PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Địa điểm
Nghiên cứu được tiến hành tại ba trường THPT ở Hà Nội, bao gồm trường THPT Hồng Thái tại huyện Đan Phượng, trường THPT Ngô Gia Tự ở quận Hà Đông, và trường THPT Vân Nội thuộc huyện Đông Anh.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng trong nghiên cứu là học sinh lớp 10, lớp 11 và lớp 12 tại 03 trường THPT trên địa bàn Hà Nội
Không giới hạn độ tuổi
Có đủ năng lực hành vi tham gia trả lời câu hỏi nghiên cứu
Đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu
Học sinh vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu
Đối tượng gặp phải các khiếm khuyết trên cơ thể, như gãy tay, gãy chân, bong gân hoặc trật khớp, sẽ bị hạn chế trong các hoạt động thể lực bình thường trong vòng 30 ngày gần đây.
Phụ huynh/người bảo trợ không cho phép học sinh tham gia nghiên cứu (chỉ áp dụng với học sinh dưới 18 tuổi).
Cỡ mẫu
- Nghiên cứu sử dụng công thức cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ, 2 giai đoạn: n = z 1 − α 2
+ n: Cỡ mẫu tối thiểu của nghiên cứu
Tỷ lệ học sinh không đạt mức hoạt động thể lực theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) được ước lượng là từ 85-89,9% vào năm 2010, đối với thanh thiếu niên từ 11-17 tuổi tại Việt Nam.
+ d: Độ chính xác tuyệt đối mong muốn, chọn d = 5%
: Hệ số giới hạn tin cậy; z 1− α
= 1,96 ở độ tin cậy 95% khi chọn α=0,05
Hiệu lực thiết kế được xác định với k = 2 khi nghiên cứu chọn mẫu cụm qua 2 giai đoạn Khi thay số vào công thức, ta có n = 392 học sinh khi p = 0,85 và n = 280 học sinh khi p = 0,899 Do đó, giá trị p được chọn là 0,85 để đảm bảo cỡ mẫu lớn hơn, dẫn đến cỡ mẫu ban đầu là 392 học sinh.
Nhằm nâng cao độ tin cậy của mẫu và giảm thiểu sai số, nhóm nghiên cứu đã quyết định tăng tỷ lệ cỡ mẫu lên 8,4%, dẫn đến tổng số 425 học sinh được khảo sát.
03 trường THPT tại Hà Nội được đưa vào mẫu nghiên cứu.
Phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu theo cụm qua 2 giai đoạn Đơn vị cụm là lớp Các bước tiến hành được thực hiện cụ thể như sau:
Tính đến ngày 10/08/2017, trên địa bàn Hà Nội có 295 trường THPT đang hoạt động, thông tin này đã được thống kê trên website của Sở GD&ĐT thành phố Hà Nội.
- Trường THPT công lập: 108 trường
- Trường THPT dân lập: 69 trường
- Trường THPT chuyên/năng khiếu (trực thuộc trường đại học): 7 trường
- Trường THPT quốc tế (liên cấp): 15 trường
- Trường PTTH thực nghiệm: 01 trường
- Trung tâm Giáo dục thường xuyên/Giáo dục nghề nghiệp: 59 trung tâm
- Các loại hình khác: 36 trường
Tiến hành lựa chọn 03 trường THPT trong danh sách đã lập ở trên, bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn Sử dụng hàm random trong Excel để thực hiện
HUPH Đối với mỗi trường THPT, nhóm nghiên cứu lập danh sách số lớp học theo từng khối lớp (lớp 10, lớp 11 và lớp 12) Cụ thể, như sau:
Bảng 6 Số lớp học của 3 trường THPT tham gia nghiên cứu
Trường THPT Khối 10 Khối 11 Khối 12 Tổng
Vân Nội (công lập) 12 lớp 12 lớp 13 lớp 37 lớp
Ngô Gia Tự (dân lập) 3 lớp 2 lớp 3 lớp 8 lớp
Hồng Thái (công lập) 12 lớp 12 lớp 11 lớp 35 lớp
Mỗi trường THPT sẽ lựa chọn học sinh từ một lớp của một khối theo danh sách đã lập Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn được áp dụng thông qua hàm random trong Excel Kết quả là có 09 lớp đại diện cho toàn bộ học sinh của 03 trường THPT tại Hà Nội tham gia nghiên cứu này.
Phương pháp tiến hành nghiên cứu
Trước khi thu thập số liệu, nhóm nghiên cứu đã nhận được sự đồng ý từ Ban giám hiệu của ba trường THPT đã chọn Cán bộ y tế trường học hoặc giáo viên thể dục đã hướng dẫn nhóm nghiên cứu đến từng lớp để tiến hành phát vấn bộ câu hỏi Thời gian phát vấn diễn ra trong khoảng nghỉ giữa giờ 20 phút hoặc trong các tiết tự học, đảm bảo không ảnh hưởng đến việc học tập bình thường của học sinh tham gia nghiên cứu.
Tiến hành phát vấn bộ câu hỏi tự điền cho tất cả các đối tượng đáp ứng tiêu chí nghiên cứu (xem Phụ lục 1-Bộ câu hỏi nghiên cứu) Nhóm nghiên cứu gồm 04 thành viên thực hiện điều tra Quá trình thu thập số liệu được thực hiện một cách cụ thể và có hệ thống.
Điều tra viên đã trình bày nội dung nghiên cứu và gửi trang thông tin nghiên cứu cùng phiếu đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu đến các đối tượng tham gia.
- Khi học sinh đồng ý tham gia, điều tra viên tiến hành thu thập số liệu theo đúng quy trình, với sự giám sát của chủ nhiệm đề tài
Điều tra viên sẽ kiểm tra phiếu ngay sau khi học sinh hoàn thành bộ câu hỏi tự điền Nếu phát hiện thiếu thông tin, điều tra viên sẽ nhắc nhở học sinh để bổ sung thông tin cần thiết.
Chủ nhiệm đề tài sẽ rút ngẫu nhiên 10% tổng số phiếu điều tra để kiểm tra thông tin Các phiếu không đạt yêu cầu là những phiếu mà học sinh bỏ trống hoàn toàn hoặc không điền phần lớn các câu hỏi Những phiếu này sẽ bị huỷ và không được đưa vào phân tích số liệu.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Dữ liệu được làm sạch và nhập vào máy tính thông qua phần mềm Epidata Bộ nhập liệu được thiết kế kèm theo tệp kiểm tra nhằm kiểm soát các sai số.
Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Excel 2013 và SPSS 22.0 theo các mục tiêu của nghiên cứu
Các thuật toán thống kê được sử dụng, bao gồm:
Thống kê mô tả sử dụng tần số và tỷ lệ cho các biến phân loại, trong khi các biến định lượng được trình bày qua trung bình và độ lệch chuẩn nếu có phân bố chuẩn Đối với các biến không có phân bố chuẩn, trung vị, giá trị khoảng và các khoảng phân vị sẽ được sử dụng.
Thống kê suy luận sử dụng kiểm định ² để phân tích mối liên quan đơn biến giữa các biến độc lập và tình trạng hoạt động thể lực, với mức ý nghĩa 5%.
Bảng 7 Mô tả các biến cần phân tích
Biến độc lập Đặc điểm
Thông tin chung đối tượng nghiên cứu
Giới tính Biến nhị phân
Tuổi Biến phân loại (3 nhóm) Khối lớp Biến phân loại (3 nhóm) Trường THPT Biến phân loại (3 nhóm) Loại hình đào tạo Biến nhị phân
Phân loại BMI Biến phân loại (5 nhóm)
Xếp loại học lực học kỳ 2 năm học 2016-2017 Biến phân loại (5 nhóm)
Biến phụ thuộc Đặc điểm
Mức độ hoạt động thể lực theo phân nhóm MET Biến phân loại (4 nhóm) Mức độ hoạt động thể lực theo khuyến nghị TCYTTG Biến nhị phân
Biến số nghiên cứu
Bảng 8 Biến số nghiên cứu
Biến số Định nghĩa biến Phân loại biến
Giới tính sinh học của đối tượng, ghi trên giấy khai sinh
Nhị phân Phát vấn qua bộ công cụ
Số năm sống của đối tượng, bằng năm điều tra trừ đi năm sinh
Liên tục Phát vấn qua bộ công cụ
Khối lớp Đơn vị tổ chức lớp học của cấp THPT, bao gồm 3 khối: lớp 10, lớp 11 và lớp 12.
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Trình độ trung học phổ thông là bậc học trong hệ thống giáo dục Việt Nam, nằm giữa tiểu học và trung học cơ sở, nhưng thấp hơn so với trình độ trung cấp, cao đẳng và đại học.
Thời gian học kéo dài 3 năm (lớp 10 - lớp 12) Để tốt nghiệp bậc học này thì học sinh cần phải vượt qua Kỳ thi THPT Quốc gia
Danh mục Phát vấn qua bộ công cụ
Ngoài đi học, có đang đi làm thêm?
Tình trạng có việc làm (có thu nhập), ngoài giờ học chính khóa nhà trường
Nhị phân Phát vấn qua bộ công cụ
Tần suất đi học và
/hoặc đi làm bao nhiêu ngày mỗi tuần?
Tổng số ngày đi học và /hoặc đi làm thêm trung bình mỗi tuần
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Thời gian đi học và
/hoặc đi làm mỗi ngày?
Số giờ học và /hoặc đi làm thêm trung bình mỗi ngày
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Mức độ hoạt động thể lực trong thời gian học và /hoặc làm việc?
Bản thân đối tượng tự đánh giá mức độ hoạt động thể lực trong khi học và /hoặc đi làm thêm
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Phương tiện thường xuyên sử dụng để đi học và /hoặc đi làm?
Phương tiện mà đối tượng sử dụng để di chuyển tới địa điểm học và /hoặc làm thêm
Danh mục Phát vấn qua bộ công cụ
Tần suất sử dụng mỗi loại phương tiện?
Số ngày trung bình trong tuần, mà đối tượng sử dụng phương tiện để di chuyển tới địa điểm học và /hoặc làm thêm
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Thời lượng sử dụng mỗi loại phương tiện?
Số giờ hay số phút trung bình trong ngày, mà đối tượng sử dụng phương tiện để di chuyển tới địa điểm học và/ hoặc làm thêm
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Hoạt động giải trí thường xuyên thực hiện trong thời gian rảnh rỗi?
Hoạt động giải trí mà đối tượng thường xuyên thực hiện trong thời gian rảnh rỗi
Danh mục Phát vấn qua bộ công cụ
Tần suất thực hiện mỗi hoạt động giải trí trong thời gian rảnh rỗi?
Số ngày trung bình trong tuần, mà đối tượng thường xuyên thực hiện hoạt động giải trí khi rảnh rỗi
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Thời lượng thực hiện mỗi hoạt động giải trí trong thời gian rảnh rỗi?
Số giờ hay số phút trung bình trong ngày, mà đối tượng thường xuyên thực hiện hoạt động giải trí khi rảnh rỗi
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Môn thể thao thường xuyên thực hiện?
Môn thể thao mà đối tượng thường xuyên thực hiện trong vòng 1 năm qua
Danh mục Phát vấn qua bộ công cụ
Số tháng thường xuyên thực hiện mỗi môn thể thao
Số tháng trung bình trong năm, mà đối tượng thường xuyên thực hiện mỗi môn thể thao
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Tần suất thực hiện mỗi môn thể thao?
Số ngày trung bình trong tuần, mà đối tượng thường xuyên thực hiện mỗi môn thể thao
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Thời lượng thực hiện mỗi môn thể thao
Số giờ hay số phút trung bình trong ngày, mà đối tượng thường xuyên thực hiện mỗi môn thể thao
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Thời gian ngủ trưa và ngủ đêm mỗi ngày?
Tổng số giờ trung bình ngủ trưa và ngủ đêm thực sự mỗi ngày
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
Trọng lượng cơ thể của đối tượng ở thời điểm hiện tại, tính bằng kg
Liên tục Phát vấn qua bộ công cụ
Khoảng cách từ lòng bàn chân đến đỉnh đầu của cơ thể khi đứng thẳng, tính bằng cm
Liên tục Phát vấn qua bộ công cụ
Tổng điểm phẩy trung bình các môn học vào học kỳ 2, năm học 2016
Trung bình cộng của điểm trung bình môn học kỳ, ở tất cả các môn học đánh giá bằng cho điểm
Liên tục Phát vấn qua bộ công cụ
Xếp loại học lực vào học kỳ 2, năm học 2016
-2017 Đánh giá theo 2 cấu phần: tổng điểm phẩy trung bình các môn học và điểm phẩy trung bình 2 môn Toán-Văn hoặc 1 môn chuyên
Thứ bậc Phát vấn qua bộ công cụ
10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khắc phục
10.1 Hạn chế của nghiên cứu
Cỡ mẫu nghiên cứu không đủ lớn và thiếu sự đa dạng từ các trường THPT trên địa bàn, dẫn đến kết quả ngoại suy không phản ánh đầy đủ thực trạng hoạt động thể lực của học sinh THPT Hà Nội, mà chỉ đại diện cho học sinh của 03 trường tham gia nghiên cứu.
Bộ công cụ nghiên cứu được phát triển dựa trên các câu hỏi có sẵn và được sử dụng để phỏng vấn đối tượng nghiên cứu mà không cần phỏng vấn trực tiếp Do đó, thông tin thu thập được phụ thuộc vào thái độ trả lời tích cực của đối tượng, điều này có thể dẫn đến việc đánh giá không chính xác về mức độ vấn đề và gây ra sai số.
Hiện nay, có rất ít nghiên cứu về chủ đề này tại Việt Nam, do đó việc so sánh, thảo luận và khám phá các mối liên hệ vẫn còn gặp nhiều khó khăn.
HUPH nhiều khó khăn Các kết quả trong nghiên cứu này chủ yếu được bàn luận với tài liệu của nước ngoài
Nghiên cứu sử dụng phương pháp cắt ngang không thể đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố và kết quả hoạt động thể lực của học sinh Do đó, cần kết hợp thêm phương pháp định tính để hiểu rõ hơn về mối liên hệ này.
10.2 Sai số nghiên cứu và cách khắc phục
Bảng 9 Sai số nghiên cứu và cách khắc phục
Sai số Nội dung Cách khắc phục
Sai số trong quá trình thu thập số liệu
- Sai số xảy ra khi học sinh trả lời sai nội dung câu hỏi
- Trong quá trình trả lời phiếu phát vấn, học sinh trao đổi, sao chép kết quả với nhau.
- Xây dựng bộ câu hỏi rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với hình thức phát vấn để thu thập tối đa thông tin chính xác nhất của học sinh
Trước khi tiến hành phỏng vấn, điều tra viên cần giải thích rõ ràng các thuật ngữ mà học sinh chưa hiểu Đồng thời, họ cũng nên hướng dẫn học sinh cách điền theo thứ tự của bộ câu hỏi để tránh nhầm lẫn.
- Sắp xếp chỗ ngồi học sinh có khoảng cách phù hợp và điều tra viên nhắc nhở học sinh khi sao chép câu trả lời với nhau
Sai số do bộ công cụ
Sai số xảy ra do bộ công cụ chưa phù hợp với học sinh THPT tại Việt Nam
- Bộ câu hỏi được dịch sang tiếng Việt và chỉnh sửa nội dung phù hợp với học sinh Việt Nam
- Thử nghiệm và chỉnh sửa bộ công cụ trước khi tiến hành thu thập số liệu chính thức
Sai số do chọn mẫu
Sai số xảy ra do lựa chọn cỡ mẫu chưa đủ lớn để đại diện cho quần thể
Chọn mẫu ngẫu nhiên và tăng cỡ mẫu thêm 8,4%, để có số lượng đối tượng gần giống với quần thể nhất
10.3 Vấn đề đạo đức nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tiến hành thu thập số liệu, bằng “Trang thông tin nghiên cứu” Sau đó, nhóm nghiên cứu sẽ nhắc học sinh trình bày các nội dung nêu trên cho phụ huynh/người bảo trợ để họ hiểu và tự nguyện đồng ý cho học sinh tham gia (nếu học sinh dưới 18 tuổi) Mọi thắc mắc của phụ huynh/người bảo trợ đều có thể liên lạc trực tiếp tới chủ nghiệm đề tài để được giải đáp Và nghiên cứu chỉ tiến hành thu thập số liệu, khi có sự chấp nhận hợp tác tham gia của đối tượng và phụ huynh/người bảo trợ Các đối tượng khi đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ ký vào: “Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu”
Nhóm cam kết bảo mật thông tin của người tham gia nghiên cứu, với dữ liệu được mã hóa và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Người tham gia có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào và có thể dừng khảo sát mà không bị ràng buộc pháp lý Họ sẽ không bị ảnh hưởng tiêu cực từ nghiên cứu và có thể yêu cầu nhận bản kết quả phân tích sau khi nghiên cứu hoàn tất.
Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt theo quyết định số 017-337/DD-YTCC, ban hành ngày 08/08/2017.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
1 Thông tin chung đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 1 Phân bố giới tính của đối tượng nghiên cứu (đơn vị: %)
Nghiên cứu được thực hiện với 425 học sinh THPT tại Hà Nội, trong đó có 254 nữ (59,8%) và 171 nam (40,2%) Tỷ lệ học sinh nữ cao gấp 1,5 lần so với nam.
Bảng 10 Phân bố độ tuổi của đối tượng nghiên cứu Độ tuổi Tần số (n) Tỷ lệ (%) Trung bình Độ lệch chuẩn
Nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến
Tại độ tuổi 17, số lượng học sinh lần lượt là 112, 158 và 155, chiếm tỷ lệ 26,3%, 37,2% và 36,5% Học sinh 16 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 37,2%, trong khi học sinh 15 tuổi có tỷ lệ thấp nhất là 26,3% Biến tuổi trong nghiên cứu có phân bố xấp xỉ chuẩn, với tuổi trung bình là 16,10 và độ lệch chuẩn là ± 0,79 tuổi.
Biểu đồ 2 Tỷ lệ phân bố khối lớp của đối tượng nghiên cứu (đơn vị: %)
Trong tổng số 425 đối tượng tham gia nghiên cứu, phân theo khối lớp 10, lớp
Số lượng học sinh ở các khối lớp 10, 11 và 12 gần như bằng nhau, với lớp 10 có 142 học sinh, lớp 11 có 143 học sinh và lớp 12 có 140 học sinh Tỷ lệ học sinh của từng khối lần lượt là 33,4%, 33,6% và 33,0%.
Bảng 11 Phân bố trường học của đối tượng nghiên cứu
Trường THPT Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Nghiên cứu đã chọn ba trường THPT tại Hà Nội, bao gồm trường THPT Hồng Thái, trường THPT Ngô Gia Tự và trường THPT Vân Nội Trường THPT Vân Nội có số học sinh tham gia cao nhất với 150 học sinh, chiếm 35,3% Tiếp theo là trường THPT Ngô Gia Tự với 140 học sinh, chiếm 32,9% Cuối cùng, trường THPT Hồng Thái có số học sinh tham gia thấp nhất, với 135 học sinh, chiếm 31,8% Nhóm nghiên cứu cũng đã thống kê số học sinh vắng mặt tại thời điểm nghiên cứu ở mỗi trường.
HUPH trường như sau: trường THPT Hồng Thái có 3 học sinh, trường THPT Vân Nội có 2 học sinh và trường THPT Ngô Gia Tự có 4 học sinh
Biểu đồ 3 Tỷ lệ phân bố loại hình đào tạo của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại ba trường THPT ở Hà Nội, bao gồm trường THPT Vân Nội và trường THPT Hồng Thái (công lập) cùng với trường THPT Ngô Gia Tự (dân lập) Kết quả cho thấy số lượng học sinh theo học hình thức công lập cao gấp đôi so với học sinh dân lập, với 285 học sinh công lập (chiếm 67,1%) và 140 học sinh dân lập (chiếm 32,9%).
1.6 Đặc điểm một số yếu tố liên quan
Biến tuổi đã được nhóm nghiên cứu mô tả ở phần thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 12 Phân loại BMI của đối tượng nghiên cứu
Phân loại BMI Tần số (n) Tỷ lệ (%)
SDD thể gầy còm, mức độ nặng 0 0
SDD thể gầy còm, mức độ vừa 32 7,7
Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng học sinh, điều tra hai thông số chính là cân nặng và chiều cao hiện tại để tính chỉ số BMI Chỉ số BMI được tính bằng cách chia cân nặng (kg) cho bình phương chiều cao (m) Kết quả phân tích cho thấy biến BMI có phân bố xấp xỉ chuẩn, với giá trị trung bình là 19,15 (kg/m²) và độ lệch chuẩn là ± 2,39 (kg/m²).
Chỉ số BMI được phân loại để đánh giá mức độ thể chất của đối tượng nghiên cứu, bao gồm 5 cấp độ: SDD thể gầy còm mức độ nặng, SDD thể gầy còm mức độ vừa, bình thường, thừa cân và béo phì Trong tổng số 417 học sinh có đầy đủ thông tin, tỷ lệ học sinh có thể chất bình thường chiếm cao nhất với 87,8%.
Trong số 366 học sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm mức độ vừa là 7,7% (32 học sinh), thừa cân chiếm 4,3% (18 học sinh), và chỉ có 1 học sinh béo phì, tương đương 0,2% Không có học sinh nào được phát hiện suy dinh dưỡng thể gầy còm mức độ nặng.
Bảng 13 Xếp loại học lực học kỳ 2, năm học 2016-2017 của đối tượng nghiên cứu Xếp loại học lực Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Kết quả thu thập về điểm trung bình các môn học của học kỳ 2, năm học 2016-
Năm 2017, nghiên cứu cho thấy biến này có phân bố xấp xỉ chuẩn với điểm trung bình là 7,74 và độ lệch chuẩn là ± 0,83 điểm Trong số 425 đối tượng tham gia khảo sát, 422 học sinh đã cung cấp xếp loại học lực của học kỳ 2 năm học 2016-2017 Trong đó, số học sinh có xếp loại học lực khá là 216, chiếm tỷ lệ cao nhất 51,2%; tiếp theo là học lực giỏi với 167 học sinh (39,6%); và học lực trung bình có 37 học sinh.
8,8%) và xếp loại yếu có 2 học sinh (chiếm 0,5%) Không có học sinh nào xếp học lực kém trong học kỳ 2, năm học 2016-2017 vừa qua
2 Thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày
Bảng 14 Thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày
Hoạt động thể lực Biến có phân bố xấp xỉ chuẩn
Tần số (n) Trung bình Độ lệch chuẩn 95% KTC
Biến có phân bố không chuẩn
Tần số (n) Trung vị Khoảng Phân vị thứ
Di chuyển tới nơi học tập/làm việc 422 0,53 4,48 0,10-2,95
Ghi chú: Thời lượng do đối tượng tự báo cáo
Học sinh ở 3 trường THPT được khảo sát về thời gian hoạt động thể lực trong ngày, bao gồm học tập, di chuyển, giải trí, thể thao và ngủ Trung bình, thời gian học tập là 6,55 giờ/ngày (± 2,12) với khoảng tin cậy 95% từ 6,34-6,75 giờ Thời gian ngủ trưa và ngủ đêm trung bình là 7,26 giờ/ngày (±1,68) với khoảng tin cậy 95% từ 7,10-7,42 giờ Thời gian di chuyển tới nơi học tập/làm việc của 422 học sinh có trung vị là 0,53 giờ/ngày Thời gian dành cho hoạt động giải trí trung bình là 4,16 giờ/ngày Đáng chú ý, thời gian chơi thể thao của học sinh là thấp nhất, chỉ với trung vị 0,03 giờ/ngày.
3 Thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày, theo đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 15 Thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày, theo đặc điểm đối tượng nghiên cứu
(đơn vị: giờ/ngày) Đặc điểm đối tượng
Học tập/làm việc Di chuyển tới nơi học tập/làm việc Giải trí Chơi thể thao Ngủ
Trung bình (Độ lệch chuẩn)
Trung bình (Độ lệch chuẩn)
Ghi chú: Thời lượng do đối tượng tự báo cáo
Kết quả phân tích cho thấy, thời gian học tập/làm việc trung bình của 254 học sinh nữ là 6,75 (± 2,02) giờ/ngày, cao hơn so với 171 nam học sinh với 6,24 (± 2,24) giờ/ngày Nữ giới có thời gian ngủ trung bình là 7,41 (± 1,64) giờ/ngày, cao hơn 0,37 giờ so với nam giới Thời gian di chuyển tới nơi học tập/làm việc của nam giới có giá trị trung vị là 0,53 (khoảng: 4,44) giờ/ngày, cao hơn so với nữ giới với trung vị là 0,49 (khoảng: 3,11) giờ/ngày Ngoài ra, nữ học sinh dành nhiều thời gian hơn cho hoạt động giải trí so với nam học sinh, với thời gian là 4,33 giờ/ngày.
> 3,93 giờ/ngày) Về thời lượng chơi thể thao, nam và nữ giới có giá trị trung vị (khoảng) lần lượt là 0,11 (9,97); 0,00 (7,09) giờ/ngày
Theo phân loại độ tuổi, thời lượng học tập và làm việc trung bình trong ngày có sự khác biệt rõ rệt Nhóm học sinh 17 tuổi có thời gian học tập lớn nhất, đạt 7,66 (± 2,39) giờ/ngày, vượt trội so với nhóm 15 và 16 tuổi với thời gian lần lượt là 5,93 (± 1,51) và 5,89 (± 1,74) giờ/ngày Ngược lại, thời lượng ngủ đêm và ngủ trưa của nhóm học sinh này cũng cần được xem xét.
Nhóm 17 tuổi có thời gian di chuyển tới nơi học tập/làm việc cao hơn so với nhóm 15 tuổi, với thời gian trung vị là 0,62 giờ/ngày và khoảng 4,48 giờ/ngày Trong khi đó, nhóm 15 tuổi có thời gian di chuyển trung vị là 0,53 giờ/ngày và khoảng 2,99 giờ/ngày Thời gian trung bình di chuyển của nhóm 17 tuổi (6,96 giờ/ngày) cũng thấp hơn so với hai nhóm còn lại, với nhóm 15 tuổi là 7,41 giờ/ngày và nhóm khác là 7,45 giờ/ngày.
Nhóm 15 tuổi có thời lượng hoạt động giải trí cao nhất với trung vị 4,90 giờ/ngày và khoảng 52,40 giờ/ngày Tiếp theo là nhóm 16 tuổi với trung vị 0,37 và khoảng 4,41 giờ/ngày, trong khi nhóm 17 tuổi có thời gian hoạt động giải trí thấp nhất.
Học sinh 17 tuổi có chiều cao vượt trội so với nhóm 15 và 16 tuổi Khi phân loại theo khối lớp 10, 11, 12, số lượng học sinh trả lời câu hỏi về thời gian ngủ trung bình mỗi ngày gần như tương đương Kết quả cho thấy, học sinh khối 12 có thời gian ngủ trung bình là 6,98 (± 1,69) giờ/ngày, thấp hơn so với hai khối còn lại Ngược lại, thời gian học tập/làm việc trung bình của 140 học sinh khối 12 là 7,86 (± 2,27) giờ/ngày, cao hơn hẳn so với học sinh khối 10 và 11, với giá trị trung bình lần lượt là 6,00 (± 1,58) và 5,80 (± 1,84) giờ/ngày Thời gian di chuyển đến nơi học tập/làm việc và hoạt động thể thao của học sinh khối 12 cũng cao hơn so với khối 10 và 11.
HUPH nhất thời lượng hoạt động giải trí trong ngày của khối lớp 10 có cao hơn so với 2 khối còn lại
BÀN LUẬN
1 Thông tin về đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, có tổng 425 học sinh tham gia nghiên cứu, trong đó:
254 nữ học sinh (chiếm 59,8%) và 171 nam học sinh (chiếm 40,2%) Tỷ lệ học sinh nữ gấp 1,5 lần so với học sinh nam
Số lượng đối tượng tham gia nghiên cứu của tác giả Shashank Negi và cộng sự là 400 học sinh, tương đồng với kết quả của họ Tuy nhiên, con số này khác biệt đáng kể so với kết quả điều tra của Wi-Young So với 75.066 học sinh và Braithwaite IE cùng cộng sự với 199.502 học sinh.
Nghiên cứu của O Senbanjo và cộng sự đã khảo sát 570 học sinh, tập trung vào các điều tra quốc gia và quốc tế liên quan đến sức khỏe thanh thiếu niên Các nghiên cứu này có quy mô lớn, góp phần quan trọng vào việc hiểu biết về tình trạng sức khỏe của giới trẻ.
Nghiên cứu của Wi-Young So cho thấy tỷ lệ nam giới là 52,8% và nữ giới là 47,2%, trong khi Shashank Negi và cộng sự báo cáo tỷ lệ 53,8% nam giới và 46,2% nữ giới tham gia Hai kết quả này không tương đồng với nghiên cứu hiện tại, có thể do việc lựa chọn ngẫu nhiên đối tượng học sinh tham gia.
Nghiên cứu được thực hiện trên đối tượng học sinh THPT có độ tuổi từ 15 đến
Nghiên cứu này tập trung vào học sinh từ 15 đến 17 tuổi, với số lượng học sinh lần lượt là 112, 158 và 155, chiếm tỷ lệ 26,3%, 37,2% và 36,5% Đặc biệt, học sinh 16 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (37,2%), trong khi học sinh 15 tuổi có tỷ lệ thấp nhất (26,3%) Hầu hết các nghiên cứu trên thế giới đều tập trung vào lứa tuổi thanh thiếu niên từ 12-18 tuổi, như nghiên cứu của Wi-Young So ở Hàn Quốc và Shashank Negi tại Sri Lanka Sự khác biệt trong các nghiên cứu này xuất phát từ mục tiêu và nguồn lực khác nhau, trong khi nghiên cứu hiện tại chỉ tập trung vào học sinh THPT từ lớp 10 đến lớp 12.
Nghiên cứu được thực hiện tại 3 trường THPT ở Hà Nội, bao gồm 2 trường công lập (THPT Vân Nội và THPT Hồng Thái) và 1 trường dân lập (THPT Ngô Gia Tự) Kết quả cho thấy số học sinh theo học hình thức công lập gấp 2 lần so với học sinh dân lập, với 285 học sinh công lập (chiếm 67,1%) và 140 học sinh dân lập (chiếm 32,9%).
So với nghiên cứu của Shashank Negi và cộng sự [52], tỷ lệ học sinh tham gia ở trường công lập và dân lập có sự khác biệt rõ rệt Cụ thể, trong tổng số 400 học sinh, có 170 học sinh từ trường dân lập (chiếm 42,5%) và 180 học sinh từ trường công lập (chiếm 45%) Sự khác biệt này có thể được lý giải bởi việc lựa chọn ngẫu nhiên đối tượng học sinh tham gia nghiên cứu.
Kết quả phân tích BMI cho thấy: giá trị BMI trung bình là 19,15 ± 2,39 (kg/m 2 ) Trong đó: số học sinh thể chất bình thường chiếm tỷ lệ cao nhất là 87,8%
Trong số 366 học sinh, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể gầy còm mức độ vừa là 7,7% (32 học sinh), thừa cân chiếm 4,3% (18 học sinh), và chỉ có 1 học sinh béo phì, tương đương 0,2% Không phát hiện học sinh nào bị suy dinh dưỡng thể gầy còm mức độ nặng.
Giá trị BMI trung bình của nghiên cứu tương đồng với tác giả Wi-Young So
Nghiên cứu của tác giả Wi-Young So cho thấy BMI trung bình của học sinh Hàn Quốc đạt 20,45 ± 2,95 (kg/m²), tương đồng với học sinh Việt Nam Tuy nhiên, so với các nghiên cứu của I O Senbanjo và Shashank Negi, có sự khác biệt rõ rệt trong phân loại BMI, với tỷ lệ học sinh thừa cân-béo phì lần lượt là 30,5% và 29,8% tại Nigeria và Sri Lanka.
Trong nghiên cứu với 425 học sinh, tỷ lệ học sinh xếp loại học lực khá cao nhất là 51,2% với 216 học sinh Tiếp theo, 39,6% học sinh đạt học lực giỏi, tương đương 167 học sinh Học lực trung bình có 37 học sinh, chiếm 8,8%, trong khi chỉ có 2 học sinh xếp loại yếu.
HUPH sinh (chiếm 0,5%) Không có học sinh nào xếp học lực kém trong học kỳ 2, năm học 2016-2017 vừa qua
Kết quả học tập trong nghiên cứu không tương đồng với tác giả Shashank Negi và cộng sự, khi cho biết chỉ có 14% học sinh đạt kết quả giỏi, 23,7% đạt điểm khá, 29,3% trung bình và 33% học lực kém Sự khác biệt này có thể được lý giải bởi cách tính điểm khác nhau giữa các quốc gia Tại Việt Nam, học sinh thường dành nhiều thời gian cho việc học, dẫn đến thành tích có thể cao hơn so với học sinh trong nghiên cứu ở Sri Lanka.
2 Thực trạng hoạt động thể lực
2.1 Thời lượng hoạt động thể lực của từng hoạt động trong ngày
Trong nghiên cứu với 425 đối tượng, thời gian học tập trung bình hàng ngày là 6,55 (± 2,12) giờ Thời gian ngủ trưa và ngủ đêm trung bình là 7,26 (± 1,68) giờ/ngày 422 học sinh cho biết thời gian di chuyển tới nơi học tập/làm việc trung vị là 0,53 giờ/ngày, với khoảng thời gian là 4,48 giờ/ngày Thời gian dành cho hoạt động giải trí trung vị là 4,16 giờ, với khoảng thời gian lên tới 55 giờ Đặc biệt, thời gian chơi thể thao của học sinh là thấp nhất, với trung vị chỉ 0,03 giờ và khoảng thời gian lên tới 9,97 giờ.
Học sinh THPT chủ yếu dành thời gian cho việc học tập và làm thêm, trong khi thời gian cho thể thao rất hạn chế Giai đoạn này, học sinh tập trung vào việc học chính khóa và học thêm để đạt kết quả tốt trong kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông Quốc gia Chương trình học ở cấp THPT nặng nề hơn so với tiểu học và trung học cơ sở, chiếm nhiều thời gian của học sinh.
Do đó, đây cũng có thể là một nguyên nhân của thực trạng này
2.2 Mức độ hoạt động thể lực
Trong số 394 đối tượng nghiên cứu, có 32 học sinh tham gia hoạt động thể lực tĩnh, chiếm 8,1% Đáng chú ý, 359 học sinh đạt mức hoạt động thể lực cường độ nhẹ, chiếm 91,1% Chỉ có 3 học sinh tham gia hoạt động thể lực cường độ vừa phải, chiếm 0,8%, và không có học sinh nào không tham gia hoạt động thể lực.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), hoạt động thể lực được phân thành hai nhóm: đạt và chưa đạt Tại HUPH, chỉ có 3 học sinh (0,8%) có hoạt động thể lực đạt yêu cầu, trong khi 391 học sinh còn lại (99,2%) chưa đạt mức khuyến nghị về hoạt động thể lực cường độ mạnh.
Tỷ lệ học sinh không đạt mức hoạt động thể lực theo khuyến nghị của TCYTTG là 99,2%, cao hơn so với tỷ lệ trung bình toàn cầu ở thanh thiếu niên (11-17 tuổi) năm 2010 là 81% và khu vực Đông Nam Á là 74% Thực trạng này cho thấy hoạt động thể lực của học sinh THPT tại Hà Nội đang ở mức báo động Mặc dù vậy, kết quả này chỉ mang tính chất tham khảo, vì nhóm nghiên cứu (15-17 tuổi) có thể có tỷ lệ cao hơn so với toàn bộ lứa tuổi thanh thiếu niên Nghiên cứu toàn cầu cũng chỉ ra rằng tỷ lệ thanh thiếu niên không đạt mức khuyến nghị TCYTTG lên tới 90,6%.
3 Một số yếu tố liên quan đến hoạt động thể lực