1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016

102 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá Một Số Khía Cạnh Chất Lượng Cuộc Sống Của Bệnh Nhân Sau Chấn Thương Tủy Sống Và Yếu Tố Ảnh Hưởng Tại Bệnh Viện Bạch Mai Năm 2016
Tác giả Nguyễn Anh Tú
Người hướng dẫn TS. Đỗ Đào Vũ, ThS. Nguyễn Nguyên Ngọc
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (13)
    • 1.1. Định nghĩa tổn thương tủy sống (13)
    • 1.2. Tình hình chấn thương tủy sống (13)
    • 1.3. Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống và các phương pháp đánh giá (14)
      • 1.3.1. Khái niệm chất lượng cuộc sống (14)
      • 1.3.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống (14)
      • 1.3.3. Các phương pháp đáng giá chất lượng cuộc sống trong bệnh chấn thương tủy sống (16)
      • 1.3.4. Các bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống ở bệnh nhân chấn thương tủy sống (16)
    • 1.4. Giới thiệu về bộ công cụ đánh giá chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống (18)
    • 1.5. Các phương pháp và dịch vụ điều trị, chăm sóc và phục hồi chức năng cho bệnh nhân tổn thương tủy sống (19)
      • 1.5.1. Điều trị loét do đè ép (19)
      • 1.5.2. Chăm sóc đường hô hấp (19)
      • 1.5.3. Chăm sóc đường tiết niệu (19)
      • 1.5.4. Chăm sóc đường ruột (20)
      • 1.5.5. Điều trị cơn rối loạn thần kinh giao cảm phản xạ (20)
      • 1.5.6. Điều trị đau do nguyên nhân thần kinh (20)
      • 1.5.7. Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (21)
      • 1.5.8. Điều trị co cứng (21)
      • 1.5.9. Tập mạnh cơ, di chuyển bằng dụng cụ trợ giúp và hoạt động trị liệu (21)
      • 1.5.10. Điều trị rối loạn chức năng tình dục (21)
      • 1.5.11. Tái hội nhập vào cộng đồng và xã hội (21)
    • 1.6. Các nghiên cứu liên quan (21)
      • 1.6.1. Một số nghiên cứu về bệnh nhân chấn thương tủy sống trên thế giới (21)
      • 1.6.2. Một số nghiên cứu về bệnh nhân chấn thương tủy sống ở Việt Nam (26)
    • 1.7. Khung lý thuyết (28)
    • 1.8. Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu (30)
      • 1.8.1. Lịch sử hình thành đơn vị (30)
      • 1.8.2. Các hoạt động chuyên môn (30)
  • Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (32)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (32)
      • 2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu (32)
      • 2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu (32)
    • 2.2. Phương pháp nghiên cứu (32)
      • 2.2.1. Thiết kế nghiên cứu (32)
      • 2.2.2. Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu (32)
      • 2.2.3. Thời gian nghiên cứu (32)
      • 2.2.4. Địa điểm nghiên cứu (33)
      • 2.2.5. Phương pháp thu thập thông tin (33)
    • 2.3. Các tiêu chuẩn đánh giá (36)
      • 2.3.1. Chất lượng cuộc sống tốt và không tốt (36)
      • 2.3.2. Chuẩn nghèo, hộ cận nghèo (36)
      • 2.3.3. Thang điểm phân loại của Hiệp hội Tổn thương tủy sống Mỹ (ASIA (36)
    • 2.4. Xác định chỉ số, biến số nghiên cứu (37)
      • 2.4.1. Biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu (37)
      • 2.4.2. Biến số về khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy sống (SCIM) (37)
      • 2.4.3. Các biến số về mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS (37)
      • 2.4.4. Biến số về yếu tố ảnh hưởng giữa chất lượng cuộc sống với yếu tố cá nhân, xã hội và dịch vụ y tế (38)
    • 2.5. Phân tích số liệu (38)
      • 2.5.1. Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng (38)
      • 2.5.2. Xử lý số liệu nghiên cứu định tính (38)
    • 2.6. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (38)
    • 2.7. Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục (39)
      • 2.7.1. Hạn chế của nghiên cứu (39)
      • 2.7.2. Biện pháp khắc phục (39)
  • Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (40)
    • 3.1. Thông tin chung của bệnh nhân (40)
    • 3.2. Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân (41)
    • 3.3. Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống (42)
      • 3.3.1. Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ độc lập SCIM (42)
      • 3.3.2. Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS (44)
      • 3.3.3. Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS và mức độ độc lập SCIM (44)
    • 3.4. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống (45)
  • Chương 4: BÀN LUẬN (51)
    • 4.1. Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu (51)
    • 4.2. Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống (54)
    • 4.3. Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của BN sau CTTS (58)
  • KẾT LUẬN (63)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (65)
  • PHỤ LỤC (34)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân CTTS đang điều trị tại trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai trong vòng 2 tháng sau chấn thương từ 30/3/2016 tới 23/5/2016

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân CTTS sau khi kết thúc quá trình điều trị ngoại khoa được chuyển về điều trị tiếp tại Trung tâm phục hồi chức năng

- Bệnh nhân giao tiếp được

- Bệnh nhân tự nguyện, đồng ý hợp tác tham gia nghiên cứu

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ đối tượng nghiên cứu

- Bệnh nhân không đồng ý tham gia vào nghiên cứu

- Bệnh nhân có các bệnh lý kèm theo: tai biến mạch máu não, bệnh cơ xương khớp, bệnh hệ tiết niệu, tâm thần

- Những người bệnh tử vong hoặc xin về trong quá trình nghiên cứu

- Những BN đã điều trị và lần này tái nhập viện để phục hồi chức năng tiếp.

Phương pháp nghiên cứu

- Mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính

2.2.2 Xác định cỡ mẫu, cách chọn mẫu

2.2.2.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng

Cỡ mẫu cho nghiên cứu bao gồm toàn bộ 65 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn đang được điều trị tại Trung tâm phục hồi chức năng.

2.2.2.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính

Chọn mẫu có chủ đích phỏng vấn sâu: 01 lãnh đạo trung tâm phụ trách đơn vị tủy sống, 03 người nhà trực tiếp chăm sóc bệnh nhân, 06 bệnh nhân

- Nghiên cứu được tiến hành từ 01/11/2015 đến 02/ 06/2016

- Trung tâm Phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai

2.2.5 Phương pháp thu thập thông tin

Tác giả thu thập thông tin chung của bệnh nhân từ bệnh án, bao gồm tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, mức độ tổn thương, vị trí tổn thương, nguyên nhân chấn thương tủy sống, thời gian bị bệnh và phương pháp điều trị trước khi đến Trung tâm Phục hồi chức năng.

Bước 1 : Liên hệ và được sự đồng ý của Giám đốc trung tâm cho phép tới khoa phòng để được tiếp xúc với BN trong quá trình thu thập

Bước 2: Hợp tác và xác định công việc cụ thể để thu thập thông tin với điều tra viên, là Kỹ thuật viên Đại học đang công tác tại trung tâm PHCN của bệnh viện Bạch Mai.

Bước 3: Thu thập số liệu cho hai bộ công cụ SCIM và VAS từ ngày 03/03/2016 đến 20/05/2016, với địa điểm phỏng vấn bệnh nhân là tại buồng bệnh nơi bệnh nhân đang điều trị.

Công cụ thu thập số liệu SCIM

Bộ câu hỏi đánh giá khả năng độc lập của bệnh nhân sau cơn tai biến mạch máu não (SCIM) đã được tích hợp vào quy trình của ngành và đang được áp dụng thường xuyên tại Trung tâm Phục hồi Chức năng Bệnh viện Bạch Mai Người thực hiện khảo sát là cán bộ y tế (học viên) đã được đào tạo để sử dụng thành thạo bộ công cụ SCIM, trong đó điều tra viên là Kỹ thuật viên Đại học hiện đang công tác tại trung tâm này.

Để tiến hành phỏng vấn bệnh nhân, chúng tôi sử dụng 16 câu hỏi liên quan đến khả năng độc lập Trong đó, có 4 câu hỏi tập trung vào các hoạt động tự chăm sóc bản thân, bao gồm ăn (0-4 điểm), tắm rửa thân trên và thân dưới (0-3 điểm), mặc quần áo (0-3 điểm), và vệ sinh vùng đầu mặt (0-4 điểm) Sau khi hoàn thành 4 câu hỏi này, tổng điểm sẽ được cộng lại, với tổng điểm dao động trong khoảng từ 0 đến 20 điểm.

Trong bài phỏng vấn bệnh nhân, chúng tôi đã sử dụng 4 câu hỏi liên quan đến rối loạn chức năng hô hấp và chức năng đại tiểu tiện Đối với chức năng hô hấp, chúng tôi phân loại thành 6 mức độ, từ 0 đến 10 điểm, trong khi rối loạn tiểu tiện cũng được đánh giá theo các tiêu chí tương tự.

HUPH làm 5 mức (0-15 điểm), rối loạn đại tiên chia 3 mức (0-5-10 điểm), đi vệ sinh chia

6 mức (0-5 điểm) Sau khi hỏi xong 4 câu hỏi ta cộng tổng điểm lại, tổng điểm phần này dao động trong khoảng (0-40 điểm)

Bài phỏng vấn bệnh nhân tập trung vào khả năng di chuyển trong phòng và tại bồn cầu thông qua ba câu hỏi chính Đầu tiên, khả năng di chuyển trên giường để phòng ngừa loét do tỳ đè được đánh giá theo 7 mức độ từ 0 đến 6 điểm Thứ hai, việc di chuyển từ giường ra xe lăn và ngược lại được chia thành 3 mức độ, với điểm số từ 0 đến 2 Cuối cùng, khả năng di chuyển từ xe lăn ra bồn cầu, bồn tắm và ngược lại cũng được đánh giá theo 3 mức độ, từ 0 đến 2 điểm Tổng điểm cho phần này dao động từ 0 đến 10 điểm sau khi cộng tất cả các điểm lại.

+ Phỏng vấn BN về khả năng di chuyển ở trong nhà và ngoài nhà thông qua

Bài viết đề cập đến việc đánh giá khả năng di chuyển của người dùng qua 5 câu hỏi, bao gồm: di chuyển trong nhà được chia thành 9 mức điểm từ 0 đến 8; di chuyển với khoảng cách vừa phải từ 10 đến 100 mét cũng được chia thành 9 mức điểm tương tự; di chuyển bên ngoài nhà trên 100 mét được phân loại thành 9 mức điểm từ 0 đến 8; đi thang bộ được chia thành 4 mức điểm từ 0 đến 3; và di chuyển từ xe lăn vào ô tô (hoặc xe máy) và ngược lại cũng được chia thành 4 mức điểm.

3 điểm) Sau khi hỏi xong 5 câu hỏi ta cộng tổng điểm lại, tổng điểm của phần này dao động trong khoảng (0-30 điểm)

Tổng điểm của bốn phần sẽ cho ra kết quả từ 0 đến 60, cho thấy khả năng độc lập không tốt, trong khi điểm từ 61 đến 100 phản ánh khả năng độc lập tốt (Chi tiết xem trong phụ lục 2).

Công cụ thu thập số liệu mức độ đau VAS

Bộ công cụ đánh giá mức độ đau theo thang điểm VAS là công cụ phổ biến nhất toàn cầu để đo lường cường độ đau của bệnh nhân.

Bộ công cụ VAS được chứng minhcó độ tin cậy cao và đã được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước [10],[11],[20],[29],[39]

Bảng đánh giá mức độ đau cho bệnh nhân bao gồm hai mặt: một mặt không số thể hiện tình trạng đau từ không đau đến đau tồi tệ nhất, và một mặt có số từ 0 đến 10 dành cho các nhà nghiên cứu Người dùng có thể di chuyển thanh trượt để chọn mức độ đau phù hợp.

Quay mặt không số của thước VAS về phía bệnh nhân, với một đầu biểu thị mức độ không đau và đầu kia biểu thị mức độ đau tồi tệ nhất mà bệnh nhân có thể tưởng tượng Bệnh nhân sẽ so sánh mức độ đau của mình và kéo thanh trượt từ đầu không đau đến vị trí tương ứng với mức độ đau của mình trên băng trống Điểm mà bệnh nhân đánh dấu sẽ tương ứng với điểm đau trên mặt kia của thước do người đánh giá đọc Điểm đau VAS được phân loại theo mức độ theo Salley L Collens và cộng sự, trong đó VAS = 0 điểm tương ứng với không đau.

+ VAS từ 3- 6 điểm:Đau trung bình

Tương ứng với mức độ đau càng nhiều thì chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng càng nhiều

Tiến hành phỏng vấn sâu bệnh nhân (BN) với sự đồng ý của BN và người chăm sóc trực tiếp, tại nơi BN đang điều trị, nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của BN sau chấn thương tủy sống.

Tiến hành phỏng vấn sâu người nhà trực tiếp chăm sóc bệnh nhân với sự cho phép và đồng ý của họ Địa điểm phỏng vấn có thể diễn ra trong buồng bệnh khi họ đang chăm sóc bệnh nhân hoặc tại hành lang của bệnh viện.

- Tiến hành phỏng vấn sâu lãnh đạo Trung tâm tại phòng làm việc của họ khi đã có sự cho phép và đồng ý

- Sử dụng hướng dẫn phỏng vấn sâu đối với từng đối tượng phù hợp.

Các tiêu chuẩn đánh giá

2.3.1 Chất lượng cuộc sống tốt và không tốt

Chất lượng cuộc sống phản ánh cảm nhận của mỗi cá nhân về cuộc sống của họ, được định hình bởi bối cảnh văn hóa và hệ thống giá trị mà họ đang sống Nó liên quan đến các mục đích, nguyện vọng, tiêu chuẩn và mối quan tâm của họ.

+ Chất lượng cuộc sống tốt: khi VAS ≤ 5 và SCIM > 60

+ Chất lượng cuộc sống không tốt: khi VAS >5 hoặc SCIM ≤ 60

2.3.2 Chuẩn nghèo, hộ cận nghèo [12]

Hộ nghèo được định nghĩa là những hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng thấp hơn hoặc bằng chuẩn nghèo chính sách, hoặc có thu nhập cao hơn nhưng vẫn dưới mức sống tối thiểu và thiếu hụt từ 1/3 tổng số điểm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Trong khi đó, hộ cận nghèo là những hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng cao hơn chuẩn nghèo chính sách nhưng thấp hơn mức sống tối thiểu, với thiếu hụt dưới 1/3 tổng số điểm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Những hộ còn lại sẽ được phân loại là khá giả hoặc đủ ăn.

+ Dựa vào quyết định số 09/2011/QĐ – TTg của Thủ tướng chính phủ về chuẩn hộ nghèo, cận nghèo gồm:

+ Hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống

+ Hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

+ Hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng

+ Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

2.3.3 Thang điểm phân loại của Hiệp hội Tổn thương tủy sống Mỹ (ASIA: American Spinal Cord Injury Assocition) chia làm 5 mức[15]

Bảng phân loại mức độ chấn thương tủy sống (CTTS) giúp xác định tình trạng của bệnh nhân thông qua khám lâm sàng Theo bảng phân loại, bệnh nhân không có tổn thương tủy được xếp vào loại ASIA E, trong khi tổn thương tủy hoàn toàn (ASIA A) xảy ra khi bệnh nhân mất hoàn toàn chức năng vận động, cảm giác và phản xạ Các loại tổn thương tủy không hoàn toàn được phân loại là ASIA B, C và D.

+ ASIA A = hoàn toàn :không còn chức năng vận động, cảm giác tại vùng tủy cùng S4-S5

+ ASIA B = Không hoàn toàn :Còn cảm giác nhưng mất chức năng vận động dưới mức thần kinh tổn thương

ASIA C là tình trạng không hoàn toàn, trong đó chức năng vận động bị ảnh hưởng dưới mức tổn thương thần kinh Hơn một nửa số cơ chính trong cơ thể có mức độ tổn thương với bậc cơ dưới 3.

ASIA D chỉ ra rằng bệnh nhân không hoàn toàn mất chức năng vận động, với khả năng vận động dưới mức tổn thương thần kinh và ít nhất một nửa số cơ chính có bậc cơ lớn hơn hoặc bằng 3 Trong khi đó, ASIA E cho thấy chức năng vận động và cảm giác của bệnh nhân là bình thường.

Tổn thương tủy hoàn toàn: ASIA A

Tổn thương tủy không hoàn toàn: ASIA B,C,D

Không có tổn thương tủy: ASIA E.

Xác định chỉ số, biến số nghiên cứu

2.4.1 Biến số về đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

Các biến số quan trọng bao gồm giới tính, tuổi, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, mức độ tổn thương theo ASIA, vị trí tổn thương, nguyên nhân và thời gian bị bệnh (Chi tiết xin xem trong phần phụ lục 3).

2.4.2 Biến số về khả năng độc lập của bệnh nhân chấn thương tủy sống (SCIM)

Các biến số quan trọng bao gồm: ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo, vệ sinh vùng đầu mặt, hô hấp, cơ thắt bàng quang, cơ thắt hậu môn, đi vệ sinh, di chuyển trên giường, hoạt động để tránh loét tì đè, dịch chuyển từ giường ra xe lăn và ngược lại, từ xe lăn ra bồn cầu, bồn tắm, di chuyển trong nhà, di chuyển khoảng cách vừa phải, di chuyển bên ngoài (hơn 100m), đi thang bộ, và dịch chuyển từ xe lăn ra xe hơi/xe máy (Chi tiết xin xem trong phần phụ lục 4)

2.4.3 Các biến số về mức độ đau theo thang điểm nhìn VAS

- Bao gồm các biến số đó là: không đau, đau nhẹ, đau trung bình, đau rất nhiều (chi tiết xin xem trong phần phụ lục 5)

2.4.4 Biến số về yếu tố ảnh hưởng giữa chất lượng cuộc sống với yếu tố cá nhân, xã hội và dịch vụ y tế

Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe bao gồm: giới tính, mức độ tổn thương theo tiêu chuẩn ASIA, vị trí tổn thương, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, tình trạng hôn nhân, phương pháp điều trị, thời gian điều trị, nhóm tuổi, cơ sở vật chất của bệnh viện, trình độ học vấn, sự hài lòng với thái độ của cán bộ y tế, và khoảng cách từ nhà đến bệnh viện (Chi tiết xin xem trong phần phụ lục 6)

Phân tích số liệu

2.5.1 Xử lý số liệu nghiên cứu định lượng

- Số liệu sau khi thu thập, được làm sạch, mã hóa, nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel 2007 và phân tích bằng phần mềm thống kê Stata 11.0

- Áp dụng các phương pháp phân tích mô tả: tính tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

- Tính tỷ suất chênh OR để xác định mối liên quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc, có ý nghĩa thống kê khi 95%CI không chứa 1, giá trị P< 0,05,

2.5.2 Xử lý số liệu nghiên cứu định tính

Nội dung cuộc phỏng vấn sâu được ghi chép và ghi âm cẩn thận Nghiên cứu viên sẽ bổ sung những quan sát trong quá trình phỏng vấn, sau đó tiến hành gỡ băng, đánh máy và phân tích dữ liệu theo từng chủ đề Toàn bộ những câu nói của đối tượng phỏng vấn đều được tôn trọng và giữ nguyên.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo Trung tâm quan tâm, ủng hộ

Nghiên cứu tuân thủ ba nguyên tắc cơ bản của đạo đức: tôn trọng, không gây hại và tạo sự công bằng cho tất cả bệnh nhân Bệnh nhân và gia đình được thông tin rõ ràng về mục đích nghiên cứu, quyền lợi và trách nhiệm của họ, tự nguyện ký vào bản chấp nhận tham gia và có quyền rút lui bất cứ lúc nào.

Bệnh nhân sẽ được theo dõi, tư vấn dự phòng và điều trị chuyên khoa sau khi kết thúc nghiên cứu Thông tin thu thập từ bệnh nhân và bệnh án chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học Dữ liệu về bệnh tật của bệnh nhân được sử dụng để hỗ trợ việc theo dõi, dự phòng và điều trị lâu dài cho chính bệnh nhân.

- Kết quả sẽ được phản hồi lại tới lãnh đạo Trung tâm cũng như các đối tượng tham gia nghiên cứu sau khi nghiên cứu kết thúc

- Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Y đức của nhà trường thời gian chấp thuận từ 30/03/2016 đến 30/04/2016.

Hạn chế của nghiên cứu và cách khắc phục

2.7.1 Hạn chế của nghiên cứu

Việc thu thập thông tin thông qua bảng hỏi có sẵn và tự điền có thể dẫn đến sai số do thái độ hợp tác của người tham gia nghiên cứu.

Cỡ mẫu lớn hơn thường mang lại tính khoa học cao hơn trong phân tích, nhưng nghiên cứu của chúng tôi chỉ bao gồm 65 bệnh nhân sau CTTS tại Trung tâm PHCN Bệnh viện Bạch Mai, điều này là một hạn chế Mặc dù vậy, chúng tôi hy vọng sẽ phát hiện ra một số yếu tố liên quan và kết quả nghiên cứu sẽ chỉ áp dụng cho Trung tâm này Chúng tôi kỳ vọng rằng nghiên cứu tiếp theo sẽ có cỡ mẫu lớn hơn, thông qua việc thu thập dữ liệu trong thời gian dài hơn hoặc từ nhiều đơn vị điều trị khác nhau, nhằm nghiên cứu sâu hơn về vấn đề này.

- Điều tra viên giải thích rõ ràng mục đích của nghiên cứu và động viên đối tượng tham gia nghiên cứu trả lời thành thật

- Số liệu được kiểm tra và làm sạch trước khi nhập và phân tích

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung của bệnh nhân

Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi (ne) Tỷ lệ (%) Tuổi trung bình (năm)

Trung bình ± SD MAX MIN

Bảng 3.2 Thông tin chung của bệnh nhân

Nội dung (ne) Tỷ lệ (%)

Tình trạng hôn nhân Đang có vợ/chồng 59 90,8

Ly thân/ly hôn/góa bụa/ độc thân 6 9,2

Trung cấp/cao đẳng 25 38,5 Đại học/sau đại học 13 20

Cán bộ viên chức 19 29,2 Điều kiện kinh tế

Thời gian bị bệnh (tuần) Trung bình ± SD 8,1 ± 2,2

Nhóm bệnh nhân nghiên cứu có tuổi trung bình là 42,0 ± 15,8 tuổi, với 86,15% thuộc nhóm tuổi dưới 60 Thời gian mắc bệnh trung bình là 8,1 ± 2,2 tuần, trong đó nam giới chiếm gấp đôi nữ giới Đáng chú ý, 90,8% đối tượng đã có gia đình, và 41,54% có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở xuống Trước khi mắc bệnh, 43,1% đối tượng làm nghề lao động chân tay, nông dân và công nhân, trong khi 30,8% có điều kiện kinh tế gia đình ở mức nghèo hoặc cận nghèo.

Một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân

Bảng 3.3 Phân bố bệnh nhân theo mức độ tổn thương

Mức tổn thương theo ASIA Tổng số

Liệt tủy hoàn toàn (ASIA –A) 22 33,8

Liệt Liệt tủy không hoàn toàn (ASIA – B_D) 43 66,2

Liệt tủy hoàn toàn ASIA –A chiếm 1/3 (33,8%) số BN trong nhóm nghiên cứu

Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo vị trí tổn thương

Từ D1 trở lên(liệt tứ chi) 20 30,8

Từ D1 trở xuống (Liệt hai chân) 45 69,2

Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, liệt tứ chi (Từ D1 trở lên)do chấn thương tủy sống cao chiếm tỷ lệ không nhỏ 30,8%

Bảng 3.5 Phân bố bệnh nhân theo nguyên nhân chấn thương

Tai nạn giao thông là một trong những nguyên nhân chính gây ra các trường hợp chấn thương thể thao (CTTS), chiếm tỷ lệ hơn 50% Tiếp theo là tai nạn lao động với tỷ lệ 24,6% và tai nạn sinh hoạt với 16,9%.

Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống

3.3.1 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ độc lập SCIM

Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo khả năng tự chăm sóc bản thân

Chức năng chăm sóc bản thân Trung bình ± SD Điểm tối đa Ăn uống 2,8 ± 1,6 4

Vệ sinh vùng đầu mặt 2,6 ± 1,7 4

Điểm chức năng chăm sóc bản thân của nhóm bệnh nhân nghiên cứu, bao gồm các hoạt động như ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo và tự vệ sinh vùng đầu mặt, chỉ đạt 10,5 ± 6,4 điểm, thấp hơn nhiều so với mức điểm tối đa độc lập là 20 điểm.

Bảng 3.7 Phân bố bệnh nhân theo chức năng hô hấp và cơ tròn

Chức năng hô hấp và cơ trong Trung bình ± SD Điểm tối đa

Chức năng cơ thắt bàng quang (khả năng tiểu tiện tự chủ) 6,5 ± 6,4 15

Chức năng cơ thắt hậu môn (khả năng đại tiện tự chủ) 2,3 ± 3,3 10

Mức độ độc lập trong việc đi vệ sinh 0,95 ± 0,98 5

Chức năng hô hấp của nhóm bệnh nhân nghiên cứu đạt tổng điểm 19,8 ± 9,0, trong đó khả năng hô hấp tốt nhất được ghi nhận với 10 điểm.

Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong phòng và ra bồn cầu

Khả năng di chuyển trong phòng, bồn cầu Trung bình ± SD Điểm tối đa

Khả năng di chuyển trên giường và các hoạt động để tránh loét tỳ đè 4,1 ± 2,2 6

Khả năng dịch chuyển từ giường ra xe lăn 1,2 ± 0,9 2 Khả năng dịch chuyển từ xe lăn ra bồn cầu- bồn tắm 1,1 ± 0,9 2

Tổng điểm khả năng di chuyển trong nhà và vào bồn cầu đạt 6,4 ± 3,9 điểm, với điểm tối đa là 10 Khả năng di chuyển trên giường và các hoạt động phòng chống loét được đánh giá tốt nhất với 4,1 ± 2,2 điểm, trong khi khả năng di chuyển vào bồn cầu và bồn tắm lại kém nhất với 1,1 ± 0,9 điểm.

Bảng 3.9 Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong nhà và bên ngoài

Khả năng di chuyển trong nhà và bên ngoài Trung bình ± SD Điểm tối đa

Khả năng di chuyển trong nhà 2,2 ± 1,8 8

Khả năng dịch chuyển với khoảng cách vừa phải (10-100m) 1,9 ± 1,7 8

Khả năng dịch chuyển bên ngoài nhà (khoảng cách trên 100m) 1,2 ± 1,3 8

Khả năng đi lên cầu thang bộ 0,1 ± 0,2 3

Khả năng dịch chuyển từ xe lăn –xe ô tô (mô tô) 0,9 ± 1,3 3

Khả năng di chuyển bên ngoài của bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu là yếu nhất trong thang điểm SCIM, chỉ đạt 6,4 ± 5,3 điểm so với điểm tối đa 30 điểm Điều này cho thấy khả năng di chuyển phục vụ cho các hoạt động bên ngoài của bệnh nhân còn hạn chế.

3.3.2 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS

Bảng 3.10 Phân bố mức độ đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS

Chức năng hô hấp và cơ tròn Tổng số

Không đau 1 1,5 Đau nhẹ 60 92,3 Đau trung bình 4 6,2 Đau nhiều 0 0

Hầu hết bệnh nhân được đánh giá trước khi ra viện cho thấy mức độ đau nhẹ, với 92,3% cảm thấy đau nhẹ, chỉ 6,2% có cảm giác đau trung bình, và không có bệnh nhân nào trải qua cơn đau nặng.

Nghiên cứu định tính cho thấy bệnh nhân bị chấn thương sọ não (CTTS) thường gặp biến chứng đau thần kinh Một người nhà bệnh nhân, chị N.T.H, cho biết: "Có kêu đau, đau vết mổ, tại gày thì thấy kêu đau vết mổ, nằm lâu thì thấy đau người."

3.3.3 Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống theo bảng đánh giá mức độ đau VAS và mức độ độc lập SCIM

Bảng 3.11 Phân bố chất lượng cuộc sống bệnh nhân chấn thương tủy sống theo đánh giá mức độ đau VAS và mức độ độc lập SCIM

Chất lượng cuộc sống ne Tỷ lệ %

Trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu, tỷ lệ bệnh nhân chấn thương tủy sống có chất lượng cuộc sống tốt chiếm tỷ lệ không cao 23,1%

Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tuổi và chất lượng sống của bệnh nhân

Tuổi Chất lượng sống χ 2 P OR

Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi và chất lượng sống của BN sau CTTS với khoảng tin cậy 95%CI là 0,39 – 8,43, P là 0,43, χ 2 là 0,62

Bảng 3.13 Mối liên quan giữa giới và chất lượng sống của bệnh nhân

Giới Chất lượng sống χ 2 P OR

Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới và chất lượng sống của BN sau CTTS với khoảng tin cậy 95%CI là 0,24– 2,53, P là 0,67, χ 2 là 0,18

Bảng 3.14 Mối liên quan giữa phương pháp điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân

Phương pháp điều trị Chất lượng sống χ 2 P OR

Không phẫu thuật trước khi đến điều trị PHCN 10 2

Phẫu thuật trước khi đến điều trị PHCN 40 13

Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa phương pháp điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật cắt tuyến giáp, với khoảng tin cậy 95% (CI: 0,31 – 8,39), giá trị P là 0,56 và giá trị χ² là 0,34.

Bảng 3.15 Mối liên quan giữa thời gian điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân

OR (95%CI) Không tốt(n) Tốt(n)

Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thời gian điều trị và chất lượng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật cắt tuyến giáp, với khoảng tin cậy 95% (CI: 0,13 – 4,17), giá trị P là 0,71 và giá trị χ² là 0,13.

Bảng 3.16 Mối liên quan giữa mức độ tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân

OR (95%CI) Không tốt(n) Tốt(n)

Liệt tủy hoàn toàn (ASIA–A) 21 1

Liệt tủy không hoàn toàn

Mức độ tổn thương liệt tủy hoàn toàn (ASIA – A) có liên quan chặt chẽ đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống (CTTS), với những bệnh nhân này cảm nhận chất lượng cuộc sống kém hơn gấp 10,13 lần so với nhóm bệnh nhân tổn thương liệt tủy không hoàn toàn (ASIA – B_D) Kết quả này có khoảng tin cậy 95% (CI: 1,24 – 83,21), với giá trị P là 0,01 và χ² là 6,43.

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa vị trí tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân

Vị trí tổn thương Chất lượng sống χ 2 P OR

Từ D1 trở lên (liệt tứ chi) 19 1

Từ D1 trở xuống (Liệt hai chân) 31 14

Vị trí tổn thương ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống (CTTS), với những bệnh nhân bị liệt tứ chi (tổn thương từ D1 trở lên) có khả năng cảm nhận chất lượng cuộc sống kém hơn gấp 8,58 lần so với nhóm bệnh nhân bị liệt hai chân (tổn thương D1 trở xuống) Kết quả này có khoảng tin cậy 95% (CI: 1,04 – 70,6), với giá trị P là 0,02 và χ² là 5,32.

Nghiên cứu định tính cho thấy, tình trạng liệt tứ chi hoặc liệt hai chân ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sống của bệnh nhân Một bệnh nhân chia sẻ: “Đôi chân nó làm phiền quá, không đi lại được làm cho mình sau khi mắc bệnh sự vận động của mình không có, tất cả phụ thuộc vào người khác, đôi khi có sự mặc cảm, đôi khi tinh thần nó cũng đi xuống.”

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa nghề nghiệp và chất lượng sống của bệnh nhân

Nghề nghiệp Chất lượng sống χ 2 P OR

Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa nghề nghiệp và chất lượng sống của BN sau CTTS với khoảng tin cậy 95%CI là 0,51 – 5,71, P là 0,38, χ 2 là 0,75

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế và chất lượng sống của bệnh nhân Điều kiện kinh tế Chất lượng sống χ 2 P

OR (95%CI) Không tốt(n) Tốt (n)

Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa điều kiện kinh tế và CLCS của BN sau CTTS với khoảng tin cậy 95%CI=0,5 – 8,3, P là 0,30, χ 2 là 1,06

Bảng 3.20 Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và chất lượng sống của bệnh nhân

OR (95%CI) Không tốt(n) Tốt(n)

Không có vợ/chồng (ly thân/ly hôn/góa bụa/độc thân) 3 3

Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng hôn nhân và CLCS của BN sau CTTS với khoảng tin cậy 95%CI=0,05 – 1,43, P=0,10, χ 2 =2,7

Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng tình trạng hôn nhân và yếu tố gia đình đóng vai trò quan trọng trong việc giúp bệnh nhân tự tin và yên tâm trong quá trình điều trị Một bệnh nhân chia sẻ: “Hy vọng gia đình sẽ thông cảm hòa đồng, sẽ hiểu cho mình vì cái này cũng không may xảy ra” (PVS, bệnh nhân P.V.T).

Bảng 3.21 Mối liên quan giữa trình độ học vấn và chất lượng sống của bệnh nhân

Trình độ học vấn Chất lượng sống χ 2 P OR

Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa trình độ học vấn và chất lượng sống của bệnh nhân sau cắt tuyến sinh dục, với khoảng tin cậy 95% CI là 0,47 – 5,27, giá trị P là 0,46 và giá trị χ² là 0,54.

Bảng 3.22 Mối liên quan giữa cơ sở vật chất của bệnh viện và chất lượng sống của bệnh nhân

Cơ sở vật chất của bệnh viện

(95%CI) Không tốt(n) Tốt(n) Đáp ứng không tốt điều kiện chăm sóc và điều trị 7 1

2,28 (0,26 – 20,17) Đáp ứng tốt điều kiện chăm sóc và điều trị 43 14

Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa cơ sở vật chất của bệnh viện và chất lượng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật tim mạch Khoảng tin cậy 95% CI là từ 0,26 đến 20,17, với giá trị P là 0,45 và χ² là 0,57.

Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng điều kiện cơ sở vật chất của bệnh viện có ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân Tại Việt Nam, nhiều trung tâm y tế vẫn thiếu thốn cơ sở vật chất cần thiết cho việc điều trị, như giường bệnh và các phòng chức năng khác Điều này dẫn đến việc chất lượng sống của bệnh nhân bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa sự hài lòng với thái độ của cán bộ y tế và chất lượng sống của bệnh nhân

Hài lòng với thái độ của cán bộ y tế

Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa thái độ của cán bộ y tế và chất lượng sống của bệnh nhân sau ca phẫu thuật, với khoảng tin cậy 95% CI là 0,12 – 4,17, P = 0,72, và giá trị χ² là 0,13.

Bảng 3.24 Mối liên quan giữa khoảng cách từ nhà đến viện và chất lượng sống của bệnh nhân

Khoảng cách Chất lượng sống χ 2 P OR

Không có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê giữa khoảng cách từ nhà đến viện và chất lượng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật tim mạch, với khoảng tin cậy 95% CI là 0,47 – 10,78, P = 0,30 và χ² = 1,07.

Nghiên cứu định tính cho thấy khoảng cách không phải là rào cản trong việc bệnh nhân tiếp cận cơ sở y tế Một người chăm sóc bệnh nhân chia sẻ: "Không ảnh hưởng Đã xác định gia đình mình có người đi điều trị thì không quan tâm đến đường xa hay gần, miễn là nơi đó phục vụ tốt và có khả năng chữa bệnh."

BÀN LUẬN

Đặc điểm chung đối tượng nghiên cứu

Tuổi trung bình của nhóm nghiên cứu là 42,0 ± 15,8, với bệnh nhân trẻ nhất 20 tuổi và cao nhất 74 tuổi Độ tuổi này tương đồng với nghiên cứu của Đỗ Đào Vũ (41,8 ± 14,7), nhưng cao hơn so với Jia (36,8 ± 8,8) và Akkoc (38,2 ± 14,0), trong khi thấp hơn so với Kennelly (46,4 tuổi) và Ginsberg (46 ± 14 tuổi) Sự khác biệt này có thể do bệnh nhân trong nghiên cứu của chúng tôi có thời gian mang bệnh ngắn hơn Mặc dù vậy, sự chênh lệch về độ tuổi không lớn; nhóm tuổi dưới 60 chiếm 86,15%, là lực lượng lao động chính, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội Do đó, chấn thương tủy sống không chỉ gây thiệt hại kinh tế do chi phí chăm sóc y tế mà còn ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của gia đình và xã hội.

Thời gian mắc bệnh trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi là 8,1 ± 2,2 tuần, ngắn hơn so với các nghiên cứu trước đây Cụ thể, Đỗ Đào Vũ báo cáo thời gian mắc bệnh là 47,4 ± 8,8 tuần và 34,5 ± 130,1 tuần; Gamé và cộng sự là 13,3 ± 19,1 năm; Shin và cộng sự là 23,2 ± 50,4 tháng; Krebs và Pannek là 7,3 năm; và Akkoc cùng cộng sự là 47,9 ± 43,2 tháng Sự khác biệt này có thể do trong nghiên cứu của chúng tôi, tất cả bệnh nhân được chọn khi đang điều trị lần đầu sau chấn thương tủy sống và được xử trí cấp cứu ngoại khoa, sau đó chuyển trực tiếp về Đơn vị tổn thương tủy sống của Trung tâm Phục hồi chức năng Tại đây, bệnh nhân được chăm sóc điều trị vết thương, hô hấp, vận động trị liệu, hoạt động trị liệu và tâm lý xã hội, trong khi một số ít bệnh nhân trở về nhà sau thời gian ngắn tại các tuyến tỉnh.

Thời gian từ khi bị chấn thương tủy sống đến khi được thăm khám và điều trị tại Trung tâm điều trị HUPH thường ngắn hơn so với các nước khác Điều này là do hệ thống chăm sóc phục hồi chức năng ở các quốc gia phát triển hơn đã chú trọng đến việc chăm sóc bệnh nhân chấn thương tủy sống, dẫn đến tuổi thọ của bệnh nhân cao hơn và thời gian mắc bệnh ngắn hơn.

Phân bố giới tính, tỷ lệ bệnh nhân nam (64,6) cao hơn gấp 2 lần so với nữ

Tỷ lệ bệnh nhân nam chấn thương tủy sống cao hơn nữ, với tỷ lệ nam/nữ khoảng 4/1, theo nghiên cứu của chúng tôi và các tác giả khác như Cầm Bá Thức, Hori, Lombardi và Akkoc Điều này cho thấy sự tương đồng trong phân bố giới tính của bệnh nhân chấn thương tủy sống trên toàn cầu Nam giới thường đảm nhận các công việc nặng nhọc và nguy hiểm hơn, cùng với tính cách hăng hái và thích mạo hiểm, dẫn đến nguy cơ tai nạn và chấn thương cao hơn so với nữ giới.

Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu có gia đình, với hơn 90%; chỉ 6 bệnh nhân (9,2%) độc thân do chưa xây dựng gia đình, không có trường hợp ly thân hay ly hôn Vợ hoặc chồng có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng sống của bệnh nhân sau tổn thương tủy sống Kết quả nghiên cứu tương đồng với Roop Singh, cho thấy chỉ 10% sống độc thân, nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Elizabeth N với tỷ lệ ly hôn 13% và 68% sống độc thân Sự khác biệt này có thể do văn hóa và phong tục tập quán của từng quốc gia Tại Việt Nam, quan niệm xã hội đã giúp duy trì mối quan hệ vợ chồng của bệnh nhân tổn thương tủy sống Tuy nhiên, kết quả này chỉ phản ánh giai đoạn đầu của bệnh, chưa đầy đủ về thực trạng hôn nhân của bệnh nhân CTTS khi trở về cộng đồng trong những năm tiếp theo.

Trình độ học vấn của nhóm bệnh nhân trong nghiên cứu cho thấy gần một nửa (41,5%) tốt nghiệp trung học phổ thông, 20% có trình độ đại học trở lên và 38,5% là trung cấp, cao đẳng Điều này cho thấy sự phân bố đồng đều ở các cấp độ học vấn, với thạc sỹ là trình độ cao nhất và tốt nghiệp trung học phổ thông là thấp nhất Nghề nghiệp của bệnh nhân trước khi chấn thương tủy sống cũng phản ánh trình độ học vấn, trong đó nông dân và công nhân chiếm 43,1%, còn cán bộ viên chức chiếm 29,2%.

Phân loại mức tổn thương theo phân loại của Hiệp hội Tổn thương Tủy sống

Theo nghiên cứu, tỷ lệ liệt tủy hoàn toàn ASIA - A tại Mỹ (ASIA) là 33,8%, trong khi 66,2% còn lại là liệt không hoàn toàn ASIA - B - D Kết quả này khác với nghiên cứu của Akkoc, trong đó ASIA - A chiếm tỷ lệ cao nhất với 50,3%, tiếp theo là ASIA - B 15,4% và ASIA - C 14,9%.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ bệnh nhân theo phân loại ASIA là 17,9%, với nhóm ASIA-D chiếm 41,1%, ASIA-A 22,7%, ASIA-B 10% và ASIA-C 8,8% Sự khác biệt với các nghiên cứu trước đó, như của Luo, có thể do đối tượng, thời gian bệnh và thời điểm đánh giá khác nhau Phân bố bệnh nhân theo bảng phân loại ASIA cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nặng khá cao Nghiên cứu của Đỗ Đào Vũ (2006) chỉ ra rằng mức độ tổn thương nặng hơn (ASIA-A) và vị trí tổn thương cao hơn sẽ ảnh hưởng nhiều hơn đến chất lượng cuộc sống, đặc biệt là khả năng di chuyển và tự chăm sóc bản thân.

Phân bố bệnh nhân theo vị trí tổn thương trên và dưới mức D1 cho thấy liệt tứ chi chiếm 30,8%, thấp hơn so với liệt hai chân (69,2%) Bệnh nhân tổn thương tủy sống có mức liệt cao thường mất nhiều chức năng, dẫn đến tình trạng bệnh nặng hơn do ảnh hưởng đến nhiều cơ quan Những bệnh nhân có tổn thương từ mức D1 trở lên thường gặp rối loạn chức năng nghiêm trọng, bao gồm mất chức năng cả hai tay, ảnh hưởng đến chức năng hô hấp và khả năng thăng bằng, làm cho việc ngồi và di chuyển trở nên khó khăn hơn.

Theo dõi phân bố bệnh nhân chấn thương tủy sống, chúng tôi nhận thấy có ba nhóm nguyên nhân chính, trong đó tai nạn giao thông là nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất.

Tỷ lệ tai nạn lao động tại HUPH đạt 24,6%, trong khi tai nạn sinh hoạt chiếm 16,9% Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ lệ tai nạn giao thông cao nhất với 58,5%, tương tự như kết quả của một số nghiên cứu trong nước, bao gồm nghiên cứu của Cầm Bá Thức và Đỗ Đào Vũ.

Tai nạn giao thông là nguyên nhân chính gây chấn thương cột sống, chiếm 44,4%, tiếp theo là tai nạn lao động 33,3% và tai nạn sinh hoạt 22,2% Nghiên cứu toàn cầu cho thấy 85,7% trường hợp tổn thương tủy sống là do chấn thương, trong đó tai nạn giao thông luôn đứng đầu Theo Akkoc, tai nạn giao thông chiếm 39,3%, ngã cao 36,1% và nhảy cầu 7,9% Tương tự, nghiên cứu của chúng tôi khẳng định tai nạn giao thông là tác nhân hàng đầu gây chấn thương tủy sống, do cơ sở hạ tầng giao thông chưa phát triển kịp với sự gia tăng nhanh chóng của phương tiện, đặc biệt tại hai thành phố lớn.

Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh đang đối mặt với tình trạng tai nạn giao thông gia tăng, một phần do ý thức tham gia giao thông của người dân còn yếu kém, dẫn đến nhiều trường hợp thương tích và tử vong, trong đó có chấn thương tủy sống Một nguyên nhân quan trọng khác là tai nạn lao động, đặc biệt trong bối cảnh đất nước đang phát triển với nhiều công trình xây dựng Sự gia tăng tai nạn lao động chủ yếu xuất phát từ việc người lao động không tuân thủ quy định an toàn lao động và bỏ qua các yêu cầu bảo hộ cần thiết Do đó, chấn thương tủy sống do tai nạn lao động chiếm tỷ lệ đáng kể trong các nguyên nhân gây ra tình trạng này tại Việt Nam.

Chất lượng sống của bệnh nhân chấn thương tủy sống

Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống được đánh giá qua nhiều khía cạnh như khả năng di chuyển, tái hội nhập xã hội, và định hướng nghề nghiệp Trong nghiên cứu này, chúng tôi tập trung vào hai yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng sống: khả năng độc lập trong sinh hoạt, được đo bằng thang điểm SCIM, và mức độ đau thần kinh.

HUPH đánh giá biến chứng CTTS thông qua thang điểm VAS, trong khi thang điểm SCIM xác định mức độ độc lập của bệnh nhân dựa trên các chức năng sinh hoạt thiết yếu như chăm sóc bản thân, chức năng hô hấp và cơ tròn, cũng như khả năng di chuyển trong nhà và ra ngoài.

Chức năng chăm sóc bản thân của bệnh nhân bao gồm khả năng tự ăn uống, tắm rửa, mặc quần áo và vệ sinh vùng đầu mặt, với tổng điểm trung bình là 10,5 ± 6,4 điểm Trong đó, điểm cao nhất thuộc về chức năng tự ăn uống và vệ sinh vùng đầu mặt với 2,8 và 2,6 điểm, trong khi khả năng tắm rửa chỉ đạt 1,0 điểm Kết quả này phản ánh thực tế giai đoạn đầu nằm viện điều trị phục hồi chức năng, nơi bệnh nhân được tập luyện để thực hiện các công việc hàng ngày Tuy nhiên, việc tự tắm rửa gặp khó khăn do cơ sở vật chất không phù hợp tại bệnh viện Văn hóa và thói quen của người Việt cũng ảnh hưởng đến khả năng tự lập của bệnh nhân, khi họ thường nhận sự hỗ trợ từ người nhà So với thang điểm SCIM, tổng điểm đạt khoảng 10/20, cho thấy bệnh nhân cần tiếp tục được hướng dẫn và tư vấn để cải thiện khả năng tự chăm sóc Đánh giá chức năng hô hấp và cơ tròn cho thấy tổng điểm là 19,8 ± 9,0 điểm, với khả năng hô hấp đạt 10 điểm, trong khi khả năng kiểm soát tiểu tiện và đại tiện lần lượt là 6,5 và 2,3 điểm.

HUPH ánh thực tế BN sau chấn thương tủy sống đang điều trị PHCN giai đoạn đầu Những

Bệnh nhân (BN) khi về Trung tâm Phục hồi Chức năng (PHCN) đã có chức năng hô hấp ổn định nhờ vào việc huấn luyện và tập luyện hàng ngày, dẫn đến kết quả tích cực Tuy nhiên, chức năng kiểm soát đại tiểu tiện vẫn là vấn đề ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng sống của BN, do rối loạn chức năng bàng quang gây ra tiểu dầm, tiểu nhiều lần và đại tiện táo bón Rối loạn này không chỉ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày mà còn cả giấc ngủ của bệnh nhân Kết quả khảo sát cho thấy điểm số về chức năng kiểm soát đại tiểu tiện khá tích cực, phù hợp với nhận định trong quá trình thăm khám tại Trung tâm Quy trình chăm sóc và điều trị rối loạn chức năng đại tiểu tiện được áp dụng rộng rãi, bao gồm uống thuốc, tự đặt thông tiểu ngắt quãng và chương trình tập ruột Tuy nhiên, chức năng độc lập trong việc đi vệ sinh vẫn chưa đạt yêu cầu với điểm số 0,95, do tâm lý thụ động của BN, sự hỗ trợ quá mức từ người nhà và điều kiện cơ sở vật chất của bệnh viện.

Khả năng di chuyển của bệnh nhân trong phòng và ra bồn cầu được cải thiện qua các bài tập tự di chuyển, với tổng điểm đánh giá trước khi ra viện đạt 6,4 ± 3,9 điểm trên thang điểm tối đa 10 Điều này cho thấy bệnh nhân đã có sự độc lập nhất định, đặc biệt trong việc di chuyển trên giường và từ giường ra xe lăn với điểm số lần lượt là 4,1 và 1,2 Tuy nhiên, chức năng di chuyển từ xe lăn vào bồn cầu và bồn tắm ít được thực hành do điều kiện cơ sở vật chất và vệ sinh của bệnh viện, dẫn đến điểm số thấp nhất là 1,1 Đánh giá khả năng di chuyển trong nhà và bên ngoài ghi nhận tổng điểm 6,4 ± 5,3, thấp hơn so với tổng điểm tối đa 30 của chức năng này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, bệnh nhân được điều trị hoàn toàn trong bệnh viện nhưng chưa được hướng dẫn di chuyển hiệu quả, đặc biệt là trong môi trường bên ngoài Điều kiện môi trường xung quanh, như đường xá và cầu thang, gây khó khăn cho bệnh nhân sau chấn thương tủy sống, đặc biệt là những người bị liệt tứ chi Chức năng di chuyển của bệnh nhân có thể cải thiện nếu được đánh giá sau khi trở về cộng đồng, nơi họ có thể thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày Thông thường, sau giai đoạn phục hồi chức năng tại viện, bệnh nhân sẽ chuyển sang giai đoạn điều trị tiền cộng đồng, trong đó họ thực hiện các hoạt động sinh hoạt hàng ngày dưới sự giám sát của nhân viên y tế Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện chưa có mô hình điều trị này, dẫn đến việc điểm số di chuyển của nhóm bệnh nhân nghiên cứu trước khi ra viện còn thấp.

Khía cạnh thứ hai đánh giá tác động đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống là đau, đặc biệt là đau thần kinh, một biến chứng phổ biến Đau có thể xuất hiện ở mọi mức độ và vị trí của tủy sống, với những mô tả cảm giác như đau bỏng, đau như hàng nghìn con kiến đốt, hay đau như dẫm vào gai Điều này cho thấy bệnh nhân phải chịu đựng cảm giác đau đớn nghiêm trọng, có thể dẫn đến trầm cảm và ảnh hưởng đến mọi hoạt động hàng ngày Kết quả nghiên cứu cho thấy 92,3% bệnh nhân chỉ đau ở mức độ nhẹ, trong khi chỉ có 6,2% ở mức độ đau bình thường, không có trường hợp nào đau nặng như mô tả về cường độ đau thần kinh Sự khác biệt này có thể do bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu đang ở giai đoạn đầu, chưa phản ánh hết các biến chứng, bao gồm cả đau thần kinh.

HUPH cho thấy rằng các biến chứng thứ cấp thường gặp trong quá trình điều trị tại bệnh viện bao gồm loét tỳ đè, nhiễm khuẩn tiết niệu và biến chứng hô hấp, trong khi bệnh nhân ít khi phàn nàn về cơn đau Nguyễn Văn Chương (2006) cũng chỉ ra rằng biến chứng đau thần kinh thường xuất hiện từ 3 tháng đến 1 năm sau chấn thương, và trong nhiều trường hợp, cơn đau này có thể xuất hiện nhiều năm sau đó.

Một số yếu tố liên quan đến chất lượng cuộc sống của BN sau CTTS

Phân tích phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi và giới tính cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng sống của bệnh nhân, với OR=1,83 (95% CI: 0,39 – 8,43, P=0,43) và OR=0,77 (95% CI: 0,24 – 2,53, P=0,67) Nhóm bệnh nhân dưới 60 tuổi, trong độ tuổi lao động, có thể ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế của gia đình và xã hội Tuy nhiên, do thời điểm đánh giá là giai đoạn đầu của bệnh, nên chưa phản ánh đầy đủ tác động kinh tế đến chất lượng sống Cả nam và nữ sau CTTS đều có mức ảnh hưởng tương đương, điều này cũng được xác nhận qua phỏng vấn lãnh đạo Trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai, cho thấy không có mối liên hệ giữa giới tính và chất lượng sống sau CTTS.

Phương pháp điều trị trước khi phục hồi chức năng và thời gian điều trị phục hồi chức năng không có mối liên quan đến chất lượng sống của người bệnh sau chấn thương tủy sống, với OR=1,63 (95% CI: 0,31 – 8,39, P=0,56) và OR=0,72 (95% CI: 0,13 – 4,17, P=0,71) Theo y văn, bệnh nhân chấn thương cột sống mất vững, chèn ép tủy sống sẽ được chỉ định phẫu thuật, trong khi những bệnh nhân không cần phẫu thuật sẽ được theo dõi cho đến khi ổn định Sau điều trị ngoại khoa, bệnh nhân có liệt sẽ chuyển sang phục hồi chức năng Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân với tổn thương vừa, nhẹ thường hoàn thành mục tiêu điều trị sau 1 tháng và được ra viện hoặc chuyển về tuyến dưới Bệnh nhân nặng hơn sẽ tiếp tục điều trị để hoàn thành mục tiêu; nếu chưa hoàn thành sau 52 ngày, họ sẽ phải ra viện hoặc chuyển về tuyến dưới do giới hạn bảo hiểm y tế.

Chúng tôi nhận định rằng thời gian điều trị, phương pháp điều trị bảo tồn hay phẫu thuật trước khi về phục hồi chức năng (PHCN) không phải là yếu tố quyết định đến kết quả phục hồi cho bệnh nhân Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng cả phương pháp điều trị và thời gian điều trị PHCN đều không ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống hiện tại của bệnh nhân Điều này tương đồng với nhận định của tác giả Nguyễn Hữu Trung, cho rằng can thiệp phẫu thuật hay không và thời gian điều trị PHCN không quyết định đến sự cải thiện mức độ khuyết tật vận động và không ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống.

Mức độ tổn thương tủy sống ảnh hưởng quyết định đến khả năng liệt hoàn toàn của bệnh nhân và tiên lượng phục hồi sau chấn thương Bảng 3.16 chỉ ra rằng bệnh nhân có tổn thương liệt tủy hoàn toàn (ASIA – A) cảm nhận chất lượng cuộc sống kém hơn gấp 10,13 lần so với nhóm tổn thương liệt tủy không hoàn toàn (ASIA – B_D), với khoảng tin cậy 95%CI là 1,24 – 83,21 và P = 0,01 Kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước, cho thấy liệt hai chân hoàn toàn ảnh hưởng nhiều hơn đến khả năng hòa nhập và độc lập trong cộng đồng Tác giả Lương Tuấn Khanh cũng nhấn mạnh rằng liệt hoàn toàn, dù là hai chân hay tứ chi, có tác động nặng nề hơn đến chất lượng cuộc sống so với liệt không hoàn toàn Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sống của bệnh nhân bao gồm khả năng di chuyển, rối loạn chức năng bàng quang, và đau thần kinh sau chấn thương tủy sống.

Vị trí tổn thương tủy sống, đặc biệt là D1, là yếu tố quyết định trong việc phân chia bệnh nhân thành hai nhóm: liệt tứ chi và liệt hai chân Mức độ tổn thương và vị trí tổn thương tủy sống ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân Nghiên cứu cho thấy bệnh nhân bị liệt tứ chi (tổn thương từ D1 trở lên) có cảm nhận chất lượng cuộc sống kém hơn gấp 8,58 lần so với nhóm bệnh nhân bị liệt hai chân (tổn thương D1 trở xuống), với khoảng tin cậy 95% CI là 1,04 – 70,6 và P = 0,02.

Liệt tứ chi có ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng độc lập và các chức năng sinh hoạt cơ bản như ăn uống, tắm rửa, và vệ sinh cá nhân, cũng như khả năng di chuyển bằng xe lăn Nghiên cứu của Đỗ Đào Vũ cho thấy liệt tứ chi làm giảm chất lượng sống và khả năng hòa nhập xã hội của bệnh nhân, đồng thời chỉ ra mối liên hệ giữa vị trí tổn thương và chất lượng sống Mặc dù có quan điểm cho rằng bệnh nhân liệt hai chân có chất lượng sống tốt hơn, thực tế cho thấy nhiều bệnh nhân liệt hai chân vẫn phải chịu đựng đau đớn và khổ sở với đôi chân của họ.

Nghề nghiệp trước khi bị chấn thương tủy sống và điều kiện kinh tế gia đình là yếu tố quan trọng giúp bệnh nhân có cơ hội chăm sóc và điều trị tốt hơn, cũng như hòa nhập lại với nghề nghiệp Nghiên cứu cho thấy nghề nghiệp trước khi bị bệnh và điều kiện kinh tế không ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống, với OR= 1,7 (95% CI: 0,51 – 5,71, P= 0,38) và OR= 2,06 (95% CI: 0,5 – 8,3, P= 0,3) Theo nghiên cứu của Sinha D, phần lớn bệnh nhân sau chấn thương không tiếp tục công việc cũ và được tư vấn để thay đổi nghề nghiệp phù hợp với sức khỏe hiện tại Tại Việt Nam, báo cáo của Cầm Bá Thức cho thấy nhiều bệnh nhân sau chấn thương trở lại cộng đồng đều thất nghiệp và phụ thuộc vào gia đình Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chiếm 30,8% Nhóm tuổi bệnh nhân chấn thương tủy sống chủ yếu là người trẻ trong độ tuổi lao động, và sau chấn thương, họ mất cơ hội quay lại nghề cũ, làm gia tăng khó khăn kinh tế cho gia đình Do đó, việc định hướng nghề nghiệp cho đối tượng này là rất quan trọng để họ có thể độc lập về kinh tế, góp phần cải thiện chất lượng sinh hoạt và chất lượng sống.

Tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn và điều kiện cơ sở vật chất của bệnh viện không ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân, với các chỉ số thống kê như OR=0,26 (P=0,1), OR=1,57 (P=0,46), OR=2,28 (P=0,45) và OR=0,72 (P=0,72) Nghiên cứu của Elizabeth N Matheis và Roop Singh cho thấy tỷ lệ ly hôn sau chấn thương cao hơn nhưng không ảnh hưởng nhiều đến CLCS của bệnh nhân Văn hóa và tính cách giữa người châu Âu và châu Á có sự khác biệt, trong khi người châu Âu thường tìm kiếm sự độc lập, người Việt Nam lại phụ thuộc vào sự chăm sóc của gia đình Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Cầm Bá Thức, cho thấy bệnh nhân sau chấn thương thường phụ thuộc vào gia đình về kinh tế và các hoạt động chăm sóc.

Khoảng cách từ nhà đến bệnh viện không cho thấy làm ảnh hưởng đến CLCS của BN tại thời điểm đánh giá OR=2,25 với khoảng tin cậy 95%CI là 0,47 – 10,78,

P là 0,3 Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân thường được cấp cứu tại bệnh viện chuyên khoa ngoại và sau đó chuyển thẳng đến phục hồi chức năng (PHCN) để điều trị tiếp Nhu cầu điều trị của nhóm bệnh nhân này hoàn toàn phụ thuộc vào tư vấn và hướng dẫn của bác sĩ chuyên khoa, trong khi họ và người nhà thường thiếu kiến thức về PHCN và không có định hướng điều trị rõ ràng Chỉ một số ít gia đình tự tìm hiểu về vai trò của PHCN và chủ động chuyển bệnh nhân đến Qua phỏng vấn, tôi nhận thấy khoảng cách địa lý không ảnh hưởng đến quyết định điều trị của bệnh nhân; điều họ quan tâm nhất là chất lượng chăm sóc và uy tín của cơ sở điều trị Theo báo cáo của tác giả David S, khoảng cách từ nhà đến viện hay điều kiện kinh tế gia đình không làm ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn nơi điều trị và kết quả PHCN của bệnh nhân.

Sau khi hoàn tất các bước chăm sóc phục hồi chức năng, bệnh nhân sẽ được đưa vào môi trường nhân tạo tại trung tâm, hay còn gọi là môi trường tiền cộng đồng Trên thế giới, môi trường này được thiết kế để hỗ trợ bệnh nhân CTTS trong quá trình điều trị và phục hồi chức năng, giúp họ thích ứng với cuộc sống sau khi ra viện Tại Việt Nam, đặc biệt là tại trung tâm phục hồi chức năng bệnh viện Bạch Mai, cũng đã xây dựng một môi trường tương tự với đầy đủ các hoạt động sinh hoạt như trong cộng đồng Mặc dù môi trường tiền cộng đồng tại trung tâm chưa hoàn toàn đáp ứng mọi yêu cầu phục hồi chức năng, nhưng nó vẫn đóng góp quan trọng vào việc tạo dựng niềm tin cho bệnh nhân.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.2. Thông tin chung của bệnh nhân - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.2. Thông tin chung của bệnh nhân (Trang 40)
Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo vị trí tổn thương - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.4. Phân bố bệnh nhân theo vị trí tổn thương (Trang 41)
Bảng 3.6. Phân bố bệnh nhân theo khả năng tự chăm sóc bản thân - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.6. Phân bố bệnh nhân theo khả năng tự chăm sóc bản thân (Trang 42)
Bảng 3.7. Phân bố bệnh nhân theo chức năng hô hấp và cơ tròn - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.7. Phân bố bệnh nhân theo chức năng hô hấp và cơ tròn (Trang 42)
Bảng 3.8.  Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong phòng - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.8. Phân bố bệnh nhân theo khả năng di chuyển trong phòng (Trang 43)
Bảng 3.10. Phân bố mức độ đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.10. Phân bố mức độ đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS (Trang 44)
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa thời gian điều trị và chất lượng sống - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.15. Mối liên quan giữa thời gian điều trị và chất lượng sống (Trang 46)
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa mức độ tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.16. Mối liên quan giữa mức độ tổn thương và chất lượng sống của bệnh nhân (Trang 46)
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa vị trí tổn thương và chất lượng sống - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.17. Mối liên quan giữa vị trí tổn thương và chất lượng sống (Trang 47)
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa nghề nghiệp và chất lượng sống của bệnh nhân - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.18. Mối liên quan giữa nghề nghiệp và chất lượng sống của bệnh nhân (Trang 47)
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế  và chất lượng sống - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.19. Mối liên quan giữa điều kiện kinh tế và chất lượng sống (Trang 48)
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và chất lượng sống - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.20. Mối liên quan giữa tình trạng hôn nhân và chất lượng sống (Trang 48)
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa trình độ học vấn và chất lượng sống - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.21. Mối liên quan giữa trình độ học vấn và chất lượng sống (Trang 49)
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa cơ sở vật chất của bệnh viện - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.22. Mối liên quan giữa cơ sở vật chất của bệnh viện (Trang 49)
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa sự hài lòng với thái độ của cán bộ y tế - Đánh giá một số khía cạnh chất lượng cuộc sống của bệnh nhân sau chấn thương tủy sống và yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện bạch mai năm 2016
Bảng 3.23. Mối liên quan giữa sự hài lòng với thái độ của cán bộ y tế (Trang 50)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w