PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế tham gia trực tiếp vào việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân tại 10 khoa lâm sàng, bao gồm Khoa Sản, Khoa Ngoại tổng hợp, Khoa Chấn thương chỉnh hình, Khoa Ngoại tiết niệu, Khoa Ngoại thần kinh, Khoa Nội hồi sức tích cực, Khoa Nội tổng hợp, Khoa Nội yêu cầu, Khoa Truyền nhiễm và Khoa Nội tiêu hóa Đối tượng không được tính là nhân viên y tế trong nghiên cứu này là những người không trực tiếp tham gia vào việc điều trị và chăm sóc bệnh nhân, như nhân viên hành chính, người nghỉ thai sản hoặc đang đi học.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 06/2014
- Địa điểm nghiên cứu: BVĐK tỉnh Vĩnh Phúc.
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp định tính và định lượng.
Mẫu nghiên cứu
Cỡ mẫu định lượng: Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho nghiên cứu xác định tỷ lệ
Để xác định cỡ mẫu tối thiểu (n), cần sử dụng hệ số tin cậy (Z) với giá trị 1,96 cho độ tin cậy 95% Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh thực phẩm (p) được lấy là 0,6, dựa trên nghiên cứu của Hoàng Thị Xuân Hương tại Bệnh viện Đống Đa, Hà Nội năm 2010, cho thấy tỷ lệ này là 60% Sai số chấp nhận trong nghiên cứu được xác định là 0,06.
Cỡ mẫu được tính toán là n = 256 nhân viên y tế (NVYT) Tuy nhiên, ước tính có khoảng 10% NVYT có thể từ chối tham gia nghiên cứu hoặc phiếu khảo sát không hợp lệ do thiếu thông tin Do đó, cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 282 NVYT.
Phương pháp chọn mẫu định lượng trong nghiên cứu này bao gồm 284 nhân viên y tế đang làm việc tại 10 khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc Do đó, nghiên cứu viên đã quyết định chọn toàn bộ số nhân viên y tế này để tham gia vào nghiên cứu.
Chọn mẫu định tính: chọn mẫu có chủ đích
- Phỏng vấn sâu Phó giám đốc phụ trách chuyên môn
- Phỏng vấn sâu Trưởng Khoa Chống nhiễm khuẩn
Thảo luận nhóm có trọng tâm được thực hiện trên 3 nhóm đối tượng NVYT
- Nhóm 1: 10 bác sĩ của 10 khoa lâm sàng
- Nhóm 2: 10 điều dưỡng trưởng của 10 khoa lâm sàng
- Nhóm 3: 10 điều dưỡng viên của 10 khoa lâm sàng
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bao gồm thông tin chung và 28 câu hỏi, trong đó có 20 câu nhằm đánh giá kiến thức và 8 câu để đánh giá thái độ của nhân viên y tế về vệ sinh thực phẩm.
Bảng kiểm quan sát thực hành được thiết kế dựa trên bộ công cụ và phương pháp đánh giá tuân thủ vệ sinh tay (VST) của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) Bảng này xác định 5 thời điểm quan trọng cần rửa tay trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân, nhằm theo dõi sự tuân thủ VST của nhân viên y tế tại những thời điểm này và ghi lại kết quả trên phiếu (phụ lục 5).
- Hướng dẫn thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm có trọng tâm được thực hiện trên 3 nhóm đối tượng khác nhau (phụ lục 6)
- Hướng dẫn phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu Phó Giám đốc bệnh viện và Trưởng Khoa Chống nhiễm khuẩn (phụ lục 7)
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Để thu thập số liệu định lượng về kiến thức và thái độ của nhân viên y tế (NVYT) đối với VSTTQ, phương pháp phát vấn với bộ câu hỏi có cấu trúc đã được sử dụng Nhóm điều tra viên đã được tập huấn kỹ lưỡng về cách sử dụng và chấm điểm bộ công cụ đánh giá này.
Trước khi tiến hành điều tra toàn bộ mẫu, bộ câu hỏi đã được thử nghiệm trên 10 nhân viên y tế (NVYT) và điều chỉnh cho phù hợp Các NVYT tham gia nghiên cứu được tập trung tại hội trường của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc trước mỗi ca làm việc.
Trong vòng 30 phút, điều tra viên sẽ giải thích rõ ràng mục đích nghiên cứu và hướng dẫn cách điền thông tin trên phiếu điều tra cho các nhân viên y tế tham gia Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của thông tin thu được đối với nghiên cứu, nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy Điều tra viên đề nghị các nhân viên y tế hợp tác và không trao đổi trong quá trình điền phiếu Sau khi phát phiếu, điều tra viên sẽ giám sát để đảm bảo các nhân viên y tế tự điền Thời gian tối đa để hoàn thành phiếu là 20 phút; những ai hoàn thành sớm có thể nộp trước cho điều tra viên để kiểm tra, nhằm hạn chế việc bỏ sót thông tin Sau 20 phút, tất cả nhân viên y tế, dù đã hoàn thành hay chưa, đều phải nộp lại phiếu.
Việc tuân thủ vệ sinh tay trong y tế được đánh giá thông qua phương pháp quan sát không tham gia, sử dụng bảng kiểm theo mẫu của WHO để ghi nhận các cơ hội vệ sinh tay của nhân viên y tế Nhóm quan sát viên gồm hai nhân viên y tế có kinh nghiệm trong giám sát tuân thủ vệ sinh tay, được đào tạo để đảm bảo tính khách quan trong quá trình quan sát Họ sử dụng bảng kiểm để ghi lại năm thời điểm quan trọng mà nhân viên y tế cần thực hiện vệ sinh tay khi điều trị và chăm sóc bệnh nhân Ví dụ, điều dưỡng cần vệ sinh tay trước khi thay băng vết mổ và bác sĩ cần vệ sinh tay sau khi thăm khám bụng cho bệnh nhân, những trường hợp này được ghi nhận cụ thể trong bảng kiểm.
Nhóm quan sát viên phân tách để thực hiện quan sát ngẫu nhiên tại các Khoa, chọn vị trí phù hợp nhằm không gây chú ý cho nhân viên y tế (NVYT) đang được theo dõi Mục tiêu là đảm bảo NVYT không nhận ra mình đang bị quan sát, trong khi vẫn có thể ghi nhận đầy đủ các hoạt động chăm sóc và điều trị bệnh nhân Mỗi NVYT sẽ được quan sát trong khoảng thời gian từ 15 đến 20 phút, với ít nhất 02 cơ hội cần thiết để thực hiện việc quan sát.
Trong khoảng thời gian quan sát, nếu điều kiện cho phép, quan sát viên có thể ghi nhận tối đa 2 NVYT, với mỗi NVYT được ghi vào một bảng kiểm riêng.
- Thu thập số liệu định tính
Phương pháp thảo luận nhóm có trọng tâm với nhân viên y tế và phỏng vấn sâu trực tiếp lãnh đạo bệnh viện cùng trưởng khoa chống nhiễm khuẩn được áp dụng nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và việc tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế.
Mỗi cuộc thảo luận nhóm kéo dài từ 45 đến 60 phút và bao gồm 10 nhân viên y tế Những nhân viên này được chọn một cách có chủ đích, với mỗi khoa mời một điều dưỡng trưởng, một điều dưỡng viên có trên 5 năm kinh nghiệm, và một bác sĩ (có thể là bác sĩ trưởng hoặc phó khoa, cùng một bác sĩ có thâm niên trên 5 năm) Ba cuộc thảo luận nhóm được tổ chức tại hội trường Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, với các câu hỏi thảo luận được nêu rõ trong “Hướng dẫn thảo luận nhóm” (Phụ lục 5).
Các cuộc thảo luận và phỏng vấn sâu được thực hiện bởi nghiên cứu chính điều hành, với nội dung được ghi âm và biên bản bởi thư ký.
Xử lý và phân tích số liệu
Sau mỗi ngày điều tra, nghiên cứu viên chính thực hiện việc kiểm tra và làm sạch các phiếu trả lời của nhân viên y tế, đồng thời ghép cặp phiếu phát vấn với bảng kiểm quan sát Tất cả thông tin được nhập liệu qua phần mềm Epidata 3.0 và phân tích bằng SPSS 16.0 Các kiểm định thống kê suy luận, như Kiểm định Khi bình phương χ², được sử dụng để phân tích mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ và thực hành vệ sinh thực phẩm của nhân viên y tế.
Nội dung thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được ghi âm, sau đó được gỡ băng, mã hóa và phân tích theo chủ đề nhằm khám phá các yếu tố ảnh hưởng.
HUPH tuân thủ VSTTQ thông qua việc gán mã số khác nhau cho mỗi cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu Trong thảo luận nhóm, mỗi thành viên được cấp một mã số riêng và mỗi chủ đề được đánh dấu bằng một màu sắc cụ thể Nghiên cứu viên chính sẽ nghe lại băng ghi âm, đọc bản gỡ băng và mã hóa thông tin theo chủ đề Nghiên cứu tập trung vào ba nhóm chủ đề chính: yếu tố thúc đẩy NVYT tuân thủ VSTTQ, yếu tố rào cản và hạn chế NVYT tuân thủ VSTTQ, cùng với mong muốn của NVYT khi thực hiện VSTTQ Dựa trên thông tin thu thập được, nghiên cứu viên chính sẽ phân chia thành các nhóm nhỏ để thuận lợi cho việc phân tích và tổng hợp thông tin định tính.
Cách đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành VSTTQ
2.7.1 Đánh giá kiến thức, thái độ về VSTTQ
Với 20 câu đánh giá kiến thức về VSTTQ, điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức là: 20 điểm Kiến thức được đánh giá là Đạt khi số điểm ≥ 13 điểm (≥2/3 số điểm tuyệt đối); Chưa đạt khi số điểm 70%); Không tích cực khi số điểm