1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019

106 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng thực hiện quy chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, năm 2019
Tác giả Lê Quang Lệnh
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Thúy Nga
Trường học Trường đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Tổ chức quản lý y tế
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 6,98 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (17)
    • 1.1. Một số khái niệm liên quan (17)
      • 1.1.1. Thuốc (17)
      • 1.1.2. Đơn thuốc (18)
      • 1.1.3. Kê đơn thuốc (18)
      • 1.1.4. Kê đơn thuốc an toàn (19)
    • 1.2. Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú (20)
      • 1.2.1. Một vài nét về hình thành Quy chế kê đơn thuốc (20)
      • 1.2.2. Nội dung chính của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú (21)
      • 1.2.3. Nội dung của một đơn thuốc (21)
      • 1.2.4. Điều kiện của người kê đơn (22)
      • 1.2.5. Quy định về ghi đơn thuốc (22)
      • 1.2.6. Một số nguyên tắc khi kê đơn (23)
      • 1.2.7. Sử dụng thuốc và các chỉ số sử dụng thuốc (24)
    • 1.3. Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc (26)
      • 1.3.1. Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới (26)
      • 1.3.2. Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc tại Việt Nam (29)
    • 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác kê đơn thuốc (31)
      • 1.4.1. Yếu tố thuộc về bác sĩ (31)
      • 1.4.2. Yếu tố thuộc về Bệnh viện (32)
      • 1.4.3. Người bệnh (33)
      • 1.4.4. Công ty Dược (33)
      • 1.4.5. Cung ứng thuốc (34)
      • 1.4.6. Quy định và chính sách (35)
    • 1.5. Một số thuốc tân dược thanh toán có điều kiện thuộc phạm của Bảo hiểm Y tế tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa (35)
    • 1.6. Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu (36)
    • 1.7 Khung lý thuyết (37)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (39)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (39)
      • 2.2.1. Nghiên cứu định lượng (39)
      • 2.2.2. Nghiên cứu định tính (39)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (39)
      • 2.2.1. Thời gian (39)
      • 2.2.2. Địa điểm (40)
    • 2.3. Thiết kế (40)
    • 2.4. Cỡ mẫu (40)
      • 2.4.1. Nghiên cứu định lượng (40)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (40)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (40)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (41)
      • 2.6.1. Thu thập số liệu định lượng (41)
      • 2.6.2. Thu thập số liệu định tính (43)
    • 2.7. Các biến số nghiên cứu (44)
      • 2.7.1. Biến nghiên cứu định lượng (44)
      • 2.7.2. Biến nghiên cứu định tính (44)
      • 2.7.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu (Phụ lục 8) (45)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (45)
      • 2.8.1. Số liệu định lượng (45)
      • 2.8.2. Số liệu định tính (45)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (45)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (47)
    • 3.1. Thông tin chung về kê đơn thuốc (47)
      • 3.1.1. Thông tin hành chính, thể thức đơn thuốc (47)
      • 3.1.2. Thông tin về sự phù hợp chẩn đoán và điều trị (47)
      • 3.1.3. Thông tin về an toàn, tương tác thuốc (48)
      • 3.1.4. Thông tin về sử dụng thuốc hợp lý (50)
      • 3.1.5. Thông tin về sử dụng thuốc chỉ định có điều kiện thanh toán (0)
      • 3.1.6. Đánh giá chung về hoạt động kê đơn thuốc (51)
    • 3.2. Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc tại Bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa (53)
      • 3.2.1. Số thuốc được kê trong đơn (53)
      • 3.2.2. Số lượng thuốc trung bình trong đơn (54)
      • 3.2.3. Số ngày điều trị theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú (54)
      • 3.2.4. Thuốc sử dụng có điều kiện thanh toán (56)
      • 3.2.5. Thuốc kháng sinh trong đơn ngoại trú (56)
      • 3.2.6. Số ngày sử dụng kháng sinh trong đơn ngoại trú (57)
    • 3.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy chế kê đơn (58)
      • 3.3.1. Yếu tố thuộc về bác sĩ (58)
      • 3.3.2. Yếu tố thuộc về bệnh viện (59)
      • 3.3.3. Yếu tố thuộc về người bệnh (60)
      • 3.3.4. Yếu tố thuộc về công ty Dược (61)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (63)
    • 4.1. Thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú tại Bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa (0)
    • 4.2. Một số chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa (65)
    • 4.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kê đơn (67)
      • 4.3.1. Yếu tố thuộc về bác sĩ (67)
      • 4.3.2. Các yếu tố thuộc về Bệnh viện (69)
      • 4.3.3. Người bệnh (70)
      • 4.3.4. Công ty Dược (70)
    • 4.4. Hạn chế của đề tài (71)
  • KẾT LUẬN (12)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (74)
  • PHỤ LỤC (77)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu 400 đơn thuốc cho bệnh nhân BHYT điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, trong tổng số 49.145 đơn thuốc được lưu trữ trong phần mềm quản lý bệnh viện và khoa Dược trong 4 tháng đầu năm 2019.

- Tiêu chí chọn mẫu đơn thuốc

Các đơn thuốc BHYT điều trị ngoại trú từ tháng 01 đến tháng 04 năm 2019 có hai thuốc điều trị trở lên

Không nghiên cứu các đơn thuốc y học cổ truyền vì chúng được thực hiện theo Thông tư số 01/2016/TT-BYT ngày 05 tháng 01 năm 2016 của Bộ Y tế Thông tư này quy định về việc kê đơn thuốc y học cổ truyền kết hợp với thuốc tân dược trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh Đặc biệt, Thông tư này đã được thay thế bởi Thông tư số 44/2018/TT-BYT ngày 28/12/2018, có hiệu lực từ ngày 01/3/2019.

Để thu thập thông tin chi tiết, chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và các khoa Dược, Khám bệnh, cùng với thảo luận nhóm với bác sĩ khoa Khám bệnh Đối tượng nghiên cứu bao gồm 01 lãnh đạo bệnh viện, 01 lãnh đạo khoa Khám bệnh, 01 lãnh đạo khoa Dược và 07 bác sĩ đang công tác tại khoa Khám bệnh.

- Tiêu chí lựa chọn: Là những người đồng ý tham gia nghiên cứu

Người được chọn phỏng vấn sẽ bị loại trừ nếu họ không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không có mặt tại bệnh viện trong thời gian thu thập dữ liệu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành từ tháng 04/2019 đến tháng 8/2019

Thu thập số liệu đơn thuốc của bệnh nhân đến khám từ tháng 01-04/2019

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Thiết kế

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và định tính, trong đó nghiên cứu định lượng được thực hiện trước, sau đó là nghiên cứu định tính dựa trên kết quả phân tích định lượng sơ bộ.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện để đánh giá thực trạng thực hiện quy chế khám chữa bệnh bảo hiểm y tế ngoại trú tại Bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa, bao gồm việc tuân thủ các quy định về hành chính, sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và quản lý tương tác thuốc.

Kết quả nghiên cứu định tính đã được phiên giải và kết hợp với một số kết quả nghiên cứu định lượng để đạt được mục tiêu 1 Đồng thời, nghiên cứu định tính cũng nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy chế KĐT trong bệnh viện, phục vụ cho mục tiêu 2 của nghiên cứu.

Cỡ mẫu

Chọn 400 đơn thuốc trong 49.145 đơn thuốc lưu trữ trong máy tính và khoa Dược từ tháng 01-04/2019

Phỏng vấn sâu có chủ đích với ba lãnh đạo, bao gồm một lãnh đạo bệnh viện, một lãnh đạo khoa Dược và một lãnh đạo khoa Khám bệnh, cùng với thảo luận nhóm với bảy bác sĩ khoa Khám bệnh.

Phương pháp chọn mẫu

- Mẫu nghiên cứu định lượng được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống:

Từ 49.145 đơn thuốc khám chữa bệnh ngoại trú được lưu trữ trên máy tính, lập danh sách và đánh số thứ tự từ 01 đến 49.145, xác định hệ số k để chọn mẫu Hệ số k= 49.145/400 = 122,86 (chọn 122) Bốc thăm chọn một số ngẫu nhiên i, với 1 ≤ i ≤

122, được số 15 Sau đó ta chọn những đơn thuốc có các số thứ tự lần lượt là 15, 137,

259, 381, 503, cho đến khi số mẫu đủ 400 đơn thuốc và thời gian phù hợp theo tính toán ở trên

- Mẫu nghiên cứu định tính được chọn có chủ đích

Phương pháp thu thập số liệu

Chúng tôi đã thực hiện phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để thu thập dữ liệu định tính, bên cạnh việc sử dụng số liệu định tính có sẵn trong phần mềm HIS.One và đơn thuốc lưu trữ.

2.6.1 Thu thập số liệu định lượng

- Từ 400 đơn thuốc thỏa mãn điều kiện lựa chọn, dùng bảng thu thập số liệu để thu thập thông tin nghiên cứu (phụ lục 5)

- Thu thập các quy định trong chính sách về kê thuốc của Bộ Y tế, Sở Y tế và bệnh viện liên quan đến vấn đề KĐT

* Qui trình đánh giá đơn thuốc phù hợp với quy chế KĐT:

- Thành lập Hội đồng đánh giá đơn thuốc;

- Thành viên hội đồng gồm: chủ tịch hoặc phó chủ tịch Hội đồng thuốc và điều trị, trưởng khoa Dược, trưởng khoa Khám bệnh, người nghiên cứu;

- Xây dựng tiêu chí đánh giá đơn thuốc;

- Các phác đồ điều trị bệnh;

Các thành viên tiến hành tự kiểm tra và đánh giá đơn thuốc được phân công dựa trên các tiêu chí như thông tin hành chính, thể thức đơn thuốc, sự phù hợp giữa chẩn đoán và điều trị, tương tác thuốc, lạm dụng thuốc, và các thuốc có điều kiện sử dụng.

Bước 2: Xác định các đơn thuốc không đúng theo quy chế kê đơn, không tuân thủ phác đồ điều trị,… trình Hội đồng

Bước 3: Các thành viên thảo luận, phân tích các lỗi đơn thuốc

Bước 4: Chủ tịch Hội đồng thuốc và điều trị đưa ra kết luận cuối cùng về lỗi mắc phải của đơn thuốc sau khi Hội đồng thảo luận

* Tiêu chí đánh giá kê đơn thuốc

Bảng 2.1 Tiêu chí đánh giá kê đơn thuốc

Tiêu chí Điểm chuẩn Điểm đạt

1 Thông tin hành chính, thể thức đơn thuốc 10

- Họ và tên người bệnh

- Tuổi (≤ 6 tuổi: ghi số tháng)

- Họ tên, chức danh người kê đơn

- Chữ ký người kê đơn

2 Tiêu chí phù hợp chẩn đoán và điều trị 5

- Chẩn đoán bệnh rõ ràng

- Thuốc phù hợp chẩn đoán

- Thuốc phù hợp tuổi và cân nặng

- Thuốc phù hợp hướng dẫn điều trị

3 An toàn, tương tác thuốc 6

- Không có tương tác thuốc

Mức độ tương tác: M1: Nhẹ, không quan trọng

M2: Quan trọng, cần theo dõi

M3: Nghiêm trọng, thay thế thuốc khác

4 Sử dụng thuốc hợp lý 6

- Thời điểm sử dụng thuốc

- Hướng dẫn sử dụng thuốc

5 Sử dụng thuốc chỉ định có điều kiện 1

- Chỉ định đúng điều kiện

- Chỉ định không đúng điều kiện

1 Thông tin hành chính, thể thức đơn thuốc (10)

2 Tiêu chí phù hợp chẩn đoán và điều trị (5)

- 5 điểm: Kê đơn phù hợp

- < 5 điểm: Kê đơn không phù hợp

3 An toàn, tương tác thuốc (12)

- 3 điểm: Kê đơn thiếu AT, cần theo dõi;

- < 3 điểm: Kê đơn không AT

4 Sử dụng thuốc hợp lý (6)

5 Sử dụng thuốc chỉ định có điều kiện (1)

2.6.2 Thu thập số liệu định tính

Sử dụng băng ghi âm và viết tay khi thực hiện phỏng vấn, thảo luận nhóm

Dựa vào hướng dẫn phỏng vấn sâu, chúng tôi đã xây dựng các câu hỏi nhằm khai thác thông tin từ các đối tượng chủ đích, dựa trên tổng quan tài liệu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển khu đô thị và kết quả nghiên cứu.

Nghiên cứu viên thực hiện phỏng vấn và thảo luận nhóm với thời gian từ 45-60 phút tại nơi làm việc của các cá nhân được mời, theo định lượng HUPH (phụ lục 1, 2, 3, 4).

Đã thực hiện ba cuộc phỏng vấn sâu với các đối tượng nghiên cứu định tính, bao gồm lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo khoa Dược và lãnh đạo khoa Khám bệnh Ngoài ra, cũng đã tổ chức thảo luận nhóm với bảy bác sĩ đang làm việc tại khoa Khám bệnh.

Thông tin phỏng vấn được ghi âm và ghi chép với sự đồng ý của người tham gia Sau đó, nguồn thông tin này sẽ được gỡ băng, phiên giãi, phân tích theo chủ đề và trích dẫn phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Các biến số nghiên cứu

Thông tin được thu thập theo mục tiêu nghiên cứu, chúng tôi tiến hành thu thập số liệu theo các nhóm biến số:

2.7.1 Biến nghiên cứu định lượng

Các biến số trong nghiên cứu định lượng (Phụ lục 7)

- Các biến số trong khảo sát thực trạng thực hiện quy chế kế đơn

- Các biến số trong khảo sát một số chỉ số trong KĐT ngoại trú

- Về chi phí của đơn thuốc

- Thực trạng KĐ các loại thuốc chỉ định có điều kiện

- Thực trạng chỉ định thuốc kháng sinh trong kê đơn

2.7.2 Biến nghiên cứu định tính

Nghiên cứu định tính nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến việc kê đơn ngoại trú Thông tin được thu thập từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các cán bộ y tế, tập trung vào các chủ đề nghiên cứu Các biến số trong nghiên cứu được trình bày chi tiết trong Phụ lục 7.

- Nhận định, giải thích về thực trạng KĐT trong bệnh viện

- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc trong bệnh viện từ phía bác sĩ

- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thuốc từ phía bệnh viện

- Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng thuốc từ phía người bệnh

- Các yếu tố ảnh hưởng thuộc về chính sách

- Các yếu tố ảnh hưởng từ các công ty dược

2.7.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu (Phụ lục 8)

- Các chỉ số trong thực hiện quy chế kê đơn

- Một số chỉ số trong phân tích hoạt động kê đơn

- Về chi phí của đơn thuốc

* Tương tác thuốc trong đơn ngoại trú BHYT

- Tương tác ở mức độ nghiêm trọng: Rất có ý nghĩa về mặt lâm sàng Cần tránh kết hợp, nguy cơ cao hơn lợi ích

- Tương tác ở mức trung bình: Có ý nghĩa về mặt lâm sàng Thông thường nên tránh kết hợp, khi kết hợp cần cân nhắc giữa guy cơ và lợi ích

Tương tác thuốc ở mức độ nhẹ thường ít biểu hiện lâm sàng, do đó cần đánh giá rủi ro từ nhẹ đến nặng Việc tìm kiếm thuốc thay thế, thực hiện các bước để giảm thiểu nguy cơ tương tác, và thiết lập một kế hoạch giám sát là rất quan trọng.

Bảng 2.2 Phân loại mức độ tương tác theo WHO

Mức độ tương tác Tính được các chỉ số

Tương tác nghiêm trọng % đơn thuốc tương tác ở mỗi mức độ = số đơn thuốc tương tác ở mỗi mức độ * 100/tổng số tương tác

Tương tác mức trung bình

Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2016, tính tỉ lệ phần trăm, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn

Các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được ghi âm và sau đó được học viên trực tiếp chuyển đổi thành văn bản Nội dung của các cuộc phỏng vấn này được phân tích và trích dẫn theo các chủ đề phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện sau khi được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo quyết định số 250/2019/YTCC – HD3, cùng với sự đồng ý của Ban Giám đốc Bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa.

Đối tượng nghiên cứu đã được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu, đồng thời họ có quyền đồng ý tham gia hoặc từ chối, chấm dứt tham gia bất cứ lúc nào.

Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu (NC) được bảo mật tuyệt đối Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo cho Ban Giám đốc Bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về kê đơn thuốc

Qua nghiên cứu 400 đơn thuốc ngoại trú BHYT chúng tôi ghi nhận kết quả như sau:

3.1.1 Thông tin hành chính, thể thức đơn thuốc

Bảng 3.1 Thông tin hành chính và thể thức đơn thuốc (n@0)

Số đơn thuốc ghi đủ thông tin theo các mục yêu cầu

Họ và tên người bệnh 400 100

Tuổi (≤ 6 tuổi: ghi số tháng) 400 100

Thẻ BHYT 400 100 Địa chỉ người bệnh 400 100

Họ tên, chức danh người kê đơn 400 100

Chữ ký người kê đơn 398 99,50

Các mục như họ tên, tuổi, giới tính, thẻ BHYT, địa chỉ, họ tên chức danh người kê đơn và ngày tháng kê đơn đều đạt tỷ lệ 100% Tuy nhiên, vẫn còn một số thiếu sót trong việc ghi cân nặng, chữ ký người kê đơn và lời dặn với tỷ lệ lần lượt là 97%, 99,50% và 95% Thiếu sót này thường xảy ra do điều dưỡng hỗ trợ bác sĩ đánh máy không ghi nhận vào phần mềm hoặc không trình bác sĩ ký tên, đặc biệt là trong những thời điểm bệnh đông.

3.1.2 Thông tin về sự phù hợp chẩn đoán và điều trị

Bảng 3.2 Thông tin về sự phù hợp chẩn đoán và điều trị (n@0)

Số đơn thuốc ghi đủ thông tin theo các mục yêu cầu

Chẩn đoán bệnh rõ ràng 400 100

Thuốc phù hợp chẩn đoán 398 99,50

Thuốc phù hợp tuổi và cân nặng 397 99,25

Thuốc phù hợp hướng dẫn điều trị 396 99,00

Thông tin về chẩn đoán và điều trị đạt tỷ lệ cao, với 100% có chẩn đoán bệnh rõ ràng Tỷ lệ chỉ định thuốc điều trị phù hợp đạt 99,50%, trong khi thuốc phù hợp với độ tuổi và cân nặng đạt 99,25% Thuốc được chỉ định theo hướng dẫn điều trị và không lạm dụng đạt tỷ lệ 99% và 95%, trong đó lạm dụng thuốc ghi nhận là 5% Việc lạm dụng thuốc thường xảy ra với nhóm vitamin khoáng chất, thường được bác sĩ kê đơn để tăng sức đề kháng cho bệnh nhân, nhưng ít khi được sử dụng với mục đích điều trị Việc xác định thiếu hụt vitamin không phải bệnh viện nào cũng thực hiện được.

3.1.3 Thông tin về an toàn, tương tác thuốc

3.1.3.1 Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác thuôc (n= 400)

Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác thuốc

Trong nghiên cứu 400 đơn thuốc, có 21 đơn thuốc gặp vấn đề về tương tác thuốc, chiếm 5,25%, trong khi 94,75% không có tương tác Việc phân tích mức độ tương tác thuốc là cần thiết để rút kinh nghiệm, tránh những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng người bệnh Tương tác thuốc không chỉ tác động trực tiếp đến bệnh nhân mà còn làm giảm uy tín của bác sĩ và bệnh viện Do đó, bệnh viện rất chú trọng đến vấn đề này và thường xuyên tổ chức giám sát, bình đơn thuốc để cải thiện chất lượng chăm sóc sức khỏe.

3.1.3.2 Phân loại mức độ tương tác thuôc (n= 21)

Biểu đồ 3.2 Phân loại mức độ tương tác thuốc

Trong số 21 đơn thuốc có vấn đề về tương tác thuốc, 12 đơn (57,14%) có tương tác mức độ nhẹ (mức 1), không cần chuyển đổi thuốc Có 7 đơn (33,34%) có tương tác mức độ trung bình (mức 2) cần theo dõi hoặc thay đổi thuốc, và 2 đơn (9,52%) có tương tác mức độ nghiêm trọng (mức 3) cần thay thế thuốc khác Không có đơn thuốc nào ở mức độ tương tác nặng (mức 4) chống chỉ định dùng phối hợp thuốc Vấn đề tương tác thuốc là nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng người bệnh, đồng thời làm mất uy tín của thầy thuốc và bệnh viện.

Phần mềm cảnh báo tương tác thuốc là công cụ cần thiết để giám sát kê đơn, giúp bác sĩ KĐT đảm bảo an toàn và nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho người dân.

3.1.4 Thông tin về sử dụng thuốc hợp lý

Bảng 3.3 Thông tin về sử dụng thuốc hợp lý (n@0)

Tiêu chí Số đơn thuốc Tỷ lệ (%)

Thời điểm sử dụng thuốc 400 100

Hướng dẫn sử dụng thuốc 389 97,25

Thông tin về việc sử dụng thuốc HL đạt tỷ lệ 100%, nhờ vào việc khoa Dược đã nhập đầy đủ dữ liệu vào phần mềm quản lý khám chữa bệnh Khi kê đơn, chỉ cần lựa chọn đúng thông tin Tuy nhiên, mục hướng dẫn sử dụng thuốc chỉ đạt 97,25% Hướng dẫn thường được thực hiện trực tiếp với bệnh nhân và ghi vào sổ khám chữa bệnh, nhưng có thể có thiếu sót do lỗi đánh máy từ người phụ giúp.

3.1.5 Thông tin chung về sử dụng thuốc chỉ định có điều kiện thanh toán

Trong 400 đơn thuốc được nghiên cứu, có 125 đơn thuốc chứa các loại thuốc có giới hạn chỉ định sử dụng (có điều kiện thanh toán), với kết quả như sau: HUPH.

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ chỉ định đúng thuốc có điều kiện thanh toán (n5)

Trong số 400 đơn thuốc nghiên cứu, chỉ có 125 đơn thuốc (31,25%) chứa các thuốc sử dụng có điều kiện thanh toán Trong đó, 105 đơn thuốc được chỉ định đúng điều kiện, chiếm 84%, trong khi số đơn thuốc chỉ định không đúng điều kiện còn lại.

Trong 20 trường hợp chiếm tỷ lệ 16%, việc chỉ định thuốc không đúng điều kiện thanh toán chủ yếu là lỗi của người kê đơn do thiếu cập nhật thông tin về thuốc Mặc dù một số bác sĩ vẫn chỉ định thuốc không đúng quy định, nhưng có thể do tác dụng phụ của thuốc phù hợp với tình trạng bệnh nhân cụ thể, nên về mặt chuyên môn có thể không sai, nhưng vẫn vi phạm quy định Thuốc có nhiều công dụng điều trị khác nhau.

“Đôi khi bác sĩ chỉ định do thói quen sử dụng thuốc hoặc do tâm lý dùng thuốc của người bệnh” (TLN_Bs khoa Khám bệnh)

3.1.6 Đánh giá chung về hoạt động kê đơn thuốc

Theo tiêu chí đánh giá và điểm đạt của Hội đồng đánh giá đơn thuốc, kết quả thực hiện quy chế kê đơn thuốc đạt được như sau:

Bảng 3.4 Đánh giá chung về hoạt động kê đơn thuốc

Tiêu chí đánh giá Số đơn thuốc

Thông tin hành chính, thể thức kê đơn (n@0)

Phù hợp chẩn đoán và điều trị (n@0)

An toàn, tương tác thuốc

Thiếu an toàn, cần theo dõi 12 3,00

Sử dụng thuốc hợp lý

Kê đơn thuốc hợp lý 389 97,25

Kê đơn thuốc chưa hợp lý 11 2,75

Sử dụng thuốc chỉ định có điều kiện (n5)

Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa đã đạt được tỷ lệ 98,50% đơn thuốc tuân thủ tốt, với 394 đơn thuốc đạt từ 9 điểm trở lên, trong khi tỷ lệ chưa tuân thủ chỉ là 1,50% Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý bệnh viện và triển khai phần mềm quản lý khám chữa bệnh đã giúp cải thiện công tác hành chính và thể thức đơn thuốc Đặc biệt, tỷ lệ ghi đầy đủ thông tin như họ tên, tuổi, giới tính, chẩn đoán và tên bác sĩ đều đạt 100%.

Phần thông tin về phù hợp chẩn đoán và điều trị có 385 đơn thuốc trong tổng số

400 đơn thuốc nghiên cứu đạt tiêu chí đánh giá kê dơn phù hợp chiếm tỷ lệ 96,25%

Kê đơn không phù hợp có 15 đơn thuốc chiếm tỷ lệ 3,75%

Trong nghiên cứu về tiêu chí kê đơn an toàn, có 379 đơn thuốc đạt tiêu chí này, chiếm 94,75% Trong số 21 đơn thuốc có vấn đề về tương tác thuốc, 12 đơn thuốc cần theo dõi do thiếu an toàn, chiếm 3% Ngoài ra, 9 đơn thuốc có tương tác ở mức 2 và 3 được đánh giá là không an toàn, chiếm 2,25%.

Theo tiêu chí đánh giá kê đơn HL, có 389 đơn thuốc đạt yêu cầu, chiếm 97,25% Trong khi đó, 11 đơn thuốc không đạt tiêu chí kê đơn hợp lý, chiếm 2,75%.

Trong số 125 đơn thuốc có chứa các loại thuốc chỉ định có giới hạn, có 105 đơn thuốc được kê đúng, đạt tỷ lệ 84%, trong khi 20 trường hợp chỉ định không đúng điều kiện, chiếm 16% Lỗi chỉ định thuốc không đúng điều kiện thanh toán chủ yếu thuộc về người kê đơn, do thiếu cập nhật thông tin về thuốc Tuy nhiên, một số bác sĩ vẫn chỉ định thuốc không đúng quy định vì tác dụng phụ của thuốc phù hợp với tình trạng bệnh nhân cụ thể, nên về mặt chuyên môn có thể không sai nhưng lại vi phạm quy định Ngoài ra, thói quen sử dụng thuốc hoặc tâm lý của bệnh nhân cũng ảnh hưởng đến quyết định của bác sĩ.

Phân tích một số chỉ số kê đơn thuốc tại Bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa

3.2.1 Số thuốc được kê trong đơn

Bảng 3.5 Phân bố số thuốc được kê trong đơn (n@0)

Kết quả từ bảng 3.7 cho thấy rằng đơn thuốc có 3 và 4 loại thuốc chiếm tỷ lệ cao nhất, lần lượt là 30% và 28,5% Số lượng thuốc tối đa trong một đơn thuốc là 7, và không có đơn nào kê từ 8 loại thuốc trở lên Trung bình, mỗi đơn thuốc có 3,7 ± 1,24 loại thuốc Việc kê nhiều loại thuốc có thể làm tăng nguy cơ tương tác thuốc bất lợi, đặc biệt là ở người lớn tuổi với nhiều bệnh mạn tính cần sử dụng nhiều loại thuốc.

Số thuốc trong đơn Số đơn thuốc Tỷ lệ (%)

Số thuốc trung bình trong 1 đơn: 3,7 ± 1,24 HUPH

3.2.2 Số lượng thuốc trung bình trong đơn

Bảng 3.6 Số lượng thuốc trung bình trong đơn (n@0)

Trong 400 đơn thuốc nghiên cứu, tổng số lượng thuốc được kê là 33.856 viên, trong đó đơn thuốc kê 3 và 4 loại thuốc chiếm số lượng lớn với 10.077 và 11.752 viên Điều này cho thấy tần suất kê đơn 3 và 4 loại thuốc là cao nhất Số lượng thuốc trung bình trong một đơn thuốc là 84,64 ± 34,93 viên, cho thấy bác sĩ thường kê đơn dài ngày từ 20 viên trở lên.

Trong 30 ngày, chương trình điều trị cho bệnh nhân mắc bệnh mạn tính giúp giải quyết nhiều vấn đề như tình trạng quá tải và giảm chi phí khám bệnh, từ đó nâng cao hiệu quả sử dụng quỹ khám chữa bệnh bảo hiểm y tế.

3.2.3 Số ngày điều trị theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú

Trong số 400 đơn thuốc nghiên cứu có 182 đơn thuốc điều trị bệnh cấp tính và

218 đơn thuốc điều trị bệnh mạn tính, chiếm tỷ lệ lần lượt là 45,50% và 54,50%

Số loại thuốc trong đơn Số đơn thuốc Số lượng thuốc trong đơn (viên)

Số lượng thuốc trung bình trong đơn

Số lượng thuốc trung bình trong một đơn: 84,64 ± 34,93

Trong tổng số đơn thuốc, 182 đơn được kê cho người mắc bệnh cấp tính, chiếm 45,50%, trong khi đó, 218 đơn thuốc được kê cho người mắc bệnh mạn tính, chiếm 54,50%.

Bảng 3.7 Số ngày điều trị bệnh cấp tính theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú

Số ngày điều trị Số đơn thuốc Tỷ lệ (%)

Ngày điều trị trung bình: 7,24 ± 2,14

Kết quả từ bảng 3.7 cho thấy thời gian kê đơn điều trị trung bình cho bệnh nhân mắc bệnh cấp tính là 7,24 ± 2,14 ngày Điều này cho thấy sự tuân thủ nghiêm túc của các bác sĩ và bệnh viện đối với chỉ đạo kê đơn dài ngày cho bệnh nhân mắc bệnh mạn tính từ cơ quan chức năng.

Bảng 3.8 Số ngày điều trị bệnh mạn tính theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú

Số ngày điều trị Số đơn thuốc Tỷ lệ (%)

Ngày điều trị trung bình: 20,61 ± 5,80

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ đơn điều trị bệnh cấp tính, mạn tính

Kết quả từ bảng 3.8 cho thấy thời gian kê đơn điều trị trung bình cho bệnh mạn tính là 20,61 ± 5,80 ngày, cho thấy sự tuân thủ nghiêm túc của bác sĩ và bệnh viện đối với chỉ đạo kê đơn dài ngày Việc kê đơn thuốc dài ngày không chỉ thuận lợi cho bệnh nhân do giảm số lần phải đến bệnh viện mà còn giúp bệnh viện quản lý lượng bệnh nhân tại khoa Khám, từ đó giảm tải và nâng cao hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến việc tăng tỷ lệ cùng chi trả của bệnh nhân.

3.2.4 Thuốc sử dụng có điều kiện thanh toán

Bảng 3.9 Phân bố thuốc sử dụng có điều kiện thanh toán (n5)

Tên thuốc Số lượng đơn Chỉ định đúng Tỷ lệ (%)

Trong số 400 đơn thuốc được nghiên cứu, Bảng 3.9 chỉ ra rằng có 4 loại thuốc có chỉ định giới hạn trong một số trường hợp nhất định Việc chỉ định các thuốc này không đúng quy định sẽ được coi là lạm dụng chỉ định thuốc và dẫn đến việc bị xuất toán chi phí.

C là loại thuốc có tỷ lệ kê đơn đúng thấp nhất, với vấn đề lạm dụng thuốc vẫn tồn tại Mặc dù các bác sĩ nhận thức rõ ràng về điều kiện và giới hạn chỉ định của thuốc, thói quen sử dụng cũ khiến họ đôi khi kê đơn không đúng quy định Tuy nhiên, theo kinh nghiệm, trong một số trường hợp, các thuốc này lại mang lại hiệu quả tốt cho bệnh nhân, dẫn đến việc bác sĩ vẫn chỉ định sử dụng.

3.2.5 Thuốc kháng sinh trong đơn ngoại trú

Bảng 3.10 Phân bố thuốc kháng sinh trong đơn ngoại trú

Tên thuốc Số lượng đơn Tỷ lệ (%) Đơn không có kháng sinh (n@0) 281 70,25

HUPH Đơn có kháng sinh (n@0) 119 29,75

Trong nghiên cứu về thuốc kháng sinh, có 119 đơn thuốc được kê kháng sinh, chiếm 29,75% tổng số đơn Trong số đó, 92 đơn thuốc kê 01 loại kháng sinh, tương đương 77,31%, trong khi 27 đơn thuốc kê 02 loại kháng sinh, chiếm 22,69% Đáng chú ý, không có đơn thuốc nào kê phối hợp 3 hay 4 loại kháng sinh.

Tỷ lệ sử dụng kháng sinh thấp dưới 30% cho thấy hiệu quả của các biện pháp quản lý kháng sinh tại bệnh viện, với bác sĩ khoa Khám bệnh tuân thủ nghiêm ngặt quy định Việc kiểm soát chặt chẽ từ Hội đồng thuốc và điều trị, theo chỉ đạo của lãnh đạo bệnh viện, góp phần vào tỷ lệ sử dụng kháng sinh ngoại trú không cao Các kháng sinh biệt dược đắt tiền chỉ được sử dụng trong điều trị nội trú, trong khi đơn thuốc ngoại trú phải được phê duyệt bởi lãnh đạo khoa, giúp tiết kiệm và tránh lạm dụng thuốc Ngoài ra, có thể do thời điểm hiện tại chưa phải là mùa của các bệnh nhiễm trùng.

3.2.6 Số ngày sử dụng kháng sinh trong đơn ngoại trú

Bảng 3.31 Phân bố số ngày sử dụng kháng sinh trong đơn (n9)

01 kháng sinh 02 kháng sinh Chung

Số lượng đơn Tỷ lệ (%)

Thời gian sử dụng kháng sinh chủ yếu không quá 10 ngày, với tỷ lệ 91,59% cho cả trường hợp phối hợp kháng sinh Trong nghiên cứu, chỉ có sự phối hợp của 2 kháng sinh, không có trường hợp nào sử dụng 3 kháng sinh Việc quản lý sử dụng kháng sinh được thực hiện nghiêm ngặt dưới sự chỉ đạo của bác sĩ Phó Giám đốc phụ trách công tác Dược, với việc kiểm soát chặt chẽ việc phân thuốc ra kho ngoại trú Các kháng sinh có giá trị cao, dễ bị lạm dụng và sử dụng bừa bãi, dẫn đến tình trạng kháng thuốc, đã được Bệnh viện kiểm soát một cách cẩn thận.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quy chế kê đơn

3.3.1 Yếu tố thuộc về bác sĩ

Nghiên cứu từ phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và lãnh đạo khoa cho thấy trình độ chuyên môn của bác sĩ còn hạn chế, đặc biệt là trong việc cập nhật kiến thức về dược lý và dược lâm sàng Hầu hết các bác sĩ tại các bàn khám đều học liên thông, dẫn đến kiến thức nền tảng không vững và kỹ năng tổng hợp, phân tích chưa cao Hơn nữa, sự thiếu quan tâm đến các kết quả cận lâm sàng đã tạo ra tình trạng kê đơn thuốc không hợp lý, dẫn đến lạm dụng thuốc và tương tác thuốc không mong muốn.

Một vấn đề quan trọng cần lưu ý là bác sĩ thường chỉ điều trị triệu chứng bệnh mà không chú trọng đến nguyên nhân gây bệnh Điều này dẫn đến việc bệnh nhân phải trải qua thời gian điều trị kéo dài và chịu chi phí không cần thiết.

Bác sĩ KĐT thường chỉ định sử dụng thuốc 2 lần/ngày mà không xem xét tình trạng bệnh lý và thời gian bán thải của thuốc, dẫn đến việc cần điều chỉnh số lần dùng thuốc trong ngày để đảm bảo hiệu quả tốt nhất, tránh tai biến và tương tác không mong muốn.

Việc bác sĩ sử dụng lại đơn thuốc cũ mà không điều chỉnh cho phù hợp với tình trạng bệnh hiện tại có thể gây bất lợi cho người bệnh, do đơn thuốc đã được lưu sẵn trên máy tính và ghi trong sổ khám bệnh.

Tình trạng khu điều trị (KĐT) hiện nay vẫn chưa đáp ứng đầy đủ các quy định, dẫn đến việc lạm dụng thuốc và tương tác thuốc, gây ra những KĐT không an toàn và không hiệu quả.

Bác sĩ thường phải đối mặt với áp lực từ bệnh nhân, đặc biệt khi bệnh nhân đã khám ở tuyến trên hoặc có thói quen sử dụng thuốc nhất định Do đó, nhiều bác sĩ có xu hướng kê đơn thuốc theo yêu cầu của bệnh nhân.

Sự gia tăng số lượng bệnh nhân đến khám đã dẫn đến tình trạng quá tải tại một số phòng khám, đặc biệt là phòng khám Nội Điều này khiến bác sĩ thường khám bệnh một cách sơ sài, chỉ hỏi qua về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân và tham khảo đơn thuốc trước đó để kê đơn mới Mặc dù việc này giúp giảm thời gian chờ đợi cho bệnh nhân, nhưng lại thiếu sự quan tâm trong việc tư vấn và giải thích cho họ.

3.3.2 Yếu tố thuộc về bệnh viện

Công tác đấu thầu thuốc tập trung tại bệnh viện hiện đang gặp khó khăn, dẫn đến tình trạng thụ động trong việc dự trù và cung ứng thuốc Nhiều loại thuốc không trúng thầu, buộc bệnh viện phải mua theo kết quả của các đơn vị khác, gây ra sự chậm trễ trong việc cung cấp thuốc cho lâm sàng.

Công tác giám sát việc thực hiện Quy định KĐT và Danh mục thuốc tân dược đang được triển khai theo các Thông tư và Quyết định của Bộ Y tế, bao gồm Thông tư 52/2017/TT-BYT và Thông tư 18/2018/TT-BYT Ban Giám đốc và Hội đồng thuốc của bệnh viện đã gửi văn bản đến các khoa/phòng để thực hiện Hàng tháng, bệnh viện tổ chức kiểm tra hồ sơ bệnh án và giám sát việc KĐT ngoại trú, đồng thời tổng kết và thông báo kết quả trong các buổi giao ban Việc phê bình và khen thưởng được thực hiện kịp thời Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng kê đơn không đúng quy định và lạm dụng thuốc, cho thấy công tác KĐT chưa hiệu quả và cần cải thiện trong việc thăm khám bệnh nhân.

Trang thiết bị y tế tại bệnh viện hiện vẫn còn thiếu thốn, dẫn đến nhiều xét nghiệm chẩn đoán phân biệt chưa được thực hiện Một ví dụ điển hình là sự thiếu hụt máy đo chức năng hô hấp, điều này ảnh hưởng đến khả năng chẩn đoán chính xác các bệnh lý liên quan đến hô hấp.

HUPH bệnh hen suyễn ở mức độ nào là yếu tố quan trọng để bác sĩ xác định phác đồ điều trị Tuy nhiên, do thiếu cơ sở để áp dụng phác đồ chuẩn, bác sĩ thường phải dựa vào kinh nghiệm cá nhân trong việc điều trị và kê đơn.

Chất lượng thuốc trong đấu thầu là một vấn đề quan trọng cần được chú ý Hầu hết các thuốc tham gia thầu đều đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, với sự chênh lệch điểm cho nguyên liệu không đáng kể Cuối cùng, yếu tố quyết định là giá cả, thuốc nào có giá rẻ sẽ thắng thầu Tuy nhiên, để sản xuất các loại thuốc thành phẩm giá rẻ, nguyên liệu chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc và Ấn Độ, và thường bị đánh giá thấp.

Giá rẻ nhưng không đảm bảo tính tinh khiết, thường chứa nhiều tạp chất, điều này ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm cuối cùng Hiệu quả điều trị sẽ không cao và có thể dẫn đến các tác dụng không mong muốn liên quan đến nguyên liệu.

3.3.3 Yếu tố thuộc về người bệnh

Hầu hết các đối tượng phỏng vấn cho rằng thói quen sử dụng thuốc của người dân nông thôn ảnh hưởng đến quyết định kê đơn của bác sĩ Nhiều bệnh nhân lo lắng thái quá về sức khỏe, chỉ cần ho nhẹ hoặc cảm thấy không khỏe một chút là đã sử dụng thuốc, trong khi thực tế, những tình huống này thường không cần thiết và bệnh có thể tự khỏi Ngoài ra, một số bệnh nhân khi đi khám thường khai báo mắc nhiều bệnh để mong nhận được nhiều thuốc hơn.

Nhiều người bệnh chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc mua thẻ BHYT, với suy nghĩ "Mình vì mọi người, mọi người vì mình" Họ thường so đo và có tâm lý đòi hỏi thuốc khi đi khám, dẫn đến phàn nàn khi bác sĩ không kê đơn nhiều thuốc Ví dụ, họ cảm thấy không hài lòng khi phải chờ đợi lâu chỉ để nhận vài viên thuốc, hoặc cho rằng bác sĩ không khám ra bệnh khi không có nhiều thuốc kê Điều này tạo áp lực cho bác sĩ, khiến họ có thể lạm dụng việc kê thuốc hỗ trợ không cần thiết, như vitamin và khoáng chất, với niềm tin rằng đó là thuốc bổ.

BÀN LUẬN

Một số chỉ số kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa

Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Hòa, thời gian sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhiễm khuẩn thông thường như viêm họng, viêm xoang, viêm chân răng, hay phòng nhiễm khuẩn sau nhổ răng dao động từ 5-7 ngày, tối đa 10 ngày, chiếm tỷ lệ cao nhất 68,9% So với phác đồ điều trị trong “Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị bệnh nội khoa” do Nhà xuất bản Y học phát hành năm 2011, thời gian sử dụng kháng sinh này là hợp lý.

Việc kê kháng sinh không hợp lý không chỉ làm tăng chi phí điều trị mà còn ảnh hưởng đến tuân thủ liều và thời gian điều trị, đồng thời làm trầm trọng thêm hiện tượng kháng thuốc Tình trạng này đang trở thành vấn đề chung tại Việt Nam, theo một nghiên cứu của Bộ.

Hiện nay, 76% bác sĩ tại Việt Nam kê toa kháng sinh không phù hợp, dẫn đến 33% bệnh nhân bị kháng thuốc Trong khi các quốc gia phát triển vẫn sử dụng kháng sinh thế hệ 1, Việt Nam đã tiến tới sử dụng kháng sinh thế hệ mới hơn.

Chi phí kháng sinh trong điều trị chiếm tới 17% tổng chi phí khám-chữa bệnh của người dân, cho thấy việc sử dụng kháng sinh tại Việt Nam đang ở mức đáng lo ngại Sự sử dụng không hợp lý kháng sinh không chỉ diễn ra ở cộng đồng và nhà thuốc mà còn tại các cơ sở y tế công lập, khiến Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu về kháng thuốc Theo Bộ Y tế, hầu hết các cơ sở khám, chữa bệnh đang phải đối mặt với sự gia tăng nhanh chóng của vi khuẩn kháng kháng sinh, tạo ra gánh nặng chi phí điều trị và ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng Nếu không có biện pháp can thiệp phù hợp, các quốc gia có thể đối mặt với tình trạng không có thuốc hiệu quả để điều trị các bệnh truyền nhiễm trong tương lai Việc sử dụng kháng sinh tự do và bán thuốc không cần đơn tại các nhà thuốc đang làm phức tạp thêm tình hình kháng thuốc, đặc biệt là việc kê đơn kháng sinh không hợp lý tại bệnh viện, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị cho người bệnh khám bảo hiểm y tế Nhiều người có thẻ bảo hiểm y tế vẫn chọn khám tự nguyện vì tin rằng họ sẽ nhận được kê đơn và thuốc tốt hơn.

Trong nghiên cứu 400 đơn thuốc, đã phát hiện 21 đơn có tương tác, chiếm tỷ lệ 5,25%, một con số khá cao Trong số đó, có 2 tương tác ở mức độ nguy hiểm (mức độ 3), có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe bệnh nhân Tuy nhiên, những tương tác này hoàn toàn có thể tránh được, vì tình trạng bệnh không nghiêm trọng và lợi ích thu được thấp hơn so với tác hại của tương tác Việc thay thế thuốc để tránh tương tác và đạt hiệu quả điều trị tốt hơn là khả thi.

HUPH có thể tương tác với các loại thuốc khác Có 7 đơn thuốc có mức độ tương tác trung bình và 12 đơn thuốc có mức độ tương tác thấp, không gây nguy hiểm cho người bệnh, nhưng cần cân nhắc khi phối hợp điều trị.

Tương tác thuốc là một vấn đề nghiêm trọng trong bệnh viện, và lãnh đạo đã triển khai nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu tình trạng này Hội đồng Thuốc và điều trị hoạt động tích cực, thường xuyên giám sát hồ sơ bệnh án và kê đơn thuốc, cũng như tổ chức bình bệnh án để rút kinh nghiệm Các kết quả giám sát được thông báo trong các cuộc họp toàn viện và gửi đến các khoa lâm sàng Mặc dù có nhiều đợt thi đua và khen thưởng, kết quả đạt được vẫn chưa như mong đợi.

Vấn đề không chỉ nằm ở trình độ chuyên môn và trang thiết bị, mà còn liên quan đến nhận thức và tư tưởng của con người Các bác sĩ kê đơn thường chủ quan, mặc dù biết đến hậu quả xấu nhưng vẫn nghĩ rằng điều đó không xảy ra với mình, dẫn đến việc chưa tích cực hợp tác với bệnh viện trong công tác này Thêm vào đó, tình trạng thiếu nhân lực, đặc biệt là bác sĩ, cũng góp phần vào sự ỉ lại, do lãnh đạo bệnh viện chưa có biện pháp chế tài mạnh mẽ đối với nhóm bác sĩ này Đây là nhóm "chất lượng cao", nhưng không phải tất cả đều đạt tiêu chuẩn "chất lượng cao".

Một số yếu tố ảnh hưởng đến kê đơn

4.3.1 Yếu tố thuộc về bác sĩ

Việc kê đơn thuốc được quyết định bởi bác sĩ điều trị dựa trên tình trạng bệnh, kết quả cận lâm sàng, phác đồ điều trị của bệnh viện và quy định của Bộ Y tế.

Công tác kê đơn thuốc trong y tế hiện nay chưa tuân thủ đúng quy chế kê đơn thuốc ngoại trú, đặc biệt là việc ghi địa chỉ của người bệnh không đầy đủ và số lượng thuốc kê đơn không chính xác.

Việc bác sĩ kê đơn kháng sinh mà không tuân theo dược động học có thể làm giảm hiệu quả điều trị, do không đạt được nồng độ điều trị cần thiết trong cơ thể Tính chất dược lực học của kháng sinh ảnh hưởng đến tần suất sử dụng, với một số loại chỉ cần dùng một lần mỗi ngày, trong khi những loại khác cần phải sử dụng nhiều lần.

HUPH lần trong ngày[6], [28] Không riêng tại bệnh viện ĐKKV Ninh Hòa, nghiên cứu của

Tại bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận, việc chỉ định số lần sử dụng kháng sinh trong ngày chưa hợp lý, khi hầu hết kháng sinh được bác sĩ chỉ định dùng 2 lần/ngày với khoảng cách giữa 2 lần không hợp lý (sáng/chiều thay vì 2 lần/24 giờ) Sự cho rằng cần phối hợp kháng sinh có thể dẫn đến việc sử dụng không cần thiết và làm tăng mức độ sử dụng kháng sinh Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hằng (2013) khuyến cáo việc phối hợp 2 hay nhiều kháng sinh trong các trường hợp cần tác dụng hiệp đồng, bệnh nặng chưa xác định tác nhân gây bệnh, nhiễm nhiều loại vi khuẩn cùng lúc, và ngăn ngừa kháng thuốc.

Sự gia tăng bệnh nhân tại các phòng khám, đặc biệt là phòng khám Nội, dẫn đến tình trạng quá tải, khiến bác sĩ thường khám bệnh một cách sơ sài và chỉ hỏi qua loa về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân Việc sử dụng máy hiển thị toa thuốc trước đó để kê đơn nhanh chóng nhằm giảm thời gian chờ đợi không phải là giải pháp bền vững và vi phạm quy định của Bộ Y tế về việc giảm thời gian chờ đợi khám bệnh Cần có những giải pháp căn cơ, như bố trí bác sĩ hợp lý và điều tiết khoa học, để vừa giảm thời gian chờ đợi vừa đảm bảo hiệu quả trong công tác khám bệnh Ngoài ra, trong chỉ định thuốc có điều kiện như Glucosamin, Trimetazidin, Rutin C, và Alphachymotrypsin, vẫn còn nhiều chỉ định chưa phù hợp.

Một số bác sĩ có thể bị ảnh hưởng bởi yêu cầu của bệnh nhân khi kê đơn thuốc, dẫn đến việc lạm dụng kháng sinh, vitamin và thuốc giảm đau không cần thiết.

Hiện nay, việc kê đơn thuốc trên máy tính tại bệnh viện dẫn đến tình trạng bệnh nhân đông, khiến bác sĩ chỉ thăm khám sơ qua và có thể sử dụng lại đơn thuốc cũ Điều này kéo dài thời gian sử dụng kháng sinh, NSAIDs và kháng viêm steroid không cần thiết, đồng thời tạo điều kiện cho một số bệnh nhân lợi dụng quỹ BHYT để lấy thuốc kháng sinh và giảm đau đắt tiền dù đã khỏi bệnh.

Bệnh viện là nơi chuyên môn khám và điều trị bệnh nhân, nhưng bác sĩ thường bị chi phối bởi công tác quản lý như Đảng, Đoàn thể và chính quyền, dẫn đến việc họ không có đủ thời gian để tham khảo tài liệu chuyên môn, cập nhật kiến thức mới và tham gia nghiên cứu khoa học Điều này ảnh hưởng lớn đến chất lượng khám chữa bệnh và khả năng kê đơn thuốc hợp lý, an toàn và hiệu quả.

4.3.2 Các yếu tố thuộc về Bệnh viện

Khoa Dược cung ứng thuốc hiệu quả, đáp ứng nhu cầu điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tuy nhiên, việc thiếu thuốc do công ty cung ứng chậm hoặc hết hàng đôi khi xảy ra, buộc bác sĩ phải thay thế bằng thuốc có cùng hoạt chất hoặc nhóm thuốc tương tự, gây khó khăn trong quá trình khám và kê đơn.

Lãnh đạo khoa Dược cho rằng tình trạng thiếu thuốc có thể do việc dự trù đấu thầu hàng năm không sát thực tế và do bác sĩ áp dụng nhiều phương pháp điều trị mới sau khi hoàn thành các khóa học Thông tin và tư vấn sử dụng thuốc cho bác sĩ là hoạt động quan trọng của Dược lâm sàng, nhưng hiện tại chưa có biện pháp giám sát chặt chẽ, dẫn đến sai sót trong kê đơn thuốc Việc kê đơn thuốc không hợp lý, lạm dụng thuốc và kê đơn theo yêu cầu bệnh nhân vẫn xảy ra do thiếu dược sĩ chuyên ngành dược lâm sàng Theo Tổ chức Y tế thế giới, việc thiếu thông tin về kháng sinh cho người kê đơn cũng là nguyên nhân dẫn đến sử dụng kháng sinh không hợp lý.

Tại Bệnh viện đa khoa khu vực Ninh Hòa, phác đồ điều trị tại khoa khám bệnh ngoại trú đã được xây dựng, nhưng các bác sĩ thường điều trị theo kinh nghiệm do thiếu trang thiết bị chẩn đoán Hơn nữa, tiêu chí kỹ thuật trong đấu thầu thuốc còn nhiều bất cập, nguyên liệu đạt chuẩn chưa được chú trọng, và thang điểm không có sự khác biệt rõ rệt, dẫn đến nhiều thuốc sản xuất nhưng chất lượng không cao, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.

Từ những năm 1975 - 1996, bác sĩ tại các cơ sở y tế, đặc biệt ở vùng nông thôn và vùng sâu, vùng xa, rất thiếu Y tá và y sĩ thường thay thế bác sĩ, dẫn đến việc người bệnh không nhận được tư vấn đầy đủ và có kiến thức hạn chế về sử dụng thuốc Họ tự mua thuốc và tự chữa trị, tạo thành thói quen xấu vẫn tồn tại đến nay, với nhiều người thích tự mua thuốc cho bản thân và gia đình Những người có thẻ BHYT thường xuyên đến cơ sở y tế, mặc dù một số bệnh không cần thiết phải dùng thuốc Họ cảm thấy cần phải nhận thuốc tương xứng với số tiền đã chi cho BHYT, gây áp lực lên bác sĩ trong việc kê đơn, dẫn đến tình trạng kê đơn không phù hợp và lạm dụng thuốc Nghiên cứu của Hessen cho thấy việc kê đơn vitamin và thuốc đắt tiền của bác sĩ cũng bị ảnh hưởng bởi yêu cầu từ bệnh nhân hoặc người nhà Tại Bệnh viện Ninh Thuận, nhiều bệnh nhân đề nghị bác sĩ kê thêm thuốc “bổ” và thuốc tốt, đắt tiền.

Hiện nay, các công ty trúng thầu đã có đội ngũ trình dược viên riêng, thường xuyên tiếp cận bác sĩ tại khoa khám bệnh để khuyến khích sử dụng thuốc theo tên thương mại mà họ đã trúng thầu Điều này dẫn đến tình trạng lạm dụng một số loại thuốc trong quá trình kê đơn.

Hợp đồng cung ứng thuốc trúng thầu giữa Công ty dược và bệnh viện đã được ký kết đầy đủ Tuy nhiên, thực tế cho thấy có nhiều lý do khiến việc thực hiện hợp đồng gặp khó khăn, trong đó giá trúng thầu thường quá rẻ so với thị trường.

Hiện tại, một số công ty chưa thể cung ứng kịp thời do không nhập hàng hóa, hóa chất cần thiết cho sản xuất và buôn bán Điều này dẫn đến việc một số công ty vừa trúng thầu nhưng đã gửi đơn xin không cung ứng, ảnh hưởng đến công tác kê đơn của bác sĩ trong việc khám và điều trị cho bệnh nhân.

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1. Khung lý thuyết....................................................................................... - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Sơ đồ 1.1. Khung lý thuyết (Trang 11)
Bảng 3.1. Thông tin hành chính và thể thức đơn thuốc (n=400) - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.1. Thông tin hành chính và thể thức đơn thuốc (n=400) (Trang 47)
Bảng 3.3. Thông tin về sử dụng thuốc hợp lý (n=400) - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.3. Thông tin về sử dụng thuốc hợp lý (n=400) (Trang 50)
Bảng 3.4. Đánh giá chung về hoạt động kê đơn thuốc - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.4. Đánh giá chung về hoạt động kê đơn thuốc (Trang 51)
Bảng 3.5. Phân bố số thuốc được kê trong đơn (n=400) - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.5. Phân bố số thuốc được kê trong đơn (n=400) (Trang 53)
Bảng 3.6. Số lượng thuốc trung bình trong đơn (n=400) - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.6. Số lượng thuốc trung bình trong đơn (n=400) (Trang 54)
Bảng 3.7. Số ngày điều trị bệnh cấp tính theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.7. Số ngày điều trị bệnh cấp tính theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú (Trang 55)
Bảng 3.8. Số ngày điều trị bệnh mạn tính theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.8. Số ngày điều trị bệnh mạn tính theo đơn bảo hiểm y tế ngoại trú (Trang 55)
Bảng số  liệu - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng s ố liệu (Trang 88)
Bảng số  liệu - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng s ố liệu (Trang 89)
Bảng số  liệu - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng s ố liệu (Trang 90)
Bảng 3.3, cần xem lại. - Thực trạng thực hiện qui chế kê đơn thuốc bảo hiểm y tế trong khám và điều trị ngoại trú tại bệnh viện đa khoa khu vực ninh hòa, năm 2019
Bảng 3.3 cần xem lại (Trang 105)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w