Để nâng cao chất lượng công tác CSĐD tại khoa nói riêng và bệnh viện nói chung, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: s tr v t só đ u d ỡ tạ K o N Tổ ợp, B v đ k o tỉ Tuyê Qu , 2013”, nhằm đá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN NGỌC LÝ
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÕNG CỦA NGƯỜI BỆNH NỘI TRÖ VỀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH TUYÊN QUANG, NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 60.72.03.01
Hà Nội, 2013 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN NGỌC LÝ
ĐÁNH GIÁ SỰ HÀI LÕNG CỦA NGƯỜI BỆNH NỘI TRÖ VỀ CÔNG TÁC CHĂM SÓC ĐIỀU DƯỠNG TẠI KHOA NỘI TỔNG HỢP BỆNH VIỆN ĐA KHOA
TỈNH TUYÊN QUANG, NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
Mã số: 60.72.03.01
Hướng dẫn khoa học:
PGS.TS PHẠM TRÍ DŨNG
Hà Nội, 2013 HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Lãnh đạo Bệnh viện, Lãnh đạo Phòng Điều dưỡng, Khoa Nội tổng hợp Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi được thu thập số liệu và thực hiện Luận văn này
Tôi muốn bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến PGS.TS Phạm Trí Dũng, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo Trường Y tế công cộng đã giúp
đỡ tôi nhiệt tình trong thời gian tôi học tập và thực hiện nghiên cứu
Đồng nghiệp tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang đã tạo mọi điều kiện
để tôi an tâm học tập và thực hiện luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt đến gia đình và các bạn bè, cùng tập thể anh chị em học viên lớp Cao học Y tế công cộng khóa 15 đã động viên khuyến khích tôi
rất nhiều để hoàn thành Luận văn
Cuối cùng, với những phát hiện trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất
cả đồng nghiệp trên mọi miền đất nước
Học viên Nguyễn Ngọc Lý HUPH
Trang 4
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT ix
TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU x
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Khái niệm và chức năng về Bệnh viện 4
1.1.1 Khái niệm về bệnh viện 4
1.1.2 Chức năng của bệnh viện 4
1.2 Lịch sử phát triển Ngành điều dưỡng thế giới và Việt Nam 5
1.2.1 Lịch sử phát triển Ngành điều dưỡng trên thế giới 5
1.2.2 Lịch sử phát triền Ngành điều dưỡng tại Việt Nam 6
1.3 Vai trò của người điều dưỡng, chức năng và quy trình điều dưỡng 8
1.3.1 Vai trò của người điều dưỡng 8
1.3.2 Chức năng điều dưỡng 9
1.3.3 Quy trình điều dưỡng 10
1.3.4 Khái niệm chăm sóc của điều dưỡng 11
1.3.5 Đánh giá công tác chăm sóc của điều dưỡng 11
1.4 Sự hài lòng của người bệnh 12
1.4.1 Khái niệm về sự hài lòng của người bệnh 12
1.4.2 Sự hài lòng của người bệnh với các dịch vụ của bệnh viện 13
1.4.3 Sự hài lòng của người bệnh về công tác chăm sóc điều dưỡng 15
1.4.4 Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh về công tác chăm sóc của điều dưỡng 17
HUPH
Trang 51.5 Các nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh với chất lượng chăm sóc của
điều dưỡng 22
1.5.1 Các nghiên cứu trên thế giới 22
1.5.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 23
1.6 Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang 27
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Đối tượng nghiên cứu 28
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 28
2.3 Thiết kế nghiên cứu 28
2.4 Cỡ mẫu 29
2.4.1 Định lượng 29
2.4.2 Định tính 29
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 30
2.5.1 Kỹ thuật thu thập thông tin 30
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu 32
2.6 Biến số nghiên cứu 32
2.7 Phương pháp phân tích số liệu 34
2.7.1 Xử lý khi thu thập số liệu 34
2.7.2 Phân tích số liệu 34
2.8 Đạo đức nghiên cứu 36
2.9 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 37
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu 37
2.9.2 Biện pháp khắc phục 37
Chương 3 KẾT QUẢ 38
3.1 Một số thông tin chung về nhân lực, đặc điểm xã hội, nhân khẩu học tại Khoa Nội Tổng hợp 38
3.2 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 39
3.3 Hài lòng của người bệnh nội trú về chất lượng chăm sóc sức khỏe tại Khoa Nội Tổng hợp - BVĐK tỉnh Tuyên Quang 43
3.3.1 Hài lòng của NB về chăm sóc tinh thần 43
HUPH
Trang 63.3.2 Hài lòng của NB về thực hiện hoạt động chuyên môn CSĐD 45
3.3.3 Hài lòng của NB về mối quan hệ giữa NB và ĐD 48
3.3.4 Hài lòng của NB về việc tư vấn và GDSK của ĐD 49
3.3.5 Tỷ lệ hài lòng của NB theo từng yếu tố hài lòng 53
3.3.6 Hài lòng chung của NB theo kết quả nghiên cứu 54
3.4 Mối liên quan giữa các yếu tố với sự hài lòng chung của NB 55
Chương 4 BÀN LUẬN 60
4.1 Một số đặc điểm về nhân lực, xã hội, nhân khẩu điều dưỡng tại Khoa Nội Tổng hợp 60
4.2 Một số đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 61
4.2.1 Đặc điểm nhân khẩu học 61
4.2.2 Sự hài lòng của người bệnh với các yếu tố về công tác chăm sóc điều dưỡng 63
4.2.2.1 Sự hài lòng của người bệnh về yếu tố chăm sóc tinh thần 63
4.2.2.2 Sự hài lòng của người bệnh về yếu tố thực hiện hoạt động chăm sóc điều dưỡng 63
4.2.2.3 Sự hài lòng của người bệnh về yếu tố mối quan hệ với điều dưỡng 65
4.2.2.4 Sự hài lòng của người bệnh về yếu tố tư vấn, giáo dục sức khỏe trong thời gian điều trị và sau khi ra viện 66
4.2.2.5 Sự hài lòng chung của người bệnh về công tác chăm sóc điều dưỡng 68 4.3 Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng chung của người bệnh 69
KẾT LUẬN 73
1 Thực trạng sự hài lòng của người bệnh về công tác chăm sóc điều dưỡng 73
2 Các yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh 73
KHUYẾN NGHỊ 75
1 Đối với điều dưỡng viên 75
2 Đối với bệnh viện 75
3 Phổ biến kết quả nghiên cứu 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
PHỤ LỤC 83
HUPH
Trang 7Phụ lục 1 Khung lý thuyết của nghiên cứu 83
Phụ lục 2 Bộ câu hỏi phỏng vấn 83
Phụ lục 3 Hướng dẫn phỏng vấn sâu Lãnh đạo phòng Điều dưỡng bệnh viện 91
Phụ lục 4 Hướng dẫn phỏng vấn sâu Lãnh đạo khoa 93
Phụ lục 5 Hướng dẫn phỏng vấn sâu Điều dưỡng trưởng khoa 95
Phụ lục 6 Hướng dẫn phỏng vấn sâu Điều dưỡng chăm sóc 97
Phụ lục 7 Hướng dẫn phỏng vấn người bệnh về chất lượng chăm sóc 99
Phụ lục 8 Bảng tổng hợp số liệu thứ cấp 101
Phụ lục 9 Biến số nghiên cứu 102
Phụ lục 10 Kết quả mối liên quan của 4 yếu tố cấu thành nên sự hài lòng của người bệnh 108
HUPH
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Một số thông tin chung về tình hình nhân lực tại khoa 38
Bảng 3.2 Đặc điểm nhân khẩu học, xã hội của điều dưỡng 39
Bảng 3.3 Thông tin về đối tượng nghiên cứu 39
Bảng 3.4 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (tiếp) 40
Bảng 3.5 Thông tin liên quan đến lần nhập viện này 41
Bảng 3.6 Hài lòng của NB đối với chăm sóc tinh thần 43
Bảng 3.7 Hài lòng của NB về thực hiện hoạt động CSĐD 45
Bảng 3.8 Hài lòng của NB về mối quan hệ giữa NB và ĐD 48
Bảng 3.9 Hài lòng của NB với tư vấn và GDSK của ĐD 49
Bảng 3.10 Sự hài lòng của NB đối với từng yếu tố hài lòng 53
Bảng 3.11 Hài lòng chung của NB theo kết quả nghiên cứu 54
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa các yếu tố xã hội, nhân khẩu học với sự hài lòng chung của người bệnh 55
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến điều trị với sự hài lòng chung của NB về công tác CSĐD 56
Bảng 3.14 Phân tích hồi quy logistic đa biến với các yếu tố liên quan đến sự hài lòng chung của NB về công tác CSĐD 57
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa các xã hội, nhân khẩu học với sự hài lòng của NB về công tác chăm sóc tinh thần 109
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến điều trị với sự hài lòng của NB về công tác chăm sóc tinh thần 110
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa sự hài lòng của NB về chăm sóc tinh thần của ĐD với các loại sự hài lòng của NB về các công tác chăm sóc khác 111
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa các yếu xã hội, nhân khẩu học với sự hài lòng của NB về việc thực hiện các hoạt động CSĐD 112
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến điều trị với sự hài lòng của NB về việc thực hiện các các hoạt động CSĐD 113
Bảng 3.21 Mối liên quan giữa sự hài lòng của NB về hoạt động CSĐD với sự hài lòng của NB về các loại công tác chăm sóc khác của ĐD 114
HUPH
Trang 9Bảng 3.22 Mối liên quan giữa các yếu tố xã hội, nhân khẩu với sự hài lòng của NB
về mối quan hệ giữa NB và điều dƣỡng 115 Bảng 3.23 Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến điều trị với sự hài lòng của
NB về mối quan hệ giữa NB và điều dƣỡng 116 Bảng 3.24 Mối liên quan giữa quan hệ của NB và ĐD với các loại sự hài lòng của
NB về các công tác CSĐD khác 117 Bảng 3.25 Mối liên quan giữa các yếu tố xã hội, nhân khẩu với sự hài lòng của NB
về công tác tƣ vấn và GDSK của điều dƣỡng 118 Bảng 3.26 Mối liên quan giữa các yếu tố liên quan đến điều trị với sự hài lòng của
NB về công tác tƣ vấn và GDSK của ĐD 119
HUPH
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ phân bố các nhóm bệnh tật tại khoa 42
Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về chăm sóc tinh thần 44
Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về thực hiện hoạt động CSĐD 46
Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ hài lòng của người bệnh về mối quan hệ NB và ĐD 49
Biểu đồ 3.5 Tỉ lệ hài lòng của người bệnh về tư vấn và GDSK 52
Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ hài lòng của người bệnh NB đối với từng yếu tố 53
Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ hài lòng của người bệnh NB theo kết quả nghiên cứu 54
DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 Quy trình điều dưỡng 10
Sơ đồ 1.2 Khung lý thuyết về mô hình tương tác về hành vi sức khỏe của người bệnh 17
HUPH
Trang 11BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 12TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhận định dịch vụ chăm sóc sức khỏe
do điều dưỡng viên và hộ sinh viên cung cấp là một trong các trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế phải quan tâm nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng [15]
Để tìm hiểu sự hài lòng của NB với công tác chăm sóc điều dưỡng (CSĐD) tại Khoa Nội tổng hợp như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh (NB) về công tác CSĐD tại Khoa Nội tổng hợp? Để nâng cao chất lượng công tác CSĐD tại khoa nói riêng và bệnh viện nói chung, chúng tôi tiến
hành nghiên cứu: s tr v t
só đ u d ỡ tạ K o N Tổ ợp, B v đ k o tỉ Tuyê Qu , 2013”, nhằm đánh giá thực trạng và xác định các yếu tố liên quan đến sự hài
lòng của NB về công tác CSĐD của những người bệnh này
Nghiên cứu cắt ngang có phân tích, phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với định tính, được tiến hành tại Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang từ tháng 01/2013 đến tháng 06/2013 Số liệu thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp 188 người bệnh nội trú (sau khi làm xong các thủ tục ra viện) và
7 cuộc phỏng vấn sâu Nghiên cứu sử dụng các phân tích thống kê mô tả và phân tích bằng kiểm định khi bình phương và mô hình hồi quy logistic đa biến
Kết quả cho thấy tỷ lệ NB hài lòng về chăm sóc tinh thần chiếm 79,8%; về thực hiện hoạt động chăm sóc của điều dưỡng 64%; mối quan hệ giữa NB với điều dưỡng là 70,7%; về tư vấn và giáo dục sức khỏe chiếm 66,5% Tỷ lệ hài lòng chung của NB về công tác CSĐD là 65% Phân tích hồi quy logistic, không chế yếu tố đã nhiễu chỉ rõ có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với sự hài lòng chung của NB về công tác CSĐD (p<0,05) là: Dân tộc, trình độ học vấn, kinh tế hộ gia đình Đề xuất, tăng cường công tác kiểm tra đột xuất, tiếp tục công tác đào tạo về chuyên môn, quy tắc ứng xử cho điều dưỡng và chuyển đổi mô hình làm việc điều dưỡng theo đội Thực hiện một nghiên cứu khác để phân tích sâu hơn về những yếu tố liên quan đã tìm thấy
HUPH
Trang 13Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã nhận định dịch vụ chăm sóc sức khỏe
do điều dưỡng viên và hộ sinh viên cung cấp là một trong các trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng dịch vụ y tế phải quan tâm nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ chăm sóc điều dưỡng [15]
Tại Việt Nam, vị thế của người điều dưỡng đã có sự thay đổi tích cực, được thể hiện qua các chính sách về điều dưỡng viên, các chuẩn mực về hành nghề điều dưỡng đang được bổ sung, hoàn thiện Sự đổi mới các mô hình phân công chăm sóc, tổ chức chăm sóc NB toàn diện, chuẩn hóa các kỹ thuật điều dưỡng Tuy nhiên, ngành điều dưỡng đang đứng trước nhiều thách thức của sự phát triển: Thiếu đội ngũ giáo viên và thiếu chuyên gia đầu ngành về điều dưỡng; Khoa học Điều dưỡng chưa phát triển kịp với những tiến bộ của điều dưỡng thế giới trong đào tạo điều dưỡng; vị thế và hình ảnh người điều dưỡng trong xã hội tuy đã có thay đổi nhưng chưa được định hình rõ ràng [8]
Hiện nay tại các bệnh viện đã và đang triển khai thông tư 07/2011/TT - BYT ngày 26/01/2011 về “Hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện”, trong đó Điều 3 của nguyên tắc chăm sóc người bệnh trong bệnh
viện quy định: “Người bệnh là trung tâm c a công tác chăm sóc nên phải được chăm sóc toàn diện, liên t c, bảo đảm hài lòng, chất lượng và an toàn [7]
Trong bệnh viện CSĐD là rất quan trọng, nếu hoạt động CSĐD tốt sẽ giảm được thời gian nằm viện của NB, giảm chi phí điều trị, giảm nguy cơ biến chứng và nhanh chóng phục hồi sức khỏe cho NB
HUPH
Trang 14Trên Thế giới, đã có một số nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh về CSĐD Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Anh năm 2012, cho biết tỷ
lệ hài lòng chung của người bệnh với chất lượng chăm sóc của điều dưỡng là 79,5%
và chỉ rõ 4 yếu tố tương tác giữa NB và điều dưỡng: Các chăm sóc hỗ trợ tinh thần cho NB, kỹ năng chuyên môn của điều dưỡng, giải thích hoạt động chăm sóc và sự tham gia của NB trong việc ra các quyết định chăm sóc, cung cấp thông tin và sự giáo dục sức khỏe cho NB [1]
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc Việt Nam, Ngành Y tế tỉnh Tuyên Quang trong những năm vừa qua được nâng cấp đáng kể về trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị; tăng cường chất lượng khám và điều trị Tuy nhiên, chưa đáp ứng được những nhu cầu ngày càng cao trong công tác chăm sóc sức khỏe của người dân [24] Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang là bệnh viện
đa khoa tuyến tỉnh hạng II, với 500 giường bệnh, công suất sử dụng giường bệnh của bệnh viện đạt 123,8%, tổng số lần khám bệnh năm 2011 là 109,728 lần [20] Mục tiêu chung năm 2012 của bệnh viện là: “Từng bước nâng cao chất lượng dịch
vụ bệnh viện với phương châm đáp ứng sự hài lòng của người bệnh” [19]
Khoa Nội Tổng hợp là một khoa có số lượng người bệnh quá tải nhiều nhất tại bệnh viện Qua khảo sát sơ bộ, phỏng vấn một số người bệnh đang điều trị tại Khoa Nội Tổng hợp chuyên điều trị những bệnh liên quan đến: Tim mạch, hô hấp, nội tiết, các bệnh về máu… cho thấy có nhiều bất cập về chăm sóc điều dưỡng như: Thái độ, giao tiếp ứng xử… với người bệnh Trong khi đó, tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang chưa có nghiên cứu nào đánh giá về chất lượng CSĐD thông qua
sự hài lòng của NB
Tìm hiểu sự hài lòng của NB với công tác CSĐD tại Khoa Nội tổng hợp như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh về công tác CSĐD tại Khoa Nội Tổng hợp? Làm thế nào để nâng cao chất lượng công tác CSĐD tại khoa nói riêng và toàn bệnh viện nói chung? Để trả lời cho những câu hỏi
trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “ s
tr v t só đ u d ỡ tạ K o N Tổ ợp, B v đa khoa
tỉ Tuyê Qu , 2013”
HUPH
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Đánh giá sự hài lòng của người bệnh nội trú về công tác chăm sóc điều dưỡng tại Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm
2013
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của người bệnh nội trú với công tác chăm sóc điều dưỡng tại Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang năm 2013
HUPH
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm và chức năng về Bệnh viện
1.1.1 K v v
Theo định nghĩa của WHO: “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế
và nghiên cứu sinh học xã hội” [13]
Theo quan điểm hiện đại, bệnh viện là một hệ thống, một phức hợp và một tổ chức động:
- Bệnh viện là một hệ thống lớn bao gồm: Ban giám đốc, các phòng nghiệp vụ, các khoa lâm sàng, cận lâm sàng
- Bệnh viện là một phức hợp bao gồm rất nhiều yếu tố có liên quan từ khám bệnh, NB vào viện, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng…
- Bệnh viện là một tổ chức động bao gồm đầu vào là NB, cán bộ y tế, trang thiết bị, thuốc cần có để chẩn đoán, điều trị Đầu ra là NB khỏi bệnh ra viện hoặc phục hồi sức khỏe hoặc NB tử vong [23]
1.1.2 C ứ v
Bệnh viện hạng II có các chức năng của sau:
(1) - Cấp cứu, khám, chữa bệnh: Tiếp nhận tất cả các trường hợp NB từ ngoài vào hoặc từ các bệnh viện khác chuyển đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú Tổ chức khám sức khoẻ và chứng nhận sức khoẻ theo quy định của Nhà nước Có trách nhiệm giải quyết hầu hết các bệnh tật trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và các ngành Tổ chức khám giám định sức khoẻ, khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh, thành phố hoặc cơ quan bảo
vệ pháp luật trưng cầu Chuyển NB lên tuyến trên khi bệnh viện không đủ khả năng giải quyết
HUPH
Trang 17(2) - Nhiệm vụ về đào tạo cán bộ: Bệnh viện là cơ sở thực hành để đào tạo cán bộ y tế ở bậc Đại học và Trung học Tổ chức đào tạo liên tục cho các thành viên trong bệnh viện và tuyến dưới nâng cao trình độ chuyên môn
(3) - Nhiệm vụ về nghiên cứu khoa học: Tổ chức thực hiện các đề tài nghiên cứu về y học và ứng dụng những tiến bộ kỹ thuật y học ở cấp Nhà nước, cấp bộ, cấp
Cơ sở Nghiên cứu triển khai dịch tễ học cộng đồng trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu lựa chọn ưu tiên thích hợp trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành Kết hợp với bệnh viện tuyến trên và các bệnh viện chuyên khoa đầu ngành để phát triển kỹ thuật của bệnh viện
(4) - Nhiệm vụ về chỉ đạo tuyến: Lập kế hoạch và chỉ đạo tuyến dưới (Bệnh viện hạng III) thực hiện việc phát triển kỹ thuật chuyên môn Kết hợp với bệnh viện tuyến dưới thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khoẻ ban đầu trong địa bàn tỉnh, thành phố và các ngành
(5) - Nhiệm vụ về phòng bệnh: Phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thường xuyên thực hiện nhiệm vụ phòng bệnh, phòng dịch
(6) - Nhiệm vụ về hợp tác quốc tế: Được hợp tác với các tổ chức và cá nhân
ở ngoài nước theo quy định của Nhà nước
(7) - Nhiệm vụ về quản lý kinh tế y tế: Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao ngân sách Nhà nước cấp Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi tài chính, từng bước thực hiện hạch toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức kinh tế khác [4]
1.2 Lịch sử phát triển Ngành điều dưỡng thế giới và Việt Nam
1.2.1 Lị sử p t tr ể N đ u d ỡ trê t ế ớ
Từ thời xa xưa do chưa hiểu biết, con người tin vào thần linh, thượng đế, khi
có bệnh họ mời pháp sư đến, vừa điều trị vừa cầu kinh Các đền miếu được xây dựng để thờ thánh thần và dần dần trở thành những trung tâm chăm sóc và điều trị người bệnh Tại đây, các pháp sư điều trị bệnh và các nhóm nữ vừa giúp lễ vừa phụ
HUPH
Trang 18giúp chăm sóc người bệnh từ đó hình thành mối liên kết Y khoa - điều dưỡng và Tôn giáo [17]
Florence Nightingale (1820-1910) là người sáng lập ra ngành điều dưỡng Năm 30 tuổi, bà đã trở thành người điều hành và tổ chức chăm sóc sức khoẻ cho những người nghèo khổ tại thủ đô nước Anh, sắp xếp hợp lý và đưa ra các tiêu chuẩn cho công tác ĐD [16] Florence Nightingale đã lập hội đồng quản lý ngân sách 50.000 bảng Anh để thành lập trường đào tạo ĐD đầu tiên trên thế giới ở nước Anh vào năm 1860 Trường điều dưỡng Nightingale cùng với chương trình đào tạo một năm đã đặt nền tảng cho hệ thống đào tạo ĐD không chỉ ở Vương Quốc Anh
mà còn ở nhiều nước khác trên thế giới Để tưởng nhớ công lao của bà và khẳng định quyết tâm tiếp tục sự nghiệp mà Florence Nightingale đã dày công xây dựng Hội đồng điều dưỡng thế giới đã quyết định lấy ngày 12 tháng 5 hàng năm, ngày sinh của Florence Nightingale, là ngày Điều dưỡng quốc tế Bà đã trở thành người
mẹ tinh thần của ngành điều dưỡng thế giới [17]
Ngày nay trên thế giới, Ngành điều dưỡng đã được xếp là một ngành riêng biệt ngang hàng với các ngành nghề khác và có nhiều trình độ điều dưỡng khác nhau: Trung cấp, cao đẳng, đại học và sau đại học Nhiều nước trên thế giới có hệ thống điều dưỡng phát triển mạnh từ rất sớm như: Thụy điển, Mỹ, Anh, Hàn Quốc, Thái Lan Nhiều cán bộ điều dưỡng đã có bằng tiến sỹ, thạc sỹ và nhiều công trình khoa học mà các giáo sư, tiến sỹ hệ điều trị phải công nhận Nhân lực điều dưỡng được tăng cường đào tạo, bổ sung nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc người bệnh tại các cơ sở y tế
1.2.2 Lị sử p t tr N đ u d ỡ tạ V t N
Quá trình phát triển của ngành ĐD qua các thời kỳ lịch sử của dân tộc và của Ngành Y tế có thể điểm qua như sau: Cũng như các nơi trên thế giới, từ thời xa xưa các bà mẹ Việt Nam đã chăm sóc nuôi dưỡng con cái và gia đình mình Hai danh y nổi tiếng thời xưa của dân tộc ta là Lê Hữu Trác (Hải Thượng Lãn Ông) và Tuệ Tĩnh đã để lại cho nền Y học nước ta một gia sản có giá trị lớn về y đức và y thuật Việt Nam Thời kỳ pháp thuộc, sự có mặt của các thầy thuốc người Pháp vào cuối
HUPH
Trang 19thế kỷ XIX đã thay thế các nhà truyền giáo và người Pháp đã bắt đầu xây dựng bệnh viện và lập hệ thống y tế để bảo vệ sức khoẻ cho quân đội viễn chinh Pháp và kiều dân Pháp [16]
Năm 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi, đất nước được hòa bình thống nhất, Bộ Y tế đã thống nhất chỉ đạo công tác chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong cả nước Từ đó nghề điều dưỡng bắt đầu có tiếng nói chung giữa hai miền Nam, Bắc Cùng với vị trí, chức năng, nhiệm vụ của người y tá - điều dưỡng được thay đổi, tên gọi y tá ở miền Bắc và điều dưỡng ở miền Nam dần dần được thống nhất đúng với vị trí xứng đáng của họ, đó là điều dưỡng [16]
Năm 1990, Bộ Y tế ban hành quyết định thành lập Phòng Y tá - Điều dưỡng trong các bệnh viện toàn quốc và giao nhiệm vụ cho Phòng Y tá tổ chức điều hành các hoạt động chăm sóc và toàn bộ y tá, hô lý trong bệnh viện Đây là một mốc lịch
sử rất quan trọng mở đường cho công tác y tá của nước ta phát triển [16]
Hội điều dưỡng Việt Nam được thành lập tại Quyết định số 375/CT, ngày 26/10/1990 do phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Nguyễn Khánh đã ký Hội điều dưỡng Việt Nam đã trải qua một giai đoạn lịch sử đầy sôi động và đã khẳng định được vai trò bằng chính nội lực của Hội Hoạt động của Hội đã đi đúng hướng, phù hợp với những ưu tiên của ngành Các hoạt động của Hội đã góp phần thúc đẩy Hội viên đóng góp ngày càng nhiều vào việc thực hiên các mục tiêu của Ngành Y tế, Hội đã hoạt động được một bước tiến quan trọng trên con đường làm sáng tỏ nhận thức về chức năng của nghề nghiệp mà mình phải có Hội điều dưỡng Việt Nam thực sự là một Hội nghề nghiệp và góp phần tư vấn cho Bộ Y tế về những chính sách công tác điều dưỡng như: Xây dựng những chính sách chức năng, nhiệm vụ, ngạch bậc công chức - tổ chức hệ thống ĐD các cấp Quy chế bệnh viện, chính sách đào, tiêu chuẩn quy định, quy trình chuyên môn và phong trào thi đua [16]
Hiện nay hệ thống điều dưỡng Việt Nam không ngừng phát triển cả về số lượng, chất lượng, thường xuyên đổi mới phương thức hoạt động nhằm đưa hệ thống điều dưỡng Việt Nam ngang hàng với các nước trong khu vực và trên thế
HUPH
Trang 20giới Về tổ chức đã có phòng điều dưỡng trong các bệnh viện có trên 150 giường bệnh, phòng điều dưỡng cũng có trong Cục Quản lý khám chữa bệnh, Bộ Y tế
1.3 Vai trò của người điều dưỡng, chức năng và quy trình điều dưỡng
1.3.1 V tr đ u d ỡ
N só : Chăm sóc là mối quan hệ giữa người với người Mục tiêu
cơ bản của người điều dưỡng là thúc đẩy sự giao tiếp, hỗ trợ người bệnh bằng hành động và bằng thái độ biểu thị sự quan tâm tới lợi ích của người bệnh và chấp nhận người bệnh là một con người Theo Benner và Wrubel thì “Chăm sóc là yếu tố cơ bản để thực hành điều dưỡng hiệu quả” Trong bệnh viện, mọi máy móc và kỹ thuật hiện đại không thay thế được sự chăm sóc của người điều dưỡng vì các thiết bị này
sẽ không tác động được tới cảm xúc và điều chỉnh hành động cho thích ứng với những nhu cầu đa dạng của mỗi NB Chăm sóc là nền tảng của mọi can thiệp ĐD và
là một thuộc tính cơ bản của người điều dưỡng [6]
N truy đạt t t : Thông tin có hiệu quả là yếu tố thiết yếu của
mọi nghề phục vụ trong đó có nghề điều dưỡng Giao tiếp quy định mối quan hệ giữa người bệnh và người điều dưỡng, giữa người điều dưỡng và đồng nghiệp cũng như các nhân viên y tế khác Nó có vai trò trong hoạt động của người điều dưỡng Giao tiếp hỗ trợ cho mọi can thiệp điều dưỡng Người điều dưỡng thông tin với đồng nghiệp và các thành viên khác trong nhóm chăm sóc về kế hoạch và thực hiện
kế hoạch chăm sóc cho mỗi người bệnh [6]
N o v ê : Giảng dạy liên quan tới các hoạt động mà người giáo viên
hỗ trợ người học trong việc học tập Nó là một quá trình tác động qua lại giữa người giáo viên với một hoặc một số người học Sự thay đổi hành vi thường đòi hỏi tới những kiến thức, thái độ và kỹ năng mới [6] Trong bệnh viện, việc giảng dạy của điều dưỡng như cho học sinh thực tập, truyền đạt kiến thức mới sau khi được cử đi tập huấn, đào tạo…
N t vấ : Tư vấn là quá trình giúp đỡ người bệnh để nhận biết và đương
đầu với những căng thẳng về tâm lý hoặc những vấn đề xã hội, để cải thiện các mối quan hệ giữa người với người và để thúc đẩy sự phát triển của mỗi người Người
HUPH
Trang 21điều dưỡng khuyến khích người bệnh tìm kiếm những hành vi thay thế, nhận ra sự lựa chọn và xây dựng ý thức tự kiểm soát Tư vấn có thể thực hiện với một cá thể hoặc một nhóm người [6]
N o : Biện hộ nghĩa là hành động thay mặt hoặc
bảo vệ quyền lợi cho người khác Vì vậy, biện hộ nghĩa là thúc đẩy những hành động tốt đẹp nhất cho người bệnh, bảo đảm cho những nhu cầu của người bệnh được đáp ứng [6]
Ngoài ra, người điều dưỡng còn có vai trò là người lãnh đạo, người quản lý, người làm công tác nghiên cứu điều dưỡng và là những chuyên gia giỏi về chăm sóc lâm sàng
1.3.2 C ứ đ u d ỡ
Theo Virginia Henderson: “Chức năng đặc trưng nhất của người điều dưỡng
là giúp đỡ những cá nhân ốm yếu thực hiện những hoạt động của cơ thể mà họ không tự mình thực hiện được để góp phần cho sự bảo vệ hoặc phục hồi sức khoẻ hoặc nếu chết thì cũng được chết thanh thản Thực hiện nhiệm vụ này bằng một cách nào đó để nhằm giúp người bệnh lấy lại được sự độc lập của cơ thể càng nhanh càng tốt Khía cạnh công việc này, phần chức năng này là do người điều dưỡng chủ động thực hiện và tự điều khiển - về lĩnh vực này người điều dưỡng là bậc thầy” [10]
Để thực hiện đầy đủ vai trò và chức năng nghề nghiệp của mình thì trong công việc hàng ngày, người điều dưỡng cần phải thực hiện 3 chức năng, đó là:
C ứ p ụ t u : Người điều dưỡng phải thực hiện những y lệnh của
thầy thuốc như tiêm, truyền, phát thuốc, thay băng…
C ứ đ ập: Nguời điều dưỡng phải tự mình thăm khám, nhận định
về người bệnh để đưa ra những chẩn đoán điều dưỡng Lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện chăm sóc đã đề ra, sau đó tự đánh giá sự thực hiện kế hoạch để có kế hoạch chăm sóc tiếp theo cho người bệnh Đây là chức năng đặc trưng của người điều dưỡng
HUPH
Trang 22C ứ p ố ợp: Ngoài việc thực hiện những y lệnh của thầy thuốc và
các kỹ thuật chuyên môn thì đồng thời người điều dưỡng cần phải có sự liên hệ chặt chẽ với các đối tượng khác như: Bác sỹ, kỹ thuật viên phục hồi chức năng, nhà dinh dưỡng học, nhà tâm lý, các nhân viên xã hội để thu thập thêm hoặc cung cấp những thông tin về người bệnh hoặc yêu cầu sự giúp đỡ của những nhân viên đó để người bệnh được chăm sóc đầy đủ hơn [10]
Nhận định Chẩn đoán
điều dưỡng
Kế hoạch
Sơ đồ 1 1 Quy trình điều dưỡng
Quy trình điều dưỡng là phương pháp khoa học được áp dụng trong lĩnh vực điều dưỡng để thực hiện chăm sóc người bệnh có hệ thống bảo đảm liên tục, an toàn
và hiệu quả bao gồm: Nhận định, chẩn đoán điều dưỡng, lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả chăm sóc điều dưỡng [7]
Tiêu chuẩn thực hành điều dưỡng:
- Thu thập thông tin về tình trạng NB có hệ thống và liên tục
- Chẩn đoán ĐD rút ra từ các thông tin về tình trạng NB
- Kế hoạch chăm sóc dựa vào chẩn đoán ĐD và mục tiêu cần đạt được
- Can thiệp ĐD có sự tham gia của NB Bao gồm nâng cao sức khỏe, duy trì và bảo tồn
HUPH
Trang 23- Can thiệp ĐD gồm những hỗ trợ giúp NB đạt được khả năng độc lập
- Sự tiến triển của NB theo mục tiêu đề ra và tiếp tục cải tiến quy trình ĐD
1.3.4 K só đ u d ỡ
Điều dưỡng viên là đội ngũ cán bộ chuyên môn có số lượng nhiều nhất trong bệnh viện, nên có vai trò rất lớn trong việc đảm bảo và nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh của mọi bệnh viện và cơ sở khám chữa bệnh Theo WHO đã nhận định dịch vụ chăm sóc sức khỏe do điều dưỡng viên và hộ sinh viên cung cấp là một trong các trụ cột của hệ thống dịch vụ y tế Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng dịch
vụ y tế phải quan tâm nâng cao chất lượng và hiệu quả các dịch vụ CSĐD [15]
Chăm sóc điều dưỡng là sự đáp ứng của điều dưỡng về các nhu cầu thể chất, tinh thần, cảm xúc, xã hội và tâm hồn của NB Các nhu cầu đó được cung cấp theo cách chăm sóc sao cho NB được chữa khỏi bệnh, khỏe mạnh, sống cuộc sống bình thường và cả điều dưỡng và NB đều hài lòng [37]
Chất lượng dịch vụ CSĐD ở bệnh viện công được xác định bởi tất cả những
gì được cung cấp cho khách hàng và đặc tính của từng dịch vụ đó Mục tiêu của chăm sóc sức khỏe là hướng tới sự đáp ứng các nhu cầu cao của khách hàng, với chất lượng nó tập trung vào tính hợp lý, tính công bằng, các quy trình kỹ thuật cũng như hiệu quả đầu ra [32]
1.3.5 t só đ u d ỡ
Trong Bệnh viện, CSĐD bắt đầu từ khi tiếp nhận người bệnh cho đến lúc người bệnh ra viện, bao gồm: Chăm sóc thể chất, tinh thần, dinh dưỡng, lập kế hoạch chăm sóc, theo dõi, phục hồi chức năng, giáo dục sức khỏe cho người bệnh
Do đó, nghiên cứu về chất lượng chăm sóc của điều dưỡng là vấn đề quan trọng trong các hệ thống Y tế nhằm nâng cao chất lượng các dịch vụ y tế được cung cấp cho khách hàng
Theo tác giả Donabedian (2005) công tác chăm sóc điều dưỡng được đánh giá dựa trên các chỉ số như chỉ số cấu trúc, chỉ số quy trình và chỉ số kết quả đầu ra [29]:
HUPH
Trang 24- Chỉ số cấu trúc: Tập trung vào những vấn đề cơ bản nhất như điều kiện và cơ chế cần thiết để vận hành tổ chức hay đơn vị, bao gồm những quy định về tổ chức quản lý, tổ chức phục vụ chăm sóc đầu tư tài chính, phương tiện chăm sóc Những nội dung của nhóm tiêu chuẩn này là điều kiện cần thiết để đảm bảo chất lượng chăm sóc tốt và có ảnh hưởng gián tiếp tới chất lượng chăm sóc
- Chỉ số quy trình: Tập trung vào thực hành và cách thức thực hiện chăm sóc của điều dưỡng Các chăm sóc này liên quan tới những nhu cầu của NB Đây là cách hiệu quả nhất để xác định chất lượng chăm sóc Các CSĐD được đánh giá bởi
NB, NB ghi lại và quan sát các hoạt động chăm sóc của điều dưỡng
- Chỉ số hiệu quả đầu ra: Tập trung vào kết quả tình trạng sức khỏe của NB, sự hài lòng và kết quả của chăm sóc làm NB hồi phục Những hiệu quả này dễ quan sát, đặc biệt là liên quan đến chăm sóc và sử dụng thuốc để điều trị bệnh Hiệu quả chăm sóc điều dưỡng rất khó để xác định bởi vì CSĐD bao gồm cả hiệu quả về xã hội và hành vi cư xử Chỉ số hiệu quả chăm sóc thường tập trung vào: Sự thay đổi hành vi của NB hướng tới mục tiêu khi xuất viện thể hiện NB hiểu biết về bệnh tật của họ, biết cách tự chăm sóc tự phòng bệnh, có những biểu hiện tiến bộ hơn liên quan đến sức khỏe so với lúc nhập viện Sự ghi nhận của NB khi xuất viện làm cơ
sở để chứng minh sự hoàn thành mục tiêu chăm sóc đã đề ra
Trong nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu chính của chúng tôi là NB, vì vậy chúng tôi loại trừ những câu hỏi liên quan đến các tiêu chuẩn cấu trúc đối với NB
1.4 Sự hài lòng của người bệnh
1.4.1 K v s
- Sự hài lòng của NB là: “Khi các dịch vụ y tế đáp ứng những mong đợi của người bệnh/khách hàng trong quá trình điều trị” Khái niệm này cho rằng sự hài lòng chỉ tập trung trên các dịch vụ điều trị [48]
- Sự hài lòng của NB là một thái độ hướng tới một trải nghiệm về chăm sóc sức khỏe [33] Khái niệm này nhấn mạnh khía cạnh tâm lý của người bệnh, điều này phụ thuộc vào tâm trạng NB tại thời điểm điều tra
HUPH
Trang 25- Sự hài lòng của NB được xem là phần không thể thiếu của chất lượng chăm sóc sức khỏe [38]
Trong nghiên cứu này sự hài lòng của người bệnh được hiểu là nhận thức của người bệnh về công tác chăm sóc điều dưỡng đã nhận được so với dự kiến mà họ mong đợi
1.4.2 S vớ dị vụ v
Trên những quan niệm về chất lượng lấy người bệnh/khách hàng làm trung tâm, thì sự hài lòng của người bệnh/khách hàng đối với chất lượng CSSK cần được quan tâm
Những khảo sát của Viện Picker và Trường Đại học Y khoa Harvard trong thập niên 90 đã phân biệt 7 khía cạnh liên quan đến trải nghiệm của cá nhân về chăm sóc y tế:
- Tôn trọng giá trị, sở thích và nhu cầu tình cảm của người bệnh (bao gồm tác động của bệnh tật và điều trị trên chất lượng cuộc sống, liên quan đến ra quyết định, nhân phẩm, nhu cầu và tính tự chủ)
- Sự phối hợp và thống nhất trong chăm sóc (bao gồm chăm sóc lâm sàng, những dịch vụ phụ thuộc và hỗ trợ, chăm sóc ngay tại cộng đồng)
- Thông tin, truyền thông và giáo dục (bao gồm tình trạng lâm sàng, diễn tiến
và tiên lượng, quá trình chăm sóc, điều kiện tự chủ, tự chăm sóc và nâng cao sức khỏe)
- Hỗ trợ về cơ thể (bao gồm kiểm soát đau, giúp đỡ những hoạt động đời sống hàng ngày, môi trường xung quanh và môi trường bệnh viện)
- Chia sẽ cảm xúc và làm giảm sự lo sợ (bao gồm tình trạng lâm sàng, điều trị
và tiên lượng, tác động của bệnh tật đối với cá nhân và gia đình, tác động tài chính của bệnh tật)
- Ảnh hưởng của gia đình và bạn bè (bao gồm những hỗ trợ về xã hội và tình cảm, ảnh hưởng về những quyết định, hỗ trợ chăm sóc, tác động trên động lực và nhiệm vụ của gia đình)
HUPH
Trang 26- Thời kỳ chuyển tiếp và liên tục (bao gồm thông tin về thuốc, dấu hiệu nguy hiểm phải để ý sau khi rời bệnh viện, sự hợp tác và những hỗ trợ về kế hoạch chi trả, lâm sàng, xã hội, và tài chính) [49]
Năm 2000, WHO đã nêu khái niệm “sự đáp ứng” (responsiveness) nhằm cố gắng đưa ra đặc điểm sự hài lòng của người dân trong hệ thống y tế “Sự đáp ứng” được định nghĩa là “đo lường những hoạt động của hệ thống không liên quan đến giá trị về y tế, kỳ vọng của người dân về cư xử của những người cung cấp dịch vụ
dự phòng, chăm sóc và những dịch vụ không liên quan đến con người” WHO đã nêu 7 đặc điểm của “sự đáp ứng” và được liệt kê thành 2 nhóm:
Tôn trọng con người:
- Tôn trọng giá trị của con người
- Sự bí mật (xác định ai được xem x t hồ sơ y tế của người bệnh)
- Tự chủ tham gia chọn lựa sức khỏe của chính mình
Định hướng khách hàng:
- Quan tâm ngay đối với những trường hợp cấp cứu và thời gian chờ đợi hợp
lý đối với trường hợp không cấp cứu
- Chất lượng đầy đủ như sạch sẽ, không gian rộng rãi, nhà ăn bệnh viện
- Tiếp nhận được những hỗ trợ từ ngoài: Người bệnh có thể nhận được sự chăm sóc từ gia đình và bạn bè
- Tự do chọn lựa người (cá nhân hay tổ chức) cung cấp dịch vụ [49]
Để đánh giá chất lượng chức năng của dịch vụ Y tế tại bệnh viện, trên cơ sở tham khảo ý kiến của các chuyên gia trên 6 nhóm yếu tố: Cơ sở vật chất – kỹ thuật; quy trình khám chữa bệnh; đội ngũ cán bộ y tế; hiệu quả công tác khám chữa bệnh; các dịch vụ bổ trợ và chi phí khám chữa bệnh
Như nghiên cứu của Jorgen Nathorst Boos và cộng sự, đánh giá hai phương pháp nghiên cứu QSP (Quality, Satisfaction, Performance) và QPP (Quality from the Patient’s Perspective) về đo lường sự hài lòng của người bệnh tác giả đưa ra 37 câu hỏi thuộc 8 lĩnh vực nghiên cứu, bao gồm: Chăm sóc y tế (04 câu hỏi); thời gian
HUPH
Trang 27chờ đợi (02 câu hỏi); điều trị của bác sỹ (05 câu hỏi); chăm sóc điều dưỡng (05 câu hỏi); thông tin (06 câu hỏi); sự tham gia của người bệnh (04 câu hỏi); yếu tố môi trường (06 câu hỏi); khả năng tiếp cận (05 câu hỏi) [28]
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (2006), tại các Bệnh viện tỉnh Hòa Bình, tác giả đưa ra 35 tiểu mục thuộc 5 yếu tố chăm sóc sức khỏe, bao gồm: Sự tiếp cận dịch vụ - Thời gian chờ đợi (02 tiểu mục); giao tiếp và tương tác
hỗ trợ của nhân viên (08 tiểu mục); giao tiếp và tương tác hỗ trợ của bác sỹ (08 tiểu mục); cơ sở vật chất (10 tiểu mục); kết quả chăm sóc sức khỏe (07 tiểu mục) Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả các yếu tố về sự hài lòng của NB đều < 4, trong đó điểm trung bình hài lòng chung về chất lượng CSSK là 3,6 điểm [21]
Trong nghiên cứu này do hạn chế về nguồn lực, kinh tế và chúng tôi quan tâm đến công tác CSĐD nên chúng tôi thực hiện nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh về công tác CSĐD
1.4.3 S v công tác só đ u d ỡ
Trong bối cảnh chăm sóc sức khỏe hiện nay, sự hài lòng của NB là một chỉ
số quan trọng đối với chất lượng chăm sóc Nó trở thành một chỉ số quan trọng của chất lượng chăm sóc bởi vì:
- Sự hài lòng của NB cho biết quan điểm của NB đối với chất lượng chăm sóc sức khỏe/dịch vụ y tế đồng thời cũng đảm bảo quyền lợi của NB và xem x t quan điểm của họ
- Sự hài lòng của NB càng cao thì khả năng tuân thủ điều trị và đón nhận tư vấn từ các chuyên gia chăm sóc sức khỏe càng cao
- Một NB hài lòng về chăm sóc của ĐD, có khả năng sẽ quay trở lại khám chữa bệnh cao hơn khi có nhu cầu chăm sóc sức khỏe
- Một NB hài lòng về chăm sóc của ĐD, sẽ sẵn sàng giới thiệu những người thân quen của mình, người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe đến bệnh viện chăm sóc của mình [36]
HUPH
Trang 28Một số nước trên thế giới như: Nhật, Singapo, Thái Lan có ngành Điều dưỡng phát triển rất mạnh, là một trong những môi trường đào tạo đại học, sau đại học về chuyên ngành Điều dưỡng Tại Thái Lan, ĐD đạt tiêu chuẩn đào tạo của thế giới và tất cả các dịch vụ điều dưỡng dưới sự kiểm soát của Bộ Y tế và thực hiện theo hai bộ tiêu chuẩn của Phòng Điều dưỡng, trong đó chuẩn mực cho thấy rằng chất lượng chăm sóc trong bệnh viện sẽ đảm bảo nếu nó bao gồm các tiêu chí [41]: (1) Ý kiến về quan điểm của người bệnh: Tiếp nhận thông tin y tế; Người bệnh thấy thoải mái khi điều trị tại khoa, phòng; Điều dưỡng có kỹ năng tốt; Điều dưỡng làm giảm đau hoặc các triệu chứng bất thường của NB tốt
(2) 100% NB tuân thủ theo hướng dẫn của điều dưỡng
(3) Tỷ lệ NB hài lòng với công tác chăm sóc của điều dưỡng ≥ 80%
Tại Việt Nam, trong những năm gần đây chất lượng dịch vụ Y tế tại các bệnh viện đã được quan tâm và ngày càng được nâng cao, tinh thần phục vụ người bệnh đang có những chuyển biến mới
Tuyên Quang, là một tỉnh miền núi phía Đông Bắc Việt Nam, Ngành Y tế tỉnh Tuyên Quang trong những năm vừa qua đã được nâng cấp đáng kể về trình độ chuyên môn, cơ sở vật chất, trang thiết bị; tăng cường chất lượng khám và điều trị Tuy vậy vẫn chưa đáp ứng được những yêu cầu ngày càng cao trong công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân [24]
Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang với mục tiêu chung năm 2012 là:
“Từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ bệnh viện với phương châm đáp ứng sự hài lòng của người bệnh” [20] Bệnh viện đã có sự nỗ lực thông qua các chương trình đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, tập huấn quy tắc ứng xử, tổ chức kiểm tra tay nghề hàng năm, kiểm tra thường quy tại các khoa phòng trong bệnh viện… nhằm để nâng cao chất lượng chăm sóc điều dưỡng nhằm phục vụ cho công tác chăm sóc người bệnh
HUPH
Trang 291.4.4 C yếu tố ê qu đế s v công tác só
đ u d ỡ
Sự hài lòng của khách hàng không chỉ phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ,
mà còn phụ thuộc vào sự mong đợi của khách hàng và có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nên việc hiểu biết các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người bệnh là rất quan trọng cho các nhà cung cấp dịch vụ
Đánh giá sự hài lòng của NB về dịch vụ CSSK, được sử dụng trong bệnh viện để cải tiến dịch vụ y tế và chăm sóc người bệnh, đảm bảo chất lượng cung cấp dịch vụ chăm sóc [27]
Theo nghiên cứu của Cheryl L Cox (1982), đã đưa ra mô hình tương tác về hành vi sức khỏe của NB, để hướng dẫn nghiên cứu và thực hành điều dưỡng Trong mô hình này, người bệnh được giả định là có khả năng lựa chọn thông tin, độc lập và có thẩm quyền về hành vi sức khỏe của họ, và những lựa chọn
về hành vi sức khỏe bị ảnh hưởng bởi chính các yếu tố cá nhân của họ Và mô hình này cho thấy rằng có bốn yếu tố tương tác giữa điều dưỡng và người bệnh, bốn yếu
tố ảnh hưởng đến kết quả đầu ra sức khỏe của người bệnh trong đó có sự hài lòng của người bệnh [26]
Nhận thức đánh giá
Tác động đáp ứng
1 Sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe
2 Các chỉ số về tình trạng sức khỏe lâm sàng
3 Tính trầm trọng của vấn đề CSSK
4 Tuân thủ phác đồ điều trị được khuyến cáo
5 Sự hài lòng của người bệnh đối với
sự chăm sóc Điều dưỡng
Yếu tố cá nhân của người sử dụng dịch vụ y
tế/khách hàng/người bệnh
Các yếu tố về sự tương tác Điều dưỡng-người bệnh
Các yếu tố về chỉ số/ đầu ra sức khỏe
Thông tin
về sức khỏe
Khả năng kiểm soát
Năng lực
kỹ năng chuyên môn
Sơ đồ 1.2 Khung lý thuyết về mô hình tương tác về hành vi sức khỏe của
người bệnh [26]
HUPH
Trang 30Trong nghiên cứu của chúng tôi do hạn chế về ngân sách và thời gian nghiên cứu, chúng tôi tập trung vào 2 nhóm yếu tố chính là: (1) yếu tố cá nhân gồm nhân khẩu - xã hội học và trải nghiệm của lần chăm sóc sức khỏe (CSSK) trước đây; và (2) sự tương tác hay nhận thức của NB về CSĐD gồm hỗ trợ tinh thần; thực hiện hoạt động chăm sóc của điều dưỡng; tư vấn và giáo dục sức khỏe; và mối quan hệ giữa cá nhân NB và ĐD
(1) Các xã hội – nhân khẩu học:
Những yếu tố nhân khẩu học của người bệnh có thể ảnh hưởng đến sự hài lòng của NB trong suốt quá trình chăm sóc Theo Avis, Bond và Arthur (1995) thì tuổi, giới tính, dân tộc, ngôn ngữ, văn hóa, trình độ học vấn, mức độ lo lắng, tình trạng sức khỏe trước khi nhập viện là những yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của
NB Tuổi và giới tính ảnh hưởng đến nhận thức về chăm sóc của NB, NB lớn tuổi thì sự hài lòng của họ cao hơn so với NB trẻ tuổi và trung niên Người bệnh nam giới thì có xu hướng hài lòng hơn so với người bệnh nữ giới [43] Trong một nghiên cứu khác cho thấy trình độ học vấn có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng của NB về CSĐD, những người bệnh có trình độ học vấn cao thì không hài lòng với chất lượng chăm sóc cung cấp Một trong những lý do đó có thể là những NB có trình độ học vấn cao thì mức độ yêu cầu thêm thông tin về chất lượng chăm sóc và luôn luôn cố gắng thiết lập sự tin tưởng về mối quan hệ giữa ĐD và người bệnh Có thể những
NB có trình độ học vấn thấp không biết về những quyền lợi của họ hoặc những gì tạo nên chất lượng chăm sóc tốt [39] Tuy nhiên, trong nghiên cứu được thực hiện bởi Liu và Wang (2007) về sự hài lòng của người bệnh về CSĐD và một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng trong một bệnh viện ở Trung Quốc cho thấy các người bệnh có trình độ học vấn cao thì sự hài lòng với CSĐD cao hơn so với người có trình độ học vấn thấp hơn [40]
Loại bảo hiểm mà NB sử dụng cũng có ảnh hưởng đến sự hài lòng của NB Theo nghiên cứu của Burke và các cộng sự (2003) cho biết những người bệnh nhiễm HIV1, những người có bảo hiểm y tế tư nhân chưa hài lòng với các khía cạnh
HUPH
Trang 31tài chính của chăm sóc sức khỏe hơn so với những người có bảo hiểm hoặc không
có bảo hiểm [31]
Các yếu tố như dân tộc, mức thu nhập trung bình/người/tháng, nghề nghiệp
có mối liên quan đến sự hài lòng của NB được nhắc đến trong nghiên cứu của Nguyễn Đức Thành (2006) và Nguyễn Thu (2011) [21], [22]
Thời gian nằm viện, kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe của những lần nhập viện trước cũng ảnh hưởng đến sự hài lòng của NB Những NB nhập viện nhiều lần thường hài lòng hơn so với những người nhập viện lần đầu tiên [45] Những người
bị bệnh nặng thì ít hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe hơn những người bị bệnh nhẹ Điều đó có thể giải thích là do nhu cầu về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của những người bệnh nặng cao hơn
Nghiên cứu của Mehrnoosh Akhtari-Zavave trên các người bệnh ung thư [44] và Nguyễn Bá Anh trên những người bệnh ngoại khoa [1], đều chưa tìm ra mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa loại giường NB sử dụng (bình thường và dịch vụ
tự nguyện) với sự hài lòng của người trong suốt thời gian điều trị
(2) Các yếu tố nhận thức về CSĐD của NB hay sự tương tác của Điều dưỡng - người bệnh
Mối quan hệ giữa cá nhân NB và điều dưỡng
Mối quan hệ giữa NB và điều dưỡng là một yếu tố quan trọng quyết định sự hài lòng của NB Khái niệm này bao gồm mối quan hệ, phát triển mối quan hệ, NB được biết đến như những cá nhân riêng biệt, hiểu biết lẫn nhau, tôn trọng, trung thực, tin tưởng, hợp tác và hài hước [27] Trong nghiên cứu của nhóm tác giả Shattell, Star và Thomas (2007): Mối quan hệ giữa các cá nhân, trong trường hợp này là giữa NB và ĐD, được xây dựng dựa trên các yếu tố như sự trung thực, tin tưởng, tôn trọng, hiểu biết, thấu hiểu, xem các cá nhân đơn thuần là một người trong gia đình (chứ không phải là NB hay gì khác), giữ liên lạc (trong giao tiếp), thân thiện và cảm nhận được sự gắn kết, hợp tác và vui vẻ [47] Tác giả Liu và các cộng
sự cũng chỉ rõ rằng NB có nhu cầu được chăm sóc, tiếp xúc với những điều dưỡng
có thái độ quan tâm, lắng nghe và luôn luôn giữ nụ cười trên khuôn mặt Sự thân
HUPH
Trang 32thiện và vui vẻ của ĐD làm tăng sự hài lòng của NB [39] Hiện nay, các bệnh viện rất quan tâm đến sự giao tiếp của điều dưỡng với NB Điều đó được thể hiện qua việc các bệnh viện đã và đang nỗ lực tổ chức các chương trình tập huấn cho ĐD về quy tắc ứng xử theo Quyết định số 29/2008/QĐ – BYT Tuy nhiên, có những NB tỏ
ra không hài lòng đối với thái độ gắt gỏng, ban ơn và thiếu tôn trọng của ĐD đối với họ
Thực hiện hoạt động chăm sóc của điều dưỡng
Mong muốn được chăm sóc và tư vấn sức khỏe bởi một đội ngũ cán bộ nhân viên y tế có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, làm việc chuyên nghiệp và hiệu quả là một trong những mong muốn cơ bản của NB khi họ đến bệnh viện khám, chữa bệnh [36]
Theo nghiên cứu của Jennings và các cộng sự (2005), người bệnh cảm thấy
an toàn hơn nếu họ được chăm sóc bởi đội ngũ điều dưỡng có trình độ, kh o l o và tạo cho họ có cảm giác tin tưởng, an toàn [35]
Sự hỗ trợ của ĐD giúp NB lấy lại sự tự chủ trong các hoạt động cá nhân, từ
đó đẩy nhanh quá trình phục hồi sức khỏe của họ Theo học thuyết của Virginia Henderson, các hoạt động điều dưỡng được chia làm 14 phần dựa trên các nhu cầu của con người Trong quá trình chăm sóc NB, ĐD cần đáp ứng các nhu cầu cơ bản sau đây [5]:
1 Đáp ứng nhu cầu về hô hấp
2 Đáp ứng nhu cầu về ăn uống
3 Giúp đỡ người bệnh trong sự bài tiết (dịch bài tiết từ trong cơ thể)
4 Giúp đỡ người bệnh về tư thế, vận động và tập luyện
5 Đáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ
6 Giúp người bệnh mặc và thay quần áo
7 Giúp người bệnh duy trì thân nhiệt
8 Giúp người bệnh vệ sinh cá nhân hàng ngày
9 Giúp người bệnh tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện
HUPH
Trang 3310 Giúp người bệnh trong sự giao tiếp
11 Giúp người bệnh thoải mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng
12 Giúp người bệnh lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng
13 Giúp người bệnh trong những hoạt động vui chơi giải trí
14 Giúp người bệnh có kiến thức về Y học
Tư vấn và giáo dục sức khỏe
Tư vấn cho NB có tầm quan trọng cơ bản, NB cần thông tin liên quan về tình trạng bệnh của họ vì họ cảm thấy lo lắng, sợ hãi và dễ tổn thương hơn trong khi nằm viện Nghiên cứu của Eriksson và Svedlund (2007) cho thấy đôi khi NB hiểu sai hay không tuân thủ điều trị vì sự truyền đạt không rõ ràng, khó hiểu trong những cách thức giao tiếp và thông tin mà họ nhận được từ điều dưỡng [34] Nghiên cứu của Bankauskaite và Saarelma (2003) báo cáo rằng, sự thiếu thông tin về các nguyên nhân của bệnh, quan điểm và cách điều trị, chăm sóc là một trong những yếu tố dẫn đến NB không hài lòng [30]
Gia đình của người bệnh cũng có những nỗi sợ hãi và lo lắng, điều dưỡng cần dành thời gian để cung cấp thông tin, giải thích cho họ Trong khi cung cấp thông tin, người điều dưỡng thường tìm thấy nhiều cơ hội để giáo dục sức khỏe cho
NB làm thế nào để nhanh chóng hồi phục, để khỏe mạnh và ngăn ngừa bệnh, biến chứng Và làm thế nào để thực hiện các hoạt động của cuộc sống một cách tốt nhất
có thể Bất cứ khi nào điều dưỡng thực hiện chăm sóc NB cũng nên giải thích hoặc thông báo những gì sẽ thực hiện Một ví dụ đơn giản là việc lấy nhiệt độ cho NB có thể sẽ là không đơn giản, trừ khi người ĐD giải thích những gì họ đang làm, làm như thế nào và tại sao lại làm [41]
Việc tư vấn và giáo dục sức khỏe (GDSK) cho NB là một trong những yếu
tố quan trọng nhất trong các đặc điểm của dịch vụ chăm sóc chất lượng tốt, cũng như rất cần thiết trong sự phát triển mối quan hệ giữa NB và điều dưỡng Điều dưỡng cần tận dụng những cơ hội tư vấn, giáo dục sức khỏe vì khi họ làm như vậy những kỹ năng của họ sẽ phát triển và điều đó là rất quan trọng
HUPH
Trang 34 Chăm sóc về tinh thần
Mỗi điều dưỡng có một cách thức cảm thông, giao tiếp riêng theo cá tính của bản thân với NB Điều đó quyết định những hành vi giống nhau hay khác nhau giữa các điều dưỡng khi thực hiện việc chăm sóc, an ủi, động viên, hỗ trợ… với các nhu cầu đặc biệt Người bệnh đánh giá cao việc điều dưỡng cảm thông với những gì
NB đang trải qua Điều này giúp NB giảm sự lo lắng và sợ hãi về bệnh tật, những gì đang diễn ra xung quanh của họ [46] Công tác chăm sóc tinh thần là một trong những nhiệm vụ chuyên môn của ĐD được quy định tại Điều 5, thông tư 07/2011/BYT [7]
1.5 Các nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh với chất lượng chăm sóc của điều dưỡng
1.5.1 C ê ứu trê t ế ớ
Wipada Kunaviktikul và cộng sự (2005), tại trường đại học Chiang Mai, Thái Lan, đã đưa ra 9 chỉ số để đánh giá chất lượng chăm sóc của điều dưỡng ở Thái Lan đó là: Tỷ lệ điều dưỡng và tỷ lệ chuyên môn của điều dưỡng; số giờ làm việc của điều dưỡng/người bệnh/ngày với tổng số người bệnh nhập viện; tỷ lệ những NB nhập viện bị lo t do tỳ đè, do nằm lâu sau khi nhập viện 72 giờ với tổng
số NB ra viện ở cùng thời điểm; sự hài lòng của điều dưỡng với công việc, với các mối quan hệ, với đồng nghiệp, với cơ hội thăng tiến, với sự an toàn, với lương bổng; tỷ lệ nhiễm trùng các ống sonde tiểu sau khi nhập viện 48 giờ so với tổng số
NB ra viện ở cùng thời điểm; tỷ lệ NB bị ngã trong thời gian nằm viện so với tổng
số NB ra viện ở cùng thời điểm; sự hài lòng của NB với việc giáo dục sức khỏe cho họ; sự hài lòng của NB với việc kiểm soát đau; sự hài lòng của NB với các chăm sóc của ĐD bao gồm: Thể chất, tinh thần, cảm xúc, sự riêng tư, sự tham gia của NB vào việc ra các quyết định chăm sóc [37]
Nghiên cứu của Nguyễn Bích Lưu (2001) về Các yếu tố liên quan tới chất lượng dịch v CSĐD qua đánh giá c a người bệnh ra viện tại bệnh viện Banpong
trên 175 NB sau mổ ngoại khoa, thuộc tỉnh Ratchaburi - Thái lan Cho thấy 3/5 số người bệnh cho rằng dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng là tốt Tuy nhiên, họ cũng
HUPH
Trang 35cho rằng một số hoạt động của ĐD cần được cải thiện, chẳng hạn như việc hỗ trợ
NB thực hiện một số hoạt động (tắm, gội đầu, vệ sinh…) trong bệnh viện Có 51,3% NB hài lòng với chất lượng dịch vụ chăm sóc của điều dưỡng Nghiên cứu cũng chỉ ra 4 yếu tố liên quan tới chất lượng chăm sóc là: Điều kiện của nguồn lực
ĐD chăm sóc, kỹ năng và khả năng của người điều dưỡng, cách cư xử giữa các thành viên với nhau, thông tin y tế của ĐD và sự giáo dục của NB [41]
Nghiên cứu Mehrnoosh Akhtari-Zavave (2010) về Sự hài lòng c a người bệnh nhập viện vì ung thư về công tác chăm sóc điều dưỡng tại bệnh viện Tehran, Iran , theo phương pháp mô tả cắt ngang Đã được tiến hành để tìm hiểu mối liên
quan giữa sự hài lòng trên 384 người bệnh ung thư với CSĐD trong 10 bệnh viện có tham gia giảng dạy ở Tehran, Iran Cho thấy 82,2% người bệnh hài lòng với dịch vụ CSĐD được cung cấp, số người bệnh không hài lòng chiếm 17,2% Về sự hài lòng của NB, có 76,7% người bệnh hài lòng với sự tư vấn và GDSK của ĐD; mối quan
hệ cá nhân và điều dưỡng là 96,6%; kỹ năng điều dưỡng là 76,8% và yếu tố môi trường là 69,5% [44]
1.5.2 C ê ứu tạ V t N
Nghiên cứu của Trần Quang Huy (2009) tại bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí cho thấy mô hình chăm sóc NB theo đội đáp ứng được quan điểm chăm sóc NB toàn diện Hầu hết điều dưỡng đã thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm của mình
và phát huy được chức năng nghề nghiệp độc lập khi chăm sóc NB, nắm bắt thông tin về NB, chế độ dinh dưỡng, những diễn biến về tình trạng bệnh và tư vấn, giáo dục sức khỏe cho NB Tuy nhiên điều dưỡng cần lưu ý hơn trong nhận định, tiên lượng các nguy cơ xảy ra biến chứng để có kế hoạch phòng ngừa cho người bệnh Người bệnh và NNNB đều hài lòng và đánh giá cao về tinh thần thái độ phục vụ của nhân viên y tế Hầu hết các nhân viên y tế tham gia khảo sát đều hài lòng với mô hình này, trách nhiệm cá nhân phải cao hơn và phải tích cực hơn [12] Nghiên cứu này đã đánh giá được công tác chăm sóc NB từ phía các thành viên của đội chăm sóc, mối quan hệ giữa các thành viên trong đội và sự hài lòng của các thành viên
HUPH
Trang 36trong đội chăm sóc Tuy nhiên chỉ tính được tỷ lệ % có thực hiện công việc chứ không biết các thành viên thực hiện công việc ở mức độ nào
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Điều và cộng sự về Thực trạng và một
số giải pháp về tăng cường công tác điều dưỡng trong chăm sóc NB toàn diện tại viện chấn thương chỉnh hình - Bệnh viện Trung Ương Quân đội 108 từ tháng
4/2006 đến 6/2007 Đối tuợng gồm 120 NB đang điều trị tại viện Chấn thương- Chỉnh hình, các NB đều trong giai đoạn sau phẫu thuật từ 2 ngày trở lên Kết quả cho thấy NB đánh giá công tác chăm sóc, theo dõi những yếu tố cơ bản như mạch, nhiệt độ, huyết áp và làm các x t nghiệm được thực hiện ở mức độ cao (đạt > 90%); công tác chăm sóc theo dõi chuyên khoa sâu như chuẩn bị người bệnh trước mổ, hướng dẫn chế độ ăn uống, giáo dục sức khỏe, phòng bệnh và chế độ tập luyện được NB đánh giá ở mức độ thấp hơn (đạt < 90%) [9] Tuy nhiên hạn chế trong nghiên cứu này là chưa tính tỷ lệ trung bình của từng nội dung chăm sóc và cũng chưa có tỷ lệ trung bình chung của các nội dung chăm sóc NB là bao nhiêu
Nghiên cứu Nguyễn Thị Hiền và cộng sự (2009), về Đánh giá bước đầu kết quả chăm sóc toàn diện cho NB tại khoa ngoại sản bệnh viện đa khoa huyện Mê Linh năm 2009 Cho thấy công tác tiếp đón, hướng dẫn nội quy khoa phòng được
NB đánh giá đạt 100% Về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị có 93,4% NB cho là đạt yêu cầu Về công tác theo dõi, chăm sóc, giải thích cho NB có 90% NB đánh giá công tác giải thích trước khi làm thủ thuật, giải thích chế độ ăn uống đạt yêu cầu Có 93,3% NB đánh giá đạt về công tác thực hiện thuốc, hướng dẫn cách sử dụng thuốc
và công khai thuốc vật tư tiêu hao [11] Ưu điểm của nghiên cứu là đã tính được tỷ
lệ % các nội dung chăm sóc của điều dưỡng đạt yêu cầu Tuy nhiên chưa đánh giá được đầy đủ các nội dung chăm sóc toàn diện như công tác vệ sinh, vận động Cỡ mẫu của nghiên cứu chỉ tiến hành trên 30 NB nên chưa phản ảnh đúng được chất lượng chăm sóc của điều dưỡng tại khoa
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Linh (2006) về Đánh giá kỹ năng giao tiếp trong điều trị, chăm sóc và ph c v NB tại bệnh viện tỉnh Ninh Thuận, năm
2006 , khảo sát trên 227 NB, người nhà người bệnh đến khám và điều trị tại bệnh
HUPH
Trang 37viện Đánh giá trên 4 nhóm tiêu chí: Thái độ tiếp đón, giao tiếp; sự quan tâm, cảm thông, chia sẻ; tiêu cực giao tiếp giữa các nhân viên; những ý kiến đóng góp xây dựng Kết quả cho thấy có từ 65,54% đến 74% ý kiến của NB và gia đình NB đánh giá nhân viên y tế luôn có thái độ phục vụ, giao tiếp, ứng xử tốt Có 90,7% đến 94,27% ý kiến NB đánh giá nhân viên y tế luôn có sự quan tâm, cảm thông, chia sẻ với NB và gia đình NB 100% NB và người nhà NB đánh giá nhân viên y tế không
có biểu hiện gợi ý, nhận tiền, quà biếu và giao tiếp giữa các nhân viên luôn lịch sự, tôn trong lẫn nhau [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Thu (2011) về Đánh giá sự hài lòng về chất lượng dịch v chăm sóc sức khỏe c a bệnh nhân nội trú tại bệnh viện Điều dưỡng - Ph c hồi chức năng tỉnh Bình Định năm 2011 , dựa trên nghiên cứu mô tả cắt ngang,
phương pháp kết hợp (định lượng và định tính), thực hiện trên 96 NB nội trú Cho thấy sự hài lòng của NB với chất lượng CSSK được xác định dựa vào 4 yếu tố: Thời gian chờ đợi tiếp cận chăm sóc; tiếp cận và tương tác với nhân viên bệnh viện; điều kiện cơ sở vật chất và kết quả nằm viện Kết quả điều tra cho thấy rằng tỉ lệ hài lòng
về giao tiếp và tương tác với nhân viên bệnh viện là thấp nhất (47,9%) Tiếp đến là thời gian chờ đợi nhận dịch vụ CSSK (72,9%) Tiếp theo đó là tỉ lệ hài lòng về cơ
sở vật chất, trang thiết bị (79,2%) và hài lòng về kết quả CSSK tại bệnh viện (85,4%) Tỉ lệ NB hài lòng với công tác vệ sinh và cảnh quan trong bệnh viện rất cao gần như tuyết đối (98,3 - 100%) Có tới 87,5% NB sẵn sàng giới thiệu người khác đến khám chữa bệnh tại bệnh viện Tuy nhiên, tỷ lệ hài lòng chung với dịch vụ CSSK tại bệnh viện thấp chỉ có 59,4% [22]
Nghiên cứu của Phạm Anh Tuấn “Đánh giá hoạt động chăm sóc người bệnh
c a Điều dưỡng viên tại Bệnh viện Việt Nam - Th y Điển Uông Bí năm 2011
Công tác chăm sóc người bệnh theo mô hình đội đạt hiệu quả cao trong chăm sóc, đặc biệt là hoạt động đi buồng đội vào mỗi buổi sáng Người bệnh và người nhà người bệnh cũng được phát huy vai trò trong hoạt động chăm sóc dưới sự hướng dẫn của điều dưỡng viên Kết quả cũng cho thấy mức độ hài lòng của người bệnh và người nhà người bệnh là rất cao Các nhiệm vụ được điều dưỡng viên thường xuyên
HUPH
Trang 38thực hiện với tỷ lệ khá cao, điều dưỡng tự tin và rất tự tin khi thực hiện nhiệm vụ Tuy nhiên còn một số nhiệm vụ mà điều dưỡng viên chưa thường xuyên thực hiện là: Chăm sóc vệ sinh cá nhân cho NB; chăm sóc phục hồi chức năng cho NB; giám sát người nhà hỗ trợ chăm sóc NB; tư vấn giáo dục sức khỏe cho NB [25]
Nghiên cứu Bùi Thị Bích Ngà (2011) về Thực trạng công tác chăm sóc c a điều dưỡng qua nhận x t c a người bệnh điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương, năm 2011 Tác giả đã cho biết điều dưỡng viên làm tương đối
tốt các chức năng cơ bản như: Hỗ trợ điều trị và phối hợp thực hiện y lệnh của bác
sĩ (đạt 84,2%) Theo dõi, đánh giá NB (80,5%); tiếp đón NB (đạt 78,9%) Các chức năng chăm sóc, hỗ trợ tâm lý tinh thần NB; chăm sóc hỗ trợ dinh dưỡng ăn uống; tư vấn, giáo dục sức khỏe đạt lần lượt là 66,2%; 55,6%; 49,6% Tuy vậy công tác chăm sóc, hỗ trợ NB nặng vệ sinh cá nhân hàng ngày chủ yếu do người nhà chăm sóc (86,3%) Các yếu tố liên quan đến công tác chăm sóc của điều dưỡng từ phía người bệnh là các yếu tố về nơi cư trú, số lần nằm viện và cách thức điều trị của NB
có ảnh hưởng đến việc nhận x t công tác chăm sóc của điều dưỡng Từ phía nhân viên y tế gồm các yếu tố: Số lượng điều dưỡng không đủ (tỷ lệ ĐD/BS đạt 1/1,52) thiếu so với quy định kiểm tra cuối năm của Vụ YHCT, thiếu nhiều so với qui định
về nhân lực trong hướng dẫn thực hiện Thông tư 07/2011/TT-BYT Chất lượng chuyên môn của đội ngũ điều dưỡng chưa đáp ứng đầy đủ các chức năng nhiệm vụ của công tác chăm sóc NB Nguyên nhân là do cơ cấu đội ngũ điều dưỡng không đồng đều cả về trình độ, nội dung được đào tạo cũng như sự hạn chế trong công tác
đào tạo liên tục và tinh thần tự học của điều dưỡng viên Tỉ lệ ĐD đại học, cao đẳng
còn thấp (13%); 50% điều dưỡng trình độ trung cấp là y sĩ y học cổ truyền chuyển đổi sang điều dưỡng viên Đặc biệt, ý thức và khả năng phát huy vai trò chủ động
trong hoạt động chuyên môn của ĐD còn yếu, chủ yếu phụ thuộc vào y lệnh điều trị
và phối hợp điều trị [18]
Theo nghiên cứu của Nguyễn Bá Anh (2012), tại Bệnh viện Hữu Nghị Việt
Đức, Hà Nội về Đánh giá và sự hài lòng c a người bệnh về chất lượng chăm sóc
c a điều dưỡng tại một số khoa lâm sàng bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức năm 2012
HUPH
Trang 39trên 385 người bệnh cho biết chất lượng chăm sóc của điều dưỡng được NB và người nhà người bệnh (NNNB) đánh giá đạt 79,5% Tìm thấy có mối liên quan giữa
4 yếu tố (các chăm sóc hỗ trợ tinh thần của người bệnh, kỹ năng chuyên môn của điều dưỡng, hài lòng về giải thích về hoạt động chăm sóc/điều trị và sự tham gia của người bệnh trong việc ra các quyết định chăm sóc, cung cấp thông tin và sự giáo dục sức khỏe cho người bệnh) với sự hài lòng chung của người bệnh [1]
1.6 Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang
Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang hạng II, có quy mô 500 giường bệnh,
37 khoa, phòng bệnh và 583 nhân viên Trong đó, có 10 bác sỹ chuyên khoa II, 39 bác sỹ chuyên khoa I, 20 thạc sỹ, 42 bác sỹ (tổng 111) và điều dưỡng 271
Khoa Nội Tổng hợp là một trong 18 khoa Lâm sàng của Bệnh viện, điều trị những bệnh liên quan về tim mạch, hô hấp, các bệnh về máu, nội tiết… Số lượng giường bệnh tại khoa chiếm 10% trong tổng số 500 giường bệnh của bệnh viện Về nhân lực tại khoa có tất cả 18 điều dưỡng trong đó có 02 điều dưỡng đại học, 01 điều dưỡng cao đẳng, tỷ lệ điều dưỡng/bác sỹ tại khoa là 1,8 [19]
Theo báo cáo tổng kết năm 2012, Khoa Nội Tổng hợp là một trong 03 khoa
có sự quá tải nhất về số lượng người bệnh, với tổng số người bệnh nội trú là 3.383 người bệnh Số ngày điều trị trung bình của một người bệnh tại khoa là 9,33 ngày [2] Thời gian lưu trú dài, điều trị những bệnh mãn tính dẫn đến người bệnh thường xuyên vào khám và điều trị Chính vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu tại Khoa Nội Tổng hợp, để có thể đánh giá tốt nhất sự hài lòng của người bệnh về công tác chăm sóc điều dưỡng (chi tiết xem thêm phụ lục 8) HUPH
Trang 40Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính: Người bệnh điều trị nội trú và làm xong thủ tục xuất viện tại Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang
Tiêu chuẩn lựa chọn:
- Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu
- Người bệnh ≥ 18 tuổi
- Người bệnh có thời gian điều trị tại khoa ≥ 5 ngày (để đảm bảo tính chính xác khi tiến hành phỏng vấn về các nội dung được chăm sóc)
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Người bệnh là nhân viên y tế tại Bệnh viện
- Người bệnh là người nhà của nhân viên y tế tại Bệnh viện
- Người bệnh từ chối tham gia nghiên cứu
- Người bệnh không nói, không hiểu được tiếng Kinh
- Người bệnh hôn mê, NB có tinh thần không tỉnh táo
Các bên liên quan: Lãnh đạo phòng Điều dưỡng, Lãnh đạo khoa, điều dưỡng trưởng Khoa Nội Tổng hợp, điều dưỡng viên Khoa Nội Tổng hợp
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2013 đến tháng 6/2013
- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Nội Tổng hợp của Bệnh viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang, phường Tân Hà, Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang
2.3 Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
- Sử dụng phương pháp kết hợp: Định luợng và định tính
HUPH