PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế công tác tại các khoa, phòng của Trung tâm y tế huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên
Nhân viên y tế đã được tuyển dụng, bao gồm cả nhân viên hợp đồng lao động và nhân viên hợp đồng theo nghị định 68, với thời hạn hợp đồng từ 1 năm trở lên.
Nhân viên y tế tuyến xã lên tăng cường tại các khoa, phòng của Trung tâm y tế huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên, đồng ý tham gia nghiên cứu
Người nghỉ phép, nghỉ ốm dài ngày, tham gia học tập dài hạn tại các trường chuyên nghiệp mà không có mặt trong thời gian khảo sát
Nhân viên là Y công tại các khoa phòng (là do thuộc cơ quan khác quản lý).
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2020 đến tháng 09 năm 2021 Thời gian thu thập, phân tích số liệu tại cơ sở nghiên cứu:
Từ 01/04 đến 31/05 năm 2021 Thời gian viết báo cáo luận văn: Từ 01/06 đến 10/07 năm 2021
Nghiên cứu được thực hiện tại Trung tâm y tế huyện Ân Thi, địa chỉ số 122 phố Phạm Ngũ Lão, thị trấn Ân Thi, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên Lưu ý rằng nghiên cứu này không bao gồm 21 Trạm y tế xã thuộc Trung tâm y tế huyện Ân Thi.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng.
Cỡ mẫu
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu để ước lượng một tỷ lệ như sau:
• n là cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu
! là giá trị từ phân bố chuẩn được tính dựa trên mức ý nghĩa thống kê
• d là mức sai số tuyệt đối chấp nhận
• P là giá trị tỷ lệ ước đoán NVYT bị căng thẳng
Chọn mức ý nghĩa 𝛼 = 0,05, tra bảng thống kê cho giá trị Z = 1,96, tương ứng với khoảng tin cậy 95% Để đạt được cỡ mẫu lớn nhất, nhóm nghiên cứu đã chọn giá trị P = 0,5 Với P = 0,5 và độ chính xác d = 0,1, cỡ mẫu được tính toán theo công thức: n = !.!" ! !(!,!)(!,!).
Cỡ mẫu tối thiểu cho nghiên cứu là 107 đối tượng, bao gồm 10% dự trù mất mẫu Do đó, toàn bộ nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Ân Thi đã được chọn tham gia nghiên cứu, và kết quả thu thập được là 115 đối tượng.
Phương pháp chọn mẫu
Tất cả nhân viên y tế tại các khoa, phòng của Trung tâm y tế huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên đã được chọn tham gia vào nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, đã thu thập được 115 mẫu nghiên cứu từ những nhân viên y tế đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia.
Phương pháp thu thập số liệu
Dữ liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền bằng tiếng Việt, có cấu trúc rõ ràng và đảm bảo tính ẩn danh cho người trả lời (xem nội dung bộ câu hỏi trong phụ lục 1).
Bộ câu hỏi được thiết kế gồm hai phần chính: Đánh giá tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế thông qua thang đo căng thẳng nhận thức (PSS-10) với 10 câu hỏi, sử dụng thang Likert 5 mức độ từ “Không bao giờ” đến “Rất thường xuyên” Phần thứ hai đánh giá các yếu tố liên quan đến căng thẳng công việc của nhân viên y tế thông qua bộ câu hỏi chung (NGJSQ), bao gồm 3 phần: Thông tin chung, Hoạt động phi công việc, và Các yếu tố thuộc môi trường làm việc, được đánh giá theo thang Likert 5 mức độ từ “Hoàn toàn không đúng” đến “Rất đúng”.
Trước khi thu thập số liệu chính thức, cần thực hiện khảo sát thử bộ câu hỏi bằng cách chọn ngẫu nhiên đối tượng nghiên cứu tại các khoa, phòng thông qua phương pháp bốc thăm Sau khi nhận ý kiến đóng góp từ 12 mẫu thử nghiệm, bộ câu hỏi được chỉnh sửa và hoàn thiện với tiêu chí nội dung dễ hiểu và cách thức lựa chọn câu trả lời thuận tiện cho ĐTNC, dựa trên đánh giá theo thang Likert 5 mức độ.
Trung tâm y tế huyện Ân Thi xin phép cơ quan để thu thập số liệu tại các khoa phòng Do đặc thù công việc, việc thu thập số liệu sẽ được thực hiện vào buổi sáng từ 10h30 và buổi chiều từ 14h đến 15h, theo danh sách đối tượng nghiên cứu đã được thành lập.
Các biến số nghiên cứu
Nghiên cứu gồm 87 biến số chia thành 4 nhóm biến số chính (Chi tiết về các biến số xem ở phụ lục 2) được trình bày tại bảng sau:
Bảng 2.1: Các nhóm biến số chính trong nghiên cứu
STT Các nhóm biến số Số lượng biến số
1 Thông tin chung 11 biến số
2 Hoạt động phi công việc 4 biến số
3 Các yếu tố thuộc môi trường làm việc 62 biến số
4 Thông tin về tình trạng căng thẳng của NVYT 10 biến số
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Tiêu chuẩn đánh giá tình trạng căng thẳng của NVYT theo thang đo PSS-10
Nghiên cứu này sử dụng thang đo căng thẳng nhận thức 10 mục (PSS-10) bằng tiếng Việt để tự đánh giá mức độ căng thẳng của nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Ân Thi Thang đo bao gồm mười câu hỏi và điểm số được tính theo 5 mức của thang Likert, với 0 điểm tương đương với “Không bao giờ” và 3 điểm tương đương với “Thường xuyên”.
“Thường xuyên” và 4 điểm tương đương với “Rất thường xuyên”
Tổng điểm tối đa cho 10 câu hỏi là 40 điểm, từ đó phân loại tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Ân Thi.
• Từ 0 đến 13 điểm là nhóm căng thẳng thấp
• Từ 14 đến 26 điểm là nhóm căng thẳng vừa phải
• Từ 27 đến 40 điểm là nhóm căng thẳng cao
2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá một số yếu tố liên quan theo thang đo NGJSQ Để xác định yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng trong công việc của nhân viên y tế, nghiên cứu thực hiện đánh giá dựa trên thang đo NGJSQ (thang đo Generic Job Stress Questionnaire) của NIOSH (Viện An toàn và Sức khoẻ nghề nghiệp Hoa kỳ) (48) Phần A “Thông tin chung”, Phần B “hoạt động phi công việc”, Phần C “Các yếu tố thuộc môi trường làm việc” gồm 14 nhóm biến số Để đánh giá với điểm số tương đương từ 1 đến 5 điểm cho mỗi mức độ dựa trên thang Likert 5 mức độ như sau: 1 điểm tương đương với “Hoàn toàn không đúng”, 2 điểm tương đương với “Không đúng”, 3 điểm tương đương với “Không chắc chắn”, 4 điểm tương đương với “Đúng”, 5 điểm tương đương với “Rất đúng” Căn cứ vào tổng điểm chia các yếu tố thuộc môi trường làm việc thành hai loại có nguy cơ căng thẳng và không có nguy cơ theo bảng sau:
Bảng 2.2: Tiêu chuẩn đánh giá theo điểm số các yếu tố thuộc môi trường làm việc theo thang đo NGJSQ
STT Nhóm biến số chính Số lượng biến số Điểm số phân loại không có nguy cơ Điểm số phân loại có nguy cơ căng thẳng
1 Sự mơ hồ về vai trò 4 1 đến 12 điểm 13 đến 20 điểm
2 Xung đột vai 4 1 đến 12 điểm 13 đến 20 điểm
3 Khối lượng công việc 3 1 đến 9 điểm 10 đến 15 điểm
4 Sự khác biệt trong công việc
5 Công việc và trách nhiệm 4 1 đến 12 điểm 13 đến 20 điểm
6 Áp lực công việc 5 1 đến 16 điểm 17 đến 25 điểm
7 Mâu thuẫn trong công việc
8 Hài lòng với công việc 4 9 đến 13 điểm 4 đến 8 điểm
9 Hỗ trợ từ cấp trên 4 9 đến 20 điểm 1 đến 8 điểm
10 Hỗ trợ từ đồng nghiệp 3 7 đến 15 điểm 1 đến 6 điểm
11 Hỗ trợ từ gia đình/bè bạn/người thân
12 Môi trường vật lý 10 11đến 20 điểm 1 đến 10 điểm
13 Sử dụng kỹ năng 4 0 đến 12 điểm 13 đến 20 điểm
14 Thăng tiến trong công việc
Phương pháp phân tích số liệu
2.9.1 Phương pháp làm sạch số liệu
Bộ câu hỏi sẽ được kiểm tra để đảm bảo đầy đủ thông tin tại các mục và xác minh số liệu có bị khuyết thiếu hay không trước khi mã hóa theo số phiếu Trong trường hợp thông tin sai hoặc thiếu, nếu không có dữ liệu chính xác để chỉnh sửa, thông tin đó sẽ được mã hóa.
HUPH hoá có thể dẫn đến khuyết thiếu Cần kiểm tra các số liệu bất thường trong và sau quá trình mã hoá, nhập liệu trước khi tiến hành phân tích dữ liệu nghiên cứu.
2.9.2 Phương pháp xử lý số liệu
Tiến hành mã hóa các biến số để dễ dàng nhập liệu vào máy tính Sau khi hoàn tất việc nhập số liệu, cần kiểm tra để phát hiện các giá trị bất thường do lỗi mã hóa, nhập liệu sai hoặc thiếu thông tin.
Phần mềm nhập và xử lý số liệu: Phần mềm SPSS 25 được sử dụng để nhập số liệu Phân tích số liệu trên SPSS25 và Microsoft Excel
Kết quả nghiên cứu được thu thập và phân tích theo các mục tiêu đã đề ra Đối với mục tiêu đầu tiên, thống kê mô tả được áp dụng để thể hiện tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) thông qua tần số và tỷ lệ phần trăm, được trình bày bằng biểu đồ và bảng số liệu từ SPSS25 và Microsoft Excel Mục tiêu thứ hai sử dụng thống kê suy luận, trong đó các yếu tố môi trường làm việc được rút gọn bằng phương pháp khám phá nhân tố EFA Phân tích mối tương quan Pearson hoặc Spearman giữa các biến độc lập theo nhóm yếu tố cá nhân, phi công việc và môi trường làm việc với biến phụ thuộc là tình trạng căng thẳng của NVYT cho thấy giá trị P ≤ 0,05 được coi là có ý nghĩa thống kê.
Phân tích đa biến được sử dụng để kiểm soát nhiễu bằng cách dựa vào các yếu tố có ý nghĩa thống kê từ phân tích tương quan Mô hình hồi quy tuyến tính bội giúp xác định mối liên hệ giữa các biến độc lập có ý nghĩa thống kê và biến phụ thuộc là tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế, được thực hiện trên phần mềm SPSS 25.
Vấn đề đạo đức nghiên cứu
Nghiên cứu được chấp thuận của Hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học, Trường Đại học Y Tế Công Cộng theo quyết định số: 114/2021/YTCC – HD3
Nghiên cứu đã được sự chấp thuận của Ban giám đốc Trung tâm y tế huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên, trước khi tiến hành thu thập dữ liệu tại các khoa phòng.
Nghiên cứu sử dụng bảng hỏi tự điền khuyết danh, chỉ thu thập dữ liệu cá nhân chung mà không xác định danh tính Trạng thái căng thẳng được đánh giá qua bảng hỏi, không được sử dụng để chẩn đoán bệnh, do đó không ảnh hưởng đến công việc của cá nhân Đối tượng nghiên cứu được thông báo về mục đích và giải thích các thắc mắc liên quan Tất cả đối tượng đều có quyền lựa chọn tham gia hoặc từ chối nghiên cứu.
Tất cả các dữ liệu thu thập đều được bảo mật và cam đoan chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
3.1.1 Các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Thông tin về nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n = 115)
Thông tin chung Tần số Tỷ lệ %
Tuổi theo nhóm Từ 30 tuổi trở xuống 29 25,3
Tình trạng hôn nhân Chưa kết hôn 3 2,6 Đã kết hôn 111 96,5
Hoàn cảnh sống Sống độc thân 1 0,9
Sống chung nhiều thế hệ 55 47,8
Trong nghiên cứu với 115 đối tượng, tỷ lệ giới tính cho thấy 32,2% là nam và 67,8% là nữ Độ tuổi của nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu dao động từ 24 đến 59 tuổi, trong đó nhóm tuổi từ 31 đến 40 chiếm 48,7%.
HUPH là nhóm dưới 30 tuổi chiếm 25,3%
Tại cơ sở nghiên cứu, 96,5% nhân viên y tế đã kết hôn Trong đó, 51,3% sống trong gia đình riêng với hai thế hệ là bố mẹ và con cái, trong khi 47,8% sống trong gia đình chung nhiều thế hệ.
Bảng 3.2: Thông tin về hoạt động chăm sóc con và người thân, già yếu, khuyết tật(n = 115).
Thông tin chung Tần số Tỷ lệ %
Chăm sóc người thân, già yếu, khuyết tật
Chăm sóc con theo các nhóm tuổi
Có con từ 7 đến 18 tuổi
Có con từ 19 đến 23 tuổi
Có con dưới 6 tuổi và từ 7 đến 18 tuổi
Có con từ 7 đến 18 tuổi và từ 19 đến 23 tuổi
Nhận xét: Tỷ lệ nhân viên y tế có chăm sóc người thân già yếu, hay bị khuyết tật chiếm 23,5% số nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu
Tại cơ sở nghiên cứu chăm sóc trẻ em, 35,7% nhân viên y tế có con dưới 6 tuổi, trong khi 27% có con từ 7 đến 18 tuổi Đặc biệt, 12,2% nhân viên y tế có từ 2 con trở lên thuộc cả hai nhóm tuổi này.
3.1.2 Các thông tin về một số đặc điểm cá nhân tại nơi làm việc của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3:Thông tin vềtrình độ học vấn của NVYT theo lĩnh vực được đào tạo (n5).
Cao đẳng Đại học Sau đại học
Lĩnh vực đào tạo Tần số Tần số Tần số Tần số
Nhân viên y tế có trình độ Đại học chiếm 45,2%, trong khi tỷ lệ nhân viên có trình độ Cao đẳng là 20% và Trung học chuyên nghiệp là 27,8% Đối với nhóm Bác sĩ và Dược sĩ, tỷ lệ có trình độ Sau đại học là 7% Trong khi đó, nhóm Điều dưỡng có 33,1% nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu với trình độ chuyên môn từ Trung cấp, Cao đẳng đến Đại học.
Biểu đồ 3.1: Thời gian và vị trí công tác của nhân viên y tế
Nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu tính nhóm có thời gian công tác từ 5 đến dưới 15 năm chiếm 45,2% là nhân viên và 5,2% là quản lý Trong khi đó, nhóm có thời gian công tác từ 15 đến 25 năm có 8,7% là nhân viên và 9,6% là quản lý.
Công tác kiêm nhiệm đoàn thể bao gồm việc đảm nhận các vị trí quan trọng trong các tổ chức như Thanh niên, Công đoàn, Đảng uỷ và Cựu chiến binh tại cơ quan.
Các nhân viên y tế đang tham gia học tập dưới nhiều hình thức khác nhau tại các trường đào tạo chuyên nghiệp nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và nhận được bằng cấp cao hơn.
Nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Ân Thi thường làm thêm các công việc khác ngoài giờ làm chính để tăng thu nhập.
Các biến số này được thu thập dưới dạng biến nhị phân và được mô tả ở bảng sau:
Dưới 5 năm Từ 5 đến dưới 15 năm
Bảng 3.4: Thông tin về công tác kiêm nhiệm, tham gia học tập và công việc khác ngoài giờ (n = 115) Công tác kiêm nhiệm
Tham gia học tập tại các trường đào tạo
Làm thêm công việc khác ngoài giờ hành chính
Có Không Có Không Có Không
Tại cơ sở nghiên cứu, 23,5% nhân viên y tế tham gia kiêm nhiệm công tác đoàn thể, 20% tham gia học tập để nâng cao trình độ với bằng cấp cao hơn, và 32,2% làm công việc khác ngoài giờ hành chính.
Biểu đồ 3.2: Thông tin vềmức độ hài lòng với công việc của nhân viên y tế
Tỷ lệ nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu cho thấy 5,2% không hài lòng với công việc, trong khi 34,8% rất hài lòng và 60% còn lại cảm thấy khá hài lòng.
Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Ân
Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế được đánh giá thông qua 10 câu hỏi của thang đo PSS-10, với tổng điểm số được tính từ các câu hỏi này Các câu hỏi được phân loại thành 3 nhóm theo tiêu chuẩn đánh giá, và kết quả được mô tả qua biểu đồ minh họa.
Biểu đồ 3.3: Mức độ căng thẳng của nhân viên y tế theo thang đo PSS-10
Trong nghiên cứu với 115 đối tượng, tỷ lệ nhân viên y tế gặp căng thẳng cao là 8,7%, trong khi 75,65% có mức độ căng thẳng vừa phải và 15,65% ở mức độ căng thẳng thấp.
3.2.1 Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế qua đặc điểm nhân khẩu học và hoạt động phi công việc
Bảng 3.5: Mức độ căng thẳng của nhân viên y tế theo đặc điểm nhân khẩu học
(n5) Đặc điểm nhân khẩu học Tình trạng căng thẳng của NVYT
Chưa kết hôn 0 1 0,9 2 1,8 Đã kết hôn 18 15,6 86 74,8 7 6,0
Sống chung nhiều thế hệ
Nhân viên y tế nam giới có tỷ lệ căng thẳng cao là 3,5% và căng thẳng vừa phải là 22,6% Trong khi đó, nhân viên y tế nữ giới có tỷ lệ căng thẳng cao là 5,2% và căng thẳng vừa phải lên tới 53%.
Nhóm nhân viên y tế đã kết hôn có tỷ lệ căng thẳng cao là 6%, trong khi tỷ lệ này chỉ là 1,6% ở nhóm chưa kết hôn Đối với nhân viên y tế sống chung nhiều thế hệ, mức độ căng thẳng cao là 5,2%, trong khi nhóm có hoàn cảnh sống gia đình riêng có mức độ căng thẳng cao là 3,5%.
Bảng 3.6: Mức độ căng thẳng của nhân viên y tế và hoạt động phi công việc
Hoạt động phi công việc
Tình trạng căng thẳng của NVYT
Chăm sóc người thân, già yếu, khuyết tật
Tham gia học tập tại các trường đào tạo
Làm thêm công việc khác ngoài giờ hành chính
Nhóm nhân viên y tế không tham gia học tập tại các trường đào tạo có mức độ căng thẳng cao là 5,2%, trong khi đó, nhóm tham gia học tập tại các trường này có mức độ căng thẳng thấp hơn, chỉ 3,5% Đặc biệt, nhân viên y tế không làm thêm công việc ngoài giờ hành chính có mức độ căng thẳng cao lên tới 6%.
Biểu đồ 3.4:Mức độ căng thẳng của NVYT và yếu tố chăm sóc con
Nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu cho thấy mức độ căng thẳng cao trong việc chăm sóc trẻ dưới 6 tuổi là 4,3%, trong khi căng thẳng ở mức vừa phải là 27% Đối với nhóm trẻ từ 7 đến 18 tuổi, tỷ lệ căng thẳng cao chỉ là 0,9%, và căng thẳng vừa phải là 19,1% Đối với nhân viên y tế chưa có con, mức độ căng thẳng cao là 1,7%, và căng thẳng vừa phải là 7%.
Con dưới 6 tuổi và từ 7 đến
Con từ 7 đến 18 tuổi và từ 19 đến 23 tuổi
Biểu đồ 3.5 cho thấy mức độ căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) theo nhóm tuổi Cụ thể, nhóm tuổi từ 30 trở xuống có 6,1% nhân viên gặp căng thẳng cao, 18,3% căng thẳng vừa phải và 0,9% căng thẳng thấp Đối với nhóm tuổi từ 31 đến 40, tỷ lệ căng thẳng cao là 1,7%, căng thẳng vừa phải là 38,3% và căng thẳng thấp là 8,7% Trong khi đó, nhóm từ 41 đến 50 tuổi chỉ có 0,9% nhân viên gặp căng thẳng cao.
3.2.2 Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế qua đặc điểm tại nơi làm việc
Biểu đồ 3.6: Mức độ căng thẳng của NVYT theo lĩnh vực được đào tạo (n5)
Căng thẳng thấp căng thẳng vừa phải
Mức độ căng thẳng cao ở nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu cho thấy 2,6% nhân viên thuộc nhóm Bác sĩ và nhóm Điều dưỡng gặp phải tình trạng này, trong khi nhóm Y sĩ chỉ có 1,7% Đối với mức độ căng thẳng vừa phải, tỷ lệ nhân viên Điều dưỡng là 25,2%, Bác sĩ là 13% và Y sĩ là 9,6%.
3.2.3 Tình trạng căng thẳng theo các khối công tác
Biểu đồ 3.7: Mức độ căng thẳng của NVYT theo khối công tác (n5)
Nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu đang đối mặt với mức độ căng thẳng cao, với tỷ lệ 4,3% ở cả hai khối Cận lâm sàng và Lâm sàng Mức độ căng thẳng vừa phải được ghi nhận là 40% ở khối Lâm sàng, 27,8% ở khối Cận lâm sàng và 7,8% ở khối Y tế công cộng.
Lâm Sàng Y tế công cộng
3.2.4 Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế theo thời gian công tác
Biểu đồ 3.8: Mức độ căng thẳng của NVYT theo thời gian công tác (n5)
Nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu cho thấy mức độ căng thẳng cao, với 7,8% trong nhóm có thời gian công tác dưới 5 năm và 12,2% gặp căng thẳng vừa phải.
Nhóm nhân viên có thời gian công tác từ 5 đến dưới 15 năm trải qua mức độ căng thẳng vừa phải, chiếm 42,6% Trong khi đó, nhóm có thời gian công tác từ 15 đến 25 năm lại đối mặt với mức độ căng thẳng cao hơn.
0,9%, căng thẳng vừa phải là 7,8%
3.2.5 Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế qua thang đo chung về căng thẳng trong công việc( NGJSQ)
3.2.5.1 Tình tr ạ ng c ă ng th ẳ ng c ủ a nhân viên y t ế qua đ i ể m t ự đ ánh giá trên thang đ o NGJSQ
Thực hiện đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn điểm số của thang đo NGJSQ, được các số liệu trình bày ở bảng sau:
Dưới 5 năm Từ 5 đến dưới
Bảng 3.7: Nguy cơ căng thẳng của NVYT theo thang đo căng thẳng công việc
Mức độ Không có nguy cơ Có nguy cơ căng thẳng
Các yếu tố Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
C1 Sự mơ hồ về vai trò 111 96,5 4 3,5
C4 Sự khác biệt trong công việc 38 33,0 77 67,0
C5 Công việc và trách nhiệm 92 80,0 23 20.0
C9 Mâu thuẫn trong công việc 99 86,0 16 14,0
C10 Hỗ trợ từ cấp trên 61 53,0 54 47,0
C11 Hỗ trợ từ đồng nghiệp 49 42,6 66 57,4
C12 Hỗ trợ từ gia đình/bè bạn 47 40,9 68 59,1
C13.Thăng tiến trong công việc 49 42,6 66 57,4
Các yếu tố liên quan đến công việc có ảnh hưởng đáng kể đến mức độ căng thẳng Cụ thể, sự khác biệt trong công việc thuộc nhóm có nguy cơ căng thẳng là 67%, trong khi khối lượng công việc tự đánh giá có nguy cơ căng thẳng là 47,8% Thêm vào đó, yếu tố thăng tiến trong công việc có nguy cơ căng thẳng là 57,4% Cuối cùng, môi trường vật lý cũng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra căng thẳng.
Hỗ trợ từ xã hội, bao gồm sự hỗ trợ từ cấp trên, đồng nghiệp và gia đình/bè bạn, có thể gây căng thẳng cho nhân viên y tế, với tỷ lệ lần lượt là 47%, 57,4% và 59,1% theo thang đo NGJSQ.
3.2.5.2 Tình tr ạ ng c ă ng th ẳ ng c ủ a nhân viên y t ế theo m ộ t s ố y ế u t ố thu ộ c môi tr ườ ng làm vi ệ c
Bảng 3.8: Mức độ căng thẳng của NVYT và một số yếu tố thuộc môi trường làm việc (n 5)
Yếu tố thuộc môi trường làm việc Tình trạng căng thẳng của NVYT
Sự mơ hồ về vai trò
Có nguy cơ căng thẳng 2 1,7 2 1,7 0 0 Không có nguy cơ 16 13,9 85 73,9 10 8,8
Sự khác biệt trong công việc
Có nguy cơ căng thẳng 9 7,8 26 22,6 7 6,1 Không có nguy cơ 9 7,8 61 53,1 3 2,6
Hỗ trợ từ cấp trên
Có nguy cơ căng thẳng 10 8,8 44 38,3 Không có nguy cơ 08 6,9 43 37,4 10 8,8
Hỗ trợ từ đồng nghiệp
Có nguy cơ căng thẳng 10 8,8 51 44,3 5 4,3
Hỗ trợ từ gia đình/bè bạn
Có nguy cơ căng thẳng 13 11,3 49 42,6 6 5,2 Không có nguy cơ 5 4,3 38 33,0 4 3,4
Thăng tiến trong công việc
Có nguy cơ căng thẳng 7 6,0 49 42,6 10 8,8 Không có nguy cơ 11 9,5 38 33,0
Có nguy cơ căng thẳng 8 6,9 46 40,0 6 5,2 Không có nguy cơ 10 8,8 41 35,6 4 3,4
Mức căng thẳng cao ở nhân viên y tế do yếu tố thăng tiến trong công việc đạt 8,8%, trong khi yếu tố môi trường vật lý chỉ chiếm 5,2% Ngoài ra, mức độ căng thẳng vừa phải do yếu tố thăng tiến trong công việc là 42,6%, còn yếu tố môi trường vật lý là 4%.
3.2.5.3 Tình tr ạ ng c ă ng th ẳ ng ở nhân viên y t ế và m ứ c độ hài lòng v ớ i công vi ệ c
Biểu đồ 3.9 cho thấy mối liên hệ giữa tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) và mức độ hài lòng với công việc Cụ thể, những nhân viên có tình trạng căng thẳng cao chỉ có 0,9% không hài lòng và 7% khá hài lòng, trong khi 0,9% rất hài lòng Ngược lại, nhân viên có tình trạng căng thẳng ở mức vừa phải có 4,3% không hài lòng, 43,5% khá hài lòng và 27,8% rất hài lòng với công việc của họ.
Một số yếu tố liên quan với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu
3.3.1 Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của NVYT với các yếu tố cá nhân, các yếu tố phi công việc
Không hài lòng Khá hài lòng Rất hài lòng
Phân tích mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế với các yếu tố cá nhân và phi công việc nhằm xác định mối quan hệ tuyến tính giữa các yếu tố này Mối quan hệ được tóm tắt qua hệ số tương quan Spearman.
Bảng 3.9:Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế và các yếu tố cá nhân (n5)
6 Lĩnh vực được đào tạo -0,156 0,095
Biến phụ thuộc: Tình trạng căng thẳng của NVYT a
Mối tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01 **
Nhận xét: Yếu tố Tuổi theo nhóm có p = 0,003, Spearman's rho = - 0,273 và yếu tố Thời gian công tác có p = 0,003, Spearman's rho = 0,276
Kết quả phân tích tương quan cho thấy yếu tố Tuổi theo nhóm và Thời gian công tác có mối liên hệ với Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế, với sự tác động từ cả hai phía của các cặp biến số.
Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) có mối liên hệ chặt chẽ với các yếu tố cá nhân, bao gồm độ tuổi và thời gian công tác.
Bảng 3.10:Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế và các yếu tố phi công việc (n5)
2 Chăm sóc người thân, già yếu, khuyết tật -0,095 0,134
Biến phụ thuộc: Tình trạng căng thẳng của NVYT a
Mối tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01 **
Nhận xét: Các yếu tố phi công việc trong bảng đều có p> 0,05 nên không có ý nghĩa thống kê
Các yếu tố phi công việc không có mối tương quan và không liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu.
3.3.2 Mối tương quan giữa Tình trạng căng thẳng của NVYT với một số yếu tố thuộc môi trường làm việc Để tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế với các yếu tố thuộc môi trường làm việc, thực hiện phân tích mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của NVYT và 14 yếu tố thuộc môi trường làm việc đã được thu thập ở phần C của bộ câu hỏi
Để tóm tắt và rút gọn số liệu, nghiên cứu đã áp dụng phương pháp phân tích nhân tố khám phá EFA trên 13 yếu tố được đánh giá qua thang Likert Tuy nhiên, yếu tố Môi trường vật lý không được thu thập bằng thang Likert, do đó không được đưa vào phân tích EFA Đánh giá độ tin cậy và giá trị thang đo của các yếu tố thuộc môi trường làm việc được thực hiện dựa vào hệ số.
Cronbach’s Alpha (kết quả thực hiện phân tích nhân tố khám phá EFA trình bày ở phụ lục 3A)
Phân tích nhân tố khám phá (EFA) đã xác định được 8 yếu tố quan trọng trong môi trường làm việc, bao gồm: Hỗ trợ từ gia đình và bạn bè, Trách nhiệm và công việc, Hỗ trợ từ cấp trên, Sự mơ hồ về vai trò, Hài lòng với công việc, Thăng tiến trong công việc, và Hỗ trợ từ đồng nghiệp.
Yếu tố Sự khác biệt trong công việc
Nhóm nghiên cứu nhằm khám phá mối quan hệ tuyến tính giữa các yếu tố môi trường làm việc và tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế, dựa trên kết quả phân tích tương quan giữa các yếu tố này.
Kết quả phân tích tương quan cho thấy mối liên hệ giữa tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) và 8 yếu tố từ phân tích nhân tố khám phá (EFA), cùng với yếu tố môi trường vật lý.
Bảng 3.11:Mối tương quan giữa tình trạng căng thẳng của NVYT và các yếu tố thuộc môi trường làm việc (n5)
1 Hỗ trợ từ gia đình/ Bè bạn -0,096 0,310
2 Trách nhiệm và công việc 0,149 0,111
3 Hỗ trợ từ cấp trên -0,218 * 0,019
4 Sự mơ hồ về vai trò 0,184 * 0,049
5 Hài lòng với công việc -0,221 * 0,018
6 Thăng tiến trong công việc 0,314 ** 0,001
7 Hỗ trợ từ đồng nghiệp -0,092 0,327
8 Sự khác biệt trong công việc 0,192 * 0,039
Biến phụ thuộc: Tình trạng căng thẳng của NVYT a
Mối tương quan có ý nghĩa ở mức 0.01 **
Mối tương quan có ý nghĩa ở mức 0.05 *
Yếu tố Sự mơ hồ về vai trò có hệ số tương quan r = 0,184 và p = 0,049, cho thấy sự ảnh hưởng đáng kể Yếu tố Môi trường vật lý có r = 0,226 và p = 0,015, cho thấy mối liên hệ tích cực Yếu tố Sự khác biệt trong công việc có r = 0,192 và p = 0,039, cũng cho thấy sự ảnh hưởng đáng kể Cuối cùng, yếu tố Hỗ trợ từ cấp trên có r = -0,218 và p = 0,019, cho thấy mối quan hệ tiêu cực.
Hài lòng với công việc r = – 0,221, p = 0,018 Yếu tố Thăng tiến trong công việc có r = 0,314 và p =0,001
Kết quả phân tích tương quan cho thấy có 6 yếu tố có ý nghĩa thống kê với giá trị p≤ 0,05, và các yếu tố này có mối quan hệ tuyến tính với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế.
Mối quan hệ giữa các yếu tố như sự mơ hồ về vai trò, môi trường vật lý, sự khác biệt trong công việc, hỗ trợ từ cấp trên, hài lòng với công việc, và thăng tiến trong công việc có tác động qua lại đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế.
Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu có mối liên hệ chặt chẽ với sáu yếu tố trong môi trường làm việc.
3.3.3 Phân tích đa biến Để xác định được sự tác động một chiều của các yếu tố thuộc môi trường làm việc và yếu tố cá nhân đến biến phụ thuộc là Tình trạng căng thẳng của NVYT (dựa vào kết quả phân tích tương quan đã thực hiện)
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện phân tích đa biến giữa 08 yếu tố có ý nghĩa thống kê liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) Chúng tôi áp dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để phân tích và giải thích kết quả, nhằm dự báo tác động một chiều của các yếu tố này đối với tình trạng căng thẳng của NVYT tại cơ sở nghiên cứu.
Phương pháp đưa biến vào là Enter Lựa chọn mức ý nghĩa thống kê với p≤ 0,05
BÀN LUẬN
Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế
Tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế tại cơ sở nghiên cứu có căng thẳng ở mức thấp tỷ lệ 15,65%, căng thẳng vừa phải là 75,65%, căng thẳng cao chiếm 8,7%
Tỷ lệ căng thẳng ở nhân viên y tế (NVYT) trong nghiên cứu của chúng tôi là 70,91%, cao hơn so với tỷ lệ căng thẳng nhẹ và trung bình là 66,7% và 32,0% ở bác sĩ và điều dưỡng tại bệnh viện Đại Học Y Thái Bình năm 2020 So với các nghiên cứu quốc tế, tỷ lệ căng thẳng của NVYT trong nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn so với 96% nhân viên y tế bị căng thẳng tại Trung Quốc năm 2014 Mức độ căng thẳng có thể do sự thay đổi trong tính chất công việc trong ngành y tế, khi các cơ sở y tế tuyến huyện không còn được tài trợ hoàn toàn từ ngân sách nhà nước, dẫn đến việc giảm số lượng nhân viên hợp đồng và yêu cầu công việc cao hơn cho nhân viên chính thức.
Áp lực đối với nhân viên y tế tại Trung tâm y tế huyện Ân Thi ngày càng gia tăng do nhu cầu ngày càng khắt khe và yêu cầu hoàn hảo trong việc cung cấp dịch vụ y tế Điều này dẫn đến tình trạng căng thẳng trong đội ngũ nhân viên y tế.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế nữ có tình trạng căng thẳng cao hơn so với nam giới, với 9,6% nữ giới ở mức căng thẳng thấp, 53% ở mức căng thẳng vừa phải và 5,2% ở mức căng thẳng cao Trong khi đó, tỷ lệ nam giới ở mức căng thẳng thấp là 6%, vừa phải là 22,6% và cao là 3,5% Kết quả này trái ngược với nghiên cứu tại bệnh viện Đại Học Y Thái Bình năm 2020, nơi tỷ lệ căng thẳng cảm xúc nặng là 38,1% ở nam giới và 29,8% ở nữ giới.
Sự khác biệt trong vai trò của nữ nhân viên y tế (NVYT) có thể được hiểu qua trách nhiệm kép của họ, vừa làm việc tại cơ quan vừa chăm sóc gia đình Theo báo cáo của WEF, nữ giới phải làm việc nhiều hơn nam giới khoảng 50 phút mỗi ngày, dẫn đến việc họ ít có thời gian nghỉ ngơi và chăm sóc bản thân Hơn nữa, trong môi trường làm việc, nữ NVYT thường gần gũi với bệnh nhân, lắng nghe tâm sự của họ, điều này có thể tạo ra áp lực tâm lý lớn hơn Cùng với việc sống trong cộng đồng, họ thường gặp khó khăn khi từ chối yêu cầu giúp đỡ từ người thân, dẫn đến mức độ căng thẳng cao hơn so với đồng nghiệp nam.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ nhân viên y tế (NVYT) gặp tình trạng căng thẳng cao, với 0,9% không hài lòng, 7% khá hài lòng và 0,9% rất hài lòng với công việc Kết quả này cho thấy mức độ hài lòng của NVYT khá thấp so với tỷ lệ 48,8% trong các nghiên cứu khác.
NVYT bị căng thẳng do không hài lòng với công việc trong nghiên cứu vào năm
Năm 2019, tại Nam Phi, tỷ lệ nhân viên y tế bị căng thẳng do không hài lòng với công việc là 8,5%, theo nghiên cứu của Portero de la CruzS và cộng sự.
2016 tại 4 bệnh viện vùng Andalusia thuộc miền nam Tây Ban Nha (51)
Tỷ lệ nhân viên y tế không hài lòng với công việc trong nghiên cứu của chúng tôi là 5,2%, tương tự như kết quả tại hai bệnh viện đa khoa ở thành phố Vinh và Nghệ An Những người không hài lòng hoặc không hứng thú với công việc có nguy cơ bị căng thẳng cao gấp 11,2 lần so với những người cảm thấy hài lòng Tình trạng căng thẳng cao xuất hiện ở cả nhóm hài lòng và không hài lòng, cho thấy sự gắn bó lâu dài với cơ quan có thể tạo ra khó khăn cho nhân viên y tế trong việc thừa nhận cảm xúc của mình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy tình trạng căng thẳng cao ở nhân viên y tế (NVYT) thuộc nhóm Bác sĩ và Điều dưỡng đều là 2,6% Mức độ căng thẳng vừa phải ở nhóm Điều dưỡng là 25,2%, trong khi ở nhóm Bác sĩ là 13% Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu năm 2016 tại Bệnh viện Bệnh nhiệt đới TP.HCM, nơi Bác sĩ có 27% căng thẳng nhẹ và 33% căng thẳng nặng, còn Điều dưỡng có 73% căng thẳng nhẹ và 67% căng thẳng nặng NVYT làm công tác Điều dưỡng có mức độ căng thẳng cao hơn so với Bác sĩ, nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ căng thẳng ở Bác sĩ là 50,5% thấp, 36,6% trung bình và 12,9% cao, trong khi Điều dưỡng có 50,3% thấp, 40,2% trung bình và 9,5% cao Điều này có thể do Bác sĩ và Điều dưỡng là nhân lực chính trong quyết định điều trị bệnh nhân, phải đối mặt với áp lực lớn từ việc tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân và chứng kiến diễn biến bệnh tật Thêm vào đó, thời điểm thu thập dữ liệu trùng với đợt bùng phát COVID-19 lần thứ 4 tại Việt Nam, làm gia tăng áp lực cho nhân viên y tế.
HUPH đang chuẩn bị tham gia vào công tác phòng chống dịch tại địa phương, điều này có thể ảnh hưởng đến tâm lý của nhân viên y tế do tình trạng căng thẳng hiện tại.
Một số yếu tố liên quan đến tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế 58 1.Một số yếu tố liên quan đến cá nhân
4.2.1 Một số yếu tố liên quan đến cá nhân
Khi bắt đầu sự nghiệp, nhân viên y tế phải tự thích nghi với công việc, nơi họ cần tổng hợp kiến thức đã học và vận dụng vào thực tiễn Họ cần kỹ năng giao tiếp mềm để tương tác hiệu quả với đồng nghiệp, cấp trên, bệnh nhân và gia đình bệnh nhân, đáp ứng các yêu cầu thực tế của nhiệm vụ.
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (NVYT) có mối liên hệ với độ tuổi và thời gian công tác (p < 0,05) Cụ thể, nhóm NVYT dưới 30 tuổi và có thời gian công tác dưới 5 năm chiếm tỷ lệ 6,1% trong tình trạng căng thẳng cao Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu tại Bệnh viện Đại Học Y Thái Bình năm 2020, nơi có 8,4% NVYT dưới 29 tuổi và có thời gian công tác dưới 5 năm gặp căng thẳng cảm xúc rất nặng Hơn nữa, tỷ lệ căng thẳng thường gặp ở nhân viên y tế dưới 5 năm tại Bệnh viện Tâm thần Tiền Giang là 16,1%, cũng cao hơn so với kết quả của chúng tôi.
Yếu tố thời gian công tác có mối liên hệ với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế, với p< 0,05 Cụ thể, trong nghiên cứu, nhân viên y tế có thời gian công tác dưới 5 năm có mức độ căng thẳng cao là 7,8%, căng thẳng vừa phải là 12,2%, và căng thẳng thấp là 2,6% Kết quả này thấp hơn so với nghiên cứu của Dondon Khuu Otgonbaatar và cộng sự, cho thấy căng thẳng ở nhóm tuổi từ 25 đến 30 là 29,4% với p = 0,002 Tương tự, một số nghiên cứu khác cũng chỉ ra rằng nhóm tuổi từ 18 đến 38 có tỷ lệ lo lắng, căng thẳng là 12,3% với p< 0,0001.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, tại Trung tâm y tế huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên, sự lựa chọn dịch vụ y tế của nhân viên y tế (NVYT) phụ thuộc vào cơ sở vật chất của các khoa phòng Đối với những NVYT mới vào nghề, áp lực từ yêu cầu của cấp trên và đồng nghiệp, cùng với nỗ lực khẳng định bản thân, có thể tạo ra căng thẳng, đặc biệt khi so sánh với những đồng nghiệp có kinh nghiệm và thâm niên cao hơn.
Các yếu tố phi công việc như tham gia làm thêm ngoài giờ hành chính hay chăm sóc con cái không có mối tương quan với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế Điều này có thể do tập quán sống chung nhiều thế hệ trong các gia đình nhân viên y tế, giúp giảm gánh nặng trong việc sắp xếp thời gian chăm sóc con cái Khi nhân viên y tế có điều kiện sống gia đình riêng, sự hỗ trợ từ các thế hệ lớn hơn trong việc chăm sóc và đưa đón trẻ đi học cũng góp phần làm giảm căng thẳng cho họ.
4.2.2 Tình trạng căng thẳng và các yếu tố liên quan đến công việc
Từ 14 yếu tố liên quan đến công việc được xây dựng dựa trên việc tham khảo các tài liệu và nghiên cứu, đã tiến hành thực hiện phân tích mối tương quan giữa các yếu tố, từ đó nghiên cứu này đã xác định được 6 yếu tố liên quan đến công việc có mối tương quan với tình trạng căng thẳng của nhân viên y tế (p