ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Bộ câu hỏi kiến thức
Phần I: thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Phần II: gồm 35 câu hỏi về kiến thức đối với 02 nội dung chính liên quan đến chăm sóc bà mẹ trong giai đoạn 2 và 3 của chuyển dạ, bao gồm:
Nội dung 1: Kiến thức về kỹ thuật đỡ đẻ thường ngôi chỏm
Nội dung 2: Kiến thức về kỹ thuật XTTCGĐ3 HUPH
* Phương pháp tính điểm kiến thức:
Bảng 2.1 Phương pháp tính điểm các câu hỏi về kiến thức chăm sóc chuyển dạ
Loại câu hỏi Câu hỏi tương ứng
Mỗi câu đúng đƣợc số điểm
Các câu hỏi quan trọng
Các câu hỏi khác Các câu về kiến thức còn lại 1,0 điểm
Ghi chú: Cách tính điểm chỉ áp dụng đối với kiến thức trong nghiên cứu này
Bảng 2.2 Phương pháp đánh giá đạt/không đạt về kiến thức chăm sóc của HS
Nội dung kiến thức Điểm tối đa Điểm đạt Không đạt
≥ 60% tổng điểm < 60% tổng điểm Kiến thức về đỡ đẻ ngôi chỏm 58 ≥35 0,05).
Bảng 3 7 Liên quan giữa kiến thức đỡ đẻ ngôi chỏm với trình độ đào tạo
Giá trị kiểm định Đạt
Trình độ đào tạo chuyên ngành sản khoa cao nhất Đại học, cao đẳng 12(85,7) 2(14,3) 2,22 (0,39- 12,5)
Trung cấp 19(73,1) 7(26,9) 1 Đã được đào tạo về chăm sóc chuyển dạ
Nhóm học sinh có trình độ đại học và cao đẳng đạt kiến thức cao hơn so với nhóm học sinh trung cấp, với tỷ lệ lần lượt là 85,7% và 73,1% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) Nhóm học sinh đã được đào tạo về chăm sóc chuyển dạ theo hướng dẫn quốc gia.
DVCSSKSS (2009) có khả năng có kiến thức đạt cao hơn so với nhóm chưa được đào tạo gấp 10 lần (p 0,05).
Bảng 3 9 Liên quan giữa kiến thức xử trí tích cực giai đoạn 3 với trình độ đào tạo (n@)
Giá trị kiểm định Đạt
Trình độ đào tạo chuyên ngành sản khoa cao nhất Đại học, cao đẳng 9(64,3) 5(35,7)
Trung cấp 12(46,2) 14(53,8) 1 Đã được đào tạo về chăm sóc chuyển dạ
Nhóm học sinh có trình độ cao đẳng và đại học đạt kiến thức cao hơn nhóm trung cấp (64,3% so với 46,2%) Ngoài ra, nhóm học sinh đã được đào tạo về chăm sóc chuyển dạ cũng có kiến thức tốt hơn nhóm chưa được đào tạo (60,0% so với 40,0%) Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
3 3 Thực hành chăm sóc giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của chuyển dạ
Thực hành đỡ đẻ thường ngôi chỏm
Bảng 3 10 Thực hành chuẩn bị đỡ đẻ thường ngôi chỏm (n@)
Nội dung Trong giờ HC Ngoài giờ HC
1 Có đủ 02 CBYT tham gia đỡ đẻ (người đỡ chính có thêm 1 người phụ)
2 Có sẵn bộ dụng cụ đỡ đẻ trong tầm tay người đỡ chính trước khi SP rặn
3 Có sẵn dụng cụ chăm sóc sơ sinh trong phòng đẻ 40 100 40 100
4 Có thông báo và giải thích về cuộc đẻ cho trước khi việc đỡ đẻ diễn ra
5 Có hướng dẫn SP rặn đẻ đúng cách (trong cơn co tử cung, hít sâu, nín hơi )
6 Để cho SP nằm đúng tư thế sản khoa trên bàn đẻ * 40 100 40 100
7 Sát khuẩn âm hộ, tầng sinh môn trước khi đỡ đẻ 28 70,0 25 62,5
8 Người đỡ đẻ đeo găng vô khuẩn trước khi đỡ 40 100 40 100
SP cần nằm đúng tư thế sản khoa, tức là nằm ngửa với bàn đẻ nâng cao, tạo tư thế nửa nằm nửa ngồi Đầu cao, hai tay nắm vào hai thành bàn đẻ, hai đùi giang rộng, mông sát mép bàn, và hai cẳng chân gác trên hai cọc chống giữ chân.
Nhận xét: 100% thực hành các nội dung: (1) có đủ 02 CBYT khi tiến hành đỡ đẻ;
Bộ dụng cụ đỡ đẻ cần được đặt trong tầm tay của người đỡ chính và phải có sẵn dụng cụ chăm sóc sơ sinh trong phòng đẻ Sản phụ (SP) cần nằm đúng tư thế sản khoa trên bàn đẻ, và người đỡ đẻ phải đeo găng vô khuẩn Có 50% hộ sinh (HS) thông báo và giải thích cho SP trước khi đỡ đẻ trong giờ hành chính và trong giờ trực Tỷ lệ HS hướng dẫn SP rặn đẻ đúng cách đạt 92,5% trong giờ hành chính và 87,5% trong giờ trực Ngoài ra, 70,0% thực hiện sát khuẩn âm hộ, tầng sinh môn trước khi đỡ đẻ trong giờ hành chính, trong khi tỷ lệ này là 62,5% trong giờ trực.
Bảng 3 11.Thực hành đỡ đầu trong đỡ đẻ thường ngôi chỏm (n@)
Nội dung Trong giờ HC Ngoài giờ HC
1 Một tay giữ tầng sinh môn 40 100 40 100
2 Tay còn lại ấn nhẹ vùng chẩm trong khi SP rặn đẻ 39 97,5 37 92,5
3 Khi hạ chẩm lộ khỏi âm hộ hướng dẫn bà mẹ ngừng rặn
4 Tay giữ tầng sinh môn giữ nguyên 40 100 40 100
5 Tay đang ấn vùng chẩm chuyển sang ôm lấy đỉnh hướng vùng trán thai lên trên giúp mặt ngửa và sổ từ từ
6 Tiến hành lau nhớt đúng cho trẻ sau khi đầu sổ* 12 30,0 11 27,5
7 Chờ cho đầu thai tự xoay rồi phối hợp giúp chẩm quay sang hẳn một bên (trái ngang hay phải ngang)
Tiến hành lau nhớt đúng cách là rất quan trọng, bao gồm việc hút nhớt hoặc sử dụng gạc vô khuẩn để nhẹ nhàng lau nhớt trong miệng trẻ khi trẻ chưa khóc và có dấu hiệu ngạt phân su Tuy nhiên, không nên lau hoặc hút nhớt nếu trẻ khóc ngay sau khi đầu sổ.
Trong quá trình thực hành giữ TSM, 100% thực hiện trong thì đỡ đầu Tỷ lệ thực hiện lau nhớt đúng cho trẻ sau khi đầu sổ đạt 30,0% trong giờ hành chính và 27,5% trong giờ trực Bước giúp đầu quay về chẩm ngang để vai sổ có tỷ lệ thực hiện là 27,5% trong giờ hành chính và 25,0% trong giờ trực.
Khi được PVS hỏi về việc giúp đầu quay về chẩm ngang trước khi đỡ vai, một học sinh đã giải thích rằng: “Đầu sau đó sẽ tự quay hoặc có thể vừa đỡ vai vừa lựa để xoay về bên trái.”
Bảng 3 12 Thực hành đỡ vai trong đỡ đẻ thường ngôi chỏm (n@)
Nội dung Trong giờ HC Ngoài giờ HC
1 Luồn ngón tay vào phía cổ thai kiểm tra dây rau quấn cổ
2 Xử trí đúng khi có/không có dây rau quấn cổ trước khi tiến hành đỡ vai *
3 Hai tay phối hợp ôm lấy đầu thai vùng đỉnh thái dương hướng theo hướng từ trên xuống
4 Một tay giữ tầng sinh môn 40 100 40 100
5 Tay kia đỡ đầu thai cho gáy nằm giữa ngón 1 và
2 hướng lên trên cho vai sau sổ
Khi xử trí tình huống có hoặc không có dây rau quấn cổ, cần thực hiện các bước đúng cách Nếu không có dây rau quấn cổ, tiến hành đỡ vai bình thường Ngược lại, nếu phát hiện dây rau quấn cổ, hãy kéo nhẹ dây rau; nếu có thể kéo được, luồn dây qua vai để vai sổ Nếu không thể nới được dây rau, cần kẹp và cắt dây rốn ngay lập tức.
Trong bài đánh giá, 100% người tham gia thực hiện đúng động tác đỡ vai trước và sau Trong giờ hành chính, có 37,5% thực hiện kiểm tra dây rau quẩn cổ trước khi đỡ vai, trong khi đó, tỷ lệ này trong giờ trực là 30%.
Bảng 3 13 Thực hành đỡ thân và chi trong đỡ đẻ thường ngôi chỏm (n@)
Nội dung Trong giờ HC Ngoài giờ HC
Tay giữ gáy thai nhi để nguyên 40 100 40 100
Tay giữ tầng sinh môn chuyển sang đỡ phần lưng, mông và sau khi thai sổ hết giữ chặt hai cổ chân trẻ
Kẹp cắt rốn đúng sau khi thai sổ * 0 0 0 0
Khi cắt dây rốn sau khi sinh, cần chờ cho dây rốn ngừng đập trước khi thực hiện Tuy nhiên, trong trường hợp trẻ bị ngạt, việc cắt dây rốn cần được thực hiện ngay lập tức mà không cần chờ đợi.
Kết quả cho thấy 100% thực hiện đúng cách đỡ thân và chi, cũng như cách giữ trẻ sau khi sổ ra ngoài Tuy nhiên, không ai thực hiện đúng hướng dẫn kẹp cắt rốn chậm sau khi thai sổ trong giờ hành chính và giờ trực, mặc dù không có trường hợp sơ sinh bị ngạt sau khi sổ PVS đã lý giải vấn đề này.
Hướng dẫn về kẹp cắt rốn chậm đã được cung cấp, nhưng thực tế, việc thực hiện theo cách cũ lại nhanh hơn Do không có ai phê bình khi không làm theo hướng dẫn, nên tôi đã quen tay và tiếp tục thực hiện như trước.
Bảng 3 14 Kết quả thực hiện đủ từng giai đoạn kỹ thuật đỡ đẻ ngôi chỏm
Nội dung các bước đỡ đẻ ngôi chỏm Trong giờ HC Ngoài giờ HC
Trong quy trình thực hiện, cần đảm bảo hoàn thành đầy đủ các bước Cụ thể, trong đỡ đầu, đã thực hiện tất cả các bước với tỷ lệ 11/27,5 và 10/25,0 Đối với đỡ vai, tỷ lệ thực hiện là 10/37,5 và 7/30,0 Tuy nhiên, trong đỡ thân và chi, không có bước nào được thực hiện.
Trong quá trình thực hiện, không có học sinh nào hoàn thành đầy đủ các bước theo quy trình Cụ thể, trong giai đoạn đỡ đầu, chỉ có 27,5% học sinh thực hiện đủ các bước trong giờ hành chính và 25,0% trong giờ trực Đối với giai đoạn đỡ vai, tỷ lệ này là 37,5% trong giờ hành chính và 30,0% trong giờ trực Đặc biệt, không có học sinh nào thực hiện đúng và đủ các bước trong giai đoạn đỡ thân và chi.
Thực hành xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ
Bảng 3 15 Thực hành chuẩn bị xử trí tích cực giai đoạn 3 (n@)
Nội dung Trong giờ HC Ngoài giờ HC
1 Có 02 CBYT (01 chính, 01 người phụ) 40 100 40 100
2 Chuẩn bị sẵn 10 IU Oxytocin trong bơm tiêm 39 97,5 38 95,0
3 Thông báo và giải thích cho SP trước khi việc đỡ rau diễn ra
4 Để SP nằm theo tư thế sản khoa trên bàn đẻ 40 100 40 100
5 Sát khuẩn vùng âm hộ, tầng sinh môn 20 50,0 16 40,0
6 CBYT đeo găng vô khuẩn trước khi thực hiện 40 100 40 100
Trong quá trình thực hiện thủ thuật, 100% nhân viên y tế đã tuân thủ đủ 3 bước cần thiết: chuẩn bị 02 cán bộ y tế, hướng dẫn tư thế đúng cho sản phụ, và đeo găng vô khuẩn Tỷ lệ chuẩn bị sẵn Oxytoxin đạt 97,5% trong giờ hành chính và 95% trong giờ trực Tuy nhiên, chỉ có 17,5% nhân viên thực hiện thông báo và giải thích cho sản phụ trước khi đỡ rau trong giờ hành chính, và 12,5% trong giờ trực Nguyên nhân chính được nêu ra là do áp lực công việc.
“ Khi nào đông bệnh nhân quá mà vội thì tôi không kịp thông báo” (HS 1)
Có 50,0% học sinh thực hiện sát khuẩn vùng âm hộ và tầng sinh môn cho sản phẩm trong giờ hành chính, trong khi 40% thực hiện trong giờ trực Lý do cho việc này được nêu trong phỏng vấn sâu.
Tình trạng không đảm bảo vô khuẩn là một vấn đề phổ biến, có thể phụ thuộc vào nhận thức của từng cá nhân Nhiều người nhà và bệnh nhân thường không chú ý hoặc không nhận thức được vấn đề này.
Bảng 3 16 Thực hành kỹ thuật xử trí tích cực giai đoạn 3 (n@)
1 Nắn vùng bụng để chắc chắn không còn thai trong tử cung(trong vòng 01 phút sau sổ thai) 4 10,0 4 10,0
2 Tiêm bắp 10 đơn vị Oxytocin vào mặt trước đùi hoặc cơ Delta đúng cách và đảm bảo vô khuẩn 40 100 40 100
3 Một tay đặt lên bụng SP, phía trên xương mu vừa ấn nhẹ vào mặt trước đoạn dưới vừa gạt nhẹ lên trên 10 25,0 10 25,0
4 Tay kia giữ kẹp dây rốn, kéo dây rốn nhẹ nhàng và liên tục dọc theo ống đẻ trong 2 - 3 phút, nếu rau không sổ, dừng lại 5 phút rồi kéo lại
5 Cho màng rau ra bằng cách hạ thấp bánh rau xuống hoặc đỡ bánh rau bằng hai tay xoắn theo chiều kim đồng hồ
6 Có kiểm tra bánh rau 40 100 40 100
7 Xoa đáy tử cung khi rau sổ hoàn toàn và đủ 5 12,5 5 12,5
8 Báo bác sỹ: rau sổ không hoàn toàn hoặc thiếu Không áp dụng: 100% trường hợp bánh rau sổ hoàn toàn và đủ
Trong quá trình thực hiện, 100% học sinh đã hoàn thành đầy đủ ba thao tác: tiêm bắp Oxytocin sau khi thai sổ, đỡ rau và màng rau đúng cách, và kiểm tra bánh rau Có 10% học sinh đã nắn vùng bụng để đảm bảo không còn thai trong tử cung trước khi tiêm thuốc tăng co Tỷ lệ thực hiện động tác phối hợp gạt thân tử cung lên trên là 25% trong giờ hành chính và 25% trong giờ trực Trong khi đó, 90% học sinh thực hiện kéo dây rau bằng lực có kiểm soát trong giờ hành chính và 92,5% trong giờ trực Cuối cùng, 12,5% đã thực hiện động tác xoa đáy tử cung sau khi rau sổ hoàn toàn và đủ trong cả hai khung giờ.
Xoa đáy tử cung sau khi sổ rau là một động tác quan trọng giúp tử cung co bóp hiệu quả hơn Một học sinh cho biết rằng nếu sau khi đỡ rau không thấy máu chảy ra ngoài âm đạo, điều này có thể cho thấy không có dấu hiệu chảy máu, do đó không cần thiết phải thực hiện động tác xoa.
Bảng 3 17 Kết quả thực hiện đầy đủ các bước xử trí tích cực giai đoạn 3
Nội dung xử trí tích cực giai đoạn 3 Trong giờ HC Ngoài giờ HC
1 Thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình 0 0 0 0
2 Thực hiện được 3 bước quan trọng trong quy trình * 5 12,5 5 12,5
3.Có thực hiện bước 1: Tiêm bắp Oxytocin 10UI 40 100 40 100
4.Có thực hiện bước 2: Kéo dây rốn có kiểm soát 10 25,0 10 25,0 5.Có thực hiện bước 3: Xoa đáy tử cung 5 12,5 5 12,5
Theo hướng dẫn của WHO, quy trình quan trọng trong kỹ thuật bao gồm ba bước: (1) Tiêm bắp Oxytocin 10 IU; (2) Kéo dây rốn có kiểm soát để gây sổ rau, thực hiện bằng cách một tay kéo dây rốn và tay còn lại ấn và gạt lên phía ức; (3) Xoa đáy tử cung.
Trong quá trình thực hiện quy trình, không có học sinh nào hoàn thành đầy đủ các bước Tỷ lệ học sinh thực hiện đủ 3 bước quan trọng chỉ đạt 12,5% Tất cả học sinh đều thực hiện bước tiêm bắp 10IU Oxytocin, trong khi 25,0% thực hiện đúng bước kéo dây rốn có kiểm soát Ngoài ra, chỉ có 12,5% học sinh thực hiện bước xoa đáy tử cung sau khi rau sổ trong giờ hành chính và giờ trực.
BÀN LUẬN
Kiến thức đỡ đẻ thường ngôi chỏm
Việc trang bị kiến thức về dụng cụ đỡ đẻ, động viên tinh thần cho sản phụ và hiểu biết về vô khuẩn là rất quan trọng trong kỹ thuật đỡ đẻ và cấp cứu sản khoa Điều này có ý nghĩa lớn vì quá trình chuyển dạ diễn ra nhanh chóng, và tình trạng của mẹ hoặc trẻ sơ sinh có thể trở nên phức tạp bất cứ lúc nào Khi xảy ra bất thường, việc chuẩn bị sẵn sàng các phương tiện cấp cứu giúp người đỡ đẻ tự tin và bình tĩnh xử lý tình huống.
HUPH chuẩn bị đầy đủ các phương tiện và thực hiện các nội dung cần thiết trong quá trình đỡ đẻ thường ngôi chỏm, góp phần quan trọng vào việc đảm bảo an toàn cho quá trình đỡ đẻ.
Trong việc chuẩn bị bộ dụng cụ đỡ đẻ, 100% học sinh được phỏng vấn đều nhận biết bộ dụng cụ cơ bản bao gồm 1 kéo và 2 panh có mấu Tuy nhiên, kiến thức về các nội dung cần thiết để đảm bảo an toàn trong quá trình thực hiện thủ thuật còn hạn chế Chỉ có 42,5% học sinh biết cần chuẩn bị 2 săng vô khuẩn, 60% biết cần trải săng dưới mông sản phụ, và 42,5% nêu cần sát khuẩn vùng âm hộ trước khi đỡ đẻ Điều này cho thấy mặc dù học sinh có kiến thức tốt về dụng cụ thực hành, nhưng phần kiến thức về vô khuẩn cần được cải thiện.
Chỉ có 5,0% học sinh biết cần chuẩn bị thuốc nhỏ mắt cho trẻ sơ sinh, mặc dù việc vệ sinh mắt ngay sau khi sinh rất quan trọng để ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm từ âm đạo mẹ Bên cạnh đó, chỉ 7,5% học sinh nhận thức được việc cần chuẩn bị thước dây để đo chiều dài cơ thể, chu vi vòng đầu và cánh tay của trẻ sơ sinh Những thao tác này rất cần thiết để đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ ngay sau khi sinh, nhưng vẫn còn ít học sinh biết đến.
Bệnh viện cần chú trọng hơn đến việc đánh giá sơ sinh sau khi sinh, bao gồm việc chuẩn bị thuốc nhỏ mắt, thước dây và kết quả PVS, nhằm đảm bảo chiều cao và các chỉ số liên quan, cũng như chăm sóc trẻ ngay sau khi sinh theo quy định.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% học sinh (HS) có kiến thức đúng về kỹ thuật đỡ đầu trong đỡ đẻ thường ngôi chỏm Tuy nhiên, chỉ có 12,5% HS nắm vững kiến thức về việc lau nhớt đúng cách sau khi đầu sổ, thấp hơn nhiều so với 62,5% được đào tạo về chăm sóc chuyển dạ theo hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản Nguyên nhân của sự thiếu hụt này có thể do HS vẫn thực hiện thủ thuật theo thói quen, mặc dù đã được tập huấn, và một số chưa được cập nhật kiến thức mới.
Chỉ có 47,5% học sinh hiểu rằng cần giúp đầu quay về chẩm ngang để vai sổ, điều này cho thấy kiến thức về cơ chế đẻ của họ còn hạn chế Sự thiếu hụt kiến thức này có thể ảnh hưởng đến khả năng chuẩn bị trước khi vai sổ.
Giải phẫu khung chậu và phương pháp hỗ trợ thai nhi ra ngoài là những chủ đề quan trọng cần được chú trọng trong các chương trình đào tạo.
Kiến thức về đỡ vai, đỡ thân và chân thai nhi của các học sinh (HS) được đánh giá cao, nhưng không có ai trong số 40 HS trả lời đúng về kẹp cắt rốn chậm Một số HS cho biết họ đã được tập huấn nhưng không thực hành, cho thấy việc thiếu thực hành và giám sát có thể dẫn đến thiếu hụt kiến thức Kết quả quan sát thực hành cũng cho thấy không có HS nào thực hiện kẹp cắt rốn chậm trên lâm sàng Do đó, việc bồi dưỡng kiến thức là chưa đủ; cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát và sự quan tâm từ ban lãnh đạo bệnh viện và các khoa lâm sàng để giúp HS thay đổi thói quen cũ.
Kiến thức xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ
Chuẩn bị xử trí tích cực giai đoạn 3 là rất quan trọng, với 100% cần chuẩn bị sẵn Oxytocin Tuy nhiên, chỉ có 2,5% học sinh biết cần hướng dẫn sự phối hợp của sản phẩm trong quá trình thực hiện Nhiều nghiên cứu, như của Carolyn Hastie và Kathleen M Fahy (2009) cùng với nghiên cứu của Aasheim V và cộng sự tại Mỹ, đã khẳng định hiệu quả của giao tiếp trong giai đoạn này Một số nguyên nhân có thể là do khối lượng công việc quá tải và thiếu phản hồi từ phía sản phẩm khi không nhận được sự quan tâm chăm sóc tinh thần.
Giai đoạn 3 của chuyển dạ có nguy cơ chảy máu sau đẻ, do đó việc giải thích và động viên sản phụ để họ yên tâm hợp tác là rất quan trọng nhằm giảm thiểu tình trạng này Nội dung chăm sóc tinh thần đã được đưa vào chuẩn năng lực của hộ sinh Việt Nam mới công bố gần đây.
Trong thời gian tới, cần đề xuất bệnh viện tổ chức đào tạo nhằm nâng cao thái độ của học sinh trong việc chăm sóc chuyển dạ, đặc biệt là trong lĩnh vực XTTCGĐ3.
Đảm bảo vô khuẩn trong quá trình thực hiện XTTCGĐ3 là rất quan trọng 100% học sinh nhận thức được cần đeo găng tay vô khuẩn, tuy nhiên chỉ có 37,5% nêu rõ việc sát khuẩn âm hộ và tầng sinh môn Vô khuẩn là một bước thiết yếu trong chăm sóc sức khỏe sản phụ.
Nghiên cứu của Ali năm 2010 tại Bát – đa, I – rắc đã chỉ ra rằng việc giữ sạch sẽ và vô trùng có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất của hộ sinh (HS) trong quá trình đỡ đẻ, và đây được xem là một trong những nhiệm vụ quan trọng để giúp sản phụ cảm thấy thoải mái Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng cho thấy kiến thức về thực hiện vô khuẩn trong quá trình xâm nhập tử cung (XTTCGĐ3) vẫn chưa được thực hiện tốt.
Bệnh viện Phụ sản Hải Dương, với trang thiết bị hiện đại và đội ngũ nhân lực đồng đều, cần chú trọng vào việc đào tạo bổ sung nhằm nâng cao kiến thức chăm sóc bà mẹ và sơ sinh, đồng thời giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn trong bệnh viện.
Kiến thức về thực hiện XTTCGĐ3 còn hạn chế, với chỉ 17,5% người biết cách đặt tay đúng vị trí trên xương mu khi kéo dây rau bằng lực kiểm soát Đặc biệt, chỉ 20% hiểu rằng cần xoa đáy tử cung sau khi rau sổ đủ để giúp tử cung co lại hiệu quả Mặc dù động tác này rất đơn giản nhưng lại có tác dụng quan trọng trong việc phòng tránh chảy máu sau sinh Tuy nhiên, kiến thức này vẫn chưa được chú ý đúng mức và thường bị hiểu sai.
Cần tiếp tục tổ chức tập huấn về XTTCGĐ3 trong quá trình chuyển dạ và thường xuyên đánh giá kiến thức của học sinh về các nội dung đã học Điều này sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức và áp dụng hiệu quả vào việc chăm sóc trong giai đoạn chuyển dạ.
Liên quan giữa kiến thức với một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Không tìm thấy mối liên quan giữa tuổi với kiến thức đỡ đẻ thường ngôi chỏm hay XTTCGĐ3
Nhóm học sinh dưới 32 tuổi có kiến thức về đỡ đẻ ngôi chỏm và XTTCGĐ3 cao hơn so với nhóm từ 32 tuổi trở lên, với tỷ lệ lần lượt là 86,4% so với 66,7% và 68,2% so với 33,3% Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
Có 52,5% HS có số năm công tác trong lĩnh vực chuyển dạ dưới 7 năm
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối liên hệ đáng kể giữa số năm công tác và kiến thức về đỡ đẻ ngôi chỏm cũng như XTTCGĐ3 trong quá trình chuyển dạ (p > 0,05) Nhóm có số năm công tác dưới mức trung bình không có sự khác biệt rõ rệt.
Nhóm có 7 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực đỡ đẻ có kiến thức tốt hơn nhóm có thời gian công tác dưới 7 năm, với tỷ lệ đạt 85,7% so với 68,4% Tương tự, kiến thức về XTTCGĐ3 cũng cho thấy nhóm dưới 7 năm công tác có tỷ lệ đạt cao hơn (61,9% so với 42,1%) Điều này có thể được giải thích bởi các học sinh lớn tuổi thường có trình độ trung cấp và đã tốt nghiệp lâu năm, dẫn đến việc họ ít chú ý đến kiến thức về giải phẫu và cơ chế đẻ.
Họ thường chú trọng vào kỹ năng thực hành, dẫn đến việc quên nhiều kiến thức lý thuyết, ngay cả khi đã được đào tạo nhưng không thực hành thường xuyên Việc áp dụng XTTCGĐ3 tại Việt Nam đồng nghĩa với việc các học sinh có kinh nghiệm lâu năm không được học kỹ thuật này trong môi trường chuyên nghiệp, mà chỉ được tiếp cận khi tham gia các khóa tập huấn hoặc đào tạo lại Do đó, tỷ lệ đạt kiến thức của các học sinh có thể bị ảnh hưởng.
HS có số năm công tác cao lại thấp hơn nhóm có số năm công tác dưới 7 năm
4.2.3.3.Quá trình đào tạo của đối tượng nghiên cứu
Quá trình đào tạo của đối tượng nghiên cứu không liên quan đến kiến thức đỡ đẻ ngôi chỏm và XTTCGĐ3 Tuy nhiên, nhóm này đạt kết quả cao hơn nhóm trung cấp trong hai phần kiến thức, với tỷ lệ lần lượt là 85,7% so với 73,1% và 64,3% so với 46,2% Kết quả này cho thấy hiệu quả của việc đào tạo 3 năm và 4 năm đối với kiến thức của họ.
Nghiên cứu của Ahrar M Rasheid và Rabea'a M Ali (2010) cho thấy mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của học sinh với các đặc điểm nhân khẩu học xã hội, năm làm việc và kinh nghiệm Kết quả chỉ ra rằng kiến thức của học sinh có mối liên hệ chặt chẽ với trình độ học vấn.
Công tác đào tạo cần được ưu tiên, bệnh viện nên tạo điều kiện cho các học sinh có trình độ trung học nâng cao lên cao đẳng, đại học nhằm cải thiện kiến thức trong việc chăm sóc chuyển dạ.
4.2.3.4 Yếu tố từ công tác đào tạo tại bệnh viện
Từ năm 2011, chỉ có 37,5% học sinh (HS) tham gia các lớp đào tạo quy trình chăm sóc, với 15 HS chưa được đào tạo về HDQG theo DVCSSKSS-2009 Nghiên cứu cho thấy những người đã được tập huấn có kiến thức kỹ thuật đỡ đẻ ngôi chỏm cao gấp 10 lần so với nhóm không được tập huấn (p=0,008), tuy nhiên kết quả này không có ý nghĩa thống kê do cỡ mẫu nhỏ Kết quả PVS cũng chỉ ra rằng một số HS vẫn còn hạn chế về kiến thức và thể hiện nhu cầu được đào tạo thêm.
Tuy không tìm thấy mối liên quan nhưng kiến thức về XTTCGĐ3 của nhóm được tập huấn đạt cao hơn nhóm còn lại (60,0% so với 40,0%)
Phần lớn học sinh (HS) khi được phỏng vấn đều bày tỏ mong muốn được học tập và nâng cao kiến thức chuyên môn Đội ngũ HS có kiến thức và thực hành đạt yêu cầu là rất cần thiết trong việc chăm sóc chuyển dạ, đặc biệt là trong giai đoạn 2 và 3 Việc đào tạo liên tục cho HS là điều cấp thiết tại các bệnh viện, nhất là tại Bệnh viện Phụ sản Hải Dương, nơi có nhiều nhân lực mới được tuyển dụng.
Học sinh (HS) hiện nay chủ yếu là những người trẻ tuổi, với 55,0% dưới 32 tuổi, và thường thiếu kinh nghiệm do mới ra trường Tuy nhiên, nhóm HS trẻ này đang ở độ tuổi lý tưởng để được đào tạo về kiến thức chăm sóc chuyển dạ Họ có khả năng tiếp thu nhanh, nhưng cần được định hướng đúng đắn về quy trình chuẩn và rèn luyện tính cẩn thận để nâng cao khả năng làm việc Do đó, việc tổ chức các khóa đào tạo hoặc gửi HS đi học hỏi về những kiến thức mới và chuẩn theo hướng dẫn quốc gia về dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản năm 2009 là rất cần thiết.
[6] và theo các tiêu chí về Chuẩn năng lực cơ bản của HS Việt Nam ban hành tháng
1 năm 2014 [8] là khá cần thiết
4 3 Thực hành chăm sóc giai đoạn 2 và giai đoạn 3 của chuyển dạ
Qua quan sát 40 học sinh thực hiện kỹ thuật đỡ đẻ thường ngôi chỏm và XTTCGĐ3 trong quá trình chuyển dạ, kết quả cho thấy không có học sinh nào thực hiện đúng toàn bộ các bước của hai kỹ thuật này.
Chỉ có 12,5% học sinh trong XTTCGĐ3 thực hiện đúng ba bước cơ bản theo tiêu chuẩn của WHO Kết quả này tương tự như nghiên cứu Đánh giá NĐĐCKN, trong đó chỉ có 12,0% học sinh tham gia thực hiện đúng các bước quan trọng.
Trong kỹ thuật đỡ đẻ ngôi chỏm, việc kẹp cắt rốn chậm không tuân theo hướng dẫn mới, mặc dù không có trẻ sơ sinh bị ngạt sau khi sổ thai, cho thấy cần kẹp cắt rốn khi dây rốn ngừng đập Các bước còn lại được thực hiện tốt, nhưng cả hai kỹ thuật đều chưa đảm bảo vô khuẩn trong quá trình thủ thuật và khả năng giao tiếp với sản phụ còn hạn chế Tuy nhiên, trong quá trình quan sát, không ghi nhận phản ứng tiêu cực từ phía sản phụ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giữa việc thực hành trong và ngoài giờ hành chính đối với hai kỹ thuật đỡ đẻ thường ngôi chỏm và XTTCGĐ3 Điều này có thể được giải thích bởi việc người hành nghề đã thực hiện hai kỹ thuật này một cách thường quy, với 100% ca đẻ được tiến hành bằng XTTCGĐ3, dẫn đến việc hình thành kỹ năng và thực hiện các bước như một thói quen, bất kể thời gian.
Thực hành chăm sóc giai đoạn 2 của chuyển dạ
Kết quả quan sát cho thấy việc thực hành chuẩn bị đỡ đẻ ngôi chỏm đạt hiệu quả cao, với 6 trong số 8 bước cơ bản có tỷ lệ học sinh thực hiện tốt Điều này có thể do học sinh thường xuyên thực hành đỡ đẻ quy chuẩn, dẫn đến việc chuẩn bị chu đáo và đầy đủ Hơn nữa, cơ sở vật chất của bệnh viện cũng tương đối đầy đủ, đáp ứng nhu cầu chăm sóc người bệnh.
Thực trạng thực hành đỡ đẻ thường ngôi chỏm:
Trong giai đoạn đỡ đầu, tỷ lệ học sinh thực hiện thao tác cơ bản như đỡ chẩm và đỡ mặt khá cao, tương ứng với tỷ lệ kiến thức thu thập được Tuy nhiên, cần lưu ý rằng chỉ có 30% học sinh thực hiện lau nhớt trong miệng trẻ đúng cách sau khi đầu sổ trong giờ hành chính, và 27,5% trong giờ trực Đối với việc giúp đầu quay về chẩm ngang để vai sổ, tỷ lệ này chỉ đạt 27,5% trong giờ hành chính và 25% trong giờ trực Tỷ lệ học sinh có kiến thức lau nhớt đúng là 12,5%, trong khi tỷ lệ giúp đầu quay trước khi đỡ vai đạt 47,5% Kết quả này cho thấy sự tương đồng trong việc thực hiện và kiến thức.
HUPH nghiên cứu của Ali và cộng sự tại I-rắc khi 60% HS trả lời không thường xuyên thực hiện động tác giúp đầu quay [26]
Khi phỏng vấn sâu, HS cho rằng thao tác giúp đầu quay về chẩm ngang không thường xuyên được thực hiện, vì họ tin rằng đầu đã tự quay về vị trí cần thiết để đỡ vai Tuy nhiên, điều này chỉ đúng với thế trái; còn với thế phải, cần phối hợp để đầu quay sang bên phải về chẩm- phải- ngang Kết quả cho thấy HS thường làm theo thói quen hơn là tìm hiểu kỹ về cơ chế Điều này đặt ra yêu cầu cho các nhà quản lý cần có định hướng đào tạo sâu hơn về cơ chế đẻ cho HS trong thời gian tới.
Trong giai đoạn đỡ vai, việc kiểm tra dây rau quấn cổ chưa được thực hiện tốt, với chỉ 37,5% và 30,0% học sinh thực hiện tương ứng trong và ngoài giờ hành chính Điều này cho thấy kiến thức về bước kiểm tra dây rau quấn cổ còn thấp, chỉ đạt 55,0%, dẫn đến ít người thực hiện thao tác này.
Trong giai đoạn đỡ mông và chi, 100% học sinh đã thực hiện đúng việc đỡ thân và mông, đồng thời giữ sơ sinh để tránh làm rơi bé Tuy nhiên, không có học sinh nào thực hiện thao tác kẹp cắt dây rốn chậm trong giờ hành chính và giờ trực, cho thấy 100% học sinh thiếu kiến thức về kẹp cắt dây rốn chậm.
Trong Hướng dẫn theo dõi, giám sát và đánh giá DVCSSKSS năm 2004 (Mẫu 11), kỹ thuật kẹp cắt rốn chậm được khuyến nghị nhằm đảm bảo lưu thông máu từ mẹ sang con, giúp trẻ nhận được chất sắt và ngăn ngừa thiếu máu trong những năm đầu đời Tuy nhiên, nhiều học sinh vẫn chưa nắm rõ và áp dụng thao tác này trong quá trình chăm sóc chuyển dạ, mặc dù đây là một bước quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe trẻ em.
Nghiên cứu của Ahrar M Rasheid và Rabea'a M Ali năm 2010 tại thủ đô Bát – đa, I – rắc cho thấy có 34,7% học sinh cắt dây rốn ngay sau khi sinh.
Việc thực hiện các bước đỡ đẻ cho ngôi chỏm của các đối tượng nghiên cứu diễn ra tương đối đồng đều và hiệu quả, ngoại trừ việc áp dụng kẹp cắt rốn chậm.
HUPH thao tác lau nhớt trong miệng trẻ đúng là rất quan trọng Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn sinh viên để tìm hiểu nguyện vọng và đề xuất của họ nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc trong giai đoạn chuyển dạ Các sinh viên mong muốn thực hành tốt để giảm thiểu tai biến cho sản phụ và tránh gặp sự cố trong quá trình làm việc Họ cần được tập huấn và hướng dẫn kỹ lưỡng về những thay đổi so với trước đây Do đó, cần đề xuất bệnh viện tăng cường tập huấn về kỹ thuật lau nhớt đúng trong miệng trẻ sau khi sinh và kỹ thuật kẹp cắt rốn chậm, đồng thời giám sát chặt chẽ công tác vô khuẩn để nâng cao chất lượng chăm sóc trong giai đoạn 2 chuyển dạ.
Thực hành xử trí tích cực giai đoạn 3 của chuyển dạ
Trong thực hành chuẩn bị XTTCGĐ3, học sinh thực hiện tương đối tốt các bước, tuy nhiên, có ít thông báo giải thích trước khi tiến hành thủ thuật (17,5% trong giờ hành chính và 12,5% trong giờ trực) Tỷ lệ đảm bảo vô khuẩn cũng cần cải thiện, với 50% thực hiện sát khuẩn vùng làm thủ thuật trong giờ hành chính và 40% trong giờ trực.
Quan sát thực hành tiến hành xử trí tích cực giai đoạn 3 (gồm 8 bước) cho thấy còn một số bước cần có được cải thiện:
Nhiều học sinh (HS) không biết cách phối hợp hai tay để tách bánh rau khỏi tử cung sau khi tiêm thuốc tăng co, với chỉ 25,0% thực hiện đúng thao tác này Quan sát thực hành kỹ thuật, chúng tôi phát hiện HS không chỉ sai trong việc đặt tay mà còn có xu hướng đẩy bánh rau xuống thay vì kéo ra ngoài Mặc dù chưa gặp biến chứng do thường đợi ra bong mới đỡ, việc chậm trễ trong bóc rau làm giảm hiệu quả rút ngắn giai đoạn 3, mục đích chính của kỹ thuật này Do đó, cần có chương trình tập huấn cụ thể, nhấn mạnh ý nghĩa thao tác để HS thực hiện đúng thời điểm và cách tiến hành chính xác.
Tỷ lệ thực hiện thao tác xoa đáy tử cung sau khi đỡ bánh rau ra ngoài chỉ đạt 15,0% trong giờ hành chính và 12,5% trong giờ trực, trong khi kiến thức đúng về vấn đề này chỉ đạt 20,0% Nhiều học sinh cho rằng chỉ cần quan sát máu ra vùng âm đạo là đủ để nhận định hiện tượng chảy máu sau đẻ, dẫn đến việc không thực hiện xoa đáy tử cung Tuy nhiên, cách quan sát này chỉ giúp nhận biết một phần các trường hợp chảy máu sau đẻ, thường là khi đã muộn và có thể gây biến chứng nặng Thao tác xoa đáy tử cung sau khi rau sổ cần được coi là biện pháp dự phòng quan trọng, giúp tử cung co tốt hơn và giảm lượng máu mất ngay từ đầu, nhưng vẫn chưa được chú trọng Do đó, cần bổ sung nội dung này trong các buổi tập huấn về chăm sóc giai đoạn 3 chuyển dạ.
Thực trạng thực hiện đầy đủ các bước xử trí tích cực giai đoạn 3
Nghiên cứu chỉ ra rằng không có học sinh nào thực hiện đầy đủ các bước trong quy trình theo Báo cáo NĐĐCKN tại Việt Nam Tỷ lệ học sinh thực hiện đủ 3 bước quan trọng trong quy trình chỉ đạt 12,5% trong cả giờ hành chính và giờ trực.
Mặc dù tỷ lệ thực hiện XTTCGĐ3 trong nghiên cứu Mạng lưới chu sinh và sinh sản toàn cầu năm 2006 chỉ đạt 25,0%, nhưng con số này vẫn tương đồng với nhiều nghiên cứu khác trên thế giới Thực hành kéo dây rốn có kiểm soát dao động từ 13,0% đến 100%, cho thấy sự đa dạng trong việc áp dụng phương pháp này.
Liều bổ sung Oxytocin trong giai đoạn 3 của chuyển dạ dao động từ 5,0% đến 100%, tương tự như nghiên cứu của Cynthia Stanton và cộng sự năm 2009 tại 7 nước đang phát triển Mặc dù thuốc co hồi được sử dụng phổ biến, nhưng việc áp dụng đúng XTTCGĐ3 chỉ được ghi nhận trong 0,5% đến 32% các ca đẻ quan sát, cho thấy nhiều thiếu sót trong thực hành tại các quốc gia này.
Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% học sinh tại Bệnh viện Phụ sản Hải Dương thực hiện XTTCGĐ3 thường xuyên, trong khi chỉ 53% đối tượng được quan sát trong báo cáo NĐĐCKN tại Việt Nam thực hiện điều này Sự khác biệt này có thể do ban lãnh đạo bệnh viện yêu cầu thực hiện XTTCGĐ3 cho tất cả các ca đẻ Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc thực hành XTTCGĐ3 còn yếu, với chỉ 12,5% học sinh thực hiện đủ 3 bước quan trọng trong quy trình trong giờ trực và giờ hành chính, tương đương với 5 học sinh, gần giống với tỷ lệ 12% trong báo cáo NĐĐCKN.
HS là nòng cốt trong công tác chăm sóc chuyển dạ, họ thực hiện chăm sóc
Quá trình chăm sóc sản phụ từ khi nhập viện, trong quá trình đẻ và sau khi đẻ là nhiệm vụ quan trọng cần được đào tạo cho nhân viên y tế Việc trang bị kiến thức và thực hành quy trình chăm sóc hiệu quả sẽ nâng cao chất lượng dịch vụ Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đội ngũ nhân viên y tế tại bệnh viện Phụ sản Hải Dương đã nắm vững kiến thức và thực hành chăm sóc trong giai đoạn 2 và 3 của chuyển dạ.
Kế hoạch can thiệp được triển khai nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc cho bà mẹ và trẻ em, từ đó góp phần giảm thiểu tai biến và tỷ lệ tử vong trong quá trình chuyển dạ.
4 4 Một số hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu về kiến thức và thực hành của học sinh trong chăm sóc chuyển dạ là rất quan trọng để xác định nội dung ưu tiên trong đào tạo liên tục Tuy nhiên, tài liệu nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế cả ở Việt Nam và trên thế giới, điều này gây khó khăn cho việc so sánh kết quả nghiên cứu và học hỏi trong quá trình thực hiện.
Nghiên cứu được thực hiện tại một bệnh viện chuyên khoa có quy mô nhỏ, dẫn đến cỡ mẫu không đủ lớn mặc dù đã chọn mẫu toàn bộ Do đó, việc xác định mối liên quan giữa kiến thức của học sinh và kết quả nghiên cứu gặp khó khăn, và kết quả không thể đại diện cho các bệnh viện khác.
Nghiên cứu này tập trung vào việc quan sát hai quy trình kỹ thuật quan trọng trong chăm sóc giai đoạn 2 và 3 của chuyển dạ đẻ, trong khuôn khổ của đề tài có hạn.
HUPH chưa thể hiện đầy đủ thực hành chăm sóc chuyển dạ của học sinh (HS) do không quan sát toàn bộ diễn biến cuộc đẻ và chưa tìm được mối liên quan với kiến thức chăm sóc chuyển dạ Để giải quyết vấn đề này, cần thực hiện các nghiên cứu chuyên biệt và quy mô rộng hơn nhằm đánh giá tổng quan về kiến thức và thực hành chăm sóc của HS trong toàn bộ quá trình chuyển dạ Từ đó, có thể đưa ra những khuyến nghị phù hợp để phát triển đội ngũ HS chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu trong chăm sóc chuyển dạ.