ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nhân viên làm việc tại khoa Xét nghiệm của Trung tâm
Y tế dự phòng một số tỉnh phía Bắc
Nhân viên phòng xét nghiệm tham gia nghiên cứu này bao gồm người phụ trách phòng, nhân viên thực hiện xét nghiệm có tiếp xúc với các tác nhân gây bệnh (vi sinh và hóa sinh), và nhân viên thực hiện công tác khử nhiễm.
+ Có mặt tại địa điểm nghiên cứu khi điều tra viên xuống thu thập số liệu + Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Đối tượng không đáp ứng được tiêu chuẩn lựa chọn
+ Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
4 Thời gian: Từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 6 năm 2017
5 Địa điểm: 06 phòng/khoa xét nghiệm của Trung tâm Y tế dự phòng tuyến tỉnh, thành phố được chọn để thực hiện nghiên cứu dựa trên tiêu chí về vị trí địa lý, đại diện cho các khu vực của miền Bắc: vùng núi và trung du phía Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ:
+ Vùng núi và trung du phía Bắc: Phú Thọ, Yên Bái, Quảng Ninh, Bắc Giang + Đồng bằng Sông Hồng: Hà Nội
+ Bắc Trung bộ: Thanh Hoá.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Số lượng nhân viên phòng xét nghiệm để quan sát, phỏng vấn: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu ước tính cho một tỷ lệ
N: cỡ mẫu nhỏ nhất đạt được α: mức ý nghĩa α=0.05 d: mức sai số chấp nhận được (trong nghiên cứu này lấy d= 0.08)
Z1-α/2=1.96, với độ tin cậy bằng 95%
P: ước lược tỷ lệ thực hành an toàn sinh học đạt, vìkhông chọn được tỷ lệ thực hành an toàn sinh học phù hợp, tác giả lấy p = 0,5 Áp dụng công thức trên, tôi tính được n = 150
Theo điều tra ban đầu, có 210 nhân viên phòng xét nghiệm làm việc tại 6 Trung tâm Y tế dự phòng ở các tỉnh Yên Bái, Bắc Giang, Phú Thọ, Quảng Ninh, Hà Nội và Thanh Hóa Trong quá trình nghiên cứu, tôi đã chọn được 166 nhân viên phòng xét nghiệm từ các khoa xét nghiệm tại 6 Trung tâm này.
Y tế dự phòng các tỉnh trên đủ tiêu chuẩn tham gia vào nghiên cứu.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
6 Công cụ thu thập số liệu gồm có:
+ Bộ câu hỏi phỏng vấn để điều tra kiến thức về an toàn sinh học của đối tượng nghiên cứu
+ Bảng kiểm đánh giá thực hành để điều tra thực hành an toàn sinh học của đối tượng nghiên cứu
7 Xây dựng công cụ thu thập số liệu dựa trên việc tham khảo:
+ Tài liệu, văn bản hướng dẫn về thực hành An toàn sinh học của Bộ Y tế, Viện
Vệ sinh Dịch tễ trung ương;
+ Tài liệu An toàn sinh học tại Phòng xét nghiệm An toàn sinh học cấp II; + Bộ công cụ của nghiên cứu tương tự
8 Bộ công cụ sau khi được xây dựng xong, sẽ được đem đi điều trả thử trên 05 nhân viên làm việc tại phòng xét nghiệm của Viện Vệ sinh Dịch tễ trung ương Sau
HUPH đó, bộ công cụ được chỉnh sửa và hoàn thiện để phù hợp với nhân viên phòng xét nghiệm của Trung tâm Y tế dự phòng tuyến tỉnh
2.5.2 Kỹ thuật thu thập số liệu
9 Kiến thức về an toàn sinh học: Đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi soạn sẵn (phụ lục 2) Điều tra viên trực tiếp phỏng vấn đối tượng nghiên cứu tại phòng hành chính/phòng họp của khoa xét nghiệm nơi đối tượng nghiên cứu làm việc Thời gian phỏng vấn từ 30-40 phút
10 Thực hành an toàn sinh học: Đối tượng nghiên cứu trực tiếp làm một số thao tác theo yêu cầu của nghiên cứu Các điều tra viên sẽ sử dụng bảng kiểm để đánh giá việc đảm bảo an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm trong quá trình thực hiện các kỹ thuật này (phụ lục 3) Các kỹ thuật đánh giá bao gồm:
+ Nuôi cấy vi khuẩn tại phòng xét nghiệm;
+ Sử dụng tủ an toàn sinh học cấp II để làm xét nghiệm với tác nhân gây bệnh; + Sử dụng máy ly tâm;
+ Sử dụng nồi hấp tiệt trùng;
+ Đóng gói, bảo quản và vận chuyển bệnh phẩm
11 Tất cả các điều tra viên đều được tập huấn về nghiên cứu trước khi tiến hành thu thập số liệu
2.5.3 Tổ chức thực hiện thu thập thông tin
12 Tập huấn thu thập thông tin
+ Giảng viên tập huấn: Trưởng nhóm nghiên cứu;
Đối tượng của buổi tập huấn gồm 5 điều tra viên, những người này đã hoặc đang đảm nhiệm vai trò giảng viên cho lớp đào tạo an toàn sinh học tại Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương.
+ Nội dung tập huấn: kỹ năng sử dụng bộ câu hỏi và bảng kiểm đánh giá, kỹ năng thu thập thông tin, kỹ năng ghi chép thông tin
13 Quy trình thu thập thông tin
Nghiên cứu viên đã liên hệ với phòng xét nghiệm của 6 Trung tâm Y tế dự phòng phía Bắc để thông báo về nghiên cứu và sắp xếp lịch thu thập số liệu tại các phòng xét nghiệm này.
Tại phòng xét nghiệm của Trung tâm Y tế dự phòng 6 tỉnh, nhân viên được thông báo về nghiên cứu và ký phiếu đồng ý tham gia.
Bước 3: Tiến hành điều tra chính thức đối tượng nghiên cứu tại nơi làm việc bằng cách phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi về kiến thức an toàn sinh học tại phòng hành chính hoặc phòng họp của khoa xét nghiệm Đồng thời, quan sát và ghi chép vào bảng kiểm về thực hành an toàn sinh học trong quá trình đối tượng thực hiện các kỹ thuật xét nghiệm theo yêu cầu của nghiên cứu viên tại phòng xét nghiệm.
Bước 4: Giám sát quá trình thu thập và quản lý dữ liệu nghiên cứu, bao gồm các hoạt động như làm sạch, nhập liệu, kiểm tra, phân tích dữ liệu và viết báo cáo.
Biến số nghiên cứu
14 Nhóm biến số về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu:
Thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu bao gồm giới tính, tuổi, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, kinh nghiệm làm xét nghiệm, đào tạo an toàn sinh học, thời gian đào tạo an toàn sinh học, cùng với các khóa đào tạo khác và thời gian tương ứng Ngoài ra, thông tin về phòng xét nghiệm nơi đối tượng làm việc cũng rất quan trọng, bao gồm chứng nhận phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II và thời gian cấp chứng nhận.
15 Nhóm biến số về kiến thức an toàn sinh học của đối tượng nghiên cứu:
+ Kiến thức về một số khái niệm an toàn sinh học: các định nghĩa và yếu tố đảm bảo an toàn sinh học
+ Kiến thức về phân loại nhóm nguy cơ
+ Kiến thức về lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm: tác nhân, đường lây nhiễm, nguy cơ lây nhiễm, khả năng lây nhiễm và liều lây nhiễm
+ Kiến thức về đánh giá nguy cơ: người đánh giá nguy cơ và yếu tố đánh giá nguy cơ
Phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II yêu cầu kiểm soát chặt chẽ đối tượng ra vào, đảm bảo chỉ những người có thẩm quyền mới được phép truy cập Các phòng xét nghiệm này cần được thiết kế riêng biệt, trang bị nồi hấp tiệt trùng để xử lý dụng cụ và vật liệu Đặc biệt, việc xử lý bơm kim tiêm sau khi sử dụng phải tuân thủ quy trình an toàn để ngăn ngừa lây nhiễm và bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
+ Kiến thức về tủ an toàn sinh học: các loại tủ an toàn sinh học và thao tác cần tránh khi sử dụng tủ an toàn sinh học
+ Kiến thức sử dụng máy ly tâm
+ Kiến thức về đóng gói, vận chuyển mẫu
+ Kiến thức về khử nhiễm
+ Kiến thức về xử lý chất thải y tế và sử dụng bảo quản hóa chất
+ Kiến thức về phòng ngừa và xử lý sự cố
16 Nhóm biến số về thực hành an toàn sinh học của đối tượng nghiên cứu: + Thực hành chung: sử dụng các trang bị bảo hộ khi làm xét nghiệm và khi ra khỏi khu vực xét nghiệm
Thực hành an toàn sinh học trong quá trình làm xét nghiệm là rất quan trọng, bao gồm các thao tác như đốt đèn cồn, mở hộp lồng khi nuôi cấy và khử trùng que cấy Những biện pháp này giúp đảm bảo an toàn cho người thực hiện và độ chính xác của kết quả xét nghiệm.
+ Thực hành an toàn sinh học khi sử dụng tủ an toàn sinh học
+ Thực hành an toàn sinh học khi sử dụng máy ly tâm
+ Thực hành an toàn khi sử dụng nồi hấp tiệt trùng
+ Thực hành an toàn khi đóng gói, vận chuyển bệnh phẩm
+ Thực hành an toàn khi sử dụng và bảo quản hóa chất.
Tiêu chuẩn đánh giá
Tổng điểm tối đa cho phần kiến thức là 36 điểm Một người được cho là có kiến thức đạt khi đạt ít nhất 25 điểm so với tổng điểm trên
Mã câu hỏi Mã lựa chọn trả lời Đánh giá Cho điểm
Tổng điểm cho phần thực hành là 38 điểm Một người được cho là có thực hành đạt khi đạt ít nhất 26 điểm so với tổng điểm trên
Mã câu hỏi Mã lựa chọn trả lời Đánh giá Cho điểm
Không Sai/Chưa đạt 0 điểm
Có Sai/Chưa đạt 0 điểm
Không Sai/Chưa đạt 0 điểm
Có Sai/Chưa đạt 0 điểm
Không Sai/Chưa đạt 0 điểm
Có Sai/Chưa đạt 0 điểm
Không Sai/Chưa đạt 0 điểm
Có Sai/Chưa đạt 0 điểm
Không Sai/Chưa đạt 0 điểm
Có Sai/Chưa đạt 0 điểm
Không Sai/Chưa đạt 0 điểm
Phương pháp phân tích số liệu
Trước tiên, cần kiểm tra tính đầy đủ và chính xác của số liệu thu thập, xác định người phụ trách xử lý và nơi lưu trữ Sau khi thu thập, số liệu sẽ được làm sạch, mã hóa và nhập vào máy tính bằng phần mềm SPSS.
Thông tin thu thập được được lưu trữ dưới hai hình thức: dạng điện tử trong máy tính và dạng văn bản trong các bộ câu hỏi điều tra, nhằm phục vụ cho việc đối chiếu khi cần thiết.
2.8.2 Xử lý và phân tích số liệu
Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 17.0, với các số liệu được mã hóa thành dạng số hoặc theo thanh điểm tùy thuộc vào loại biến số Tùy theo mục đích phân tích, các nhóm biến số có thể được phân chia từ dạng liên tục sang phân loại hoặc thứ bậc Kết quả sẽ được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ phù hợp.
- Nghiên cứu tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng đạo đức trường Đại học
Nghiên cứu này tuân thủ đầy đủ các tiêu chuẩn đạo đức, đặt lợi ích và sức khỏe của cộng đồng cũng như ngành y tế lên hàng đầu Không có vấn đề nhạy cảm nào liên quan đến người tham gia Trước khi tham gia, các đối tượng được thông tin rõ ràng về mục đích nghiên cứu và có quyền tự nguyện quyết định tham gia hay không.
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
- Hạn chế và sai số của nghiên cứu:
Sai số trong quá trình điều tra có thể phát sinh do kỹ năng phỏng vấn của từng điều tra viên, vì thông tin chủ yếu được thu thập thông qua bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn.
+ Sai số trong quá trình nhập liệu
Trong quá trình nghiên cứu và điền bảng kiểm khi thực hiện các thao tác trong phòng xét nghiệm, một số chỉ số không đạt độ chính xác 100% Nguyên nhân là do đối tượng nghiên cứu thực hiện thao tác liên tục, dẫn đến việc quan sát và ghi chép bảng kiểm không kịp với tốc độ thao tác của họ.
+ Tập huấn cho điều tra viên kỹ lưỡng về phương pháp, mục đích trước khi tiến hành thu thập số liệu
Trong quá trình thu thập số liệu, việc giám sát chặt chẽ là rất quan trọng Các phiếu điều tra ban đầu sẽ được nghiên cứu viên hỗ trợ và giám sát Cuối mỗi ngày, các phiếu điều tra sẽ được kiểm tra, và nếu phát hiện thông tin chưa đầy đủ hoặc không hợp lý, điều tra viên sẽ được yêu cầu bổ sung.
Để giảm thiểu sai số trong quá trình nhập liệu, cần đọc kỹ phiếu và thực hiện làm sạch dữ liệu trước khi nhập Ngoài ra, việc giám sát và thường xuyên kiểm tra chéo các phiếu đã nhập với dữ liệu là rất quan trọng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu Tần số
Xét nghiệm/kỹ thuật y học 72 43,4
Trong nghiên cứu với 166 nhân viên phòng xét nghiệm, tỷ lệ nhân viên nữ chiếm 79,5%, trong khi nhân viên nam chỉ có 20,5% Đối tượng tham gia có độ tuổi trung bình là 35, với độ tuổi nhỏ nhất là 22 và lớn nhất là 60 Nhân viên trong độ tuổi từ 30 đến 39 chiếm tỷ lệ cao nhất (40,4%), tiếp theo là nhóm dưới 30 tuổi (33,7%), và nhóm từ 40 đến 50 tuổi chiếm 18,7%.
Tỷ lệ nhân viên có trình độ học vấn bậc Đại học chiếm 47%, trong khi đó, 22,3% có trình độ trung cấp, 16,9% tốt nghiệp cao đẳng và 12% có trình độ sau đại học Đáng chú ý, vẫn còn 1,8% đối tượng nghiên cứu chỉ đạt trình độ Trung học phổ thông.
Trong nghiên cứu này, 43,4% nhân viên được đào tạo chuyên ngành xét nghiệm, là tỷ lệ cao nhất Tiếp theo, 18,7% nhân viên có chuyên ngành sinh học, trong khi tỷ lệ bác sĩ chỉ đạt 11,4% Chuyên ngành y tế công cộng có tỷ lệ thấp nhất, chỉ 1,2%.
Bảng 3.2 Thông tin về công việc của đối tượng nghiên cứu
Thông tin về công việc Tần số
Trực tiếp làm xét nghiệm Có 155 93,4
Theo thống kê, nhân viên phòng xét nghiệm có thời gian công tác từ 5 đến dưới 10 năm chiếm tỷ lệ cao nhất với 42,8% Tiếp theo là nhóm nhân viên có thời gian công tác dưới 5 năm, chiếm 18,7% Nhóm nhân viên làm việc từ 20 đến dưới 25 năm và trên 25 năm có tỷ lệ tương đương nhau, mỗi nhóm chiếm 6,6%, là nhóm có tỷ lệ thấp nhất.
Trong tổng số 166 nhân viên, có 93,4% là những người trực tiếp thực hiện xét nghiệm, trong khi 6,6% còn lại đảm nhận các công việc quản lý hoặc phụ trách về môi trường và việc sấy rửa dụng cụ.
Bảng 3.3 Thông tin về tham dự các khoá đào tạo an toàn sinh học của ĐTNC
Thông tin về đào tạo an toàn sinh học Tần số Tỷ lệ
Thời gian được đào tạo an toàn sinh học (N9)
Tham gia khoá đào tạo khác có nội dung tương đương (N6)
Theo thống kê, có 149 nhân viên (89,8%) đã tham gia khóa đào tạo an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm An toàn sinh học cấp II do Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương tổ chức Tỷ lệ nhân viên được đào tạo trong khoảng 4 đến dưới 6 năm cao nhất (42,3%), trong khi tỷ lệ nhân viên được đào tạo trong vòng 2 năm thấp nhất (8,1%) Đặc biệt, chưa có nhân viên nào tham gia khóa đào tạo khác tương đương với khóa đào tạo an toàn sinh học này.
Bảng 3.4 Thông tin về PXN nơi ĐTNC làm việc
Thông tin về phòng xét nghiệm Tần số Tỷ lệ
Chứng nhận PXN ATSH cấp II (n=6)
Thời gian cấp giấy chứng nhận PXN ATSH cấp II
Nghiên cứu này được thực hiện tại 6 phòng xét nghiệm thuộc 6 Trung tâm Y tế dự phòng tuyến tỉnh, tất cả các trung tâm đều có phòng xét nghiệm được cấp giấy chứng nhận An toàn sinh học cấp II bởi Sở Y tế tỉnh Đặc biệt, trong số đó, có 3 trung tâm đã nhận được giấy chứng nhận cho phòng xét nghiệm An toàn sinh.
HUPH học cấp II trong vòng 2 đến 4 năm trở lại đây và 3 trung tâm được cấp chứng nhận trong thời gian trên 4 năm.
Kiến thức và thực hành an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm
3.2.1 Kiến thức an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm
Bảng 3.5 Kiến thức về một số khái niệm an toàn sinh học
Kiến thức về một số khái niệm an toàn sinh học Tần số
Tỷ lệ (%) Định nghĩa đúng về an ninh sinh học 66 39,8 Định nghĩa đúng về an toàn sinh học 71 42,8
Chọn đúng các yếu tố đảm bảo an toàn sinh học 33 19,9
Bảng 3.5 cho thấy rằng trong số 166 đối tượng nghiên cứu, chỉ có 39,8% nhân viên hiểu đúng định nghĩa về an ninh sinh học, trong khi 42,8% nắm rõ định nghĩa an toàn sinh học Đáng chú ý, chỉ có 19,9% nhân viên biết được các yếu tố cần thiết để đảm bảo an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm.
Bảng 3.6 Kiến thức về phân loại nhóm nguy cơ
Kiến thức về phân loại nhóm nguy cơ Tần số
Virus cúm A/H5N1 thuộc nhóm nguy cơ 3 80 48,2
Virus viêm gan B thuộc nhóm nguy cơ 2 148 89,2
Virus HIV thuộc nhóm nguy cơ 3 62 37,3
Vi khuẩn tả thuộc nhóm nguy cơ 2 115 69,3
Xác định đúng nhóm nguy cơ của 4 loại VSV 18 10,8
Tỷ lệ nhân viên phòng xét nghiệm xác định đúng nhóm nguy cơ của virus viêm gan B, vi khuẩn tả, virus cúm A/H5N1 và virus HIV lần lượt đạt 89,2%; 69,3%; 48,2% và 37,3% Đáng chú ý, chỉ có 10,8% nhân viên phòng xét nghiệm phân loại đúng nhóm nguy cơ cho cả bốn loại vi sinh vật này.
Bảng 3.7 Kiến thức về lây nhiễm liên quan đến PXN
Kiến thức về lây nhiễm liên quan đến PXN Tần số Tỷ lệ
Tác nhân chính gây ra nhiễm trùng bệnh viện (LAI) là vi khuẩn và virus, chiếm tỷ lệ 98,8% Đường lây nhiễm phổ biến dẫn đến LAI là do hít phải các hạt khí dung được tạo ra trong các sự cố, thao tác hoặc quy trình xét nghiệm, với tỷ lệ 34,9%.
Nguy cơ lây nhiễm VSV của nhân viên PXN cao hơn so với cộng đồng 96 57,8
Nhân viên PXN có nguy cơ bị lây nhiễm khác nhau nếu thao tác cùng loại TNGB 97 58,4
Liều lây nhiễm của vi khuẩn cao hơn virus 110 66,3
Trong một nghiên cứu về lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm (LAI), 98,8% nhân viên đã xác định đúng nhóm tác nhân gây ra LAI, nhưng chỉ có 34,9% trả lời đúng về đường lây nhiễm thường gặp nhất Tỷ lệ nhân viên xác định đúng nguy cơ lây nhiễm vi sinh vật, khả năng lây nhiễm và liều lây nhiễm lần lượt là 57,8%, 58,4% và 66,3% Tuy nhiên, chỉ có 13,9% nhân viên phòng xét nghiệm trả lời đúng cả 5 câu hỏi về lây nhiễm liên quan đến phòng xét nghiệm.
Bảng 3.8 Kiến thức về đánh giá nguy cơ
Kiến thức về đánh giá nguy cơ Tần số Tỷ lệ
Người đánh giá nguy cơ VSV bao gồm: cán bộ dịch tễ, thú y, phụ trách và nhân viên phòng xét nghiệm, cán bộ phụ trách an toàn sinh học
Yếu tố để đánh giá nguy cơ sinh học: danh sách phân loại TNGB theo nhóm nguy cơ, đường lây nhiễm, yếu tố vật chủ… 130 78,3
Trả lời đúng 2 câu về đánh giá nguy cơ 104 62,7
Trong một cuộc khảo sát về đánh giá nguy cơ tại phòng xét nghiệm, có 72,3% nhân viên nhận biết người thực hiện đánh giá nguy cơ vi sinh vật, trong khi 78,3% nhân viên hiểu rõ các nhóm yếu tố liên quan đến đánh giá nguy cơ sinh học Tỷ lệ nhân viên trả lời đúng các câu hỏi về đánh giá nguy cơ đạt 62,7%.
Bảng 3.9 Kiến thức về phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II
Kiến thức về phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II Tần số Tỷ lệ
(%) Đối tượng ra vào PXN là nhân viên phòng xét nghiệm 166 100
PXN ATSH cấp II phải riêng biệt với các PXN khác 112 67,5
Có nồi hấp tiệt trùng trong khu vực PXN 147 88,6
Xử lý bơm kim tiêm sau sử dụng: cho ngay vào hộp đựng chất thải sắc nhọn 62 37,3
Trả lời đúng 4 câu về PXN ATSH cấp II 47 28,3
Tất cả nhân viên phòng xét nghiệm đều hiểu rõ về các đối tượng ra vào khu vực này Tỷ lệ nhân viên nắm vững quy định về an toàn sinh học trong phòng xét nghiệm cần phải tách biệt với các phòng khác đạt 67,5%, trong khi tỷ lệ nhân viên biết về sự hiện diện của nồi hấp tiệt trùng trong khu vực phòng xét nghiệm là 88,6%.
Chỉ có 37,3% nhân viên biết cách xử lý bơm kim tiêm sau khi sử dụng Hơn nữa, tỷ lệ người tham gia nghiên cứu trả lời đúng các câu hỏi về kiến thức chung liên quan đến phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II chỉ đạt 28,3%.
Bảng 3.10 Kiến thức về tủ an toàn sinh học
Kiến thức về tủ an toàn sinh học Tần số Tỷ lệ
Tủ an toàn sinh học là hàng rào bảo vệ thứ nhất 134 80,7
Tủ an toàn sinh học cấp I có khả năng bảo vệ: nhân viên phòng xét nghiệm và môi trường 72 43,4
Tủ an toàn sinh học cấp II có khả năng bảo vệ: mẫu xét nghiệm, nhân viên phòng xét nghiệm và môi trường 156 94
Tủ sạch có khả năng bảo vệ mẫu xét nghiệm không lây nhiễm 147 88,6
Không khí trong tủ ATSH cấp II A thải trực tiếp vào bên trong phòng xét nghiệm 68 41
Không dùng tủ ATSH cấp II A1, A2 để làm xét nghiệm có phát sinh hoá chất độc và dễ bay hơi 69 41,6
Tránh đặt các dụng cụ ở trên lưới thông khí của tủ ATSH 165 99,4
Theo khảo sát, 80,7% nhân viên nhận thức rằng tủ an toàn sinh học là hàng rào bảo vệ đầu tiên Tỷ lệ nhân viên phòng xét nghiệm hiểu biết về các yếu tố của tủ an sinh học cấp I, cấp II và tủ sạch lần lượt là 43,4%; 94% và 88,6% Tuy nhiên, chỉ có 41% nhân viên biết rằng không khí trong tủ an toàn sinh học nào thải trực tiếp vào phòng xét nghiệm, và 41,6% xác định đúng loại tủ không được sử dụng khi làm xét nghiệm có hóa chất độc và dễ bay hơi Đáng chú ý, 99,4% nhân viên phòng xét nghiệm đều biết các thao tác cần tránh khi sử dụng tủ an toàn sinh học.
Bảng 3.11 Kiến thức sử dụng máy ly tâm
Kiến thức sử dụng máy ly tâm Tần số Tỷ lệ
Tránh mở nắp ống ly tâm chứa vật liệu lây nhiễm ngay sau khi ly tâm ở tốc độ cao 162 97,6
Tỷ lệ nhân viên có kiến thức sử dụng máy ly tâm là 97, 6%
Bảng 3.12 Kiến thức về đóng gói, vận chuyển mẫu
Kiến thức về đóng gói, vẫn chuyển mẫu Tần số Tỷ lệ
(%) Đóng gói đủ 3 lớp khi đóng gói bệnh phẩm 156 94
Nhãn thông tin về mẫu bệnh phẩm phải điền ở lớp đóng gói thứ nhất 92 55,4
Theo kết quả điều tra, 94% nhân viên phòng xét nghiệm nhận thức được việc đóng gói bệnh phẩm bệnh truyền nhiễm theo 3 lớp Tuy nhiên, chỉ có 55,4% trong số họ có kiến thức chính xác về cách dán nhãn thông tin bệnh phẩm.
Bảng 3.13 Kiến thức về khử nhiễm
Kiến thức về khử nhiễm Tần số Tỷ lệ
Phương pháp khử nhiễm bằng nhiệt: đun sôi, hấp ướt, sấy khô và đốt thường được sủ dụng trong PXN 114 68,7
Thời điểm rửa tay bằng xà phòng của nhân viên phòng xét nghiệm: sau khi tháo găng tay và trước khi rời khỏi phòng xét nghiệm
Thời điểm khử nhiễm bề mặt bàn xét nghiệm: ngay sau khi kết thúc xét nghiệm và khi có sự cố tràn đổ mẫu bệnh phẩm 89 53,6
Trả lời đúng 3 câu về khử nhiễm 49 29,5
Tỷ lệ nhân viên phòng xét nghiệm biết các phương pháp khử nhiễm bằng nhiệt đạt 68,7% Trong khi đó, 70,5% nhân viên có kiến thức đúng về thời điểm rửa tay và khử trùng tay, nhưng chỉ 53,6% nắm rõ thời điểm khử nhiễm bề mặt bàn xét nghiệm Tỷ lệ nhân viên trả lời đúng cả 3 câu hỏi về khử nhiễm chỉ đạt 29,5%.
Bảng 3.14 Kiến thức về xử lý chất thải y tế và sử dụng, bảo quản hoá chất
Kiến thức về xử lý chất thải y tế và sử dụng hoá chất Tần số Tỷ lệ
PXN ATSH cấp II phải có dụng cụ chúa chất thải đáp ứng tiêu chuẩn quy định đối với từng loại chất thải phát sinh trong PXN 165 99,4
Để phòng ngừa tác hại của hóa chất nguy hiểm, cần chú trọng đến việc nâng cao hiểu biết của nhân viên xét nghiệm, đảm bảo cơ sở vật chất và trang thiết bị đầy đủ, cùng với việc thực hành an toàn của nhân viên xét nghiệm.
Tỷ lệ nhân viên có kiến thức đúng về xử lý chất thải y tế và kiến thức về sử dụng, bảo quản hoá chất lần lượt là 99,4% và 75,3%
Bảng 3.15 Kiến thức về phòng ngừa và xử lý sự cố
Kiến thức về phòng ngừa và xử lý sự cố Tần số Tỷ lệ
Khi bị tràn đổ dung dịch trong tủ ATSH, không tắt tủ để hạn chế việc phát tán khí dung trong PXN 165 99,4
Nếu bị bơm kim tiêm đâm vào tay, không được nặn máu tại vết thương 126 75,9
Khi vỡ ống trong máy ly tâm, ngay lập tức tắt máy ly tâm, đợt
30 phút để khí dung tạo ra lắng xuống 166 100
Trả lời đúng 3 câu về xử lý sự cố 125 75,3
Theo kết quả điều tra, có 75,3% nhân viên hiểu biết đúng về xử lý sự cố trong các tình huống khác nhau Đặc biệt, 100% nhân viên nắm vững kiến thức về xử lý vỡ ống chứa vật liệu lây nhiễm trong máy ly tâm, và 99,4% nhân viên phòng xét nghiệm biết cách xử lý sự cố tràn đổ dung dịch chứa tác nhân gây bệnh trong tủ an toàn sinh học.
HUPH học và 75,9% nhân viên biết xử lý khi bị bơm kim tiêm nghi ngờ chứa tác nhân gây bệnh đâm vào tay
Biểu đồ 3.1 thể hiện đánh giá tổng quát về kiến thức an toàn sinh học của 166 nhân viên làm việc tại phòng xét nghiệm.
6 Trung tâm Y tế dự phòng các tỉnh phía Bắc, tỷ lệ nhân viên có kiến thức đạt là 71,1%; tỷ lệ nhân viên có kiến thức không đạt là 28,9%
3.2.2 Thực hành về an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm
Thực hành chung Tần số
Mặc áo choàng khi làm xét nghiệm 166 100
Mặc áo choàng và đeo găng tay khi làm xét nghiệm là những biện pháp quan trọng để đảm bảo an toàn Cần phải tháo găng tay và áo choàng ra khỏi khu vực PXN 121 72,9 và PXN 2 1,2 Ngoài ra, việc đeo khẩu trang trong quá trình xét nghiệm cũng rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe.
Mang đồ dùng cá nhân vào khu vực PXN 152 91,6
Kết quả phân tích cho thấy tất cả nhân viên phòng xét nghiệm đều tuân thủ quy định an toàn bằng cách mặc áo choàng, đeo găng tay và khẩu trang khi thực hiện xét nghiệm Tuy nhiên, 72,9% nhân viên đã mặc áo choàng ra khỏi khu vực phòng xét nghiệm, 1,2% nhân viên đeo găng tay ra ngoài, và 91,6% nhân viên mang đồ dùng cá nhân vào khu vực xét nghiệm.
Bảng 3.17 Thực hành an toàn khi làm xét nghiệm
Thực hành an toàn khi làm xét nghiệm Tần số
(N6) Tỷ lệ (%) Đốt đèn cồn trong khi thao tác 165 99,4
Khoảng cách giữa đèn cồn và nhân viên phòng xét nghiệm đúng tiêu chuẩn (khoảng 20 cm) 88 53
Mở hé hộp lồng khi nuôi cấy 38 22,9
Dùng bơm kim tiêm thay cho pipet 4 2,4
Khử trùng que cấy: hơ đầu que cấy qua ngọn lửa đèn cồn theo chiều ngang từ 3-4 lần 141 84,9
Pipet đã sử dụng được ngâm trong dung dịch khử trùng 37 22,3
Khử trùng khu vực làm việc sau thao tác xong 26 15,7
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm
3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến kiến thức an toàn sinh học của nhân viên phòng xét nghiệm
Bảng 3.23 trình bày mối liên quan giữa các đặc điểm chung của đối tượng và kiến thức về an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp II Các đặc tính của đối tượng có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hiểu biết và thực hành an toàn sinh học trong môi trường này.
Cao đẳng 17 (60,7) 11 (39,3) Đại học 52 (66,7) 26 (33,3) Sau đại học 16 (80) 4 (20)
TĐCM không là xét nghiệm
Thời gian được đào tạo an toàn sinh học
Thời gian cấp giấy chứng nhận
Kết quả phân tích cho thấy mối liên quan giữa các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu và kiến thức an toàn sinh học tại phòng xét nghiệm an toàn sinh học cấp.
Nhân viên được đào tạo về an toàn sinh học có kiến thức cao gấp 4,2 lần so với những người không được đào tạo, với mối liên quan có ý nghĩa thống kê (p=0,004) Thâm niên công tác (p=0,03; χ2,4) và thời gian đào tạo an toàn sinh học (p