điểm tối đa cho 7 câu hỏi là 11 điểm Để đánh giá “thái độ tích cực”, số điểm cần đạt ít nhất 6 điểm, tương đương 50% tổng số điểm của phần thái độ (xem bảng hướng dẫn tính điểm, phụ lục 9).
+ Nếu đạt từ 6 điểm trở lên là thái độ “Tích cực”
+ Nếu đạt dưới 6 điểm là thái độ “Chưa tích cực”
Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích số liệu định lượng:
- Số liệu sau khi thu thập được làm sạch, nhập vào máy tính bằng phần mềm Epidata 3.1
- Sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu theo mục tiêu nghiên cứu
- Xử lý thông tin trên bộ câu hỏi, phân tích thống kê mô tả: Tỷ lệ phần trăm, phân bố tần suất và trung bình
Sử dụng kiểm định test χ2 và hồi quy Logistics với mức ý nghĩa α < 0,05 để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố, đồng thời tính toán tỷ số chênh (OR) nhằm xác định độ mạnh của sự kết hợp.
Các yếu tố có giá trị p nhỏ hơn 0,1 trong phân tích mối liên quan đơn biến với XN HIV tự nguyện đã được chọn để đưa vào hồi quy Logistics đa biến Mục tiêu là phân tích mối liên quan giữa XN HIV tự nguyện và các yếu tố trong cùng mô hình, đồng thời kiểm soát các yếu tố gây nhiễu trong nghiên cứu.
Phân tích số liệu định tính:
- Tất cả băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu sẽ được gỡ, đánh máy dưới dạng văn bản word
- Nghiên cứu viên chính sẽ đọc nội dung phỏng vấn sâu, mã hóa thông tin theo chủ đề
Thông tin định tính sẽ được tổng hợp và phân tích theo chủ đề nhằm bổ sung cho nghiên cứu định lượng, đồng thời đáp ứng mục tiêu nghiên cứu thứ hai.
- Một số ý kiến của ĐTNC sẽ được trích dẫn minh họa cho kết quả NC.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức chấp thuận theo quyết định số 136/2018/YTCC – HD3, đảm bảo các khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của trường Đại học Y tế công cộng.
NC cũng được sự chấp thuận của lãnh đạo Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản thành phố Cần Thơ trước khi tiến hành thu thập số liệu:
Đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành phỏng vấn, và chỉ thực hiện phỏng vấn khi nhận được sự đồng ý từ họ.
HUPH tác tham gia của đối tượng Đối tượng có quyền từ chối tham gia phỏng vấn hoặc dừng cuộc phỏng vấn bất kỳ lúc nào họ muốn
Đảm bảo tính bí mật, trung thực và chính xác cho thông tin thu thập từ nghiên cứu là rất quan trọng Tất cả thông tin chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, và các thông tin nhạy cảm sẽ được tôn trọng Nghiên cứu viên không được phép thể hiện thái độ phán xét hay kỳ thị đối với những thông tin này.
Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự đồng tình và ủng hộ của lãnh đạo cùng nhân viên tại phòng khám Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP Cần Thơ Kết quả sẽ được gửi phản hồi cho phòng khám và đơn vị liên quan sau khi hoàn tất nghiên cứu.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
- Đây là nghiên cứu cắt ngang do vậy các số liệu thu được chỉ phản ánh kết quả tại thời điểm điều tra
- Có thể gặp sự không hợp tác của ĐTNC hoặc điều tra viên hỏi không đúng hoặc ĐTNC không hiểu rõ câu hỏi
- Nghiên cứu thực hiện trên đối tượng là phụ nữ đi NPT, nên tài liệu tham khảo hạn chế, chưa có tài liệu tham khảo trên đối tượng này
Việc lồng ghép tư vấn xét nghiệm tự nguyện HIV vào trong dịch vụ NPT sẽ giúp ĐTNC chú trọng hơn đến vấn đề NPT so với việc chỉ tập trung vào xét nghiệm HIV tự nguyện.
NPT và HIV là những vấn đề nhạy cảm, do đó việc thu thập thông tin liên quan có thể gặp khó khăn, đặc biệt là trong các câu hỏi nhạy cảm mà người tham gia có thể không biết hoặc không muốn trả lời.
- Do ĐTNC trả lời không đúng:
+ Có thể do câu hỏi nhạy cảm làm cho đối tượng không muốn trả lời thật theo suy nghĩ của mình;
+ Hoặc ĐTNC không biết trả lời câu hỏi như thế nào;
+ Hoặc do ĐTNC không nhớ để trả lời cho câu hỏi phỏng vấn;
- Do người nhập liệu nhập sai thông tin
- Do người phỏng vấn không nhớ hết những nội dung phỏng vấn
Bộ câu hỏi phỏng vấn đã được thiết kế một cách rõ ràng và được thử nghiệm thực địa trước khi tiến hành điều tra Sau khi phỏng vấn, toàn bộ phiếu được nghiên cứu viên kiểm tra lại 100%.
- Tập huấn kỹ về kỹ năng và nội dung của bộ câu hỏi trước khi điều tra, điều tra thử trước khi điều tra chính thức
Tất cả các phiếu điều tra đã được nhập liệu cẩn thận bằng phần mềm Epi Data 3.1, với 20% số phiếu được kiểm tra để đảm bảo tính chính xác của thông tin.
Để thuyết phục và động viên đối tượng nghiên cứu tham gia vào nghiên cứu, cần giải thích rõ ràng mục tiêu của nghiên cứu Đặc biệt, đối với các vấn đề nhạy cảm, cần dành nhiều thời gian để giúp đối tượng nghiên cứu hiểu rõ hơn về tầm quan trọng và lợi ích của việc tham gia.
- Tạo mối quan hệ thân thiện với các đối tượng nghiên cứu để có được thông tin chính xác
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Một số đặc tính chung của ĐTNC (n = 288) Đặc tính n Tỷ lệ (%)
Trung bình, độ lệch chuẩn:
Cao Đài/Hòa Hảo 10 3,4 Không theo đạo nào 160 55,6 Địa chỉ Thành Thị 198 68,8
Trung học cơ sở 69 24,0 Trung học phổ thông 80 27,8 Trung cấp CN/CĐ/ĐH 120 41,7 Tình trạng hôn nhân
Chưa kết hôn 39 13,5 Đã kết hôn/đang sống với bạn tình 244 84,7
Ly hôn/ly thân/góa 5 1,7 Thu nhập hàng tháng
Không có thu nhập 49 17,0 Không nhớ, không trả lời 69 24,0
Phụ nữ tham gia nghiên cứu chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 25 đến 39, chiếm 75,4% tổng số, với độ tuổi nhỏ nhất là 18 và lớn nhất là 47, trung bình là 31 tuổi Dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất với 97,6%, trong khi đó, những người không theo tôn giáo chiếm 55,6%, và đạo Phật chiếm 34%.
HUPH là một nhóm dân cư chủ yếu sinh sống tại các thành phố (68,8%), trong khi tỷ lệ cư trú ở nông thôn là 31,2% Trình độ học vấn của họ khá cao, với 41,7% có bằng trung học phổ thông trở lên, mặc dù vẫn còn 0,7% trường hợp không biết chữ.
Phụ nữ đi NPT chủ yếu là đã kết hôn hoặc đang sống với bạn tình (84,7%), có
5 phụ nữ tình trạng hôn nhân là ly hôn/ly thân/góa (1,7%) Hơn một nửa ĐTNC trong
NC có thu nhập hàng tháng (59%), không có thu nhập (17%) và 24% ĐTNC không nhớ hoặc không trả lời câu hỏi về thu nhập
Bảng 3.2 Nghề nghiệp, tiền sử sản phụ khoa của ĐTNC (n = 288) Đặc tính n Tỷ lệ (%)
Kinh doanh/buôn bán 77 26,7 Công nhân, thợ, làm mướn 33 11,5
Học sinh/sinh viên 20 6,9 Công nhân viên 73 25,3
Nghề nghiệp của chồng/bạn tình
Làm ruộng 21 7,3 Kinh doanh/buôn bán 113 39,2 Công nhân, thợ, làm mướn 47 16,3
Học sinh/sinh viên 11 3,8 Công nhân viên 77 26,8 Mắc bệnh lây truyền
Không 270 93,7 Không biết 4 1,4 Gia đình có người nhiễm
(n = 288) Đủ số con 126 43,9 Giãn khoảng cách sinh 51 17,8
Do học tâp/ công tác 36 12,5
Nghề nghiệp của phụ nữ NPT chủ yếu là kinh doanh/buôn bán (26,7%), tiếp theo là nhóm nội trợ và công nhân viên (25,3%), và nhóm học sinh/sinh viên (6,9%) Trong khi đó, nghề nghiệp của chồng họ chủ yếu là kinh doanh/buôn bán (39,2%) và cán bộ, viên chức (26,8%), với 3,8% phụ nữ NPT có chồng hoặc bạn tình là học sinh/sinh viên Tỷ lệ phụ nữ có tiền sử mắc bệnh lây truyền QĐTD là 4,9%, trong khi gia đình có người nhiễm HIV chỉ chiếm 0,7%.
Phụ nữ mang thai lần đầu chiếm tỷ lệ cao nhất với 57,3%, trong khi tỷ lệ mang thai từ 3 lần trở lên chỉ là 4,5% Hầu hết họ có từ 1 đến 2 con (70,2%), trong khi tỷ lệ chưa có con là 25,3% và có từ 3 con trở lên rất thấp (4,5%) Nguyên nhân mang thai chủ yếu do đủ số con chiếm 43,9%, tiếp theo là lý do kinh tế và giãn khoảng cách sinh gần tương đương nhau (20,9% và 17,8%) Các lý do liên quan đến học tập/công tác và chưa kết hôn cũng gần bằng nhau với tỷ lệ 12,5% và 13,6%.
Kiến thức, thái độ và thực hành XN HIV tự nguyện ở phụ nữ NPT
3.2.1.1 Kiến thức thức về HIV
Bảng 3.3 Biết HIV/AIDS và Đánh giá nguy cơ của ĐTNC ( n = 288) Đặc điểm n Tỷ lệ (%)
Biết HIV/AIDS là bệnh nguy hiểm
Không trả lời 3 1,0 Đánh giá nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS của bản thân
Đa phần phụ nữ tham gia NPT trong NC đều có kiến thức về HIV/AIDS, với 74,3% đã nghe thông tin về bệnh này và 92% nhận thức được rằng HIV/AIDS là một căn bệnh nguy hiểm Thông tin về HIV/AIDS mà họ nhận được được thể hiện rõ qua phần PVS: “… HIV thì em nghe nói từ lâu rồi, hồi…”
Khi còn là sinh viên đại học, tôi đã nghe về HUPH, và giờ đây thông tin này cũng xuất hiện trên các phương tiện truyền thông Theo khảo sát, đa số phụ nữ (75,7%) tự đánh giá rằng họ không có nguy cơ lây nhiễm, trong khi 11,5% cho rằng họ có nguy cơ, và 12,8% không chắc chắn về tình trạng của mình.
Biểu đồ 3.1 Nguồn thông tin về HIV/AIDS mà ĐTNC nhận được (n = 288)
Phụ nữ đi NPT chủ yếu nhận thông tin về HIV/AIDS từ Tivi và Internet, với tỷ lệ lần lượt là 68,8% và 64,3% Các nguồn thông tin khác như tranh ảnh, áp phích, sách báo và cán bộ y tế cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao, từ 53% đến 58% Ngoài ra, 40,7% phụ nữ cho biết họ nhận thông tin từ bạn bè.
Biểu đồ 3.2 Đường lây truyền HIV/AIDS (n = 288)
Internet Tivi Radio Sach, bao Tranh anh, ap phich, to roi
Tỷ lệ (%) NGUỒN THÔNG TIN VỀ HIV
Tỷ lệ (%) HUPH ĐƯỜNG LÂY TRUYỀN HIV
Hầu hết phụ nữ tham gia NPT đều nhận thức rõ các đường lây truyền chính của HIV, với 95,1% cho rằng lây truyền qua đường tình dục là phổ biến nhất Tuy nhiên, vẫn có 3,8% phụ nữ chưa biết về các đường lây truyền này.
Bảng 3.4 Khả năng điều trị HIV/AIDS ( n = 288) Đặc điểm n Tỷ lệ (%)
Khả năng điều trị HIV
Không chữa khỏi bệnh, kéo dài được thời gian sống 113 39,2
Giảm lây nhiễm HIV từ mẹ sang con qua điều trị
Chị em phụ nữ tham gia NPT cho rằng khả năng điều trị HIV không thể chữa khỏi hoặc có thể kéo dài thời gian sống, với tỷ lệ gần như bằng nhau (39%) Có 22,2% cho rằng nhiễm HIV có thể điều trị khỏi, trong khi việc giảm lây nhiễm HIV từ mẹ sang con qua điều trị đạt tỷ lệ cao nhất (68,4%) Một số ít (12,2%) cho rằng không có sự giảm lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, và 19,4% còn lại không biết về vấn đề này.
Biểu đồ 3.3 Tổng hợp kiến thức về HIV của ĐTNC (n = 288)
Nghe thông tin về HIV/AIDS Biết
HIV/AIDS là bệnh nguy hiểm Đường lây truyền của HIV Đánh giá nguy cơ lây nhiễm HIV của bản thân
Nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con
Khả năng điều trị HIV
KIÊN THỨC VỀ HIV Đạt Không Đạt
Kết quả từ biểu đồ 3.5 cho thấy rằng 92% phụ nữ NPT nhận thức được HIV/AIDS là một bệnh nguy hiểm Tỷ lệ phụ nữ biết về đường lây truyền HIV và đánh giá nguy cơ lây nhiễm HIV của bản thân cũng cao, lần lượt là 87,8% và 88,5% Về khả năng điều trị và việc tiếp nhận thông tin về HIV/AIDS, tỷ lệ này gần như tương đương, với 74,3% và 77,8% Tuy nhiên, có 31,6% phụ nữ vẫn chưa đạt yêu cầu về kiến thức nguy cơ lây truyền HIV từ mẹ sang con.
3.2.1.2 Kiến thức về XN HIV
Bảng 3.5 Kiến thức về XN HIV của ĐTNC ( n = 288) Đặc điểm n Tỷ lệ (%)
Biết địa điểm tư vấn XN HIV
Trung tâm Y tế quận/huyện 65 44,5 Bệnh viên tuyến quận/huyện hoặc TP 73 50,0 Trung tâm phòng/ chống HIV/AIDS 109 74,7
Biết được tình trạng sức khoẻ của bản thân 245 85,1 Giảm lây nhiễm cho cộng đồng 156 54,2 Phòng lây truyền cho người thân 195 67,7
Cải thiện phân biệt đối xử với người nhiễm HIV 84 29,2
Gần 50% phụ nữ NPT trong NC chưa từng nghe về xét nghiệm HIV, trong khi 75,7% cho rằng xét nghiệm này là cần thiết khi nhận dịch vụ NPT Trong số 120 phụ nữ đã nghe về xét nghiệm HIV, 74,7% biết đến địa điểm xét nghiệm tại Trung tâm phòng/chống HIV/AIDS, tiếp theo là bệnh viện quận/huyện (50%) và Trung tâm Y tế quận/huyện (44,5%) Đối với lợi ích của xét nghiệm HIV, 85,1% phụ nữ cho rằng xét nghiệm giúp họ biết được tình trạng sức khỏe của bản thân, 67,7% để phòng lây nhiễm cho người thân, và 54,2% nhằm giảm lây nhiễm cho cộng đồng.
Bảng 3.6 Cách phát hiện và thời gian XN HIV ( n = 288) Đặc điểm n Tỷ lệ (%)
Cách phát hiện nhiễm HIV/AIDS
Thời gian phát hiện nhiễm HIV qua XN
Trong số 218 PN cho rằng XN HIV là cần thiết khi NPT thì thời gian lấy mẫu
Trước khi quyết định phá thai, 64,3% phụ nữ đã thực hiện xét nghiệm HIV, trong khi 29,8% thực hiện trong thời gian mang thai Để xác định tình trạng nhiễm HIV, 93,4% cho rằng chỉ có xét nghiệm máu mới phát hiện được virus này Ngoài ra, có 4,5% phụ nữ tin rằng việc khám sức khỏe có thể phát hiện nhiễm HIV, và 44,1% cho rằng xét nghiệm có thể phát hiện ngay tình trạng nhiễm HIV.
Biểu đồ 3.4 Tổng hợp kiến thức về XN HIV (n = 288)
Kết quả từ biểu đồ 3.6 cho thấy rằng trong mẫu nghiên cứu, phụ nữ NPT có kiến thức về phát hiện HIV qua xét nghiệm cao nhất đạt 89% Họ cũng nhận thức được lợi ích của xét nghiệm HIV tự nguyện và sự cần thiết của xét nghiệm HIV khi NPT với tỷ lệ tương đương là 75,7% Tuy nhiên, có 58,3% chưa từng nghe nói đến xét nghiệm HIV, và đặc biệt, tỷ lệ biết địa điểm tư vấn xét nghiệm HIV chỉ đạt 20,1%.
Bảng 3.7 Tổng hợp kiến thức về HIV và XN HIV đạt theo chí cho điểm
Kiến thức về HIV “Đạt” 262 91,0
Kiến thức về XN HIV “Đạt” 163 56,6
Kiến thức về HIV và XN
Theo tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về HIV và xét nghiệm HIV, kết quả từ bảng 3.11 cho thấy trong số 288 phụ nữ NPT, có 262 người (91%) có kiến thức về HIV đạt yêu cầu, trong khi 163 người (56,6%) có kiến thức về xét nghiệm HIV đạt yêu cầu Tổng cộng, 238 phụ nữ NPT (82,6%) có kiến thức về cả HIV và xét nghiệm HIV.
Biết địa điểm tư vấn XN HIV
Biết lợi ích của XN HIV Sự cần thiết của XN HIV Cách phát hiện nhiễm HIV
Thời gian lấy mẫu XN khi NPT phù hợp
Thời gian phát hiện nhiễm HIV qua XN
KIẾN THỨC VỀ XN HIV Đạt Không đạt
“Đạt” theo tiêu chí cho điểm
3.2.2 Thái độ về XN HIV/AIDS
Biểu đồ 3.5 Quan tâm đến XN HIV (n = 288)
Phụ nữ NPT thể hiện sự quan tâm đáng kể đến việc xét nghiệm HIV, với tỷ lệ lên tới 63,5% Ngược lại, chỉ có 28,8% phụ nữ NPT không quan tâm đến xét nghiệm này, trong khi 7,6% không đưa ra câu trả lời về mức độ quan tâm của họ.
Bảng 3.8 Thái độ đối với người nhiễm HIV và XN HIV (n = 288) Đặc điểm n Tỷ lệ (%)
Khi thành viên trong gia đình/bạn tình bị nhiễm HIV
Không biết/không rõ/tuỳ 60 20,8
Khi người xung quanh đi XN HIV
Không tiếp xúc, nói chuyện 9 3,1 Động viên, an ủi 136 47,2
Thông báo cho người khác biết/ Khác 14 4,9
Khi chồng/bạn tình đi XN HIV
Co Khong Khong tra loi
QUAN TÂM XÉT NGHIỆM HIV
Gần một nửa số phụ nữ trong mẫu nghiên cứu không giữ bí mật khi có thành viên trong gia đình nhiễm HIV (43,4%), trong khi một phần tư muốn giữ bí mật (25,4%) Thái độ của họ vẫn bình thường khi những người xung quanh đi xét nghiệm (63,9%) Một phụ nữ cho biết: “Bây giờ người nhiễm HIV em thấy cũng bình thường như bao người khác, tiếp xúc với họ thì cũng bình thường thôi mà, mình đừng làm gì đụng chạm đến máu của họ thì thôi.” Thêm vào đó, 47,2% phụ nữ có thái độ động viên, an ủi, nhưng 3,1% không tiếp xúc hay nói chuyện Khi biết chồng hoặc bạn tình đi xét nghiệm HIV, 49,4% vẫn giữ thái độ bình thường, tuy nhiên, có 10 chị em phụ nữ đã ly thân khi biết thông tin này.
Bảng 3.9 Tính bí mật, lo ngại về HIV và XN HIV (n = 288) Đặc điểm n Tỷ lệ (%)
Giữ bí mật XN HIV của bản thân
Sợ người xung quanh/gia đình biết khi thực hiện XN HIV
Tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS
Lý do ngại tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS
Mặc cảm với người có
Khi nghiên cứu về việc giữ bí mật trong quá trình xét nghiệm HIV, tỷ lệ giữ bí mật gần tương đương với tỷ lệ không giữ bí mật, lần lượt là 43,8% và 45,8% Đối với phụ nữ nhiễm HIV, lo ngại về việc người khác biết cũng tương tự, với 43,6% lo ngại và 47,3% không lo ngại Ngoài ra, phụ nữ cũng thể hiện sự cởi mở khi tiếp xúc với người nhiễm HIV.
Theo khảo sát, 44,5% người dân cảm thấy rất ngại hoặc ngại tiếp xúc với người nhiễm HIV, chủ yếu do lo sợ lây nhiễm Một phỏng vấn sâu cho thấy: “Trước đây, khi nhắc đến HIV, mọi người rất sợ hãi Nếu phải xét nghiệm HIV, họ thường giấu giếm vì không muốn công khai thông tin cá nhân và sợ bị người khác biết Hiện nay, quan điểm đã thay đổi, nhiều người cảm thấy HIV không còn đáng sợ như trước.”
Biểu đồ 3.6 Tổng hợp thái độ tích cực về XN HIV của ĐTNC (n = 288)
Biểu đồ 3.8 cho thấy rằng 63,5% phụ nữ NPT quan tâm đến việc xét nghiệm HIV, và 72,6% có thái độ tích cực trong việc giao tiếp với gia đình và người xung quanh về xét nghiệm này Tuy nhiên, tỷ lệ giữ bí mật khi có thành viên trong gia đình hoặc bạn tình bị nhiễm HIV và khi bản thân đi xét nghiệm HIV gần như tương đương, với khoảng 43,4% và 43,7% Mối lo ngại về việc người khác biết họ làm xét nghiệm HIV khá cao, đạt 72,9% Đặc biệt, thái độ "chưa tích cực" khi biết chồng hoặc bạn tình đi xét nghiệm HIV chiếm tỷ lệ cao nhất, lên đến 85,8%.
Quan tâm đến XN HIV Khi gia đình/bạn tình bị nhiễm HIV
Khi người xung quanh đi XN
Khi chồng/bạn tình đi XN
Giữ bí mật khi làm XN HIV
Lo ngại người xung và gia đình biết việc XN HIV
Tiếp xúc với người nhiễm HIV/AIDS
THÁI ĐỘ VỀ XN HIV
Bảng 3.10 Thái độ về XN HIV đạt theo chí cho điểm (n = 288)
Thái độ về XN HIV “Chưa tích cực” 203 70,5
Một số yếu tố liên quan đến XN HIV tự nguyện của ĐTNC
3.3.1 Mối liên quan giữa đặc điểm cá nhân với XN HIV tự nguyện
Bảng 3.15 Phân tích đơn biến về mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với xét nghiệm HIV tự nguyện
Tổng OR (95%CI) Không P n (tỷ lệ)
(100) Qua phân tích đơn biến về mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân và xét nghiệm tự nguyện HIV cho thấy:
Nhóm người từ 25 tuổi trở lên, có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên và sinh sống tại thành phố, có tỷ lệ đồng ý xét nghiệm HIV tự nguyện cao hơn so với các nhóm khác Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Phụ nữ có gia đình và nghề nghiệp ổn định có tỷ lệ đồng ý xét nghiệm HIV tự nguyện cao hơn so với nhóm đối lập, tuy nhiên sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Chưa tìm thấy các mối liên quan giữa các đặc điểm chung của ĐTNC với XN tự nguyện HIV
Bảng 3.16 Phân tích đơn biến về mối liên quan giữa thu nhập, tiền sử bệnh của ĐTNC với XN HIV tự nguyện
Gia đình có người nhiễm HIV
Kết quả phân tích chưa tìm thấy các mối liên quan giữa thu nhập, tiền sử của ĐTNC với XN tự nguyện HIV
Nhóm đối tượng không có thu nhập và có từ 2 con trở lên thực hành xét nghiệm tự nguyện thấp hơn so với nhóm đối lập, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Ngược lại, nhóm có tiền sử mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục và có người trong gia đình nhiễm HIV thực hành xét nghiệm HIV cao hơn nhóm đối lập, tuy nhiên sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Bảng 3.17 Phân tích đơn biến về mối liên quan giữa tôn giáo và nghề nghiệp của chồng ĐTNC với XN HIV tự nguyện
Nghề nghiệp của chồng/bạn tình
Công nhân, thợ, làm mướn
Qua phân tích cho thấy nhóm ĐTNC không theo tôn giáo nào có tỷ lệ đồng ý
XN HIV tự nguyện ở nhóm ĐTNC cao hơn so với các nhóm khác, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Trong khi đó, nhóm ĐTNC có chồng làm kinh doanh/buôn bán có tỷ lệ XN HIV tự nguyện cao hơn, thì nhóm có chồng là tài xế lại có tỷ lệ thấp hơn so với nhóm có chồng không phải tài xế, và sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3.3.2 Mối liên quan giữa kiến thức, thái độ với XN tự nguyện HIV/AIDS 3.3.2.1 Mối liên quan giữa kiến thức về HIV với XN tự nguyện HIV/AIDS Bảng 3.18 Phân tích đơn biến về mối liên quan giữa kiến thức về HIV với
XN tự nguyện HIV/AIDS
Tổng OR (95%CI) Không P n (tỷ lệ)
HIV/AIDS là bệnh nguy hiểm
Nguy cơ nhiễm HIV của bản thân
HIV từ mẹ sang con
Khả năng điều trị HIV
Phân tích đơn biến cho thấy tỷ lệ phụ nữ chấp nhận xét nghiệm HIV cao hơn ở nhóm có kiến thức về HIV/AIDS và đã nghe thông tin về bệnh này, tuy nhiên sự khác biệt không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Phụ nữ NPT có hiểu biết về đường lây truyền của HIV/AIDS có khả năng chấp nhận xét nghiệm tự nguyện HIV cao gấp 2,1 lần so với những người không có kiến thức về điều trị HIV Ngược lại, nhóm thiếu kiến thức này có xu hướng không chấp nhận xét nghiệm HIV tự nguyện.
HUPH bằng 0,5 lần so với nhóm PN đối lập sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05 và CI lần lượt là (CI: 1,04 – 4,33) và(CI: 0,26 – 0,95)
3.3.2.2 Mối liên quan giữa kiến thức về XN HIV với XN tự nguyện HIV Bảng 3.19 Phân tích đơn biến về mối liên quan giữa kiến thức về XN HIV với XN tự nguyện HIV/AIDS
Tổng OR (95%CI) Không P n (tỷ lệ)
Cần thiết của XN HIV
(100) Địa điểm tư vấn XN HIV
Thời gian lấy mẫu XN HIV
(100) Thời gian phát hiện nhiễm HIV qua XN
Phân tích đơn biến về mối liên quan giữa kiến thức về xét nghiệm HIV và xét nghiệm tự nguyện HIV cho thấy một số yếu tố có ý nghĩa thống kê.
Phụ nữ không nghe nói đến xét nghiệm HIV tự nguyện có khả năng không thực hiện xét nghiệm này cao gấp 2,3 lần so với những người đã nghe thông tin về xét nghiệm tự nguyện HIV, với khoảng tin cậy (CI) từ 1,382 đến 3,970.
Những phụ nữ có nhận định XN HIV là không cần thiết có khả năng không làm
XN tự nguyện HIV cao gấp 3 lần so với những PN có nhận định XN HIV là cần thiết (CI: 1,772 – 5,440)
Nhóm phụ nữ đi NPT gặp khó khăn trong việc phát hiện nhiễm HIV, với khả năng không chấp nhận xét nghiệm tự nguyện HIV cao gấp 3,3 lần so với nhóm phụ nữ khác (CI: 1,317 – 8,485).
Phụ nữ không nắm rõ thời gian lấy mẫu xét nghiệm HIV khi NPT phù hợp có nguy cơ không thực hiện xét nghiệm tự nguyện HIV cao gấp 3,7 lần so với nhóm biết thời gian lấy mẫu (CI: 1,072 – 13,174).
Những phụ nữ không biết địa điểm tư vấn XN HIV có khả năng không đồng ý
XN tự nguyện HIV cao gấp 1,8 lần so với những phụ nữ biết địa điểm tư vấn XN HIV (CI: 1,019 – 3,451)
Bảng 3 20 Tổng hợp phân tích đơn biến về mối liên quan giữa kiến thức về
HIV và XN HIV với XN tự nguyện HIV
(100) Kiến thức tổng hợp về HIV và
Phân tích tổng hợp đơn biến cho thấy phụ nữ NPT có kiến thức về HIV có khả năng đồng ý xét nghiệm HIV tự nguyện cao gấp 1,8 lần so với nhóm phụ nữ không có kiến thức Tuy nhiên, sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p > 0,05.
Phụ nữ NPT có kiến thức về xét nghiệm HIV có khả năng chấp nhận xét nghiệm tự nguyện cao gấp 2,9 lần so với nhóm phụ nữ không có kiến thức Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ odds (OR) là 2,9 (CI: 1,774 – 4,889).
Phụ nữ NPT có kiến thức về HIV và khả năng chấp nhận xét nghiệm HIV tự nguyện cao gấp 2 lần so với nhóm phụ nữ khác, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (OR = 2, CI: 1,06 – 3,65).
3.3.2.3 Mối liên quan giữa Thái độ XN HIV với XN tự nguyện HIV/AIDS Bảng 3.21 Bảng phân tích đơn biến về mối liên quan giữa thái độ về XN
HIV với XN tự nguyện HIV/AIDS Biến số độc lập
Tổng OR (95%CI) p Không n (tỷ lệ)
Khi thành viên trong gia đình/bạn tình bị nhiễm HIV
Khi người xung quanh đi
Khi chồng/bạn tình đi XN HIV
Sợ người xung quanh/gia đình biết khi thực hiện XN HIV
Tiếp xúc với người nhiễm