ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Phụ nữ trong độ tuổi từ 15-49 tại quận Đống Đa đã được xác định nhiễm HIV (+) ít nhất 3 tháng trước khi nghiên cứu được tiến hành.
- Không đang sinh sống và cư trú trên địa bàn quận Đống Đa, Hà Nội
- Đối tượng không đủ sức khỏe, hoặc không có khả năng trả lời các câu hỏi hoặc mắc các bệnh về tâm thần
- Đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng nhằm khám phá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV trong độ tuổi sinh đẻ tại quận Đống Đa, Hà Nội.
Nghiên cứu định tính nhằm khám phá các yếu tố tác động đến ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV trong độ tuổi sinh đẻ tại quận Đống Đa.
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đa khoa quận Đống Đa, bệnh viện Phổi Hà Nội và Phòng khám ngoại trú của Trung Tâm Y tế quận Đống Đa, Hà Nội, từ tháng 11/2012 – 3/2014.
Cỡ mẫu và cách chọ n mẫu của nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu:
HUPH có p = 0,5, do chưa có nghiên cứu tương tự ở Việt Nam, tỷ lệ trước đó chưa được xác định Giá trị z cho mức ý nghĩa α = 0,05 là 1,96, và sai số tối đa cho phép d là 0,07.
Theo công thức trên tính được: n = 196
+ Ước tính tỷ lệ từ chối: 10%
+ Như vậy cỡ mẫu cần thiết để điều tra tại địa bàn nghiên cứu là 196 x 110% = 215 người
Tại quận Đống Đa, Hà Nội, có 7 phụ nữ nhiễm HIV trong độ tuổi từ 15-49 có ý định sinh con, trong khi đó cũng có 7 phụ nữ nhiễm HIV ở độ tuổi tương tự nhưng không có ý định sinh con.
Chọn mẫu được tiến hành theo các bước như sau:
Lập danh sách phụ nữ nhiễm HIV từ 15 đến 49 tuổi đang khám và điều trị tại Bệnh viện Đa Khoa Đống Đa, Bệnh viện Phổi Hà Nội và Trung tâm Y tế dự phòng quận Đống Đa.
Trong bước 2, chúng tôi đã chọn tất cả các đối tượng nghiên cứu là 217 phụ nữ đến khám tại ba cơ sở y tế: Bệnh viện Đa khoa Đống Đa, Bệnh viện Phổi Hà Nội và Trung tâm Y tế dự phòng quận Đống Đa, trong khoảng thời gian nghiên cứu phù hợp với tiêu chí lựa chọn.
Sau khi thực hiện điều tra định lượng, chúng tôi đã xác định các đối tượng nghiên cứu bao gồm 7 phụ nữ nhiễm HIV có ý định sinh con và 7 phụ nữ nhiễm HIV không có ý định sinh con, tất cả đều trong độ tuổi sinh đẻ và sống tại quận Đống Đa, để tiến hành phỏng vấn sâu.
Phương pháp thu thập thông tin
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:
HUPH a Nghiên cứu định lượng:
Nghiên cứu áp dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp với bộ câu hỏi có cấu trúc, được thiết kế dựa trên khung lý thuyết và tham khảo từ các nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu này thuộc loại định tính.
Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm theo hướng dẫn phỏng vấn bán cấu trúc, nhằm thu thập thông tin về các yếu tố thuận lợi và rào cản ảnh hưởng đến ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV trong độ tuổi từ 15-49 tại quận Đống Đa, Hà Nội.
Hướng dẫn phỏng vấn sâu nhằm khám phá các yếu tố thuận lợi và rào cản ảnh hưởng đến ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV trong độ tuổi từ 15 đến 49 Nội dung được xây dựng dựa trên các nghiên cứu của Chen J.L và Loutfy M.R.
Xây dựng bản hướng dẫn đặt câu hỏi (Phụ lục 5,6) để tiến hành phỏng vấn và thảo luận trong khoảng 60-90 phút, sử dụng băng ghi âm Thời gian phỏng vấn và thảo luận sẽ được sắp xếp theo lịch rảnh của đối tượng và sẽ được thực hiện tại địa điểm mà đối tượng đề xuất.
2.5.2 Cách tổ chức thu thập số liệu:
Xây dựng bộ câu hỏi và hướng dẫn phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm là một bước quan trọng, dựa trên mục tiêu nghiên cứu và tài liệu tham khảo từ các nghiên cứu quốc tế về ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV.
Chúng tôi đã tiến hành thử nghiệm và hoàn thiện công cụ nghiên cứu bằng cách điều tra 10 phụ nữ nhiễm HIV trong độ tuổi sinh đẻ, từ đó điều chỉnh nội dung bộ câu hỏi cho phù hợp hơn.
- Tập huấn cho cán bộ điều tra trước khi thu thập số liệu
Sau khi hoàn thành khóa tập huấn, nhóm nghiên cứu đã liên hệ với Trung tâm Y tế quận, Phòng khám ngoại trú của Bệnh viện Đa Khoa Đống Đa và Bệnh viện Phổi Hà Nội Nhóm cũng đã làm việc với các tình nguyện viên đồng đẳng của dự án để nhận danh sách đối tượng và thảo luận về kế hoạch làm việc.
Tiến hành điều tra định lượng, điều tra viên tiếp cận đối tượng trong danh sách quản lý của phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa Khoa Đống Đa, Bệnh viện Phổi Hà Nội và Trung tâm Y tế quận Đống Đa đủ tiêu chuẩn nghiên cứu Họ tự giới thiệu và giải thích mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu Nếu đối tượng đồng ý, điều tra viên sẽ sử dụng bộ câu hỏi để phỏng vấn cho đến khi thu thập đủ mẫu.
Sau khi hoàn tất điều tra định lượng và xác định đối tượng có ý định sinh con, chúng tôi sẽ tiến hành điều tra định tính bằng cách lựa chọn và xin phép thực hiện phỏng vấn sâu.
14 đối tượng phụ nữ để tìm hiểu rõ hơn các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sinh con của đối tượng nghiên cứu
Sau mỗi ngày điều tra, phiếu sẽ được kiểm tra và rà soát để phát hiện lỗi sai hoặc thiếu sót thông tin, từ đó rút kinh nghiệm và điều chỉnh, bổ sung kịp thời.
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập, được nhập liệu bằng phần mềm Epi Data 3.1 và phân tích bằng phầ mềm SPSS 19.0, bao gồm 2 phần:
Nội dung bài viết tập trung vào việc mô tả thông tin chung và kiến thức của đối tượng nghiên cứu về dự phòng lây nhiễm HIV, cũng như tiền sử hành vi tiếp cận và sử dụng dịch vụ dự phòng lây nhiễm của những người nhiễm HIV.
Phân tích trong nghiên cứu này bao gồm hai phần: phân tích đơn biến và phân tích đa biến Trong phân tích đơn biến, chúng tôi xác định mối liên quan giữa các biến độc lập như đặc điểm nhân khẩu học, kiến thức và hành vi sử dụng dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV của phụ nữ nhiễm HIV với biến phụ thuộc là ý định sinh con trong tương lai Đối với phân tích đa biến, mô hình hồi quy logistic được xây dựng qua hai bước Bước đầu tiên sử dụng phương pháp Backward Stepwise để đưa tất cả các biến độc lập vào mô hình và chọn ra những biến có mối liên quan thống kê đáng kể Bước tiếp theo là lựa chọn các biến độc lập được giữ lại trong mô hình Stepwise để đưa vào mô hình cuối cùng, trong đó một số biến không được chọn trong mô hình Stepwise vẫn được giữ lại dựa trên ý nghĩa và kinh nghiệm thực tế.
Sau khi thu thập, các phiếu phỏng vấn sẽ được gỡ băng và mã hóa theo chủ đề Tiếp theo, những đoạn trích dẫn phù hợp sẽ được lựa chọn để đưa vào kết quả nghiên cứu.
Biến số và các chỉ số nghiên cứu
2.7.1.Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu:
Các đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu và các thông tin chung về hộ gia đình
2.7.2.Thực trạng về ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV
Mong muốn có con trong thời gian tới: mong muốn có con trong thời gian tới
Phụ nữ nhiễm HIV trong độ tuổi 15 – 49 có ý định và kế hoạch sinh con trong thời gian tới (6 tháng trở lên).
2.7.3 Kiến thức về dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS của phụ nữ nhiễm HIV Kiến thức của phụ nữ nhiễm HIV trong nghiên cứu được đánh giá với 24 nội dung và 2 nhóm kiến thức: kiến thức về phòng lây nhiễm HIV và kiến thức về dự phòng lây truyền từ mẹ sang con Mỗi câu trả lời đúng được cho 1 điểm Tổng điểm kiến thức về dự phòng lây nhiễm HIV dao động từ 0 – 11 điểm và tổng điểm kiến thức về dự phòng lây truyền mẹ con dao động từ 0 – 13 điểm (chi tiết phụ lục 3) Giá trị trung vị được sử dụng để phân chia kiến thức của đối tượng thành 2 nhóm, trong đó nhóm có điểm trên trung vị được đánh giá là có kiến thức đạt, nhóm có điếm dưới trung vị được đánh giá là chưa đạt
2.7.4.Hành vi sử dụng dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV/AIDS:
Tiền sử tiếp cận và sử dụng dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV và thai sản bao gồm thời gian xét nghiệm HIV, thông tin nhận được sau xét nghiệm, tình trạng nhiễm HIV của chồng hoặc bạn tình, tiền sử mang thai và xét nghiệm HIV trong thời gian mang thai Ngoài ra, cần lưu ý thông tin nhận được sau xét nghiệm, cách thông báo kết quả và lý do không tiết lộ tình trạng nhiễm HIV của bản thân sau khi xét nghiệm.
Tiền sử tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV và ARV bao gồm việc sử dụng các dịch vụ hỗ trợ về chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) và các biện pháp dự phòng HIV, cùng với tình trạng và thời gian tiếp cận các dịch vụ này.
HUPH đang mở rộng điều trị ARV và tìm hiểu ý định cũng như lý do của người dân khi tiếp cận dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV trong tương lai Đồng thời, việc cung cấp thông tin về dự phòng lây nhiễm HIV một cách hiệu quả cũng là một trong những mục tiêu quan trọng.
Sai số của nghiên cứu và cách khắc phục
Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi có cấu trúc có thể gặp sai số do kỹ năng của điều tra viên Để khắc phục, cần sử dụng điều tra viên có kinh nghiệm, tổ chức tập huấn kỹ lưỡng, tiến hành điều tra thử và điều chỉnh bộ câu hỏi cho phù hợp, cũng như giám sát chặt chẽ quá trình điều tra.
Để giảm thiểu sai số do nhớ lại và chủ quan của người trả lời phỏng vấn, cần tiến hành tập huấn kỹ lưỡng cho điều tra viên về kỹ năng giải thích và làm rõ câu hỏi, nhằm giúp đối tượng trả lời một cách chính xác nhất.
Để giảm thiểu sai số từ công cụ thu thập số liệu, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm tại quận Đống Đa nhằm kiểm tra tính logic, sự nhất quán và sự phù hợp về ngôn ngữ, văn hóa địa phương Sau khi điều tra thử, các công cụ đã được điều chỉnh cho phù hợp với đặc điểm của địa phương.
Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi được Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng chấp thuận Trong quá trình thực địa, các điều tra viên đã giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu cho các đối tượng tham gia Cuộc phỏng vấn chỉ diễn ra khi có sự đồng ý và tự nguyện của đối tượng Tất cả thông tin cá nhân thu thập được sẽ được giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu và học tập.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trung cấp, cao đẳng, đại học
Tình trạng hôn nhân Đang có chồng
Hiện đang không có chồng
Sống cùng chồng/bạn tình
Từ trung bình trở xuống
Kết quả bảng 3.1 cho thấy, trong tổng số 217 phụ nữ nhiễm HIV tham gia nghiên cứu, có 63,6% thuộc nhóm tuổi > 30 tuổi, tỷ lệ thuộc nhóm tuổi trẻ hơn (≤
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người dân tộc Kinh (98,6%) với độ tuổi trung bình là 30, chiếm 36,4% Trình độ học vấn của họ chủ yếu là THPT (65%), trong khi chỉ có 7,8% có trình độ dưới THCS Gần 30% có trình độ cao đẳng, đại học hoặc trên đại học Tỷ lệ người đã kết hôn là 86,5%, trong khi 23,5% hiện không có chồng Khoảng 75,6% phụ nữ đang sống cùng chồng/bạn tình, 19,8% sống cùng gia đình, và gần 5% sống một mình Đáng chú ý, 54,4% hộ gia đình có thu nhập dưới mức trung bình, trong khi 45,6% có thu nhập trên trung bình.
Biểu đồ 3 1 Tình trạng có con và con bị nhiễm của phụ nữ nhiễm HIV
Theo biểu đồ 3.1, tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV tham gia nghiên cứu đã có con đạt 82,9%, trong đó 54,8% có 1 con và 17,1% chưa có con Đáng chú ý, trong số 180 đối tượng đã có con, tỷ lệ nhiễm HIV là 18,3%, trong khi 81,7% chưa bị nhiễm.
Thực trạng về ý định sinh con c ủa phụ nữ nhiễm HIV
Biểu đồ 3 2 Mong muốn có con của phụ nữ nhiễm HIV
Kết quả từ biểu đồ 3.2 ở trên cho thấy, tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV mong muốn có con là 43,5% và không mong muốn có con là 56,5%
Biểu đồ 3 3 Ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV
Biểu đồ 3.3 cho thấy, trong số 217 đối tượng tham gia nghiên cứu, 33,6% phụ nữ có ý định sinh con trong thời gian tới, trong khi 66,4% phụ nữ nhiễm HIV không có kế hoạch sinh con trong tương lai.
Biểu đồ 3 4 Ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV theo số con hiện có
Biểu đồ 3.4 cho thấy, 34,2% đối tượng chưa từng có con có ý định sinh con trong tương lai, trong khi 61,6% đối tượng đã có 1 con cũng có ý định sinh thêm Đối với nhóm đối tượng có từ 2 con trở lên, tỷ lệ này chỉ là 4,1%.
Biểu đồ 3 5 Ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV theo giới tính trẻ
Theo biểu đồ 3.5, trong số những người có kế hoạch sinh con trong tương lai, gần 60% mong muốn có con gái, 37% muốn có con trai, và 4,1% mong muốn có cả con trai và con gái.
Kiến thức, hành vi về phòng và điều trị HIV c ủa phụ nữ nhiễm HIV
3.3.1 Kiến thức về phòng lây nhiễm và lây truyền HIV từ mẹ sang con
Bảng 3 2 Kiến thức về phòng lây nhiễm HIV Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Hiểu đúng về con đường lây truyền HIV
Lây qua QHTD không an toàn
Lây từ mẹ sang con
Hiểu đúng cách phòng tránh lây nhiễm HIV
Luôn sử dụng BCS khi QHTD
Hiểu sai về đường lây truyền HIV
HIV truyền qua muỗi đốt Ăn uống chung với người nhiễm HIV
Theo số liệu từ bảng 3.2, 100% đối tượng nghiên cứu nhận thức được rằng HIV có thể lây truyền qua đường máu, trong khi 97,2% biết rằng HIV lây qua quan hệ tình dục không an toàn và 96,3% cho rằng HIV có thể lây từ mẹ sang con Hai biện pháp phòng ngừa lây nhiễm HIV phổ biến nhất được biết đến là không sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT) và luôn sử dụng bao cao su (BCS) trong quan hệ tình dục, với tỷ lệ lần lượt là 98,6% và 96,3% Tuy nhiên, chỉ có 59,7% đối tượng cho rằng việc chung thủy một vợ một chồng cũng có thể giúp phòng ngừa lây nhiễm HIV.
Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu hiểu sai về con đường lây nhiễm HIV qua muỗi, côn trùng đốt hoặc việc ăn uống chung với người nhiễm là 3,7% và 2,3%.
Biểu đồ 3 6 Kiến thức về phòng lây truyền từ mẹ sang con
Theo biểu đồ 3.6, 85,3% phụ nữ nhiễm HIV nhận thức rằng trẻ em do họ sinh ra có thể không bị nhiễm virus Hơn nữa, 95% trong số họ biết rằng hiện nay đã có thuốc điều trị dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con Đặc biệt, tỷ lệ phụ nữ hiểu rằng trẻ em sinh ra từ mẹ nhiễm HIV cần phải được xét nghiệm đạt 97,7%.
Bảng 3 3 Bảng kiến thức về con đường lây nhiễm từ mẹ sang con Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trong giai đoạn mang thai
Trong giai đoạn sinh nở
Trong giai đoạn cho con bú
Theo số liệu từ bảng 3.3, tỷ lệ người biết rằng HIV có thể lây từ mẹ sang con trong các giai đoạn mang thai, sinh nở và cho con bú lần lượt là 94%, 87,1% và 82,5%.
Bảng 3 4 Bảng kiến thức về cách có con và nuôi dưỡng Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Biết cách có con và hạn chế lây nhiễm cho con
HUPH Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Biết cách để sinh con không bị nhiễm Đến CSYT để tư vấn và chăm sóc thai nghén
Xét nghiệm và điều trị ARV
Chọn cách sinh an toàn
Biết cách nuôi dưỡng trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV
Lựa chọn cách nuôi trẻ phù hợp 92 42,6 Không cho trẻ bú sữa mẹ
Cho trẻ ăn sữa bột thay thế
Cho trẻ uống thuốc dự phòng lây nhiễm
Theo bảng 3.4, các biện pháp được biết đến nhiều nhất bao gồm chọn cách sinh an toàn (75,9%), đến cơ sở y tế để được tư vấn và chăm sóc thai nghén (70,4%), và xét nghiệm cũng như điều trị ARV (67,6%) Tuy nhiên, chỉ có 42,6% phụ nữ nhận thức rằng việc nuôi dưỡng con đúng cách có thể giúp hạn chế lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
Chỉ có 77,4% và 76,4% phụ nữ biết rằng để phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, không nên cho trẻ bú sữa mẹ và nên cho trẻ uống sữa bột Tỷ lệ phụ huynh biết rằng trẻ cần uống thuốc phòng lây nhiễm ngay sau khi sinh chỉ đạt 64,4%.
Biểu đồ 3 7 Kiến thức của đối tượng về HIV/AIDS
Theo biểu đồ 3.7, 49,3% đối tượng nghiên cứu có kiến thức đạt về phòng lây nhiễm HIV, trong khi 50,7% còn lại có kiến thức chưa đạt.
Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có kiến thức về phòng lây truyền từ mẹ sang con chỉ đạt 37,8%, trong khi đó, 62,2% còn lại chưa đạt yêu cầu về kiến thức này.
3.3.2 Hành vi sử dụng dịch vụ phòng, điều trị HIV của phụ nữ nhiễm HIV
Trong nghiên cứu với 217 phụ nữ nhiễm HIV, 85,3% đã phát hiện tình trạng nhiễm HIV trên 12 tháng, trong khi chỉ có 14,7% mới phát hiện trong năm qua.
Biểu đồ 3 8 Các dịch vụ mà phụ nữ nhiễm HIV có thể nhận được
Biểu đồ 3.8 cho thấy, sau khi nhận kết quả xét nghiệm, 86,5% đối tượng được giới thiệu đến cơ sở dịch vụ chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV, trong khi chỉ có 27,4% nhận được tư vấn về biện pháp phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con.
Biểu đồ 3 9 Tình trạng nhiễm HIV của chồng/bạn tình
Theo biểu đồ 3.9, gần 83% đối tượng có chồng bị nhiễm HIV, trong khi tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có chồng hoặc bạn tình hiện không bị nhiễm HIV là 16,6%.
Biểu đồ 3 10 Tình trạng điều trị ARV của đối tượng nghiên cứu
Theo biểu đồ 3.10, trong tổng số 217 phụ nữ nhiễm HIV, 17,5% không điều trị ARV, trong khi 82,5% tham gia điều trị ARV, cho thấy đa số đối tượng nghiên cứu đã được điều trị.
12 tháng (83,7%) và tỷ lệ đối tượng điều trị dưới 12 tháng là 16,3%
Bảng 3 5 Tiền sử mang thai và xét nghiệm khi mang thai Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đã từng xét nghiệm khi mang thai
Thông tin nhận được sau khi xét nghiệm
Trẻ sơ sinh có thể nhiễm HIV nếu mẹ nhiễm
Các biện pháp dự phòng lây từ mẹ sang con
Thảo luận kế hoạch chăm sóc trẻ nhỏ
Thảo luận, khuyến khích thông báo kết quả cho người thân
Giới thiệu đến dịch vụ dự phòng khác
Theo số liệu từ bảng 3.5, khoảng 65% phụ nữ đã từng thực hiện xét nghiệm HIV trong thời gian mang thai, trong khi tỷ lệ phụ nữ không xét nghiệm HIV là 33,0%.
Trong số các phụ nữ mang thai đã xét nghiệm, 53% nhận được thông tin về biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV từ mẹ sang con Bên cạnh đó, 38,5% được tư vấn rằng nếu mẹ nhiễm HIV, trẻ sinh ra cũng có thể bị nhiễm Tuy nhiên, chỉ 11,5% được thảo luận và tư vấn về việc chăm sóc trẻ sau sinh, và chỉ 4,9% được thông báo kết quả cho người thân.
Bảng 3 6 Tiếp cận và sử dụng dịch vụ về HIV/AIDS tại địa phương Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%) Đã từng tiếp cận dịch vụ tại địa phương
Theo bảng 3.6, tỷ lệ người đã tiếp cận và sử dụng dịch vụ hỗ trợ phòng chống HIV/AIDS tại địa phương đạt 74,5% Trong số đó, 93,8% đã tiếp cận dịch vụ khám và điều trị ARV, và 43,8% cho biết đã từng sử dụng dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Một số yếu tố liên quan đến ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV
Bảng 3 7 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và ý định sinh con Đặc điểm Ý định sinh con
Theo bảng 3.7, có mối liên hệ giữa độ tuổi, trình độ học vấn và nghề nghiệp của phụ nữ nhiễm HIV với ý định sinh con của họ Cụ thể, phụ nữ dưới 30 tuổi có khả năng cao gấp 3 lần trong việc có ý định sinh con so với những phụ nữ trên 30 tuổi (p < 0,001).
Tỷ lệ phụ nữ có trình độ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên có ý định sinh con trong thời gian tới cao hơn so với những phụ nữ có trình độ học vấn dưới trung học phổ thông, với tỷ lệ odds ratio là 7,11 (p < 0,001) Ngoài ra, những phụ nữ có việc làm cũng có ý định sinh con cao hơn so với những phụ nữ không có việc làm, với odds ratio là 4,42 (p < 0,001) Điều kiện kinh tế của đối tượng nghiên cứu có mối liên hệ rõ ràng với ý định sinh con.
Phụ nữ nhiễm HIV thường không có ý định sinh con do khó khăn về kinh tế hiện tại và trong tương lai Việc nhiễm HIV ảnh hưởng đến khả năng kiếm tiền của họ, khiến họ không thể đảm bảo điều kiện nuôi dạy con cái Do đó, trong các cuộc phỏng vấn sâu, tất cả phụ nữ đều khẳng định rằng lý do chính cho quyết định không sinh con là tình hình tài chính khó khăn.
Khó khăn tài chính là một thách thức lớn, đặc biệt khi sức khỏe của cả hai vợ chồng không tốt, ảnh hưởng đến khả năng làm việc Ngoài ra, những người có hoàn cảnh khó khăn còn phải đối mặt với nỗi lo khi sinh con mà không có ai chăm sóc, và câu hỏi về nguồn tiền để nuôi con trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.
Việc sinh con và nuôi dưỡng trẻ bằng sữa ngoài là một thách thức lớn đối với những người nhiễm HIV, đặc biệt khi họ gặp khó khăn về kinh tế.
Hiện tại, chị chưa có ý định sinh thêm con do sức khỏe không như trước và hoàn cảnh kinh tế khó khăn Việc nuôi con bằng sữa ngoài rất tốn kém, trong khi các hỗ trợ từ dự án chỉ đáp ứng một phần Đặc biệt, khi sinh con, việc nuôi hoàn toàn bằng sữa ngoài đã gây ra nhiều khó khăn về tài chính cho gia đình.
Mong muốn có con của đối tượng nghiên cứu có liên quan đến ý định sinh con
Trong nghiên cứu, những người phụ nữ nhiễm HIV bày tỏ mong muốn mãnh liệt được làm mẹ và luôn khao khát có một đứa con trong tương lai.
“Mình là một người phụ nữ nên lúc nào mình cũng khao khát việc làm mẹ” (ĐTPV 7, 36 tuổi)
Nhu cầu sinh con của phụ nữ có H rất cao, vì ai cũng mong muốn trở thành mẹ Hầu hết các thành viên trong nhóm của chị đã có con, và những người chưa có cũng bày tỏ mong muốn được làm mẹ.
Nhiều phụ nữ nhiễm HIV mong muốn sinh con để che giấu tình trạng nhiễm bệnh của mình với cộng đồng Họ lo ngại về việc bị phân biệt đối xử và cô lập trong xã hội.
Hiện nay, số lượng người tiết lộ thông tin rất ít Nhiều người mong muốn có con, nhưng cũng bị nghi ngờ rằng họ chỉ muốn sinh con để xóa đi những nghi ngờ đó.
Hiện nay, những người nhiễm HIV đã nâng cao kiến thức về quyền lợi của mình trong việc sinh con và làm cha mẹ Họ vẫn luôn mong muốn có con dù đã mắc bệnh.
“Nhưng quyền của những người có H thì vẫn có quyền được sinh con làm bố làm mẹ người ta có quyền thì người ta cứ làm thôi.” (ĐTPV 3, 30 tuổi)
Bảng 3 8 Mối liên quan gi ữa tình trạng có con và ý định sinh con Đặc điểm Ý định sinh con
Phân tích từ bảng 3.8 cho thấy, phụ nữ chưa có con có khả năng cao gấp 5,73 lần trong việc có ý định sinh con so với phụ nữ đã có con (p < 0,001) Đặc biệt, những phụ nữ chưa có con trai có ý định sinh con trong thời gian tới cao gấp 2,54 lần so với những phụ nữ đã có con trai (p < 0,001).
Bảng 3 9 Mối liên quan gi ữa việc điều trị ARV và ý định sinh con Đặc điểm Ý định sinh con
Kết quả từ bảng 3.9 chỉ ra rằng có sự liên quan giữa việc điều trị ARV và khả năng tiếp cận dịch vụ phòng và điều trị HIV tại địa phương với ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV Cụ thể, phụ nữ không điều trị ARV có ý định sinh con cao hơn so với những người đang điều trị ARV, với tỷ lệ odds ratio (OR) là 4,55 và giá trị p < 0,001.
Nghiên cứu định tính cho thấy, phụ nữ nhiễm HIV đang điều trị ARV lo ngại rằng thuốc có thể gây ảnh hưởng tiêu cực, khiến họ không thể sinh con bình thường.
Việc sử dụng thuốc ARV có thể dẫn đến nguy cơ sinh con bị quái thai, tùy thuộc vào loại thuốc, cơ địa của từng người và phác đồ điều trị Điều này khiến nhiều người lo lắng về sức khỏe của con cái mình.
BÀN LUẬN
Phụ nữ nhiễm HIV vẫn có mong muốn và ý định sinh con
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, 43,5% phụ nữ nhiễm HIV mong muốn có con trong thời gian tới, trong khi 33,6% có ý định sinh con, và tỷ lệ này ở phụ nữ đang điều trị ARV là 27,4% Kết quả này tương tự với các nghiên cứu trước đây, như ở New Guinea, 34% phụ nữ nhiễm HIV có ý định sinh con, và tại Mỹ, 59% mong muốn có thêm con với 39,2% có ý định sinh Một số nghiên cứu khác cho thấy ý định và mong muốn có con của người nhiễm HIV có thể cao hơn, như nghiên cứu của James L Chen cho thấy hơn 50% phụ nữ và đàn ông hy vọng có con, nhưng tỷ lệ này ở phụ nữ nhiễm HIV nhận được chăm sóc y tế là 29% Tại Nigeria, 71,4% phụ nữ da đen nhiễm HIV mong muốn có con, và một nghiên cứu ở Anh năm 2012 cho thấy 74% đối tượng điều tra muốn có con hoặc thêm con.
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy: trong tổng số
Trong số 217 phụ nữ nhiễm HIV, có 41,6% mang thai khi biết mình nhiễm HIV, và gần 50% đã có con sau khi phát hiện Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Loutfy MR và cộng sự, cho thấy 69% phụ nữ nhiễm HIV tại Canada mong muốn có con, trong khi 58% có ý định sinh con trong tương lai Điều này cho thấy rằng phụ nữ luôn khao khát có con, cả trước và sau khi nhiễm HIV, và họ thực sự có ý định sinh con Nhiều bằng chứng cũng cho thấy người nhiễm HIV tiếp tục sinh con sau khi được chẩn đoán, với 30% phụ nữ nhiễm HIV ở Ohio, 55% ở Louisiana, và 40% ở Georgia và Carolina đã sinh con.
[30] đã mang thai kể từ khi chẩn đoán có HIV; tại Canada, tỷ lệ phụ nữ đã sinh con
Sau khi phát hiện nhiễm HIV, tỷ lệ mang thai ở phụ nữ nhiễm HIV là 31% tại HUPH và 15% ở Brazil, nơi có ít nhất một con sau khi xét nghiệm dương tính Tại Burkina Faso, tỷ lệ mang thai của người nhiễm HIV tương tự như dân số chung Điều này cho thấy việc mang thai và sinh con có thể là mục đích sống của những người nhiễm HIV, giúp họ cảm nhận quyền và chức năng thiêng liêng của phụ nữ trong việc làm mẹ.
Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều phụ nữ nhiễm HIV có ít mong muốn sinh con sau khi phát hiện tình trạng của mình Cụ thể, tại Uganda, chỉ 7% phụ nữ nhiễm HIV mong muốn có con, trong khi 70% người nhiễm HIV ở Nam Carolina, Mỹ không có kế hoạch sinh thêm con Đặc biệt, 89% phụ nữ nhiễm HIV tại Zimbabwe cho rằng các cặp vợ chồng nhiễm HIV không nên có con Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tư vấn và hỗ trợ cho những người nhiễm HIV không có ý định sinh con trong việc phòng tránh thai ngoài ý muốn.
Tỷ lệ lây nhiễm HIV từ mẹ sang con tự nhiên vào khoảng 30 – 40%, nhưng có thể giảm từ 40 – 70% nhờ can thiệp kịp thời bằng thuốc kháng virus (ARV) và các biện pháp dự phòng Các nước phát triển đã giảm đáng kể tỷ lệ trẻ em nhiễm HIV từ mẹ nhờ áp dụng các can thiệp hiệu quả Nhiều quốc gia đang phát triển ở châu Phi, Mỹ La tinh, Đông Âu và Đông Nam Á cũng đã triển khai phác đồ điều trị ARV cho bà mẹ mang thai Bên cạnh đó, tư vấn xét nghiệm HIV tự nguyện trong thời gian mang thai là một biện pháp quan trọng để ngăn ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang con Tại các quốc gia có chương trình phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, tỷ lệ lây nhiễm ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ đã giảm rõ rệt.
Tổ chức Y tế Thế giới đã phát hành nhiều văn bản và hướng dẫn nhằm ngăn ngừa lây truyền HIV từ mẹ sang con Chiến lược tiếp cận toàn diện về dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con, được ban hành vào năm 2006, bao gồm 4 thành tố quan trọng trong việc phòng và điều trị lây nhiễm HIV từ mẹ sang con Tại Việt Nam, 4 thành tố này cũng được áp dụng để nâng cao hiệu quả phòng ngừa.
Chương trình hành động quốc gia phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con ở Việt Nam đã được triển khai từ năm 2006 và được cập nhật trong tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế năm 2010 Hiện nay, các dịch vụ dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con đã được cung cấp trên toàn quốc, từ Trung ương đến các tỉnh, huyện Theo báo cáo năm 2013 của Cục Phòng chống HIV/AIDS, mỗi năm có gần 5.000 phụ nữ mang thai nhiễm HIV, với tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con trung bình từ 30 - 40%, dẫn đến khoảng 2.000 trẻ em sinh ra bị nhiễm HIV Tuy nhiên, nếu phụ nữ mang thai nhiễm HIV được chăm sóc và điều trị kịp thời, tỷ lệ lây truyền có thể giảm xuống dưới 5%.
Hiện nay, công tác phòng, chống lây truyền HIV từ mẹ sang con (PLTMC) tại Việt Nam đang được triển khai trên toàn quốc với những định hướng mới Hai biện pháp chủ yếu được áp dụng là tư vấn xét nghiệm HIV cho phụ nữ mang thai sớm và cung cấp thuốc ARV cho PLTMC từ tuần thai thứ 14, thay vì từ tuần thai thứ 28 như trước đây.
Bên cạnh đó, theo kết quả nghiên cứu về phụ nữ mang thai nhiễm HIV tại 2
Nghiên cứu tại BV phụ sản Hùng Vương và Từ Dũ TPHCM cho thấy kiến thức về HIV của các bà mẹ còn hạn chế, với hơn 2/3 phụ nữ không biết đủ 3 đường lây truyền của virus Đặc biệt, 11% phụ nữ nhiễm HIV sau sinh không đồng ý cho con làm xét nghiệm do không tin mình có thể lây bệnh cho con Hơn nữa, 50% phụ nữ mang thai chỉ phát hiện mình nhiễm HIV khi nhập viện sinh con Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các hoạt động can thiệp phòng lây nhiễm từ mẹ sang con ngay từ giai đoạn sớm, tập trung vào việc truyền thông và cung cấp thông tin về phòng lây truyền cho phụ nữ nhiễm HIV Đối với những phụ nữ có ý định sinh con, cần tư vấn về mang thai và sinh nở trước khi mang thai, cũng như cung cấp thông tin về cách nuôi dưỡng trẻ để phòng lây nhiễm Đối với những phụ nữ không có ý định sinh con, cần cung cấp dịch vụ tư vấn phù hợp.
HUPH hỗ trợ phòng tránh thai ngoài ý muốn, điều này rất quan trọng trong việc giảm tỷ lệ lây truyền từ mẹ sang con trong tương lai.
Kiến thức và hành vi về phòng và điều trị lây nhiễm HIV
4.2.1 Kiến thức và hành vi về phòng lây nhiễm HIV
Hầu hết phụ nữ nhiễm HIV trong nghiên cứu có kiến thức đúng về phòng lây nhiễm HIV
Kết quả nghiên cứu cho thấy hơn 90% đối tượng hiểu rõ ba con đường lây nhiễm HIV: đường máu, đường tình dục và từ mẹ sang con Hơn 90% cũng nhận thức được rằng không dùng chung bơm kim tiêm (BKT) và luôn sử dụng bao cao su (BCS) khi quan hệ tình dục là hai biện pháp chính để phòng ngừa lây nhiễm HIV Tuy nhiên, chỉ gần 60% biết rằng sống chung thủy và chỉ quan hệ tình dục với một bạn tình có thể giảm nguy cơ lây nhiễm Điểm trung bình về kiến thức phòng lây nhiễm HIV là 9,37, với 49,3% đối tượng đạt yêu cầu, trong khi 50,7% vẫn chưa đạt kiến thức cần thiết về phòng ngừa lây nhiễm HIV.
Kết quả nghiên cứu tại nhóm phụ nữ nhiễm HIV ở Nigeria cho thấy, 88,2% có kiến thức đúng về lây truyền HIV qua quan hệ tình dục không an toàn, 80,4% biết về việc dùng chung bơm kim tiêm, và 34,4% nhận thức được lây truyền qua đường máu Tuy nhiên, chỉ có 18,6% biết rằng HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con.
Nghiên cứu tại An Giang và TPHCM cho thấy phụ nữ nhiễm HIV có kiến thức tốt về con đường lây truyền HIV, với khả năng liệt kê được ba con đường chính và nhận thức rằng bao cao su (BCS) có thể bảo vệ họ khỏi lây nhiễm Mặc dù kiến thức về HIV/AIDS đã được truyền thông rộng rãi trong cộng đồng, tỷ lệ người nghiên cứu có kiến thức đầy đủ về biện pháp phòng lây nhiễm HIV chỉ đạt 49,3% Điều này cho thấy rằng, mặc dù họ đã nhận thức được các con đường lây nhiễm và biện pháp phòng tránh, nhưng hiểu biết về phòng lây nhiễm HIV/AIDS vẫn còn hạn chế.
HUPH hạn chế, đặc biệt là hiểu biết về việc sống chung thủy một vợ một chồng có khả năng làm giảm lây nhiễm HIV
Số phụ nữ nhiễm HIV có kiến thức về phòng lây truyền từ mẹ sang con còn đạt ở tỷ lệ thấp
Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng, điểm số trung bình về kiến thức dự phòng lây truyền mẹ sang con của đối tượng nghiên cứu là 10,12 điểm Trong số đó, 37,8% đối tượng có kiến thức đạt yêu cầu, trong khi 62,2% còn lại có kiến thức chưa đạt.
Nghiên cứu của Kessler SF tại Mỹ cho thấy tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV mong muốn có con có kiến thức về phòng lây truyền mẹ con đạt 38% và không đạt 59% Tại New Guinea, nghiên cứu của Aska M.L cho biết điểm kiến thức trung bình về phòng lây truyền mẹ con là 3,6, với 12,03% có kiến thức tốt, 74,23% trung bình và 13,73% thấp Tại Việt Nam, kiến thức của phụ nữ nhiễm HIV về phòng và điều trị lây truyền mẹ con còn hạn chế, với tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV tại bệnh viện Từ Dũ và Hùng Vương chỉ đạt 26,7% và tại huyện Hóc Môn là 13,5%.
Phần lớn đối tượng nghiên cứu đều nhận thức rằng HIV có thể lây truyền từ mẹ sang con trong các giai đoạn mang thai, sinh con và cho con bú với tỷ lệ trên 80% Khoảng 75% đối tượng có kiến thức về các biện pháp sinh con an toàn Tuy nhiên, chỉ có 42,6% biết rằng việc lựa chọn cách nuôi dưỡng con đúng cách có thể giúp hạn chế lây nhiễm cho trẻ.
Nghiên cứu của Okagbue R.N tại Nigeria cho thấy, trong nhóm phụ nữ nhiễm HIV, chỉ 70% có kiến thức về việc lây truyền HIV từ mẹ sang con trong thời kỳ mang thai, 67% nhận thức được khả năng lây nhiễm qua việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhưng chỉ 39% hiểu rằng HIV có thể lây trong quá trình sinh đẻ Thêm vào đó, nghiên cứu trên 384 bà mẹ nhiễm HIV tại hai bệnh viện phụ sản Từ Dũ và Hùng cũng cho thấy những hạn chế trong nhận thức này.
Chỉ có 25% bà mẹ tại TPHCM có kiến thức đúng về chăm sóc trẻ sau sinh, cho thấy sự hạn chế trong hiểu biết về phòng lây truyền mẹ con của phụ nữ nhiễm HIV Tỷ lệ đối tượng được giới thiệu đến dịch vụ phòng lây truyền mẹ con chỉ đạt 27,4%, trong khi 64% đã từng làm xét nghiệm HIV trước khi mang thai, nhưng chỉ 53% nhận được tư vấn về biện pháp dự phòng và chỉ 11,5% thảo luận về kế hoạch nuôi dưỡng trẻ nhỏ sau sinh Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thông tin và kiến thức cần thiết để chăm sóc trẻ, nhằm hạn chế lây nhiễm từ mẹ sang con Do đó, việc tăng cường truyền thông và giới thiệu đối tượng nhiễm HIV đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình là rất cần thiết để nâng cao kiến thức về phòng lây truyền mẹ con cho những người có ý định sinh con trong tương lai.
4.2.2 Kiến thức, hành vi về điều trị HIV
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phụ nữ nhiễm HIV có kiến thức tốt về điều trị HIV, với 87,6% biết rằng hiện chưa có thuốc chữa khỏi AIDS Đặc biệt, 95% cho rằng đã có thuốc phòng lây nhiễm từ mẹ sang con và 97,7% nhận thức rằng trẻ sinh ra từ mẹ nhiễm HIV cần được xét nghiệm HIV Tuy nhiên, chỉ có 64,4% biết rằng trẻ cần uống thuốc dự phòng ngay sau khi sinh Kết quả này tương tự như nghiên cứu của Okagbue R.N tại Nigeria, nơi 78% phụ nữ nhiễm HIV biết về thuốc phòng lây nhiễm từ mẹ sang con Ngoài ra, nghiên cứu định tính tại Quảng Ninh, An Giang và TP Hồ Chí Minh cho thấy một số trẻ được xét nghiệm quá sớm hoặc quá muộn, cho thấy mặc dù phụ nữ nhiễm HIV nhận thức được tầm quan trọng của việc xét nghiệm cho trẻ, nhưng thực tế vẫn còn nhiều vấn đề cần cải thiện.
HUPH nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định thời gian xét nghiệm cho trẻ em Các chương trình can thiệp nhằm ngăn ngừa lây nhiễm HIV từ mẹ sang con cần cung cấp tư vấn chi tiết cho phụ nữ nhiễm HIV về thời điểm thích hợp để xét nghiệm HIV cho trẻ và thời điểm bắt đầu cho trẻ uống thuốc ARV dự phòng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 217 phụ nữ nhiễm HIV, có 82,5% đang điều trị ARV, với 83,7% trong số đó đã điều trị trên 12 tháng Dịch vụ khám và điều trị ARV mà họ tiếp cận đạt tỷ lệ 86,5% và 93,8% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Aska M.L tại New Guinea, cho thấy 82,5% đối tượng đang điều trị ARV, trong đó 51,7% điều trị trên 18 tháng Tại Canada, tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV đang điều trị ARV là 74%, và 78% trong số họ mong muốn nhận được hỗ trợ về sức khỏe sinh sản trong tương lai Điều này chứng tỏ rằng việc cung cấp thông tin và tư vấn về HIV/AIDS là rất quan trọng để giúp người nhiễm tiếp cận dịch vụ phòng và điều trị.
Trong nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 43,8% người nhiễm HIV tiếp cận dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe sinh sản Nguyên nhân một phần là do thông tin và tư vấn họ nhận được chủ yếu tập trung vào phòng và điều trị ARV (86,5%), trong khi thông tin về dịch vụ KHHGĐ chỉ chiếm khoảng 8% và dịch vụ dự phòng lây truyền mẹ con là 27,4% Hơn nữa, có 25% đối tượng chưa từng hoặc không có ý định sử dụng dịch vụ hỗ trợ tại địa phương, và 18,3% không tiếp cận được Sự lo sợ về kỳ thị từ cộng đồng đối với tình trạng nhiễm HIV là nguyên nhân chính dẫn đến vấn đề này.
Nghiên cứu định tính về phòng lây truyền mẹ con tại Việt Nam cho thấy khoảng 1/3 phụ nữ mang thai từ chối làm xét nghiệm HIV Đồng thời, 1/3 phụ nữ có kết quả xét nghiệm dương tính lại bị mất dấu Những lo ngại như sợ làm xét nghiệm máu, sợ bị lộ tình trạng nhiễm HIV và lo lắng về sự kỳ thị là những vấn đề chính ảnh hưởng đến quyết định của họ.
Cộng đồng HUPH đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ phụ nữ mang thai và nhiễm HIV, giúp họ tiếp cận dịch vụ xét nghiệm, phòng ngừa và điều trị HIV.
Sự kì thị của cộng đồng đối với người nhiễm HIV vẫn là một rào cản lớn, ảnh hưởng đến việc tiếp cận và sử dụng dịch vụ hỗ trợ liên quan đến HIV/AIDS Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của các hoạt động can thiệp truyền thông, nhằm cung cấp kiến thức đúng đắn và đầy đủ cho cộng đồng, từ đó giảm thiểu sự kì thị và tạo cơ hội cho người nhiễm HIV tiếp cận các dịch vụ phòng và điều trị hiệu quả.
Các yếu tố liên quan đến ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV
Phân tích từ mô hình hồi quy đa biến chỉ ra rằng, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, số con hiện có, việc đã có con trai, và kiến thức về phòng ngừa cũng như điều trị HIV/AIDS đều có ảnh hưởng đến ý định sinh con của phụ nữ nhiễm HIV.
Phụ nữ có trình độ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học trở lên có ý định sinh con cao gấp 5,6 lần so với những phụ nữ có trình độ học vấn thấp dưới trung học phổ thông (OR = 5,6; p < 0,001) Điều này cho thấy rằng, những người có trình độ học vấn cao hơn thường tiếp cận được nhiều thông tin về HIV/AIDS, hiểu rõ quyền làm mẹ của người nhiễm HIV, cũng như các biện pháp phòng ngừa lây truyền cho con và cách nuôi dưỡng con an toàn Do đó, họ có xu hướng có ý định sinh con cao hơn so với những phụ nữ có trình độ học vấn thấp hơn.
Phụ nữ có chồng có ý định sinh con cao gấp 2,8 lần so với phụ nữ không có chồng (OR = 2,83; p