1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh

76 471 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
Tác giả Vũ Tuấn Bách
Người hướng dẫn PTS. Nguyễn Văn A
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 792 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP 2

1.1 Tổng quan về marketing 2

1.1.1 Định nghĩa Marketing 2

1.1.2 Các hoạt động nghiên cứu và dự báo 2

1.2 Quản lý Marketing tại doanh nghiệp 2

1.2.1 Khái niệm 2

1.2.2 Nội dung của quản lý marketing 4

1.3 Quá trình quản lý marketing 5

1.3.1 Lập kế hoạch marketing 5

1.3.2 Tổ chức marketing, xây dựng các hình thái cơ cấu tổ chức 10

1.3.3 Kiểm tra các hoạt động marketing 19

1.3.3.1 Kiểm tra kế hoạch năm 21

1.3.3.2 Kiểm tra chiến lược 23

1.3.4 Lãnh đạo hoạt động marketing 23

1.3.4.1 Đinh nghĩa 23

1.3.4.2 Các kĩ năng lãnh đạo cần thiết 23

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG MARKETING VÀ QUẢN LÝ MARKETING CỦA CÔNG TY 25

2.1 Giới thiệu chung về công ty 25

2.1.1 Cơ cấu tổ chức tập đoàn và công công ty 27

2.1.2 Sản phẩm và dịch vụ của công ty: 29

2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty 35 2.2 Thực trạng về tình hình quản lý marketing của công ty đối với nhóm

Trang 2

2.2.1 Lập kế hoạch marketing với sản phẩm 37

2.2.2 Tổ chức các hoạt động marketing 42

2.2.2.1 Chiến lược về sản phẩm 42

2.2.2.2 Chiến lược về giá 48

2.2.2.3 Chiến lược về phân phối 50

2.2.2.4 Chiến lược về quảng bá sản phẩm 52

2.2.3 Tình hình thực hiện kiểm tra marketing 54

2.2.3.1 Kiểm tra hiệu suất quảng bá 54

2.2.3.2 Kiểm tra hiệu suất phân phối 54

2.2.3.2 Kiểm tra hiệu suất tài chính 54

2.3 Đánh giá hoạt động quản lý marketing tại công ty 59

2.3.1 Những kết quả đạt được 59

2.3.2 Những mặt còn hạn chế trong hoạt động quản lý marketing và nguyên nhân 60

CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CÔNG NGHỆ BỂ BƠI THÔNG MINH – INTELPOOL 62

3.1 Phương hướng hoàn thiện 62

3.2 Kiến nghị về hoạt động quản lý marketing 63

3.2.1Đối với tổng công ty 63

3.2.2 Đối với công ty 63

3.2.2.1 Tăng cường công tác nghiên cứu thị trường 63

3.2.2.2 Nâng cao chất lượng sản phẩm và hoàn thiện chính sách giá 65

3.2.2.3 Chính sách khuếch trương và xúc tiến bán hàng 67

KẾT LUẬN 70

Tài liệu tham khảo 71

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU

Nền kinh tế Việt Nam đang ngày càng phát triển, đời sống người dân đangngày càng được nâng cao, nhu cầu về giải trí và chăm sóc sức khỏe ngày càng trở nêngần gũi và thiết thực hơn Sản phẩm bể bơi của công ty cổ phần công nghệ Intelpool

đã và đang đáp ứng được các nhu cầu này Trong quá trình thực tập tại công ty em đãnhận thấy khá nhiều vấn đề về marketing một trong những mảng hết sức quan trọngđối với sản phẩm đặc thù của công ty Theo đó với những ý kiến và suy nghĩ về vấn

đề này em đã hình thành đề án chuyên đề thực tập với đề tài : ” Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh.”

Trong đó chuyên đề được chia làm ba chương:

ChươngI: Cơ sở lý luận về hoạt động quản lý marketing trong doanhnghiệp

ChươngII: Thực trạng về tình hình hoạt động marketing và quản lýmarketing của công ty

Chương III: Một số kiến nghị nhằm đẩy mạnh hoạt động quản lýmarketing tại công ty cổ phần công nghệ bể bơi thông minh – Intelpool

Do còn hạn chế về mặt thời gian và kiến thức, khoá luận này khó tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Vì vậy, em rất mong nhận được sự chỉ bảo, hướng dẫn thêm Sau cùng, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền người đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành chuyên đềthực tập tốt nghiệp này

Trang 5

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ

MARKETING TRONG DOANH NGHIỆP

1.1Tổng quan về marketing

1.1.1 Định nghĩa Marketing

Theo Philip Kotler thì marketing được hiểu: Marketing là một quátrình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có đượcnhững gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổinhững sản phẩm có giá trị với những người khác

1.1.2 Các hoạt động nghiên cứu và dự báo

Để nhận thức được các cơ hội cần phải có những hiểu biết về

môitrường, thị trường và sự cạnh tranh, về điểm mạnh điểm yếu của mình

so với đối thủ cạnh tranh Vì vậy cần phải dự đoán được các yếu tố không chắc chắn và đưa ra các phương án đối phó Đây là bước tiền đề của giai đoạn lập kế hoạch và sẽ được nói kĩ hơn ở phần sau

1.2 Quản lý Marketing tại doanh nghiệp

1.2.1 Khái niệm

Để thực hiện những quá trình trao đổi đòi hỏi phải tốn rất nhiều côngsức và có trình độ nghiệp vụ chuyên môn Quản lý marketing diễn ra khi ítnhất có một bên trong vụ trao đổi tiềm ẩn suy tính về những mục tiêu vàphương tiện để đạt được những phản ứng mong muốn từ phía bên kia

Quản lý marketing là quá trình lập kế hoạch, và thực hiện kế hoạch

đó, định giá, khuyến mãi và phân phối hàng hóa, dịch vụ và ý tưởng để tạo

ra sự trao đổi với các nhóm mục tiêu, thỏa mãn những mục tiêu khách hàng và tổ chức.

Trang 6

Định nghĩa này thừa nhận quản lý marketing là một quá trình bao gồmviệc phân tích, lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát Nó liên quan đến hànghóa, dịch vụ và ý tưởng, và dựa trên ý niệm về trao đổi, mục đích của nó làtạo ra sự thỏa mãn cho các bên hữu quan.

Trong một doanh nghiệp, quản lý marketing có thể liên quan đến mọithị trường Nếu xét một hãng sản xuất ô tô Phó chủ tịch phụ trách nhân sựliên quan đến thị trường sức lao động, phó chủ tịch phụ trách cung ứng liênquan đến thị trường nguyên liệu, và phó chủ tịch phụ trách tài chính liênquan đến thị trương tiền tệ Họ phải đề ra những mục tiêu và hoạch địnhnhững chiến lược để đạt được các kết quả thỏa mãn trên thị trường đó Tuynhiên theo truyền thống thì các cán bộ điều hành nói trên không được gọi lànhững người làm marketing và họ cũng không được đào tạo về marketing.Khá lắm thì họ cũng chỉ là người làm marketing “bán thời gian” Đáng lẽ ra

là như vậy, nhưng xưa nay quản trị marketing đồng nhất với những nhiệm

vụ và con người liên quan đến thị trường khách hàng Ta sẽ theo thông lệnày mặc dù những điều ta bàn về marketing đều áp dụng cho tất cả thịtrường Công việc marketing trên thị trường khách hàng chính thức là donhững người quản lý tiêu thụ, nhân viên bán hàng, những người quản lýsản phẩm và nhãn hiệu, những người quản lý thị trường và ngành, và phóchủ tịch phụ trách marketing thực hiện Mỗi công việc đều có những nhiệm

vụ và trách nhiệm được xác định rõ ràng Trong số những công việc này córất nhiều công việc liên quan đến việc quản lý những tài nguyên marketing

cụ thể, như quảng cáo, nhân viên bán hàng hay nghiên cứu marketing Mặtkhác, những người quản lý sản phẩm, những người quản lý thị trường vàphó chủ tịch phụ trách marketing thì quản lý các chương trình Công việccủa họ là phân tích, hoạch định và triển khai các chương trình nhằm tạo racác giao dịch như mong muốn với các thị trường mục tiêu

Trang 7

Người ta thường quan niệm quản trị marketing có nhiệm vụ chủ yếu làkích thích nhu cầu có khả năng thanh toán về những sản phẩm của công ty.Tuy nhiên, đó mới chỉ là một quan niệm hết sức phiến diện về nhữngnhiệm vụ marketing rất đa dạng và những người quản trị marketing phảithực hiện Quản trị marketing có nhiệm vụ tác động đến mức độ, thời điểm

và cơ cấu của nhu cầu có khả năng thanh toán theo một cách nào đó đểgiúp cho tổ chức đạt được những mục tiêu đề ra Quản trị marketing vềthực chất là quản trị nhu cầu có khả năng thanh toán.Tổ chức chắc chắnphải có một ý tưởng về mức độ giao dịch mong muốn với thị trường mụctiêu Trong khi đó mức độ thực tế của nhu cầu có khả năng thanh toán cóthể thấp hơn, bằng hay cao hơn mức độ mong muốn của nó Nghĩa là có thểkhông có nhu cầu có khả năng thanh toán tương xứng hoặc nhu cầu có khảnăng thanh toán cao hơn nhu cầu thực tế Và quản trị marketing phải nắmbắt được những tình trạng khác nhau đó Để đảm đương những nhiệm vụ

đó các nhà quản trị marketing phải tiến hành nghiên cứu marketing, lập kếhoạch, thực hiện và kiểm tra Trong phần kế hoạch marketing, những ngườilàm marketing phải thông qua những quyết định về thị trường mục tiêu, xácđịnh vị trí trên thị trường, phát triển sản phẩm, định giá, các kênh phânphối, thông tin liên lạc và khuyến mãi

1.2.2 Nội dung của quản lý marketing

Để tiếp cận nội dung của quản lý marketing có thể đi theo hai chiều:

Một là theo các chức năng của quản lý chung đó là: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các hoạt động marketing

Hai là theo các lĩnh vực của quản lý marketing như: Quản lý nghiên cứu và

dự báo, quản lý sản phẩm, quản lý giá, quản lý xúc tiến hỗn hợp, quản lý phân phối

Có thể thể hiện nội dung của quản lý marketing qua bảng sau:

( Trong đó 1 là quản lý theo quá trình, 2 là quản lý theo lĩnh vực)

Trang 8

2

1

Quản lý R&D

Quản lý sản phẩm

Quản lý giá

Quản lý phân phối

Quản lý xúc tiến

1.3 Quá trình quản lý marketing

Xem xét quá trình quản lý marketing theo góc độ của quản lý thì đó là mộtquá trình quản lý gồm bốn bước cơ bản lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo vàkiểm tr

1.3.1 Lập kế hoạch marketing

Trước hết cần xem xét về quá trình marketing và lập kế hoạch marketingQuá trình marketing : nhiệm vụ của bất kì doanh nghiệp nào cũng là cungứng giá trị cho thị trường để kiếm lời Quan điểm truyền thống cho rằngcông ty phải làm ra một thứ gì đó rồi sau đó đem bán nó đi Ví dụ ThomasEdison sáng chế ra một máy hát rồi thuê người bán nó đi theo quan điểmnày thì marketing diễn ra ở nửa sau của quá trình cung ứng chuỗi giá trị.Quan điểm truyền thống giả thiết công ty phải làm ra thứ gì và thị trường sẽmua nó với số lượng đủ lớn để đem lại lợi nhuận cho công ty

Quan điểm truyền thống có khả năng thành công lớn nhất trong nền kinh tếkhan hiếm mọi thứ Nhưng quan điểm này về kinh doanh không phù hợpvới những nền kinh tế có cạnh tranh nhiều hơn, khi người ta có thể tha hồlựa chọn và so sánh phân biệt “ Thị trường đại chúng” bị chia thành nhiều

vi thị trường, mỗi vi thị trường lại có mong muốn, nhận thức ,sở thích vàtiêu chuẩn mua sắm riêng của mình Vì vậy những đối thủ cạnh tranh khôn

Trang 9

ngoan phải thiết kế hàng hóa cho những thị trường mục tiêu được xác địnhmột cách rõ ràng.

Địnhgiá

Bán Quảng

cáo

Phânphối

dịchvụ

a) Tuần tự của quá trình vật chất truyền thống

Lựa chọn giá trị Đảm bảo giá trị thông báo giá trị

Phát triển sản phẩm

Phát triển dịch vụ

Định giá

Mua ngoài Tự làm

Phân phối Phục vụ

Lực lượng bán hàng

Khuyến mãi bán hàng

quảng cáo

b) Tuần tự sáng tạo và cung ứng giá trị

Như vậy để thực hiện trách nhiệm của mình, những nhà quản lý marketingphải thực hiện một quá trình marketing Theo đó quá trình marketing đượchiểu:

Quá trình marketing bao gồm việc phân tích những cơ hội marketing, nghiên cứu và lựa chọn thị trường mục tiêu, thiết kế các chiến lược marketing cùng tổ chức, thực hiện và kiểm tra nỗ lực marketing

- Phân tích các cơ hội thị trường

Phân tích cơ hội

Trang 10

Bất kì công ty nào cung đều phải biết cách phát hiện những khả năng mới

mở ra của thị trường Không một công ty nào có thể mãi mãi trông cậy vàonhững hàng hóa và thị trường ngày hôm nay của mình Không ai có thể nóiđến những chiếc xe ngựa, những chiếc xe roi của anh xà ích, những cáithước logarit, những chiếc đèn khí đốt Những nhà sản xuất các thứ hàng

đó hoặc đã bị phá sản hoặc đã chuyển sang một công việc mới nào đó.Nhiều công ty xác nhận rằng phần lớn khối lượng hàng bán ngày hôm nay

và lợi nhuận ngày hôm nay của họ là hoàn toàn chưa sản xuất hoặc chưabán

Phát triển thị trường mới công ty có thể hoặc là thỉnh thoảng hoặc làthường xuyên tìm kiếm những khả năng mới nhiều công ty tìm kiếm đượcnhững ý tưởng mới chỉ bằng cách chăm chú theo dõi những biến động trênthị trường…

Hàng hóa hiện có Hàng hóa mớiThị trường hiện có

4 Chiếm lĩnh thịtrường

Trang 11

- Đánh giá khả năng marketing

Phát hiện ra khả năng là một chuyện còn xác định xem khả năng nào thíchhợp với công ty lại là một chuyện hoàn toàn khác Do đó có thể hiểu: khảnăng marketing của một công ty là phương pháp hướng dẫn của những nỗlực marketing mà từ đó một công ty cụ thể có thể giành được từ ưu thếcạnh tranh

- Lựa chọn thị trường mục tiêu

Quá trình phát hiện và đánh giá những khả năng của thị trường thường đẻ

ra nhiều mục tiêu mới, và nhiều khi nhiệm vụ thực sự của công ty lại là lựachọn những ý tưởng tốt nhất trong số những ý tưởng tốt, tức là lựa chọnnhững ý tưởng phù hợp với những mục tiêu và tiềm năng của công ty

Ngoài ra cần phải nghiên cứu từng khả năng từng khía cạnh quy mô vàtính chất của thị trường Quá trình này gồm bốn giai đoạn:

- Đo lường và dự báo mức cầu

Phân khúc thị trường : quá trình phân chia người tiêu dùng thành nhóm trên

cơ sở những điểm khác biệt về nhu cầu, về tính cách và/hay hành vi gọi làphaan khúc thị trường

Lựa chọn những thị trường mục tiêu và xác định vị trí của mặt hàng trênthị trường

Trang 12

Khả năng của thị trường có

phù hợp với mục tiêu của

công ty không

Mục tiêu thu lợi nhuận

Mục tiêu-đạt được mức tiêu thụ

Nục tiêu tăng khối lượng hàng bán được

Mục tiêu giành được cảm tình từ khách hàng

Có đủ nguồn vốn không

Công ty có how-know

về sản xuất hay marketingkhông

Công ty có những khả năng cần thiết để phân phối lưu thông không

Có thể nhận được know với chi phí vừa phải không

how-Có thể nhận được chúng với chi phí vừa phải ?

Hăy chuyển sang giai đoạn sau

Hãy loại bỏ khả năng này

Trang 13

1.3.2 Tổ chức marketing, xây dựng các hình thái cơ cấu tổ chức

Cách tổ chức phòng marketing

Phòng marketing hiện đại có nhiều hình thức tổ chức tất cả các cách tổchức marketing đề phỉ dựa theo bốn chiều của hoạt động marketing: cácchức năng địa bà, sản phẩm và thị trường khách hàng

1.3.2.1 Tổ chức theo chức năng

Hình thức phổ biến nhất của cách tổ chức marketing gồm cac chuyên gia vềcác chức năng marketing trực thuộc một phó chủ tịch marketing, ngườiphối hợp các hoạt đông của họ Các chuyên gia phụ khác có thể là mộtngười quản lý dịch vụ phục vụ khách hàng, một người quản lý kế hoạchmarketing và một người quản lý phân phối vật chất

Ưu điểm chủ yếu của chách tổ chức marketing theo chức năng là đơn giản

về mặt hành chính Mặt khác, hình thức này sẽ mất đi tính hiệu quả khi sảnphẩm và thị trường của công ty tưng lên Thứ nhât là việc lập kế hoạch chonhững sản phẩm và thị trường không sát thực tế, bởi vì không có ai hoàntoàn chịu trách nhiệm về bất kì sản phẩm hay thị trường nào Những sảnphẩm không được bât kì ai ưa thích sẽ bị bỏ qua Thứ hai là mỗi nhóm chứcnăng đều tranh giành nhau để có được ngân sách lớn hơn và địa vị cao hơn

so với các chức năng khác Phó chủ tịch marketing luôn phải cân nhắcnhững ý kiến của các chuyên gia chác năng cạnh tranh nhau và đứng trướcmột vấn đề phân phối hết sức khó khăn

Trang 14

1.3.2.2 Tổ chức theo nguyên tắc địa lý

Một công ty bán hàng trên thị trường toàn quốc thường tổ chức lực lượngbán hàng ( và đôi khi cả những chức năng khác) theo nguyên tắc địa lý.Người quản lý tiêu thụ toàn quốc có thể giám sát bốn người quản lý tiêu thụvùng, mỗi người ở cấp này lại giám sát tám người quản lý tiêu thụ quậnhuyện mỗi người quản lý tiêu thụ quận huyện lại giám sát mười nhân viênbán hàng Phạm vi kiểm tra tăng dần khi ta đi từ cấp người quản lý toànquốc xuống cấp người quản lý tiêu thụ quận huyện Phạm vi kiểm tra hẹphơn cho phép người quản lý dành nhiều thời gian hơn cho người bán hàngthuộc quyền và như vậy mới hợp lý vì nhiệm vụ tiêu thụ phức tạp, các nhânviên bán hàng được hưởng thù lao cao và ảnh hưởng của họ đến lợi nhuậnrất lớn

Hiện nay một số công ty dang bổ sung thêm các chuyên gia thị trường địabàn( những người quản lý marketing khu vực hay địa phương) để hỗ trợcho những nỗ lực tiêu thụ khối lượng lớn, những thị trường đặc biệt

1.3.2.3Tổ chức quản lý sản phẩm và nhãn hiệu

Những công ty sản xuất nhiều chủng loại sản phảm và nhãn hiệu thườnghay thành lập một tổ chức quản lý sản phẩm hay nhãn hiệu Tổ chức quản

Phó chủ tịch marketing

Người quản

lý sản phẩm mới

Trang 15

lý sản phẩm không thay thế tổ chức quản lý theo chức năng, nhưng đóngvai trò một cấp quản lý khác nữa Tổ chức quản lý sản phẩm do một ngườiquản lý sản phẩm phụ trách Người này sẽ giám sát những người quản lýsản phẩm và nhãn hiệu cụ thể

Tổ chức quản lý sản phẩm chỉ có ý nghĩa khi các sản phẩm hoàn toàn khácnhau hay số sản phẩm vượt quá khả năng quản lý của một tổ chứcmarketing theo chức năng Vai trò của người quản lý sản phẩm là xây dựng

kế hoạch sản phẩm Giám sát việc thực hiên các kế hoach đó, theo dõi cáckết quả và thi hành những biên pháp chấn chỉnh Trách nhiệm này đượcchia thành sáu nhiệm vụ:

- Hoạch định chiến lược lâu dài và cạnh tranh cho sản phẩm

- Chuẩn bị kế hoạch marketing hằng năm và dự báo mức tiêu thụ

- Làm việc với các công ty quảng cáo và bán hàng để soạn thảo bàiviết, chương trình và chiến dịch quảng cáo

- Kích thích lực lượng bán hàng và những người phân phối hỗ trợ sảnphẩm

- Thường xuyên thu thập thông tin tình báo về kết quả của sản phẩm,thái độ của khách hàng và đại lý, cùng những vấn đề mới cũng nhưcác cơ hội

- Chủ động cải tiến sản phẩm để đáp ứng những nhu cầu luôn thay đổicủa thị trường

Những chức năng cơ bản này là chung cho cả những người quản lý sảnphẩm tiêu dùng lẫn những người quản lý sản phẩm tư liệu sản xuất Tuyvậy cũng vẫn có sự khác biệt bề công việc và những vấn đề trọng tâmcủa họ Những người quản lý sản phẩm tiêu dùng thường quản lý ít sảnphẩm hơn so với những người quản lý sản phẩm tư liệu sản xuất họ

Trang 16

dành nhiều thời gian hơn cho quảng cáo và kích thích tiêu thụ Họ dànhnhiều thời gian hơn để làm việc với những người khác trong công ty vànhững hãng quảng cáo khác nhau và ít thời gian cho khách hàng họthường ít tuổi hơn và có trình độ học vấn cao hơn Ngược lại nhữngngười quản lý sản phẩm và tư liệu sản xuất nghĩ nhiều hơn về các khíacạnh kĩ thuật của sản phẩm của mình và những cách cải tiến thiết kế họdành nhiều thời gian hơn cho phòng thí nghiệm và các nhân viên kĩthuật họ hợp tác chặt chẽ hơn với lực lượng bán hàng và những ngườimua chủ chốt họ ít chú ý hơn đến quảng cáo, kích thích tiêu thụ và địnhgiá khuyến mại họ coi nặng những yếu tố lý trí hơn những yếu tố tìnhcảm.

Tổ chức quản lý sản phẩm có một số ưu điểm thứ nhất là người quản lýsản phẩm có thể tập trung vào việc xây dựng một marketing- mix cóhiệu quả chi phí cho sản phẩm đó Thứ hai là người quản lý sản phẩm

có thể phản ứng mau lẹ hơn đối với những vấn đề trên thị trường so vớimột ban chuyên gia chức năng Thứ ba là những nhãn hiệu nhỏ hơn ít bịxem nhẹ hơn, bởi vì chúng có một người bảo vệ sản phẩm thứ tư là việcquản lý sản phẩm là một cơ sở huấn luyện tuyệt vời cho những cán bộđiều hành trẻ, vì nó buộc họ phải tham dự vào hầu như tất cả các lĩnhvực hoạt động của công ty

1.3.2.4 Tổ chức quản lý thị trường:

Nhiều công ty bán sản phẩm của mình trên các thị trường khác nhau

Ví dụ: Canon bán máy fax của mình trên thị trường người tiêu dùng, cácdoanh nghiệp và cơ quan nhà nước Khi những người tiêu dùng thuộc vềnhững nhóm người sử dụng khác nhau với những sở thích và thông lệ

Trang 17

mua sắm khác nhau, thì nên có tổ chức quản lý thị trường Người quản

lý các thị trường giám sát người quản lý một thị trường ( cũng còn gọi làngười quản lý phát triển thị trường, chuyên gia thị trường hay chuyêngia ngành nghề) Những người quản lý thị trường tổ chức các dịch vụchức năng khi cần thiết Dưới quyền những người quản lý thị trườngquan trọng còn có thể có những chuyên gia chức năng

Những người quản lý thị trường là những cán bộ tham mưu, chứ khôngphải nhân viên thường và có nhiệm vụ tương tự như nhiệm vụ củanhững người quản lý sản phẩm Những người quản lý thị trường xâydựng các kế hoạch dài hạn và hằng năm cho thị trường của mình Họphải phân tích xem thị trường của mình đang hướng đến đâu và công tycần chào bán trên thị trường đó nhứng sản phẩm mới nào Thành tíchcủa họ thường được đánh giá theo mức đóng góp vào việc làm tăng thịphần chứ không phải vào khả năng sinh lời hiện tại trên thị trường Hệ thống này cũng mang nhiều ưu điểm và nhược điểm giống như các

hệ thống quản lý sản phẩm Ưu điểm lớn nhất của nó là hoạt độngmarketing được tổ chức để đáp ứng những nhu cầu của các nhóm kháchhàng khác nhau, chứ không tập trung vào bản thân các chức năngmarketing, các khu vực hay sản phẩm

Trang 18

Sản xuất

và phân phối

Nghiên cứu và phát triển

Pháp lý

Tài chính

Nghiên cứu thị

lượng bán hàng

Tuyên truyền

Mua sắm Bao bì

Dịch vụ khuyến mãi

Phương tiện

Công ty quảng cáo

Người quản lý sản phẩm

Người cung

ứng

Người thiết kế

Phương tiện của công ty Đại diện bán phương

Người cung cấp thường

Rà soát phần thưởng Thử nghiệm cửa hàng

Trang 19

Nhiều công ty đang cải tổ theo hệ thống thị trường Hanan gọinhững công ty đó là những tổ chức lấy thị trường làm trung tâm vàkhẳng định rằng” con đường duy nhất để đảm bảo chắc chắn địnhhướng theo thị trường là xây dựng một cơ cấu tổ chức của công ty saocho những thị trường chủ yếu của nó trở thành những trung tâm còn các

bộ phận của công ty thì được thiết lập xung quanh những trung tâm đó”

1.3.2.5 Tổ chức quản lý sản phẩm /quản lý thị trường

Những công ty sản xuất nhiều sản phẩm để bán ra trên nhiều thị trường

có hai cách lựa chọn họ có thể sử dụng hệ thống quản lý sản phẩm, một

hệ thống đòi hỏi phải có những người quản lý sản phẩm quen thuộc vớinhững thị trường rất khác nhau Họ cũng có thể sử dụng hệ thống quản

lý thị trường, một hệ thống đòi hỏi những người quản lý thị trường phải

am tường những sản phẩm rất khác nhau mà các thị trường đó tiêu thụ.Hay họ cũng có thể bố trí những người quản lý sản phẩm và nhữngngười quản lý thị trường cùng làm việc, tức là tổ chức ma trân

Tổ chức ma trận có vẻ thích hợp đối với những công ty nhiều sản phẩm,nhiều thị trường Khó khăn là ở chỗ hệ thống này tốn kém và chứa đựngmâu thuẫn phải chi phí để hỗ trợ cho cả ba người quản lý Cũng cònvấn đề là cần xác định quyền hạn và trách nhiệm như thế nào Sau đây

là hai hay nhiều phương án lựa chọn:

- Cần tổ chức lực lượng bán hàng như thế nào? Có nên tổ chức lựclượng bán hàng không chuyên môn hóa không?

- Ai là người sẽ định giá cho một sản phẩm / thị trường cụ thể?

Hầu hết những người quản lý đều cảm thấy rằng chỉ có những sản phẩm

và thị trường tương đối quan trọng mới cần có những người quản lýriêng Có một số người không lo lắng về những mâu thuẫn và những chi

Trang 20

phí, họ tin chắc rằng những lợi ích mà việc chuyên môn hóa theo sảnphẩm và thị trường sẽ đem lại nhiều hơn chi phí.

1.3.2.6 Tổ chức công ty / chi nhánh

Khi những công ty nhiêu sản phẩm /nhiều thị trường phát triển về quy

mô, họ thường hay chuyển những sản phẩm / thị trường thành những chinhánh riêng biệt Các chi nhánh này sẽ thành lập các phòng riêng củamình và những dịch vụ riêng Việc này đặt ra vấn đề nên giữ lại ở đạibản doanh của công ty những dịch vụ marketing nào?

Những công ty thành lập chi nhánh đã giải quyết vấn đề này theo nhữngcách khác nhau Đội ngũ marketing của công ty được tổ chức theo mộttrong ba mô hình sau:

- Không có marketing của công ty : có một số công ty không có đội

ngũ marketing của công ty Họ không thấy ở marketing chức nănghữu ích nào cần tiến hành ở cấp công ty Mỗi chi nhánh đều cóphòng marketing của mình

- Marketing ở cấp vừa phải ở cấp công ty : có một số công ty có một

đội ngũ marketing nhỏ ở cấp công ty để thực hiện một vài chứcnăng, chủ yếu(a) giúp ban lanh đạo tối cao đánh giá cơ hội một cáchtoàn diện(b)giúp đỡ ý kiến tư vấn cho các chi nhánh khi có yêu cầu,(c) giúp đơc những chi nhánh có ít hay không có hoạt độngmarketing và(d)cổ động quan điểm marketing ở các phòng kháctrong công ty

- Marketing mạnh mẽ ở cấp công ty : có một số công ty có đội ngũ

marketing ngoài công việc tiến hành những hoạt động đã nêu còncung ứng những dịch vụ marketing khác nhau cho các chi nhánh

Trang 21

Đội ngũ marketing có thể đảm bảo những dịch vụ quản cáo , dịch vụtiêu thụ, dịch vụ nghiên cứu marketing dịch vụ hành chính bán hàng

và các dịch vụ khác

Liệu khi các công ty lựa chọn một trong những mô hình này thì cóphát sinh vấn đề gì không? Câu trả lời là không Khả năng đóng gópcua đội ngũ marketing của công ty thay đổi theo các giai đoạn pháttriển của công ty Hầu hết các công ty đều bắt đầutừ việc tiến hànhmarketing yếu ớt ở các chi nhánh của mình và thường xây dựng mộtđội ngũ marketing cảu công ty để đẩy mạnh marketing của marketing

ở các chi nhánh Khi các chi nhánh đã có lực lượng marketing mạnh,thì sự hỗ trợ của lực lượng marketing của công ty đã hoàn tất nhiệm vụ

cả mình và quyết đình giải thể phòng này

Đội ngũ marketing của công ty có ba lý do để tồn tại, thứ nhất là mộttrung tâm của công ty có nhiệm vụ xem xét và chỉ đạo toàn bộ hoạtđộng marketing và các cơ hội của công ty Thứ hai nó đảm bảo nhữngdịch vụ marketinh nhất định mà khi tiến hành tập trung sẽ kinh tế hơn

là để các chi nhánh tiến hành trùng lặp nhau Thứ ba là nó chị tráchnhiệm đào tạo nhưng người quản lý chi nhánh, những người quản lýtiêu thụ và các cán bộ khác của công ty theo nhu cầu và thực hiện quanđiểm marketing,

1.3.3 Kiểm tra các hoạt động marketing

Công việc của phòng marketing là lập kế hoạch và kiểm tra hoạtđộng marketing Bởi vì có rất nhiều điều xảy ra trong quá trình thựchiên các kế hoạch marketing, nên phòng marketing phải liên tục theodõi và kiểm tra các hoạt động marketing

Có thể phân ra thành bốn kiều kiểm tra marketing

Trang 22

Ban lãnh đạocấp trung gian

Kiểm tra xem cóđạt được những kếtquả dự kiến không

Phân tích mức tiêuthụ Phân tích thịphần Tỷ sốbán trên chi phí .Phân tích tài chính.Theo dõi mức độhài lòng

hiệu suất

Ban lãnh đạo

cơ sở và độingũ quản lýmarketing

Đánh giá và nângcao hiệu suất chiphí và tác dụng củamarketing

Hiệu suất của: lựclượng bán hàng,quảng cáo, kíchthích tiêu thụ, phânphối

IV.Kiểm tra

chiến lược

Ban lãnh đạotối cao, ngườikiểm tramarketing

Kiểm tra xem công

ty có bắt kịp những

cơ hội tốt nhất củamình về thị trường

Công cụ đánh giáhiệu quả marketing.Kiểm tra sổ sách vàxem xét thành tíchmarketing

1.3.3.1 Kiểm tra kế hoạch năm

Trang 23

Mục đích của kiểm tra kế hoạch năm là nhằm đảm bảo chắc chắn răngcông ty sẽ đạt được những chỉ tiêu về mức tiêu thụ, lợi nhuận và những chỉtiêu khác đã đề ra trong kế hoạch của mình Côt lõi của việc kiểm tra kếhoạch năm là việc quản lý theo mục tiêu Tất cả có bốn bước:

Thứ nhất là quản lý những chi tiêu hang tháng hay hàng quý Thứ hai

là việc quản lý việc theo dõi kết quả thực hiện các chỉ tiêu đó trên thịtrường Thứ ba là quản lý việc xác định nguyên nhân không đạt được chỉtiêu Thứ tư là việc quản lý việc thi hành những biện pháp chấn chỉnh đểthu hẹp khoảng cách giữa các chỉ tiêu và kết quả thực hiện Điều này có thểđòi hỏi phải thay đổi chương trình hành động hay thậm chí thay đổi các chỉtiêu

Mô hình kiểm tra này được áp dụng cho tất cả các cấp tổ chức Banlãnh đạo tối cao đề ra các chỉ tiêu mức tiêu thụvà lợi nhuận cho một năm.Những chỉ tiêu này được cụ thể hóa thành những chỉ tiêu riêng cho từngcấp quản lý bên dưới chẳng hạn như mỗi người quản lý sản phẩm đượcgiao nhiệm vụ phải đạt được mức tiêu thụ và chi phí nhất định Mỗi ngườiquản lý tiêu thụ vùng và quận huyện và mỗi đại diện bán hàng cũng đượcgiao những chỉ tiêu cụ thể Sau mỗi thời kì nhất định, ban lãnh đạo tối cao

sẽ rà soát lại kết quả, tìm hiểu nguyên do và xác minh xem có cần phải thựchiện những biện pháp chấn chỉnh không

Những người quản lý sử dụng năm công cụ để kiểm tra kết quả thựchiện kế hoạch: phân tích mức tiêu thụ, phân tích thị phần, phân tích chi phímarketing trên doanh số bán và theo dõi mức độ hài lòng của khách hàng

Trang 24

Xác định chỉ tiêu Lượng định Chuẩn đoán kết Biện pháp

kết quả quả thực hiện chấn chỉnh

Quá trình kiểm tra Kiểm tra khả năng sinh lời

Rõ ràng công ty cần định lượng khả năng sinh lời của các sản phẩmkhác nhau của mình trên các địa bàn, các nhóm khách hàng, các kênhthương mại và quy mô đơn hàng Thông tin này sẽ giúp ban lãnh đạo xácđịnh những sản phẩm hay hoạt động marketing nào cần mở rộng, thu hẹphay loại bỏ

Kiểm tra hiệu suất

Giả sử việc phân tích khả năng sinh lời cho thấy rằng các công ty kiếmđược rất ít lợi nhuận từ những sản phẩm, địa bàn hay thị trường nhất định.Vấn đề đặt ra là liệu có những cách quản lý hiệu quả hơn lực lượng bánhàng, quảng cáo, kích thích tiêu thụ và phân phối liên quan đến những thựcthể marketing yếu đó không Nội dung của kiểm tra hiệu suất có bốn loại:

- Hiệu suất của lực lượng bán hàng

- Hiệu suất quảng cáo

- Hiệu suất kích thích tiêu thụ

- Hiệu suất phân phối

Trang 25

1.3.3.2 Kiểm tra chiến lược

Sau mỗi thời gian các công ty cần xem xét lại một cách kĩ lưỡngnhững chỉ tiêu chung và hiệu quả marketing Marketing là một lĩnh vực màluôn luôn có thể xảy ra tình trạng các mục tiêu chính đáng, chiến lược vàchương trình lỗi thời nhanh chóng Mỗi công ty cần định kì đánh giá lạiquan điểm chiến lược của mình với thị trường Có hai công cụ kiểm trachiến lược đó là đánh giá hiệu quả marketing và kiểm soát marketing

1.3.4 Lãnh đạo hoạt động marketing

1.3.4.1 Đinh nghĩa

Có thể hiểu lãnh đạo trong quản lý marketing là việc định ra chủ trương đường lối mục đích, tính chất, nguyên tắc hoạt động của hệ thống marketing trong điều kiện môi trường nhất định

Nếu xét theo chiều ngang của ma trận các chức năng quản lý thìmarketing là một hoạt động thành viên do đó nó có đặc điểm chung củalãnh đạo Đó là một hệ thống gồm năm yếu tố: người lãnh đạo, người bịlãnh đạo, mục đích của hệ thống marketing – mix, các nguồn lực và môitrường marketing

Chiến lược và việc thực hiện có liên quan chặt chẽ với nhau theonghĩa là mỗi phần của chiến lược đỏi hỏi phải có những nhiệm vụ chiếnthuật nhất định ở cấp thấp hơn Ví dụ, quyết định chiến lược của ban lãnhđạo tối cao là “thu hoạch” một sản phẩm phải được triển khai thành nhữnghành động và nhiệm vụ cụ thể

1.3.4.2 Các kĩ năng lãnh đạo cần thiết

Bonoma đã xác định bốn kĩ năng cần thiết để đảm bảo lãnh đạo cóhiệu quả các chương trình marketing :

- Kỹ năng nhận thức và chuẩn đoán vấn đề

- Kỹ năng đánh giá mức độ tồn tại vần đề của công ty

Trang 26

- Kỹ năng thực hiện các kế hoạch

- Kỹ năng đánh giá kết quả thực hiện

Kỹ năng chuẩn đoán

Mối quan hệ chặt chẽ giữa chiến lược và việc lãnh đạo thực hiện cóthể đẻ ra vấn đề chuẩn đoán rất khó khăn khi các chương trìnhmarketing không đạt được những dự kiến mong muốn của chúng Mứctiêu thụ thấp là kết quả của chiến lược tồi hay thực hiện kém cỏi? Hơnnữa nội dung là phải xác định xem đó là vấn đề gì( chuẩn đoán) hay cầnphải làm gì với nó( hành động)?Mỗi vấn đề đòi hỏi những công cụ quản

lý và cách giải quyết riêng

Cấp độ của công ty

Những vấn đề thực hiện marketing có thể xuất hiện ở ba cấp độ Cấp

độ thứ nhất là thực hiện thành công chức năng marketing Ví dụ, lắmcông ty có thể có được một quảng cáo sáng tạo hơn từ những công tyquảng cáo của mình? Cấp độ thứ hai là thực hiện một chương trìnhmarketing nhằm hòa nhập các chức năng marketing thành một khốithống nhất Vấn đề này phát sinh khi tung một sản phẩm mới ra thịtrường Cấp độ thứ ba là thực hiện một chính sách marketing Ví dụ nhưcông ty muốn mọi công nhân đều phải coi khách hàng là số một

Kỹ năng thực hiện marketing

Ở mỗi cấp độ của công ty, chức năng chương trình chính sách, cầnphải vận dụng một số kỹ năng để đảm bảo thực hiên một cách có hiệuquả Bốn kỹ năng đó là phân bổ theo dõi, tổ chức và tác động qua lại

Trang 27

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG MARKETING VÀ QUẢN LÝ MARKETING CỦA

CÔNG TY 2.1 Giới thiệu chung về công ty

Với mong muốn: “Làm sao để tất cả mọi người đều biết bơi, đượchọc bơi, môn bơi lội sẽ được đưa vào giảng dạy bắt buộc trong các nhàtrường, để tất cả các em thanh thiếu niên nhi đồng trong cả nước sẽ đượchọc bơi, biết bơi, được rèn luyện thể lực trong môi trường nước, để thế hệtương lai của đất nước sẽ là những con người khỏi mạnh, tự tin vượt quamọi trở ngại về sông nước, vững vàng xây dựng đất nước ta ngày càng giàumạnh hơn” Ông Chủ tịch tập đoàn Nguyễn Đức Thanh và các cộng sự lànhững người đầu tiên đặt nền móng cho thương hiệu bể bơi thông minh rađời và phát triển ở Việt Nam Sản phẩm bể bơi thông minh đầu tiên tại ViệtNam là sản phẩm Bể bơi dành tặng cho trẻ em tại làng trẻ mồ côi Birla - TP

Hà Nội khánh thành năm 1998 như một món quà bù đắp những thiếu thốntình cảm mà các em đang phải gánh chịu

Đây là sản phẩm bể bơi đầu tiên do công ty thực hiện mở đầu cho sự pháttriển của công ty cổ phần công nghệ bể bơi thông minh một thành viên củatập đoàn Phúc Thanh Cho đến ngày 27 tháng 5 năm 2004 công ty Intelpool

đã chính thức được thành lập với đầy đủ các thủ tục pháp lý và tư cáchpháp nhân cần thiết để bước vào thị trường vững chắc Với nhiều các côngtrình đã được xây dựng, Công ty Bể bơi thông minh dưới sự điều hành trựctiếp của Giám Đốc Phạm Thanh Lâm và sự chỉ đạo đặc biệt từ ngài TổngGiám Đốc Nguyễn Đức Thanh đã trở thành thương hiệu đáng tin cậy vớimọi người dân Việt Nam với khẩu hiệu: "Thi công 7 ngày bảo hành 10năm"

Bể bơi thông minh là thành viên của tập đoàn Inteli Pool quốc tế, tậpđoàn hàng đầu trên thế giới chuyên sản xuất và bảo trì các sản phẩm bể bơi,gồm:

Trang 28

Inteli Group - Anh Quốc

Autumn Solar - Úc

Esther Co.,Ltd - Thái Lan

JD pools - Thái Lan

Để đáp ứng những nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng, Công ty Bểbơi thông minh liên tục mở những văn phòng đại diện trải dài khắp cảnước: Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Nẵng, Tp Hồ Chí Minh

Đặc điểm tổ chức quản lý của công ty và tập đoàn mẹ Phúc Thanh

- Công ty cổ phần công nghệ Bể Bơi Thông Minh_Intelpool là một thành viên của tập đoàn đa ngành Phúc Thanh

Trang 29

2.1.1 Cơ cấu tổ chức tập đoàn và công công ty

Cơ cấu tổ chức công ty cổ phần Bể Bơi Thông Minh

ĐẠI HỘI CỔ ĐÔNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ BAN KIỂM SOÁT

CÁC GIÁM ĐỐC CÔNG TY THÀNH VIÊN

Trang 30

Chức năng:

Giám đốc: điều hành toàn bộ các hoạt động của công ty lien kết toàn bộ

các phòng ban, chụi trách nhiệm kí kết các hợp đồng kinh tế

Phó giám đốc kĩ thuật: phụ trách mảng kĩ thuật của công ti cả về thiết kế

và thi công nhất là trong lĩnh vực sử lý hóa chất nước bể bơi

Phó giám đốc hành chính : phụ trách toàn bộ nhưng mặt chung của công

ty về quan hệ khách hàng, giao dịch, kế hoạch, marketing, xuất nhậpnguyên vật liêu và thiết bị cho công ty

Phòng kĩ thuật thiết kế : chuyên thiết kế các công trình bể bơi các loại

theo yêu câu đặc thù của khách hàng và chịu trách nhiêm thường xuyên cậpnhật các loại nguyên liệu thiết bị mới nhất cho công ty, chuyên xử lý hóachất nước cho bể bơi

PHÒNG

KĨ THUẬT- THIẾT KẾ

PHÒNGTHI CÔNG

PHÒNG

KẾ TOÁN- TÀI CHÍNH

PHÒNG DỊCH VỤ- TƯ VẤNMARKETING

Trang 31

Phòng thi công : bao gồm các đội trưởng và cán bộ thi công bể bơi, thực

hiện đúng theo các quy trình kĩ thuật

Phòng dịch vụ tư vấn marketing : chuyên tư vấn tìm kiếm khách hàng,

chụi trách nhiệm cung cấp các thông tin về bảo hành bảo trì sản phẩm bểbơi

- Mối quan hệ giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý doanh nghiệp

Công ty cổ phần bể bơi thông minh là một doanh nghiệp nhỏ với số lượngnhân viên không nhiều được tổ chức theo cơ cấu kết hợp chức năng và trựctuyến, giám đốc vừa phân quyền cho các phó giám đốc lại vừa có thể trựctiếp giao nhiêm vụ cho các thành viên và kết hợp các thành viên của công

ty, do đó tận dụng tối đa năng lực của các thành viên trong tổ chức, cácthành viên làm việc theo sự chỉ đao của cấp trên trong nhưng lĩnh vực trungnhưng phụ trách từng dự án riêng lẻ

Các tổ thi công yêu cầu cấp vật tư đến tổ kĩ thuật được theo dự trùthông qua kế toán tài chính xuât kho cho các tổ đội thi công, toàn bộ giấy

tờ từ các phòng ban trong công ty chuyển tới phòng kế toán công ty để vàohạch toán và phòng kế toán có trách nhiệm kiểm tra toàn bộ tính hợp pháphợp lý của chứng từ Viết phiếu xuất bán ngoài, phiếu nhập gửi xuốngphòng vật tư để vào thẻ kho vật tư Các phòng ban trong công ty có nhữngcông việc cần giải quyết trực tiếp gặp Giám đốc công ty xin lệnh điều độngcông việc Giám đốc công ty trực tiếp hàng ngày giao nhiệm vụ tới từng bộphận phòng ban, tổ đội và ngược lại các phòng ban, tổ đội có công việc cầnthiết lên trình giám đốc duyệt và tìm phương hướng chỉ kinh doanh và thicông

Trang 32

2.1.2 Sản phẩm và dịch vụ của công ty:

LPR LUCKY POOL được thiết kế với những kiểu dáng sáng tạo, đấy không chỉ là một bể bơi mà còn là một công trình nghệ thuật, một điểm sáng, tạo cảnh quan cho một khu vực Chúng được thiết kế cho nhiều mục đích sử dụng kế hợp hồ bơi- nhà hàng, quầy nước, hồ bơi – hồ tắm nước ngọt, tập luyện thể dục thể thao, hồ bơi- hồ phun nước nghệ

thuật…

Chúng có thể được đặt ở bất kỳ vị trí nào: trong nhà, ngoài trời, sân thượng, hay dưới hầm, trên vách núi hay sát bờ sông biển, … mà vẫn đảm bảo độ an toàn (không thấm nước, không nứt vỡ, không làm ảnh hưởng đến các kết cấu công trình xung quanh…)

LPR LUCKY POOL cũng được tích hợp rất nhiều tính năng sử dụng ưuviệt trong một bộ sản phẩm tương tự như dòng LPR LUCKY POOL, căn cứ theo loại hình thiết kế bể bơi, LPR LUCKY POOL được chia thành các sản phẩm với các model có số hiệu cụ thể như sau:

 LPR NA - Là những sản phẩm lucky pool được thiết kế theo trườngphái Natural pool, hồ có kết cấu đặc biệt với đáy cát và bãi cát nhân tạo, Hồ

Trang 33

bơi đáy cát tạo một cảm giác hoàn toàn khác và có sức thu hút với kháchtham quan, đặc biệt là trẻ em Với hồ đáy cát, cả trẻ em và người lớn có thểchơi những trò chơi như trên bãi biển thực sự với một không gian an toàntuyệt đối Hồ đáy cát còn có thể được thiết kế tích hợp với thiết bị tạo sóng

để tạo ra một bãi biển mini thực sự LPR LUCKY POOL sau khi đượchoàn thành sẽ tạo ra một khung cảnh tự nhiên với sông, suối, hồ nước cócây côí, đảo … người sử dụng có thể hòa mình vào với thiên nhiên, nhưngvới một chất lượng vệ sinh cao

 LPR SA - Là những sản phẩm lucky pool được thiết kế theo trườngphái SALT pool, hồ có kết cấu đặc biệt, thiết bị đặc biệt để đưa biển vàonhưng vùng ở xa biển, hoăc với những mục đích sử dụng đặc biệt (bể chongười tàn tật, trẻ em… với độ măn cực cao , người bơi sẽ khó bị chìm) cóthể có đáy hoặc bờ cát nhân tạo, có thể tích hợp thêm máy tạo sóng mini đểhoàn thiện không gian

 LPR PU - là những sản phẩm lucky pool được thiết kế theo trườngphái cổ điển, với những kích cỡ lớn (lớn hơn dòng sản phẩm LPF pool)được lắp đặt những hệ thống có công suất lớn thích hợp cho mục đích côngcộng Dòng sản phẩm này sẽ được thiết kế theo nhiều kiểu dáng đảm bảotính mỹ thuật, hài hòa với cảnh quan chung

LPO LUCKY POOL Là hệ thống các Bộ Lucky pool hoàn chỉnh đồng

bộ thường được lắp đặt tại các khu THỂ DỤC THỂ THAO, trường học, khu công cộng

LPO LUCKY POOL được kế thừa kinh nghiệm và sự hợp tác của các chuyên gia nước ngoài trong việc cung cấp thiết bị, thiết kế và thi công xâydựng lắp đặt (các đơn vị hợp tác với LUCKYSTARS group)=> đảm bảo các sản phẩm ra đời luôn mang tiêu chuẩn quốc tế cao nhất

Trang 34

LPO LUCKY POOL được thiết kế cho mục đích, tập luyện thể dục thể thao, thi đấu…

LPO LUCKY POOL được chia thành các sản phẩm với các model có số hiệu cụ thể như sau:

 LPO SM - Là những sản phẩm hồ bơi TẬP LUYỆN & THI ĐẤU códiện tích sàn trung bình là ± 120m2 với nhiều kiểu dáng hiện đại

 LPO ME - Là những sản phẩm hồ bơi TẬP LUYỆN & THI ĐẤU códiện tích sàn trung bình là ± 300m2 với nhiều kiểu dáng hiện đại

 LPO XL - Là những sản phẩm hồ bơi TẬP LUYỆN & THI ĐẤUtheo đúng tiêu chuẩn quốc tế có diện tích sàn trung bình là ± 1250m2 vớinhiều kiểu dáng

Bê bơi gia đình

LPF LUCKY POOL đã được tích hợp rất nhiều tính năng sử dụng ưu việt trong một bộ sản phẩm :

 Hệ thống tạo sóng: tạo ra một hồ bơi không có giới hạn, bơi mãikhông ngừng

 Hệ thống mini spa : gia tăng tiện ích sử dụng cho một hồ bơi

 Hệ thống đài phun nước: giúp điều hoà tiểu vi khí hậu lọc bụi, tạocảnh quan giảm stress

Trang 35

 Hệ thống đèn thông minh: thay đổi nhiều màu sắc

 Hệ thống lọc tuần hoàn, khử trùng tự động – giúp hồ bơi không phảithay nước, tiết kiệm chi phí sử dụng…

 Hệ thống vệ sinh tự động : công việc chùi hồ thương xuyên sẽ đượcthay thế bằng robo chùi hồ, làm vệ sinh hồ một cách tự động

LPF Lucky pool được chia thành các sản phẩm với các model có sốhiệu cụ thể như sau:

 LPF SM - Là những sản phẩm hồ bơi gia đình có diện tích sàn trungbình là ± 10 (m2 ± 20%) với nhiều kiểu dáng hiện đại

 LPF ME - Là những sản phẩm hồ bơi gia đình có diện tích sàn trungbình là ± 18 m2 (± 20% ) với nhiều kiểu dáng hiện đại

 LPF XL - Là những sản phẩm hồ bơi gia đình có diện tích sàn trungbình là ± 32 m2 (± 20%)với nhiều kiểu dáng hiện đại

 LPF XX - Là những sản phẩm hồ bơi gia đình có diện tích sàn trungbình là ± 72 m2 (± 20%)với nhiều kiểu dáng hiện đại

Sản phẩm Sauna/Spa

- Buồng SAUNA dành cho 1 người BS6109

- Sauna dành cho 02 người

có sự lựa chọn giữa gỗ Độc cần hoặc Tuyết tựng đỏ nhập khẩu từ Canada Kính chịu nhiệt Hệ thống nhiệt bằng thanh carbon Có CD/Radio Nguồn điện: 230v/50Hz Điện năng: 1650W Số lượng thanh núng: 7 Nhiệt độ: 66oC Kích thước: 1300x1150x1900mm Lắp đặt trong nhà

- Sauna dành cho 1 người Số lượng thanh nóng: 5 Nhiệt độ: 66

oC

Kích thước: 900x900x1940mm Lắp đặt trong nhà Có sự lựa chọngiữa gỗ Độc cần và Tuyết tùng đỏ nhập từ Canada Kính chịu nhiệt Hệthống nhiệt bằng thanh Carbon Có CD & Radio Nguồn điện: 230v/50Hz

Trang 36

Điện năng: 850W

- Sauna dành cho 02 người

Được trang bị bảng điều khiển cả bên trong lẫn bên ngoài Có sự lựa chọn giữa gỗ Độc cần hoặc Tuyết tùng đỏ nhập khẩu từ Canada Toàn bộ cửa làm bằng kính chịu nhiệt Hệ thống nhiệt bằng thanh carbon Có CD/Radio Nguồn điện: 230v/50Hz Điện năng: 1600W Số lượng thanh nóng: 7 Nhiệt độ: 66oC Kích thước: 1200x1050x1940mm Lắp đặt trong nhà

- Sauna dành cho 2~3 người Được trang bị bảng điều khiển cảbên trong lẫn bên ngoài Có sự lựa chọn giữa gỗ Độc cần hoặc Tuyết tùng

đỏ nhập khẩu từ Canada Kính chịu nhiệt Hệ thống nhiệt bằng thanhcarbon Có CD/Radio Nguồn điện: 230v/50Hz Điện năng: 1575W Sốlượng thanh nóng: 7 Nhiệt độ: 66oC Kích thước: 1350x1350x1940mm.Lắp đặt trong nhà

- Sauna dành cho 2 người

Gỗ Độc cần nhập khẩu từ Canada Kính chịu nhiệt Hệ thống nhiệt bằng thanh sứ Có CD/Radio Mái che được thiết kế chau chuốt, chống nước

Được phủ một lớp sơn thân thiện với môi trường, chịu nắng, chịu ẩm bên ngoài lớp gỗ

Giữa các thanh panel được trét bằng vật liệu cách ly Nguồn điện:

230v/50Hz Điện năng: 2000W Số lượng thanh nóng: 5

Nhiệt độ: 66oC Kích thước: 1200x1050x2350mm Lắp đặt ngoài vườn

- Sauna dành cho 2 người

Gỗ Độc cần nhập khẩu từ Canada Kính chịu nhiệt Hệ thống nhiệt bằng

thanh sứ Có CD/Radio Mái che được thiết kế chau chuốt, chống nước

Được phủ một lớp sơn thân thiện với môi trường, chịu nắng, chịu ẩm bên ngoài lớp gỗ Giữa các thanh panel được trét bằng vật liệu cách ly Nguồn

Trang 37

điện: 230v/50Hz Điện năng: 2600W Số lượng thanh nóng: 8 Nhiệt độ: 66oC Kích thước: 2130x2130x2500mm Lắp đặt ngoài vườn

- Kích thước: 1900x1570x845

Dung tích: 825l

Thiết bị: 220-240v~26A.Vòi massage: 14.Vòi xả khí: 26.Bộ lọc cartridge: 0.6m2.Động cơ: Động cơ massage: 2x2HP/220v

Động cơ lọc: 1x0.5HP/220 Sục khí: 1x700w/200v Đèn màu LED:

04x10w Máy nước nóng: 3Kw Bộ khử trùng ozone: 200mg/g

Bộ điều khiển có kết nối với thiết bị Radio/CD Hệ thống chống đóng băng Hạt xốp cách nhiệt

- Kích thước: Đường kính1800x845

Dung tích: 1150l Vòi massage: 7.Vòi xả khí: 24/ Bộ lọc cartridge: 0.6m2 Động cơ: Động cơ massage: 1x2HP/220v Động cơ lọc: 1x0.5HP/220v Sục khí: 1x750w/200v Đèn màu LED: 06x10w Máy nước nóng: 3Kw Bộkhử trùng ozone: 200mg/g Bộ điều khiển có kết nối với thiết bị Radio/CD

Hệ thống chống đóng băng Hạt xốp cách nhiệt

Trang 38

2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty

Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 6 tháng đầu năm

2007

Tổng giá trị tài sản

Doanh thu thuần

Lợi nhuận từ hoạt

26.405.5861.604.707.6301.604.707.63046,74%

15%

43.086.076.18186.743.564.0053.033.583.266

164.643.6113.198.226.8773.198.226.87740,02%

16%

55.380.919.02543.624.740.3323.672.836.192

2.754.0003.675.590.1923.161.007.565 37,96%

8%

Ngày đăng: 28/01/2013, 10:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11) Advertising media, Hairong Li, Michigan State University, http://www.mediaplan.com/Open.html Link
12) Advertise Successfully AND Ethically on the Internet (Communicate, Don’t Inundate!), Jayne Cravens, Coyote Communications, http://www.coyotecommunications.com Link
1) ĐH KTQD,Giáo trình tài chính doanh nghiệp,PGS.TS Lưu Thị Hương,NXB Kinh tế quốc dân , 2007, Hà nội,Trang 5 Khác
2) Viện đại học mở, Giáo trình quản trị kinh doanh nghiệp,GS.TS Nguyễn Kim Truy, NXB thống kê , hoc mỏ 2007, Hà Nội Khác
3) Phạm Hoàng Minh, Cẩm nang điều hành và quản trị doanh nhiệp , NXB Hà nội ,2005 Khác
4) GS.TS Đỗ Hoàng Toàn – GS.TS Nguyễn Kim Truy, giáo trình quản trị doanh nhiệp .NXB thống kê, Hà nội , 2007 Khác
5) Đại học kinh tế Quốc Dân, Giáo trình Khoa học quản lý I, PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền, NXB Khoa học kĩ thuật Khác
6) Đại học kinh tế Quốc Dân, Giáo trình Khoa học quản lý II, PGS.TS Đoàn Thị Thu Hà, PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Huyền, NXB Khoa học kĩ thuật. năm 2004, Hà Nội Khác
7) Đại học kinh tế Quốc Dân, giáo trình Quản trị marketing – Philip Kolter, NXB thống kê 2004, Hà Nội Khác
8) Trang Web của tổng cục thống kê www.tongcucthongke.com.vn 9) Trang Web www.beboithongminh.com.vn Khác
10) Đại học kinh tế quốc dân, Giáo trình marketing căn bản – Philip Kolter, NXB thống kê 2004, Hà nộiTài liệu tiếng Anh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty - Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
2.1.3 Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty (Trang 36)
- Tình hình cạnh tranh - Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
nh hình cạnh tranh (Trang 40)
Xác định các kênh phân phối và hình thức phân phối - Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
c định các kênh phân phối và hình thức phân phối (Trang 50)
tăng nên hình thức phân phối này vẫn chưa hiệu quả sản lượng bán vẫn còn thấp. Do đó công ty cần chú trọng đẩy mạnh hoạt động phân phối gián tiếp  thông qua các hợp đồng kinh tế . - Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
t ăng nên hình thức phân phối này vẫn chưa hiệu quả sản lượng bán vẫn còn thấp. Do đó công ty cần chú trọng đẩy mạnh hoạt động phân phối gián tiếp thông qua các hợp đồng kinh tế (Trang 52)
Đây là một hình thức hỗ trợ thường được công ty áp dụng để đẩy mạnh tiến độ tiêu thụ sản phẩm với các hình thức: tặng mũ, áo, các sản  phẩm đi kèm bể bơi, đặc biệt giảm giá đối với những khách hàng có đơn  đặt hàng lớn - Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
y là một hình thức hỗ trợ thường được công ty áp dụng để đẩy mạnh tiến độ tiêu thụ sản phẩm với các hình thức: tặng mũ, áo, các sản phẩm đi kèm bể bơi, đặc biệt giảm giá đối với những khách hàng có đơn đặt hàng lớn (Trang 53)
2.2.3 Tình hình thực hiện kiểm tra marketing - Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
2.2.3 Tình hình thực hiện kiểm tra marketing (Trang 54)
Tình hình trích lập các quỹ tại Công ty - Hoàn thiện hoạt động quản lý Marketing trong Công ty cổ phần công nghệ Intelpool với nhóm sản phẩm về bể bơi thông minh
nh hình trích lập các quỹ tại Công ty (Trang 59)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w