Nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018” với hai mục tiêu: 1.. Xác địn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ VĂN CHIÊM
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI XÃ TÂN HỘ CƠ, HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2018
HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
LÊ VĂN CHIÊM
THỰC TRẠNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI BỆNH TĂNG HUYẾT ÁP TẠI XÃ TÂN HỘ CƠ, HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP NĂM 2018
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Sau gần 2 năm học tập tại Đồng Tháp với sự tận tình giảng dạy của quý Thầy, Cô Trường Đại học Y tế Công cộng, nay đã hoàn thành luận văn tốt nghiệp, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau Đại học, các Thầy Cô của Trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập
Ts Nguyễn Ngọc Ấn và Ths Dương Kim Tuấn cùng các Thầy Cô là giảng viên Trường Đại học Y tế Công cộng, những người Thầy với đầy nhiệt huyết đã hướng dẫn cho tôi từ xác định vấn đề nghiên cứu, xây dựng đề cương, chia sẽ thông tin để giúp tôi trong nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Lãnh đạo và cán bộ Trung tâm Y tế huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp Đặc biệt là những đồng nghiệp là các cán bộ làm chương trình phòng, chống tăng huyết
áp ở Trạm y tế xã Tân Hộ Cơ nơi tôi tiến hành nghiên cứu đã tạo điều kiện giúp đỡ
và tham gia vào nghiên cứu
Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã khuyến khích tôi học tập, nghiên cứu và tất cả bạn bè đồng khóa Cao học Y tế Công cộng khóa 20 đã cùng nhau học tập, chia sẻ kinh nghiệm trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Lê Văn Chiêm
HUPH
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BNTHA : Bệnh nhân tăng huyết áp
HATTr : Huyết áp tâm trương
TBMMN : Tai biến mạch máu não
Trang 5PHỤ LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ii
PHỤ LỤC iii
DANH MỤC BẢNG iv
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 23
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 42
KẾT LUẬN 60
KHUYẾN NGHỊ 61
PHỤ LỤC 66
HUPH
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Phân loại mức độ THA theo khuyến cáo của Mỹ & Châu Âu 7
Bảng 1.2 Tóm tắt huyết áp mục tiêu của ESH/ESC 2013 và JNC8 [43, 44] 9
Bảng 1.3 Các thuốc điều trị tăng huyết áp đang được sử dụng tại đơn vị nghiên cứu 9
Bảng 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị 16
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học (n= 380) 23
Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh THA của đối tượng nghiên cứu (n=380) 24
Bảng 3.3 Thông tin về hỗ trợ của gia đình- xã hội 25
Bảng 3.4 Không tuân thủ điều trị thuốc (n=380) 26
Bảng 3.5 Tuân thủ chế độ ăn 27
Bảng 3.6 Tuân thủ tập thể dục-thể thao, chế độ sinh hoạt 28
Bảng 3.7 Tuân thủ đo và ghi chỉ số đo huyết áp định kỳ hàng ngày 29
Bảng 3.8 Bảng tổng hợp tuân thủ điều trị thuốc và thay đổi lối sống……….29
Bảng 3.9 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA 30
Bảng 3.10 Thông tin về sử dụng dịch vụ y tế 31
Bảng 3.11 Thông tin về dịch vụ điều trị tại cộng đồng 32
Bảng 3.12 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân chủng học, hỗ trợ gia đình- xã hội với tuân thủ dùng thuốc điều trị 34
Bảng 3.13 Mối liên quan giữa thông tin về bệnh THA của đối tượng nghiên cứu với với tuân thủ dùng thuốc điều trị 35
Bảng 3.14 Mối liên quan giữa hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế, điều trị THA với tuân thủ dùng thuốc điều trị 36
Bảng 3.15 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân chủng học, hỗ trợ gia đình- xã hội với tuân thủ thay đổi lối sống 38
Bảng 3.16 Mối liên quan giữa thông tin về bệnh THA của ĐTNC với tuân thủ thay đổi lối sống 39
Bảng 3.17 Mối liên quan giữa tìm kiếm dịch vụ y tế điều trị THA tại cộng đồng với tuân thủ thay đổi lối sống ………40
HUPH
Trang 7TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Tăng huyết áp (THA) là bệnh mãn tính, phổ biến trên thế giới cũng như ở Việt Nam, là mối đe dọa rất lớn đối với sức khỏe con người Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) THA là một trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng đến phân bố
gánh nặng toàn cầu Nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố
liên quan của người bệnh tăng huyết áp tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018” với hai mục tiêu: 1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của
người bệnh tăng huyết áp tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm
2018 và 2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh
tăng huyết áp tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018
Nghiên cứu được tiến hành bằng thiết kế mô tả cắt ngang có phân tích, thu thập số liệu trên 380 bệnh nhân đang điều trị THA tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018
Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ tuân thủ điều trị bằng thuốc đạt 61,1% ,tỷ
lệ tuân thủ thay đổi lối sống 8,4% Trong đó chỉ có 61,1% là uống thuốc đầy đủ thường xuyên liên tục, có 90,8% thực hiện chế độ giảm ăn mặn, hạn chế ăn mỡ động vật, chất béo 81,6%, có 10,8% thực hiện hạn chế rượu bia, 61,6% thực hiện không hút thuốc, 28,9% thực hiện chế độ luyện tập thường xuyên đúng cách Các yếu tố liên quan đến tuân thủ dùng thuốc điều trị THA gồm: Giới tính, hoàn cảnh sống, dùng thêm thuốc khác và thời gian tái khám, có biểu hiện triệu chứng trước khi phát hiện THA, số lần dùng thuốc trong ngày và được sự nhắc nhở tuân thủ điều trị của cán bộ y tế
Nghiên cứu cũng đưa ra một số khuyến nghị: Trạm y tế xã cần chú trọng hơn công tác tái khám, tư vấn, nhắc nhở cho bệnh nhân về bệnh và chế độ điều trị THA Thành lập câu lạc bộ THA tại xã để bệnh nhân đến đó sinh hoạt, nhằm giúp bệnh nhân có thêm kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA, từ đó giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt hơn Đối với người bệnh và gia đình cần chủ động tìm hiểu kiến thức
về bệnh và chế độ điều trị THA qua CBYT các phương tiện truyền thông như đài, ti
vi sách báo để từ đó ý thức cho mình trong việc tuân thủ điều trị THA như chế
độ uống thuốc, cải thiện về lối sống
HUPH
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là bệnh mãn tính phổ biến ở các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển [7] Đồng thời, THA được xem là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ra tử vong Bệnh THA có thể phòng ngừa được Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới THA ảnh hưởng đến sức khỏe của hơn 1
tỷ người trên thế giới và gây ra 1,5 triệu ca tử vong mỗi năm [5] Tại khu vực Đông
Nam Á có khoảng 35% người trưởng thành mắc bệnh THA và tỷ lệ THA đang có
xu hướng gia tăng, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển nơi có mô hình bệnh tật chuyển đổi từ bệnh truyền nhiễm sang bệnh không truyền nhiễm gây nên gánh nặng bệnh tật kép cho hệ thống y tế
Tại Việt Nam, tỷ lệ THA ngày càng gia tăng Năm 2000, tỷ lệ THA ở người trưởng thành là 16,3% đến năm 2009 tỷ lệ này là 25,4% và tăng đến mức báo động với tỷ lệ THA là 48% Một thống kê của Hội Tim mạch học Việt Nam năm 2015, trên 5.454 người trưởng thành (từ đủ 25 tuổi trở lên) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh – thành phố trên toàn quốc mắc bệnh THA Kết quả cho thấy, có 47,3 % (20,8 triệu người) bị THA so với 52,8% người Việt Nam có huyết áp bình thường (23,2 triệu người) Đáng lưu ý là 39,1% (8,1 triệu người) không phát hiện mình bị THA, có 7,2% (0,9 triệu người) bị THA không được điều trị và 69,0% bị THA chưa
kiểm soát được [17]
THA thường không có triệu chứng lâm sàng Các biến chứng có thể cấp tính hoặc âm thầm gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh Các nghiên cứu cho thấy, người bị THA không được kiểm soát thì nguy cơ mắc bệnh động mạch vành tăng gấp 3 lần, suy tim tăng 6 lần, đột quỵ tăng
7 lần [16] Tuân thủ điều trị thuốc và thay đổi lối sống được xem là nền tảng của việc kiểm soát huyết áp Kết quả từ một số nghiên cứu cho thấy có sự liên quan đáng kể giữa tuân thủ điều trị và kiểm soát huyết áp Tuân thủ điều trị thấp ở những bệnh nhân điều trị THA phần nào giải thích được thất bại trong kiểm soát huyết áp, chất lượng cuộc sống kém và tăng chi phí chăm sóc sức khỏe
HUPH
Trang 9Tân Hộ Cơ là một xã vùng xâu, vùng xa thuộc vùng biên giới của huyện Tân Hồng, Tỉnh Đồng Tháp, kinh tế nghèo nàn, trình độ dân trí chưa cao Tổng dân số của xã là 10.572; Số người dân ≥ 25 tuổi là 5.606; Số người được khám sàng lọc tăng huyết áp là 1.109 người Bệnh nhân THA được quản lý là 398 người (chiếm 35,8%) tình trạng sử dụng rượu/bia, hút thuốc lá còn khá cao, chính vì lý do đó mà bệnh nhân ít quan tâm đến sức khỏe, số người bị TBMMN do THA cao Chưa có nghiên cứu nào về tình hình mắc bệnh THA cũng chưa tìm thấy nghiên cứu về thực trạng tuân thủ điều trị THA và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị THA tại
địa bàn xã như thế nào Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng
tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018” nhằm tìm hiểu thực
trạng tuân thủ điều trị THA, kiến thức về bệnh, điều kiện sống và các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị từ đó đưa ra những khuyến nghị giúp nâng cao mức độ tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA tại địa bàn nghiên cứu và làm tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo, góp phần nâng cao hiệu quả điều trị, giúp bệnh nhân kiểm soát tốt THA, tránh các tai biến nguy hiểm, làm giảm gánh nặng bệnh tật cho gia đình và
xã hội
HUPH
Trang 10MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại xã Tân
Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018
HUPH
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Các khái niệm
1.1.1 Khái niệm tăng huyết áp:
Huyết áp là áp lực ở trong lòng động mạch góp phần giúp cho máu được lưu chuyển trong động mạch tới các mô và cơ quan Huyết áp bình thường bị ảnh hưởng bởi sức co bóp và nhịp đập của tim, độ quánh máu, thể tích máu lưu thông và sức
đàn hồi của thành mạch máu [1]
Tăng huyết áp hay còn gọi là cao huyết áp là một tình trạng trong đó các mạch máu liên tục gia tăng áp lực, một người trưởng thành có huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90mmHg được xem là THA [2, 1, 3]
1.1.2 Khái niệm tuân thủ điều trị tăng huyết áp:
Theo Tổ chức Y tế thế giới “Tuân thủ là mức độ mà bệnh nhân thực hiện theo các hướng dẫn được đưa ra cho phương pháp điều trị”; Ranial và Morisky cũng đưa
ra định nghĩa về tuân thủ điều trị như sau: “Tuân thủ là mức độ hành vi của bệnh nhân đối với việc uống thuốc, theo đuổi chế độ ăn kiêng, và/hoặc thay đổi lối sống
tương ứng với khuyến cáo của nhân viên y tế” [13]
Theo khuyến nghị của Bộ Y tế “ hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết
áp 2010” trong nghiên cứu này tuân thủ điều trị tăng huyết áp là bao gồm: tuân thủ điều trị thuốc và tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống
Tuân thủ điều trị thuốc:
Tuân thủ điều trị thuốc là sử dụng thường xuyên tất cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng chỉ dẫn của cán bộ y tế
Tuân thủ các biện pháp thay đổi lối sống bao gồm
Thay đổi chế độ ăn: chế độ giảm ăn mặn và chế độ ăn hạn chế mỡ động vật, chất béo, nên dùng thức ăn có nhiều rau xanh và hoa quả tươi
Không hút thuốc lá/thuốc lào: trong tuần qua, bệnh nhân không hút thuốc lá hoặc thuốc lào là tuân thủ không hút thuốc, ngược lại có hút thuốc lá hoặc thuốc lào
là không tuân thủ
HUPH
Trang 12Hạn chế uống rượu/bia: tuân thủ điều trị liên quan đến hạn chế uống rượu/ bia trong tuần qua là số lượng ít hơn 3 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14 cốc chuẩn/tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/tuần (nữ)
Chế độ luyện tập thể dục: tuân thủ điều trị liên quan đến tập thể dục là tập thể dục đều đặn ở mức độ vừa phải trong khoảng 30-60 phút/ngày
Theo dõi huyết áp: bệnh nhân được coi là tuân thủ điều trị khi hàng ngày đo
và ghi lại số đo huyết áp vào sổ theo dõi
1.2.1 Tình hình tăng huyết áp trên Thế Giới
Vào năm 2008, trên thế giới có khoảng 1 tỷ người bị THA, chiếm khoảng 40% dân số ở người lớn tuổi từ 25 tuổi trở lên Tỷ lệ hiện mắc THA cao nhất ở Châu Phi,
ở cả 2 giới nam và nữ đều có tỷ lệ mắc bệnh như nhau, với tỷ lệ hiện mắc là 40%
Tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất ở Châu Mỹ, chiếm tỷ lệ là 35% Tại Châu Mỹ, nam giới mắc bệnh nhiều hơn nữ giới (nam giới có tỷ lệ mắc bệnh là 39%, nữ giới có tỷ lệ mắc bệnh là 32%) Hầu hết ở các vùng miền, nam giới mắc bệnh THA nhiều hơn nữ giới, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê đối với Châu Âu và Châu Mỹ Người ta
dự đoán vào năm 2030, tỷ lệ THA sẽ tăng 7,2% so với năm 2013 Một điều tra tại Hoa Kỳ vào năm 1999-2000 trên đối tượng là người trưởng thành cho thấy tỷ lệ huyết áp bình thường là 39%, nhóm Tiền THA là 31% và THA là 29%
Tại khu vực Đông Nam Á, khoảng 35% người trưởng thành bị THA gây ra 1,5 triệu ca tử vong hàng năm Các chuyên gia cho rằng tỷ lệ THA đang có chiều hướng gia tăng Tại Indonesia, tỷ lệ dân số người lớn bị THA tăng từ 8% năm 1995 lên 32% vào năm 2008 Tại Myanmar tỷ lệ THA từ 18% - 31% ở nam giới và từ 16% - 29% ở nữ giới trong thời gian từ năm 2004 đến năm 2009 Tại Ấn Độ, tỷ lệ THA tăng từ 5% vào năm 1960 lên gần 12% trong những năm 1990, hơn 30% trong năm
2008 Một nghiên cứu khác tại Ấn Độ vào năm 2013 cho thấy tỷ lệ THA ở người trên 30 tuổi là 43,3%
1.2.2.Tình hình tăng huyết áp tại Việt Nam
Tại Việt Nam, một nghiên cứu của tác giả Trần Thiện Thuần về tỷ lệ hiện THA của người trưởng thành ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 2005 với phương
HUPH
Trang 13pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả, cỡ mẫu 1991 người từ 25 đến 65 tuổi cho kết quả
tỷ lệ THA là 26,52% Với nghiên cứu tương tự được thực hiện tại Long An của tác giả Võ Thị Dễ và cộng sự, tỷ lệ THA là 28,41%, mặc dù được thực hiện ở những địa điểm khác nhau nhưng đều cho kết quả gần bằng nhau, điều này cho thấy tỷ lệ THA ở Việt Nam đang ở mức cao Một nghiên cứu khác được thực hiện vào năm
2006 của một nhóm tác giả ở huyện Mỏ Cày tỉnh Bến Tre, bằng phương pháp nghiên cứu dịch tễ học trên 531 người trên 40 tuổi cho kết quả tỷ lệ THA là 43% Một nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn Tuấn Khanh và cộng sự về tỷ lệ THA
và các yếu tố nguy cơ THA ở người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho năm 2011 với phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả cho kết quả là 48,6% THA, ở người cao tuổi và nhóm tuổi cao hơn có tỷ lệ THA nhiều hơn [8] Với những nghiên cứu trên
có thể kết luận tình trạng THA ở Việt Nam dao động từ 20 - 30% và nếu nghiên cứu được thực hiện ở nhóm cộng đồng càng cao tuổi thì kết quả càng cao
1.2.3.Phân độ tăng huyết áp
Trên cùng một người, trị số huyết áp đã có những thay đổi theo giờ trong ngày (trị số huyết áp thường có xu hướng cao vào buổi sáng và thấp về đêm), theo phản ứng của cơ thể như lúc ngủ, khi stress, sau ăn no… Ngoài ra huyết áp còn thay đổi theo giới tính, chủng tộc, tuổi, giới, … Vì vậy khó có tiêu chuẩn cụ thể cho từng cá thể Khái niệm về trị số huyết áp bình thường và cao được chấp thuận dựa trên thống kê y học Hai cách phân loại THA được sử dụng phổ biến nhất là phân loại THA theo JNC VII và phân loại THA theo WHO/ISH 2003[3]
Theo JNC VII, phân loại và chẩn đoán THA ở người trưởng thành dựa trên ít nhất 2 lần đo trong 2 lần thăm khám lâm sàng Nếu HATT và HATTr rơi vào 2 phân độ khác nhau thì chẩn đoán cuối cùng dựa vào phân độ huyết áp cao hơn Huyết áp được chia ra làm 4 độ: bình thường, tiền THA, THA độ 1 và THA độ 2 Tiền THA không được xem là THA, nhưng là một trong những yếu tố nguy cơ để
cảnh báo cho sự tiến triển lên THA độ 1 hoặc THA độ 2 trong tương lai
HUPH
Trang 14Bảng 1.1 Phân loại mức độ THA theo khuyến cáo của Mỹ & Châu Âu
JNC VII ( JNC VIII không phân loại) ESC – ESH 2013
Phânloại
HA
HATT (mmHg)
HATTr ( mmHg)
Phânloại
HA
HATT (mmHg)
HATTr ( mmHg) Bình
thường < 120 và < 80
Bình thường 120-129 và 80-84
Tiền THA 120-139 và/hoặc 80-90 Bình
thường cao 130-139 và/ hoặc 85-89 THA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99 THA độ 1 140-159 và/hoặc 90-99
THA độ 2 ≥160 và/hoặc ≥110 THA độ 2 160-179 và/hoặc 100-109
THA độ 3 ≥180 và/hoặc 110
1.2.4.Biến chứng của tăng huyết áp
Biến chứng của THA rất đa dạng, phong phú nhưng lại thường diễn biến âm thầm, ngày một nặng dần và ảnh hưởng đến nhiều cơ quan bộ phận cơ thể của người bệnh bằng nhiều cách Biều hiện lâm sàng của các biến chứng này thường kín đáo làm cho người bệnh thường chủ quan trong việc tầm soát các biến chứng của THA [20] Các biến chứng có thể xảy ra của bệnh THA bao gồm:
Biến chứng tim mạch: Nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch vành, suy tim…
Trong đó suy tim và bệnh mạch vành là hai biến chứng chính và là nguyên nhân gây
tử vong cao nhất của THA THA làm tăng gánh nặng cho tim và hệ thống động mạch Tim người bệnh phải làm việc nặng hơn trong một thời gian dài, nên có xu hướng giãn to ra, dày thất trái là biến chứng sớm do dày cơ tim trái để đối phó với sức cản ngoại biên nên gia tăng sức co bóp làm công tim tăng lên và vách cơ tim dày ra Dần dần suy tim trái với các triệu chứng khó thở khi gắng sức và về sau với gắng sức vừa cũng khó thở, đến giai đoạn cuối của bệnh thì khó thở cả khi nằm, hen tim và phù phổi cấp sau đó chuyển sang suy tim toàn bộ Suy mạch vành biểu hiện bằng các cơn đau thắt ngực điển hình, loạn nhịp tim
Biến chứng não: Là những biến chứng rất thường gặp và thường nặng nề với
các bệnh nhân THA Tai biến mạch máu não bao gồm cả xuất huyết não và nhồi
HUPH
Trang 15máu não với các triệu chứng thần kinh khu trú không quá 24 giờ hoặc bệnh não do THA với lú lẫn, hôn mê kèm co giật, nôn mửa, nhức đầu dữ dội
Biến chứng về thận: Xơ vữa động mạch nhanh và sớm, gây suy thận dần dần,
hoại tử dạng tơ huyết tiểu động mạch thận gây THA ác tính Giai đoạn cuối thiếu máu cục bộ nặng ở thận sẽ dẫn đến nồng độ rennin và angiotensin II trong máu gây cường aldosterone thứ phát
Biến chứng về mắt: Tiến triển theo giai đoạn, thậm chí có thể dẫn đến mù lòa
Khi soi đáy mắt có thể thấy tổn thương đáy mắt (lòng động mạch co nhỏ, ngoằn ngoèo, động tĩnh mạch bắt chéo, phù nề, xuất tiết, xuất huyết võng mạc, phù gai thị)
Biến chứng về mạch ngoại vi: trong đó đặc biệt nguy hiểm là biến chứng tách
thành động mạch chủ có thể dẫn đến tử vong THA là yếu tố gây xơ vữa động mạch, phồng động mạch chủ Trong những năm trở lại đây, các biến chứng về mạch máu ngày càng gia tăng [20]
Kết quả từ các nghiên cứu trước đây cho thấy người bị THA không được kiểm soát thì có nguy cơ bệnh động mạch vành tăng gấp 3 lần, suy tim tăng 6 lần, đột quỵ tăng 7 lần [5] Các biến chứng gây ra THA có thể cấp tính, có thể âm thầm và do vậy không những nguy hiểm đe dọa tính mạng mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sống của người bệnh
1.2.5.Điều trị tăng huyết áp
* Nguyên tắc chung: THA là bệnh mạn tính nên cần theo dõi thường xuyên,
liên tục, điều trị đúng thuốc và đủ liều mỗi ngày, điều trị lâu dài Mục tiêu điều trị là đạt huyết áp mục tiêu và giảm tối đa nguy cơ tim mạch Huyết áp mục tiêu cần đạt
là <140/90mmHg và thấp hơn nữa nếu người bệnh vẫn dung nạp được Nếu nguy
cơ tim mạch từ cao đến rất cao thì huyết áp mục tiêu cần đạt là <130/80 mmHg
Mục tiêu lâu dài của điều trị là đạt huyết áp mục tiêu với ít tác dụng phụ nhất
để giảm tổn thương cơ quan đích, giảm biến chứng tim mạch, nhờ đó hạ thấp tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong Huyết áp mục tiêu của tổ chức ESH/ESC 2013 và JNC8 được trình bày trong bảng 1.2
HUPH
Trang 16Bảng 1.2 Tóm tắt huyết áp mục tiêu của ESH/ESC 2013 và JNC8 [43, 44]
Tăng huyết áp, ≥ 60 tuổi < 150/90
Tăng huyết áp, < 60 tuổi 140/90
Tăng huyết áp + đái tháo đường 140/85
Mục tiêu điều trị THA người lớn > 18 tuổi: THA >18 tuổi mục tiêu hạ HA chung là 140/90 mmHg Bao gồm THA ở bệnh nhân có: đái tháo đường, bệnh thận, hội chứng chuyển hóa, microalbumin niệu, bệnh mạch vành Mục tiêu điều trị THA>60 tuổi: mục tiêu hạ huyết áp < 150/90 mmHg, nếu có đái tháo đường, bệnh thận mạn < 140/90 mmHg Kiểm soát cùng lúc tất cả các YTNC đi kèm Chọn phương thức điều trị có chứng cứ giảm tối đa nguy cơ lâu dài toàn bộ về bệnh suất
Trang 17* Điều trị thay đổi lối sống
Cần thực hiện một cách thích hợp ở tất cả các bệnh nhân để ngăn ngừa tiến triển và giảm được số đo huyết áp
Giảm lượng muối ăn: Hàng ngày không ăn quá 1 muỗng cà phê muối (<6g
NaCl) mỗi ngày, bao gồm cả lượng muối được nêm trong thức ăn và nước chấm
Chế độ ăn: Ăn nhiều rau xanh, trái cây, hạn chế mỡ động vật, chất béo
Bỏ hút thuốc: bỏ hút thuốc lá hoàn toàn là biện pháp mạnh mẽ để phòng
ngừa THA và các bệnh tim mạch khác
Hạn chế hay uống rượu bia vừa phải: uống ít hơn 2 đơn vị rượu mỗi ngày
tương đương 80ml rượu mạnh, 600ml bia và 250ml rượu vang
Vận động thể lực: tham gia vào các hoạt động thể lực vừa sức như đi bộ ít
nhất 30 phút mỗi ngày và mọi ngày trong tuần
Thường xuyên đo huyết áp và ghi số đo huyết áp vào sổ theo dõi hàng ngày
Hạn chế căng thẳng: nghỉ ngơi thư giãn, giải trí [15]
* Điều trị dùng thuốc
Sau khi đã dùng các biện pháp không dùng thuốc từ 3-6 tháng (trừ khi đo HA
> 180/110mmHg thì điều trị ngay) như trên mà huyết áp bạn vẫn chưa hạ về mục tiêu, lúc này cần tiến hành điều trị dùng thuốc Bệnh nhân phải tuân thủ uống thuốc theo đơn bác sĩ, không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng, uống thuốc thường xuyên, lâu dài liên tục kể cả khi huyết áp bình thường
Chọn thuốc khởi đầu:
Tăng huyết áp độ 1: có thể lựa chọn một thuốc trong số các nhóm như lợi
tiểu thiazide liều thấp, ức chế men chuyển, chẹn kênh canxi loại tác dụng kéo dài, chẹn beta giao cảm (nếu không có chống chỉ định)
Tăng huyết áp từ độ 2 trở lên: nên phối hợp 2 loại thuốc (lợi tiểu, chẹn kênh
canxi, ức chế men chuyển, ức chế thụ thể AT1 của angiotensin II, chẹn bêta giao cảm)
Từng bước phối hợp các thuốc hạ huyết áp cơ bản, bắt đầu từ liều thấp như lợi tiểu thiazide (hydrochlorothiazide 12.5mg/ngày), chẹn kênh canxi dạng phóng thích
HUPH
Trang 18chậm (nifedipine chậm (retard)10-20mg/ngày), ức chế men chuyển (enalapril 5mg/ngày, perindopril 2,5-5 mg/ngày)
Quản lý người bệnh ngay tại tuyến cơ sở để đảm bảo bệnh nhân được uống thuốc đúng, đủ và đều Đồng thời giám sát quá trình điều trị, tái khám, phát hiện sớm các biến chứng và tác dụng phụ của thuốc theo 4 bước quản lý THA ở tuyến cơ
sở
Nếu chưa đạt huyết áp mục tiêu: chỉnh liều tối ưu hoặc bổ sung thêm một loại thuốc khác cho đến khi đạt huyết áp mục tiêu Nếu vẫn không đạt huyết áp mục tiêu hoặc có biến cố: cần chuyển tuyến trên hoặc gửi khám chuyên khoa tim mạch
HUPH
Trang 191.3 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp
1.3.1 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp trên Thế Giới
Nghiên cứu của Azuana Ramli và cộng sự về tuân thủ điều trị dùng thuốc
THA trên những bệnh nhân điều trị ở các phòng khám sức khỏe tại Malaysia, bằng phương pháp cắt ngang mô tả cho kết luận tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị THA là rất thấp, bệnh nhân nữ có xu hướng tuân thủ điều trị tốt hơn ở nam, tỷ lệ tuân thủ
kém đã ảnh hưởng tiêu cực đến việc kiểm soát huyết áp Có mối liên quan giữa kiến
thức với tỷ lệ tuân thủ, mặt khác việc tăng liều thuốc mà bệnh nhân đang dùng hằng ngày được cho thấy là có ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị
Một nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện ở Pakistan nhằm đánh giá mối quan hệ giữa kiến thức về THA và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân cho kết quả: Trong số 385 bệnh nhân được phỏng vấn thì 37,9% có kiến thức thấp, 64,7% có mức tuân thủ điều trị thấp, 35,3% tuân thủ trung bình và 0% tuân thủ tốt, có mối tương quan nghịch giữa kiến thức và sự tuân thủ huyết áp của bệnh nhân Cần phải tìm thêm các yếu tố khác ảnh hưởng đến sự không tuân thủ điều trị
Năm 2015, nghiên cứu cắt ngang mô tả xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, điều trị và kiểm soát THA ở bệnh nhân trên 30 tuổi được thực hiện tại Iran Nghiên cứu cho thấy, có mối tương quan thuận giữa kiểm soát huyết áp với môi trường sống (p<0,001), giáo dục (p<0,001) thu nhập (p=0,002), tiền sử gia đình về bệnh THA (p=0,003), hút thuốc lá (p=0,006) và thời gian chẩn đoán (p=0,045) Những người sống ở thành phố, có trình độ giáo dục cao và mức thu nhập cao thì có mức kiểm soát huyết áp tốt hơn
Theo Haynes và Rand, “tuân thủ điều trị là mức độ hành vi của bệnh nhân đối với việc dùng thuốc, theo một chế độ ăn uống và/hoặc thực hiện thay đổi lối sống tương ứng với các khuyến cáo của nhân viên chăm sóc y tế Tại các nước phát triển,
sự tuân thủ của bệnh nhân trong điều trị bệnh mạn tính trung bình khoảng 50% Còn tại các nước đang phát triển, sự tuân thủ điều trị được ước tính là thấp hơn do sự thiếu nguồn lực y tế và bất bình đẳng trong việc tiếp cận chăm sóc sức khỏe
Ví dụ: Tại Trung Quốc, Đài Loan, Gambia, Seychelles, tỉ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA lần lượt là 43%, 57,6%, 27%, 26%; còn ở Mỹ là 51%
HUPH
Trang 201.3.2 Các nghiên cứu về tuân thủ điều trị tăng huyết áp tại Việt Nam
Nghiên cứu của Trần Thị Loan “Đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên, năm 2012" Nghiên cứu
sử dụng phương pháp cắt ngang có phân tích kết hợp giữa định lượng và định tính trên 210 bệnh nhân THA Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ thuốc là 51,4%; tuân thủ thay đổi lối sống 47,1%; tuân thủ điều trị THA chung là 35,7%; bệnh nhân có kiến thức đạt về bệnh và chế độ điều trị là 57.6% [13]
Tác giả Ngô Quốc Huy thực hiện nghiên cứu “Mô tả kiến thức, thực hành và cảc yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của bênh nhân tại câu lạc bộ THA tại bệnh viện đa khoa Đống Đa Hà Nội 2014” Kết quả thu được từ nghiên cứu chỉ ra rằng:
Kiến thức về THA và thực hành tuân thủ điều trị: Bệnh nhân có kiến thức về bệnh
lý và tuân thủ điều trị THA chiếm 74% Bệnh nhân thực hành tuân thủ điều trị THA chiếm 65% [11]
Nghiên cứu về “Tuân thủ điều trị THA và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân THA được quản lý tại trạm y tế xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh năm 2013” Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trị thuốc là 76,2%; tuân thủ thay đổi lối sống là 24,0%; tuân thủ điều trị THA chung là 14,5%; bệnh nhân có kiến thức đúng về bệnh và chế độ điều trị là 24,9% [17]
Nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị THA ở cộng đồng và các yếu tố liên quan của bệnh nhân 25 -60 tuổi ở 4 xã phường của Thành phố Hà Nội năm 2014” Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên 250 bệnh nhân Kết quả cho thấy tuân thủ điều trị chung là 44,8% Cụ thể, 31,6% đối tượng nghiên cứu có trang bị máy đo huyết áp cá nhân, 34% đối tượng có theo dõi huyết áp thường xuyên, 45,6%
có đi khám sức khỏe định kỳ đều đặn, 67,2% có uống thuốc điều trị THA Trong đó, chỉ 43,6% là uống thuốc đầy đủ, 36% thực hiện chế độ ăn uống đạt yêu cầu, 66,4% thực hiện hạn chế rượu bia, 72% thực hiện không hút thuốc, 64% thực hiện chế độ sinh hoạt nghỉ ngơi đạt yêu cầu, 62,8% thực hiện chế độ luyệ tập thường xuyên Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh năm 2010 về kiến thức, thái độ và sự tuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện cấp cứu Trưng Vương, bằng phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả với cỡ mẫu 386 bệnh nhân
HUPH
Trang 21THA cho thấy: kiến thức đúng về tuân thủ dùng thuốc là 55,7%, tỷ lệ có thái độ đúng là 35,8%, tỷ lệ bệnh nhân có tuân thủ dùng thuốc là 49,5% [11]
Nghiên cứu về “Thực trạng tuân thủ điều trị THA và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước năm 2013” của tác giả Đỗ Thị Bích Hạnh cho kết quả: kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA đạt 51,1% Tuân thủ điều trị chung đạt 33,4% Trong đó, tuân thủ điều trị bằng thuốc đạt 56,1% , tuân thủ chế độ ăn đạt 27,4%, tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc lào đạt 84,7%, tuân thủ đo huyết áp và tái khám định kỳ đạt 31,3%, tuân thủ chế độ sinh hoạt - tập luyện đạt 28,9%, tuân thủ hạn chế uống bia/ruợu đạt 82,6% [12]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hương năm 2013 về kiến thức và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA đang điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa Hồng Bàng năm 2013 cho kết quả, có 54,5% bệnh nhân đạt tuân thủ điều trị THA dùng thuốc, 38,5% bệnh nhân đạt tuân thủ điều trị thay đổi lối sống
Một nghiên cứu khác của Bùi Thị Mai Tranh và cộng sự thực hiện năm 2011 ở bệnh viện Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh trên đối tượng bệnh nhân THA ≥60 tuổi đang điều trị ngoại trú cho thấy, tỷ lệ tuân thủ điều trị là 25%, không tuân thủ điều trị là 75% Nguyên nhân kém tuân thủ bao gồm không đủ điều kiện kinh tế, quên uống thuốc, không biết cần uống liên tục, sợ uống nhiều thuốc, nghĩ đã khỏi bệnh chiếm một tỷ lệ đáng kể trong các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị [23]
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Nghiên cứu của Trần Thị Loan “Đánh giá tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện C tỉnh Thái Nguyên, năm 2012" cho thấy một
số yếu tố quan trọng được xác định có liên quan đến các loại tuân thủ chế độ điều trị THA là giới tính, trình độ học vấn Được CBYT hướng dẫn chế độ điều trị, mức độ được CBYT nhắc nhở về TTĐT, biến chứng của bệnh THA, mức độ THA Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tìm thấy các loại tuân thủ điều trị có liên quan với nhau
và có liên quan với kiến thức của bệnh nhân về bệnh, chế độ điều trị và đạt huyết áp mục tiêu [16]
Một nghiên cứu khác của Ngô Quốc Huy năm 2014 lại chỉ ra các yếu tố liên quan đến tuân thủ sử dụng thuốc gồm: Tham gia sinh hoạt tư vấn sử dụng thuốc, xử
HUPH
Trang 22lý các tác dụng phụ thường xuyên, uống 1 thuốc huyết áp và uống 1 lần trong ngày (p<0,05) [14]
Nghiên cứu về “Tuân thủ điều trị THA và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân THA được quản lý tại trạm y tế xã Văn Môn, huyện Yên Phong, Bắc Ninh năm 2013” cho thấy một số yếu tố được xác định liên quan đến các loại tuân thủ chế
độ điều trị THA là giới tính, trình độ học vấn, hoàn cảnh sống, mức độ THA, biến chứng của THA, kiến thức về bệnh và chế độ điều trị Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tìm thấy các loại tuân thủ điều trị có liên quan với nhau và có liên quan với đạt huyết áp mục tiêu [17]
Nghiên cứu về “Thực trạng tuân thủ điều trị THA và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ngoại trú tại bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước năm 2013” của tác giả Đỗ Thị Bích Hạnh cho thấy các yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị THA là: thời gian điều trị (nhóm có thời gian điều trị trên 1 năm TTĐT tốt hơn nhóm có thời gian điều trị dưới 1 năm), nhóm tuổi (nhóm tuổi trên 60 TTĐT cao hơn nhóm tuổi dưới 60) và kiến thức (nhóm đạt kiến thức TTĐT tốt hơn nhóm chưa đạt kiến thức) [12] Một nghiên cứu khác của Bùi Thị Mai Tranh và cộng sự thực hiện năm 2011 ở bệnh viện Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh chỉ ra các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị gồm bảo hiểm y tế, tình trạng hôn nhân, tuổi, bệnh mãn tính kèm theo, bác
sĩ tư vấn và áp dụng biện pháp không dùng thuốc [23]
Nghiên cứu bệnh nhân tuân thủ điều trị được tác giả T.M Brown và cộng sự cho kết quả tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 69,9 năm hầu hết người tham gia Xác định động lực tuân thủ điều trị như: sự hiểu biết của bệnh nhân, các điều kiện củng cố liên tục, thời gian điều trị, lối sống và những thói quen Nghiên cứu này chỉ ra các yếu tố khác cũng có thể ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân (ví dụ như: Nhân khẩu học, tâm lý xã hội, nhận thức) [26]
Nghiên cứu của Yiannakopoulou và cộng sự, những người sống ở thành phố
và những người có học vấn cao tuân thủ điều trị tốt hơn so với những người sống ở nông thôn và chưa tốt nghiệp trung học Việc đa số bệnh nhân THA không có triệu chứng, do đó thuyết phuc người bệnh phải thay đổi lối sống và uống thuốc đều đặn
để ngăn ngừa biến chứng dài hạn trong tương lai thật không dễ dàng gì [35]
HUPH
Trang 23Tổng hợp các yếu tố liên quan qua tổng quan tài liệu được thể hiện qua bảng 1.4
Bảng 1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ điều trị
1 Bệnh nhân
Nhân khẩu học: tuổi, giới tính, học vấn, tình trạng hôn nhân
Tâm lý xã hội: niềm tin, sự động viên, thái độ
Mối quan hệ bệnh nhân & CBYT
Thiếu điều kiện tiếp cận
Thời gian chờ đợi lâu
Khó khăn trong việc mua thuốc theo toa
Không hài lòng khi đến phòng khám
1.5 Tổng quan thang đo tuân thủ điều trị
Có nhiều phương pháp đánh giá về tuân thủ điều trị đối với bệnh không lây nhiễm trong đó có THA Bao gồm các cách đo lường:
Phương pháp đo lường trực tiếp: Như định lượng nồng độ thuốc trong máu
và nước tiểu, dùng chất đánh dấu thuốc, quan sát bệnh nhân trực tiếp dùng thuốc Những phương pháp này giúp đo lường chính xác sự tuân thủ trong dùng thuốc nhưng lại không khả thi khi áp dụng thực tế trên số lượng bệnh nhân lớn hoặc điều trị ngoại trú tại nhà, nhất là trong thời gian dài
HUPH
Trang 24Phương pháp đo lường gián tiếp: Phương pháp thường được dùng như đếm viên thuốc, dùng dụng cụ theo dõi việc mở các lọ thuốc điện tử như Medication Events Monitoring System Tuy nhiên một phương pháp áp dụng phổ biến hơn là bệnh nhân tự tường thuật hoặc ghi nhật ký dùng thuốc Tuy vậy, phương pháp bệnh nhân tự khai báo thông qua phỏng vấn và ghi nhật ký dùng thuốc có thể làm cho kết quả cao hơn thực tế Một số nghiên cứu áp dụng phương pháp bệnh nhân tự khai báo khi phỏng vấn phối hợp với kiểm tra ngẫu nhiên qua điện thoại Một số nghiên cứu áp dụng cách thức bệnh nhân tự khai báo thông qua bộ câu hỏi phỏng vấn Trong các thang đo gián tiếp, việc lựa chọn công cụ tự khai báo có độ tin cậy sẽ giúp cho việc thực hiện nghiên cứu khả thi và đạt được mục tiêu Trong đó, bộ câu hỏi phỏng vấn của Morisky (MAQ – medication adherence questionaire – Morisky 8) là một thang đo được áp dụng rộng rãi hơn cả trong rất nhiều nghiên cứu tuân thủ điều trị các bệnh mạn tính, đặc biệt là THA, bộ công cụ này có độ nhạy là 0,81 và
độ tin cậy bên trong (Cronbach α = 0,61), bộ này được khuyến nghị và sử dụng rộng rãi trong đánh giá tuân thủ điều trị THA, rối loạn lipid máu, bệnh mạch vành trên thế giới Tại Thái Lan, nhóm nghiên cứu của Rapin Polsook kiểm định cho biết độ tin cậy bên trong là 0,9 và khuyến nghị phù hợp sử dụng tại khu vực Đông Nam Á Tác giả Lavsa SM đánh giá 5 thang đo năm 2011 trong đo lường tuân thủ điều trị THA khuyến nghị nên sử dụng thang đo của Morisky do những ưu điểm như đơn giản, ngắn, câu hỏi trực tiếp và dung hòa giữa độ nhạy và 22 độ tin cậy Một số thang đo tuân thủ điều trị khác như thang đo BMQ (Brief medication questionnair), MARS (medication adherence rating scale) nhưng mạnh hơn trong các nghiên cứu các bệnh lý trầm cảm; rối loạn tâm thần
Vì vậy, trong nghiên cứu này, học viên sử dụng bộ câu hỏi của Morisky – 8
để đo lường tuân thủ điều trị, bộ công cụ này đã được sử dụng trong một số nghiên cứu THA tại Việt Nam [13]
1.6 Thông tin chung về xã Tân Hộ Cơ
Tân Hộ Cơ là một xã vùng xâu, vùng xa thuộc vùng biên giới của huyện Tân hồng, Tỉnh Đồng Tháp, kinh tế nghèo nàn, trình độ dân trí chưa cao, người dân ở
HUPH
Trang 25đây chủ yếu sống bằng nông nghiệp chiếm 95%, còn lại chủ yếu làm nghề kinh doanh, buôn bán nhỏ
Tổng dân số của xã Tân Hộ Cơ là 10.572; Số người dân ≥ 25 tuổi là 5.606;
Số người được khám sàng lọc THA là 1.109 người Đối tượng là bệnh nhân THA được quản lý là 398 người (chiếm 35,8%) tình trạng sử dụng rượu/bia, hút thuốc lá còn khá cao, chính vì lý do đó mà bệnh nhân ít quan tâm đến sức khỏe, tỷ lệ mắc THA cao, số người tái khám điều trị THA quá thấp Trình độ dân trí còn thấp, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 là 10,5% đa số người dân sống bằng nghề làm ruộng và làm thuê kiếm sống
Xã có 01 trạm y tế nằm ở trung tâm hành chính xã, 01 Phòng khám Quân dân Y kết hợp ở khu vực biên giới Cuối năm 2017, tỷ lệ bác sĩ là 3 bác sĩ/10.000 dân, nhân viên y tế ấp 02 nhân viên/ ấp
Trạm y tế nằm ở vị trí trung tâm của xã rất thuận lợi cho người dân trong công tác chăm sóc sức khỏe cho bản thân và gia đình Trạm y tế 10 biên chế: Trong
đó có 01 bác sĩ, 03 y sĩ, 01 y sĩ y học cổ truyền, 01 hộ sinh trung học, 02 điều dưỡng trung học, 02 dược sĩ trung học
Có 01 phòng khám đa khoa Quân dân y nằm ở khu vực quan trọng ở khu vực cửa khẩu biên giới, có nhiệm vụ khám chữa bệnh cho nhân dân, phối hợp hỗ trợ chuyên môn cho trạm y tế xã
HUPH
Trang 26KHUNG LÝ THUYẾT
Tuân thủ điều trị THA được đo lường ở hai khía cạnh: Chế độ điều trị thuốc
và các hành vi thay đổi lối sống Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị được chia thành 3 nhóm: Các đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức về bệnh THA và các dịch vụ y tế cũng như hỗ trợ xã hội cho người bị THA
Tuân thủ điều trị THA
- Tuân thủ điều trị dùng thuốc
- Các biện pháp thay đổi lối sống
Đặc điểm nhân khẩu
- Kiến thức về bệnh:
chỉ số huyết áp, biến chứng, huyết áp mục tiêu
- Kiến thức về chế độ điều trị: điều trị thuốc, điều trị thay đổi lối sống
- Nguồn thông tin về THA
- Mối quan hệ giữa bệnh nhân-CBYT
- Thông tin về các buổi khám
- Hỗ trợ xã hội
- BHYT
HUPH
Trang 27CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là người bệnh tăng huyết áp có độ tuổi từ 25 tuổi trở lên trên địa bàn xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2018
Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu:
Có trong danh sách quản lý BN THA tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, Tỉnh Đồng Tháp
+ Có khả năng trả lời phỏng vấn
+ Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng:
Từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: Từ tháng 12/2017 đến tháng 06/2018
- Địa điểm: Xã Tân Hộ Cơ, Huyện Tân Hồng - Đồng Tháp
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thiết kế nghiên cứu cắt ngang có phân tích
Trang 28Vì tổng số bệnh nhân THA đang được quản lý và điều trị tại địa bàn nghiên cứu
là 398 người, nên chúng tôi quyết định sẽ tiếp cận và lấy số liệu ở tất cả 398 bệnh nhân đang quản lý điều trị, yêu cầu lấy được 380 mẫu đạt tiêu chuẩn trở lên để đưa vào phân tích là được Thực tế trong nghiên cứu này chúng tôi đã phỏng vấn cho đến khi đủ 380 đối tượng nghiên cứu đúng tiêu chuẩn chọn mẫu
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống
Lập danh sách thứ tự toàn bộ đối tượng diện nghiên cứu là BNTHA đang được quản lý điều trị tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng tại thời điểm nghiên cứu (398 người).* Tìm khoảng cách mẫu k bằng cách chia tổng số đối tượng diện nghiên cứu cho cỡ mẫu: 398/380 = 1,045, làm tròn, k=1 * Chọn đối tượng nghiên cứu đầu tiên thứ tự 1; đối tượng hai là 1+1 = 2, đối tượng ba là 2+1=3; đối tượng bốn = 4 Đối tượng nào thuộc tiêu chuẩn loại trừ thì loại trừ Thực tế trong nghiên cứu này chúng tôi đã chọn điều tra đủ 380 đối tượng đưa vào phân tích
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
Để chọn được những đối tượng phù hợp với tiêu chuẩn mà nghiên cứu đề ra, nghiên cứu viên đã tiến hành thống kê danh sách người bệnh THA tại xã Tân Hộ Cơ huyện Tân Hồng, sau đó tập huấn cho 08 y tế ấp và thuê y tế ấp làm điều tra viên đến các hộ bệnh nhân đã được quản lý trong danh sách mời họ tham gia nghiên cứu
và tiến hành phỏng vấn với những người đồng ý tham gia
Phỏng vấn ĐTNC: Điều tra viên đến từng nhà theo danh sách bệnh nhân nghiên cứu đã chọn, sau đó đã tiến hành phỏng vấn ĐTNC dựa theo bộ câu hỏi phỏng vấn có cấu trúc (Bộ câu hỏi tham khảo của tác giả Hà Thị Liên, có điều chỉnh cho phù hợp với địa bàn điều tra) Điều tra viên nhấn mạnh với các ĐTNC là các thông tin chỉ phục vụ cho công tác nghiên cứu (Học viên đi giám sát hỗ trợ các điều tra viên khi phỏng vấn, và kiểm tra lại phiếu bộ câu hỏi sau khi điều tra viên nộp lại)
2.7 Phương pháp phân tích số liệu
- Làm sạch và xử lý thông tin trên các phiếu phỏng vấn trước khi nhập liệu
HUPH
Trang 29- Số liệu được làm sạch và nhập liệu bằng chương trình EPIDATA 3.1, phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 18.0
Mục tiêu 1: Sử dụng thống kê mô tả: dùng tần số và tỷ lệ% để biểu diễn sự phân bố của các biến số (các thông tin nhân khẩu học, thực trạng tuân thủ điều trị THA) Sử dụng bảng và biểu đồ để biểu diễn số liệu
Mục tiêu 2: Phân tích đơn biến, sử dụng kiểm định khi bình phương để xác định một số yếu tố liên quan, sử dụng giá trị OR, khoảng tin cậy 95% và giá trị p
<0,5 để tìm hiểu mối liên quan
2.8 Đạo đức trong nghiên cứu
Đề cương của đề tài nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức Trường Đại học
Y tế công cộng thông qua và được sự ủng hộ của địa phương nơi học viên nghiên cứu
Thông tin của người được nghiên cứu sẽ giữ bí mật, kết quả nghiên cứu chỉ
sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho mục đích khác
HUPH
Trang 30CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, với tổng số đối tượng tham gia nghiên cứu là 380 bệnh nhân
3.1 Các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu:
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học:
Các đặc trưng nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu được tóm tắt trong bảng 3.1 theo đó bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu có được phân thành 4 nhóm tuổi, trong đó độ tuổi từ 61-80 tuổi chiếm 44,5%, nhóm tuổi từ 41- 60 tuổi 41%, trên 80 tuổi chiếm 10,8%, từ 25-40 tuổi chỉ chiếm 3,7% Tỷ lệ bệnh nhân nữ 53,4% nhiều hơn bệnh nhân nam 46,6% Trình độ học vấn thấp, chủ yếu ở nhóm tiểu học hoặc nhỏ hơn tiểu học 70,8%, trung học cơ sở 22,4% Hầu hết bệnh nhân 93,7% sống với gia đình (sống với vợ/chồng và/hoặc con, cháu), chỉ có rất ít 6,3% là sống một mình Phần lớn bệnh nhân 45,3% đã nghỉ hưu hoặc không đi làm
Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học (n= 380)
HUPH
Trang 31Công việc hiện tại
3.2 Thông tin về bệnh tăng huyết áp của ĐTNC
Bảng 3.2 Đặc điểm về bệnh THA của đối tƣợng nghiên cứu (n=380)
Thời gian điều trị THA tại xã
Biến chứng của THA
Thời gian mắc bệnh THA
HUPH
Trang 32Số lần dùng thuốc huyết áp/ngày
Tiền sử gia đình có người bệnh THA
độ 2 là 51,3%, và độ 3 là 12,9% (theo phân loại của JNC VII) số bệnh bệnh điều trị tại trạm y tế xã trong thời gian có triển khai dự án phòng chống THA trên 5 chiếm 51,6% Trong số 380 bệnh nhân, có đến 57,4% đã có biến chứng tim mạch như đột quỵ, suy tim, suy thận, bệnh về mắt Đa số bệnh nhân có thời gian mắc bệnh THA trên 5 năm chiếm 52,4% Đa số bệnh nhân 61,3% sử dụng thuốc hạ huyết áp trên một lần trong ngày, tuy nhiên vẫn có một bệnh nhân không dùng thuốc chiếm 0,3%
Đa số bệnh nhân phải dùng thêm thuốc điều trị các bệnh khác kèm theo như ĐTĐ, thận, viêm khớp, mất ngủ 80,5%
3.3 Hỗ trợ của gia đình- xã hội
Bảng 3.3 Thông tin về hỗ trợ của gia đình- xã hội
Người nhắc nhở điều trị THA
24
HUPH
Trang 33Các nguồn cung cấp thông tin
Đài, báo, tivi
Bảng 3.3 cho thấy những thông tin về bệnh và chế độ điều trị bệnh THA mà bệnh nhân có được hầu hết là từ cán bộ Y tế 95%, từ báo đài, ti vi 41.8%, từ sách báo, tài liệu 1,8% Chỉ có 24,5% là từ bạn bè, người thân, đến từ các nguồn khác
như internet
Nghiên cứu cho thấy có hơn một nữa số bệnh nhân 74.8% là có người thân trong gia đình nhắc nhở điều trị như vợ/chồng, con/cháu Gần một phần tư bệnh nhân 24,5% là không có ai nhắc nhở điều trị
3.4 Thực trạng tuân thủ điều trị tăng huyết áp
3.4.1 Tuân thủ điều trị thuốc THA
Bảng 3.4 Không tuân thủ điều trị thuốc (n=380)
Từ lúc bắt đầu điều trị THA đã có quên uống
Trang 34uống thuốc hạ huyết áp 9 2,4
Cảm thấy khó khăn khi phải nhớ uống tất cả
các loại thuốc hạ huyết áp 19 5,0
Theo bảng 3.4 ta thấy có khoảng hơn 1/3 số bệnh nhân có uống thuốc điều trị THA thỉnh thoảng quên uống thuốc hạ huyết áp 38,9%, quên mang theo thuốc hạ huyết áp khi đi xa 20,8%, tự ý ngừng thuốc hạ áp khi cảm thấy huyết áp đã được kiểm soát 15%, cảm thấy khó khăn khi phải nhớ uống tất cả các loại thuốc hạ huyết
áp 5,% quên uống thuốc hạ áp trong tuần vừa qua 14,2%, cảm thấy phiền toái khi ngày nào cũng phải uống thuốc hạ huyết áp 2,4%
3.4.2 Tuân thủ chế độ ăn uống
Lượng rượu bia
1.Nam <3cốc chuẩn/ngày, Nữ <2 cốc chuẩn/ngày
(1cốc chuẩn tương đương 330ml bia, hoặc 120ml
rượu vang hoặc 30 ml rượu nặng)
2.Nam ≥3 cốc chuẩn/ngày, Nữ ≥ 2 cốc/ngày (Không
Trang 35thực hiện chế độ ăn giảm mặn 90,8%, ăn hạn chế mỡ động vật, chất béo 81,6%, ăn nhiều rau xanh, hoa quả tươi 79,9%
Trong tổng số 380 bệnh nhân, có 234 bệnh nhân 61,6% là chưa từng hút thuốc lá/thuốc lào, có 20,3% bệnh nhân có hút nhưng hiện tại đã dừng, 69 bệnh nhân 18,2% hiện nay vẫn còn hút thuốc lá/thuốc lào
Về tuân thủ hạn chế uống rượu/bia có 41 bệnh nhân tuân thủ uống <3 cốc chuẩn/ngày, có 21 bệnh nhân uống trên 3 cốc chuẩn/ngày và trên 14 cốc chuẩn/tuần
Thời gian tập luyện
Về chế độ sinh hoạt có 2/3 số bệnh nhân thực hiện chế độ nghỉ ngơi hợp lý không thức khuya chiếm 76,3% số bệnh nhân thực hiện chế độ tránh lao động nặng quá sức chiếm 67,6%, có 70,5% tránh lo âu, căng thẳng vẫn còn 13,4% bệnh nhân vẫn sinh hoạt bình thường như trước
Có 264 bệnh nhân 69,5% có tập thể dục, trong số này chỉ có 110 bệnh nhân 28,9% là có thời gian tập luyện từ 30 đến 60 phút/ngày, và chỉ có 60 bệnh nhân
15,8% thực hiện chế độ tập luyện vừa phải
HUPH
Trang 363.4.4 Tuân thủ đo và ghi chỉ số đo huyết áp định kỳ hàng ngày
Bảng 3.7 Tuân thủ đo và ghi chỉ số đo huyết áp định kỳ hàng ngày
Mức độ thường xuyên đo huyết áp
Thường xuyên (5-7 lần/tuần)
Thỉnh thoảng (2-3 lần/tuần)
Hiếm khi (1 lần/tuần)
Không bao giờ
Mức độ thường xuyên ghi số đo huyết áp
Thường xuyên (5-7 lần/tuần)
Thỉnh thoảng (2-3 lần/tuần)
Hiếm khi (1 lần/tuần)
Không bao giờ
Về đo và ghi chỉ số đo huyết áp hàng ngày thì chỉ có rất ít bệnh nhân đo và ghi chỉ số đo huyết áp hàng ngày Theo đó mức độ đo huyết áp thường xuyên chỉ chiếm 8,4%, đa số bệnh nhân là hiếm khi đo chiếm 46,4% Mức độ ghi chỉ số đo huyết áp vào sổ thì hầu như bệnh nhân không ghi chiếm 26,3%, chỉ có 8,4% bệnh nhân là ghi thường xuyên vào sổ theo dõi
Tổng hợp lại, biểu đồ 3.8 cho thấy đối với chế độ điều trị THA thì có 61,1% bệnh nhân có tuân thủ điều trị thuốc, trong khi đó đối với hành vi, thay đổi lối sống thì chỉ có 8,4% số bệnh nhân tuân thủ
Biểu đồ 3.8 Tổng hợp tuân thủ điều trị thuốc và thay đổi lối sống
ĐIỀU TRỊ THUỐC
61.1
38.9
TUÂN THỦ KHÔ NG TUÂN THỦ
THAY ĐỔI LỐI SỐNG
8.4
91.6
TUÂN THỦ KHÔ NG TUÂN THỦ
HUPH
Trang 373.5 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị bệnh tăng huyết áp
Bảng 3.9 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA
Kiến thức để xác định chỉ số THA 352 92,6 Kiến thức về hậu quả của việc không tuân thủ
điều trị THA
339 89,2
Kiến thức về mức HA mục tiêu cần đạt 345 90,8 Kiến thức về chế độ điều trị THA 376 98,9 Kiến thức về chế độ uống thuốc cho người
Kiến thức về đo và ghi chỉ số HA định kỳ 364 95,8
Trong phần kiến thức về bệnh và chế độ điều trị bệnh THA có 10 câu hỏi và đều được đánh giá ở hai mức độ đạt và không đạt Theo đó, bệnh nhân có kiến thức đạt cao nhất về chế độ uống thuốc đúng cho người bệnh THA chiếm 93,9%, bỏ hút thuốc lá/thuốc lào 85,8%, ngưỡng rượu/ bia tối đa cho người bệnh THA là 48,7% mức huyết áp mục tiêu cần đạt 90,8% bệnh nhân có kiến thức chưa đạt về ngưỡng rượu/bia tối đa cho người THA còn cao là 51,3%
HUPH
Trang 383.6 Hành vi tìm kiếm dịch vụ y tế và điều trị THA tại cộng đồng
Bảng 3.10 Thông tin về sử dụng dịch vụ y tế
Cơ sở y tế bệnh nhân thường khám bệnh
BV chuyên khoa tim mạch
BV đa khoa tuyến tỉnh
BV đa khoa tuyến huyện
Cơ sở y tế mà bệnh nhân lựa chọn điều trị bệnh THA
Lý do bệnh nhân không tiếp tục điều trị
Vì thấy HA ổn định, không cần thiết phải điều trị
Gây nhiều phiền phức, tốn kém tiền bạc
Không tiện đi khám và mua thuốc
13
2
1
3,4 0,5 0,3
Bảng 3.10: cho thấy những thông tin về sử dụng dịch vụ y tế tại công đồng cho thấy cơ sở y tế mà bệnh nhân lựa chọn khám bệnh THA chủ yếu là tại Trạm y
tế xã 68,7%, bệnh viện đa khoa tuyến huyện chiếm 61,1%, bệnh viện tuyến tỉnh và chuyên khoa 16,5%, khám tư tại các cơ sở tư nhân 18,2%, chỉ cỏ 1,8% bệnh nhân khám tại cơ sở đông y
HUPH
Trang 39Bảng 3.11 Thông tin về dịch vụ điều trị tại cộng đồng
Dịch vụ điều trị THA tại cộng đồng Tần số Tỷ lệ(%)
Cơ sở của việc mua thuốc điều trị THA
Bác sĩ chuyên khoa tim mạch
Đơn của bệnh nhân THA khác
Gợi ý của người bán thuốc
147
14
38
38,7 3,7
Thời gian điều trị THA tại cơ sở y tế đã lựa chọn
Khoảng cách từ nhà đến cơ sở khám chữa bệnh
Khoảng thời gian tái khám bệnh/ lần
Mức độ giải thích rõ của CBYT về bệnh những nguy
cơ của bệnh THA
Mức độ giải thích rõ về chế độ điều trị bệnh THA
HUPH
Trang 40Không rõ lắm 18 4,8
Mức độ nhắc nhở của CBYT về tuân thủ các khuyến
cáo trong điều trị bệnh THA
từ 5 năm trở lên 50,3% Khoảng thời gian tái khám của bệnh nhân nhỏ hơn hoặc bằng 1 tháng chiếm 92,6% trên 1 tháng 7,4%, về chi trả dịch vụ điều trị THA hầu hết là do gia đình/ bản thân tự chi trả 21,8% BHYT 85,5% có 94,7% bệnh nhân THA được CBYT giải thích rõ về bệnh và những nguy cơ chế độ điều trị bệnh THA, có 95,3% bệnh nhân là được CBYT giải thích về bệnh, chế độ điều trị bệnh THA Mức độ nhắc nhở của CBYT về tuân thủ các khuyến cáo trong điều trị bệnh THA, có 80% bệnh nhân nhận được sự nhắc nhở thường xuyên, thỉnh thoảng là 17,6% , hiếm khi là 2,4%
3.7 Mối liên quan giữa tuân thủ thuốc và các yếu tố nhân chủng học, hỗ trợ gia