1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá mức độ an tòan kỹ thuật bằng bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại bệnh viện đa khoa đồng tháp, năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng

100 11 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá mức độ an tòan kỹ thuật bằng bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại bệnh viện đa khoa Đồng Tháp, năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng
Tác giả Nguyễn Tấn Khanh
Người hướng dẫn TS.BS. Nguyễn Văn Hai
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý y tế
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 4,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cho nên, nghiên cứu đánh giá xem “Thực trạng thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp, năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng” để nhằm lý giải các câu hỏi cần

Trang 1

NGUYỄN TẤN KHANH

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN PHẪU THUẬT BẰNG BẢNG

KIỂM TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG THÁP,

NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

Hà Nội – 2020 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN TẤN KHANH

ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ AN TOÀN PHẪU THUẬT BẰNG BẢNG KIỂM

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐỒNG THÁP, NĂM 2020 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802

Giáo viên hướng dẫn:

TS.BS Nguyễn Văn Hai

Hà Nội – 2020HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC i

LỜI CẢM ƠN iv

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.1.1 An toàn người bệnh là gì? 4

1.1.2 Phẫu thuật là gì? 4

1.1.3 An toàn phẫu thuật là gì? 4

1.1.4 Mười mục tiêu an toàn phẫu thuật 4

1.1.5 Giải pháp chung phòng ngừa sự cố y khoa trong phẫu thuật 5

1.1.6 Mức độ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật 6

1.1.7 Bảng kiểm an toàn phẫu thuật là gì? 7

1.2 Một số nghiên cứu về thực trạng an toàn phẫu thuật 10

1.2.1 Thực trạng an toàn phẫu thuật trên thế giới 10

1.2.2 Thực trạng an toàn phẫu thuật tại Việt Nam 11

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thực hiện 13

1.3.1 Nhận thức và sự phối hợp của đội ngũ NVYT 13

1.3.2 Cách thức quản lý thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật của bệnh viện 15

1.3.3 Đặc điểm ca PT ảnh hưởng đến việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm 16

1.3.4 TTBYT và cơ sở hạ tầng phòng mổ của Bệnh viện 17

1.4 Sơ lược tình hình hiện nay của Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp 18

1.5 Khung lý thuyết: 19

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20

2.1 Đối tượng nghiên cứu 20

HUPH

Trang 4

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng 20

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính 20

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20

2.3 Thiết kế nghiên cứu 20

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu 21

2.4.1 Đối với nghiên cứu định lượng 21

2.4.2 Đối với nghiên cứu định tính 21

2.5 Phương pháp chọn mẫu 21

2.5.1 Đối với nghiên cứu định lượng 22

2.5.2 Đối với nghiên cứu định tính 22

2.6 Phương pháp thu thập số liệu 22

2.6.1 Số liệu định lượng 22

2.6.2 Số liệu định tính 23

2.7 Các biến số nghiên cứu chính 23

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 24

2.8.1 Phương pháp phân tích các số liệu định lượng 24

2.8.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính 24

2.9 Đạo đức nghiên cứu 25

2.10 Hạn chế, sai số của nghiên cứu và biện pháp khắc phục 26

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 26

2.10.2 Sai số của nghiên cứu: 26

2.10.3 Biện pháp khắc phục: 27

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28

3.1 Thông tin chung về ca phẫu thuật 28

3.2 Kết quả thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật ba giai đoạn 29

3.3 Kết quả thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật 34

3.4 Phân tích yếu tố đặc điểm ca phẫu thuật 37

3.5 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật 38

3.5.1 Nhóm yếu tố nhân viên y tế 38

3.5.2 Nhóm yếu tố TTBYT và cơ sở hạ tầng phòng mổ 38

HUPH

Trang 5

3.5.3 Nhóm yếu tố đặc điểm ca phẫu thuật 39

3.5.4 Nhóm yếu tố cách thức tổ chức quản lý của Bệnh viện 40

CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 42

KẾT LUẬN 48

KHUYẾN NGHỊ 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

PHỤ LỤC 1: PHIẾU PVS NVYT 54

PHỤ LỤC 2: PHIẾU PVS LÃNH ĐẠO 56

PHỤ LỤC 3: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU 58

PHỤ LỤC 4: BẢNG DỰ TRÙ KINH PHÍ NGHIÊN CỨU 64

PHỤ LỤC 5: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 65

PHỤ LỤC 6: Bảng phân công thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật 71

HUPH

Trang 6

Bên cạnh đó là lời cám ơn đến Ban Giám Hiệu Trường Đại Học Y Tế Công Cộng Hà Nội, cùng quí thầy cô giảng viên của Trường và quí thầy cô giảng viên của Trường Cao Đẳng Y Tế Đồng Tháp đã hỗ trợ, hướng dẫn em có những kiến thức quí báo giúp em viết hoàn thành luận văn này

Một lần nữa, thì em biết ơn chân thành!

Học viên Nguyễn Tấn Khanh

HUPH

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU

Hình 1.1: Bảng kiểm an toàn phẫu thuật của TCYTTG năm 2009 7

Hình 1.2: Bảng kiểm an toàn phẫu thuật của BVĐKĐT 9

Hình 1.3: Sơ đồ 1- Khung lý thuyết thực trạng thực hiện bảng kiểm 19

Bảng 1.1: Bảng đánh giá mức độ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật 6

Bảng 2.1: Bảng số lượng cỡ mẫu nghiên cứu định tính ………21

Bảng 2.2: Bảng số nghiên cứu chính ………23

Bảng 3.1: Thông tin về đặc điểm ca phẫu thuật 28

Bảng 3.2: Kết quả PTV và KTV/ĐD GMHS thực hiện trước khi gây mê 29

Bảng 3.3: Kết quả PTV thực hiện trước khi gây mê 30

Bảng 3.4: Kết quả KTV/ĐD GMHS thực hiện trước khi gây mê 30

Bảng 3.5: Kết quả KTV/ĐD GMHS thực hiện trước khi rạch da 31

Bảng 3.6: Kết quả PTV thực hiện trước khi rạch da 31

Bảng 3.7: Kết quả BS GMHS thực hiện trước khi rạch da……… ………32

Bảng 3.8: Kết quả ĐD dụng cụ thực hiện trước khi rạch da 32

Bảng 3.9: Kết quả ĐD dụng cụ thực hiện trước khi NB rời phòng PT 33

Bảng 3.10: Kết quả BS GMHS thực hiện trước khi NB rời phòng PT 33

Bảng 3.11: Kết quả chữ ký người thực hiện 34

Bảng 3.12: Kết quả nhân viên y tế thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật 34

Bảng 3.13: Kết quả thực hiện bảng kiểm qua ba giai đoạn 35

Bảng 3.14: Kết quả chuyên khoa phẫu thuật thực hiện theo đạt theo mức độ 35

Bảng 3.15: Kết quả chuyên khoa phẫu thuật thực hiện theo phương thức PT 36

Bảng 3.16: Phân tích yếu tố đặc điểm ca phẫu thuật 37

Bảng 5.1: Biến số định lượng 65

Bảng 5.2: Thông tin chủ đề định tính 68

HUPH

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ASA American Sociaty of Anesthesiologist (Phân loại sức khỏe

người bệnh theo tiêu chuẩn hiệp hội gây mê hồi sức Mỹ)

TCYTTG Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization: WHO)

HUPH

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp là Bệnh Viện Tỉnh hạng I, thuộc Sở Y Tế Tỉnh, có 41 khoa/phòng và có 905 cán bộ viên chức đã có nhiều cố gắng trong việc nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho người dân Trong 6 tháng đầu năm 2019

có 6.437 ca phẫu thuật là số lượng khá cao được phẫu thuật Tại Khoa PTGMHS

việc thực hiện bảng kiểm ATPT đã đang tiến hành từ năm 2016 với mục đích giúp

cho Bệnh viện tăng cường đảm bảo an toàn cho người bệnh trong phẫu thuật, góp phần tăng cường hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh

và cũng như giúp giảm tỷ lệ tai biến, sự cố y khoa trong phẫu thuật

Nghiên cứu này đánh giá “Đánh giá mức độ an toàn phẫu thuật bằng bảng

kiểm tại Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp, năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng”

Sau thời gian 3 tháng quan sát nghiên cứu trên 150 ca phẫu thuật tại Khoa PTGMHS đã cho thấy: Thứ nhất là mức độ an toàn phẫu thuật đạt mức độ 5 là bảo đảm an toàn cao, trong đó từng chuyên khoa phẫu thuật đạt mức độ 3 là thực hiện đầy đủ và đúng hướng dẫn lần lượt là chuyên khoa Sản và Ngoại tổng hợp chiếm 18,7%; Ngoại chấn thương chỉnh hình chiếm 12,0%; RHM và TMH chiếm 8,0%; Ngoại thận- tiết niệu chiếm 2,7% và Ung bướu chiếm 2,0% Thứ hai là kết quả tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT của NVYT thì có bảng kiểm ATPT đạt 69,1%, trong

đó thì giai đoạn tiền mê đạt 54,7%; giai đoạn trước khi rạch da đạt 74% và giai đoạn trước khi rời phòng phẫu thuật đạt 78,7% Kết quả tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT của từng nhóm NVYT gồm ĐD dụng cụ thực hiện bảng kiểm ATPT đạt 92,0%; PTV thực hiện bảng kiểm ATPT đạt 99,34%; BS GMHS thực hiện bảng kiểm ATPT đạt 100%; KTV/ĐD GMHS thực hiện bảng kiểm ATPT đạt 98,0% Kết quả phân tích định tính cho thấy nhóm yếu tố đặc điểm ca phẫu thuật đều không có sự liên quan đến việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT vì tất cả các giá

trị p đều lớn hơn 0,05 (bằng kiểm định chi bình phương) Còn kết quả trong PVS

đối tượng nghiên cứu cho thấy nhóm yếu tố NVYT; nhóm yếu tố TTBYT và cơ sở

hạ tầng phòng mổ; nhóm yếu tố cách thức tổ chức quản lý của Bệnh viện thì chưa

có chứng minh cụ thể tác động ảnh hưởng lớn đến thực hiện bảng kiểm

HUPH

Trang 10

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đảm bảo an toàn người bệnh và an toàn phẫu thuật là mục tiêu sống còn của

hệ thống y tế Việt Nam khi lấy NB làm trung tâm Ngày 02/04/2019 tại Hà Nội, Bộ

y tế phối hợp với Tổ chức Phẫu thuật nụ cười tổ chức Hội thảo triển khai một số hướng dẫn về an toàn NB và đảm bảo ATPT thể hiện qua Thông tư 43/2018/TT-BYT với nội dung “Hướng dẫn phòng ngừa sự cố y khoa trong các cơ sở khám chữa bệnh” và “Bộ 8 tiêu chí đánh giá mức độ và chất lượng ATPT” đã được ban hành tại Quyết định số 7482/QĐ-BYT Đây là những nội dung quan trọng đòi hỏi các cán bộ y tế phải quan tâm hàng đầu để đảm bảo an toàn, đáp ứng sự hài lòng của NB, tăng cường chất lượng ATPT đạt mức độ bảo đảm an toàn cao [9], [10], [12]

Theo Quyết định số 7482/QĐ-BYT của Bộ Y Tế ngày 18/12/2018, An toàn

phẫu thuật là bộ tiêu chí chất lượng để đánh giá mức độ an toàn cho NB trong phẫu

thuật, cũng như không để xảy ra sự cố hay tai biến y khoa cho NB trong phẫu thuật

Vì những tai biến PT là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong cho NB, cũng như để lại gánh nặng to lớn về tài chính cho NB và ngàng y tế Ngày 28 tháng

07 năm 2016, Cục quản lý KCB của BYT đã có Công văn số 847/KCB-QLCL, “Về việc tăng cường các biện pháp đảm bảo ATPT” Hàng năm, trên thế giới có hơn 234 triệu trường hợp PT thì có khoảng 3% đến 16% xảy ra biến chứng và ước tính có khoảng một nữa phòng tránh được những tai biến đó nhờ thực hiện được bảng kiểm ATPT [8], [9],[37]

Theo TCYTTG, chương trình PT an toàn cứu sống NB được xây dựng nhằm mục đích giảm số ca biến chứng và tử vong cho NB liên quan phẫu thuật trên toàn thế giới Những nguy cơ cao trong phẫu thuật không an toàn như thiếu thông tin và

sự kết nối của các thành viên trong ê kíp PT, không kiểm tra kỹ NB, vùng mổ, cũng như các TTBYT sử dụng trong quá trình phẫu thuật có thể ảnh hưởng đến ATPT của NB Mặc dù là những điều này khá phổ biến nhưng có thể ngăn ngừa được nếu tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT của TCYTTG đề xuất và phát triển năm 2009 được đại đa số các chuyên gia tán thành Việc sử dụng bảng kiểm ATPT được chia

HUPH

Trang 11

ra làm 3 giai đoạn (Giai đoạn tiền mê/trước khi gây mê – Giai đoạn trước khi rạch

da – Giai đoạn trước khi NB rời khỏi phòng phẫu thuật) sẽ làm giảm tỷ lệ tử vong

và biến chứng phẫu thuật của hơn một phần ba số trường hợp trên tất cả 8 bệnh viện

đã được chọn triển khai thí điểm Tỷ lệ biến chứng giảm từ 11% xuống còn 7% và

tỷ lệ tử vong giảm từ 1,5% xuống 0,8% [21], [23]

Trong 6 tháng đầu năm 2019, tại BVĐK ĐT có 6.437 ca phẫu thuật là một số lượng ca phẫu thuật khá cao của một Bệnh viện Tỉnh hạng I, thuộc Sở Y Tế Tỉnh Đồng Tháp thì công tác ATPT phải được đặt lên hàng đầu Bệnh viện đã đang tiến hành thực hiện bảng kiểm ATPT tại Khoa PT-GMHS, từ năm 2016 đến nay Vì vậy, việc tuân thủ thực hiện đúng quy trình của bảng kiểm ATPT là rất quan trọng

để phòng ngừa hoặc giảm thiểu nguy sai sót do phẫu thuật gây ra như phẫu thuật nhầm NB, phẫu thuật nhầm vị trí vết mổ, sai phương pháp phẫu thuật và sót gạc phẫu thuật hoặc dụng cụ phẫu thuật trong cơ thể NB Trong khi, Bệnh viện chưa có nghiên cứu nào về lĩnh vực công tác ATPT cho NB trong phẫu thuật Nghiên cứu này được tiến hành với mục đích giúp cho Bệnh viện tăng cường đảm bảo an toàn cho NB trong phẫu thuật, góp phần tăng cường hiệu quả điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống cho NB và cũng như giúp phòng ngừa tỷ lệ tai biến, sự cố y khoa trong phẫu thuật [1], [2]

Cho nên, nghiên cứu đánh giá xem “Thực trạng thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp, năm 2020 và một số yếu tố ảnh hưởng” để nhằm lý giải các câu hỏi cần nghiên cứu sau: (1)- Việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT của NVYT phụ trách đã đang tiến hành như thế nào? (2)- Có những yếu tố nào làm ảnh hưởng đến việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT đối với NVYT phụ trách thực hiện? Mục đích của nghiên cứu giúp cho nhà quản lý theo dõi và đánh giá tỷ lệ NVYT tuân thủ có cao hay không, hay là các NVYT làm trong tâm trạng bực bội, thấy là thêm thủ tục hành chính, không có ích gì hoặc để sự cố y khoa trong phẫu thuật không mong muốn đáng có xảy ra

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Xác định mức độ an toàn phẫu thuật bằng bảng kiểm tại Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp, năm 2020

2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật tại Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp, năm 2020

HUPH

Trang 13

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

trong phẫu thuật [20]

1.1.3 An toàn phẫu thuật là gì?

An toàn phẫu thuật là sự phòng ngừa các sai sót có thể gây nguy hại cho NB trong quá trình PT [31]

An toàn phẫu thuật, thủ thuật xâm lấn là yêu cầu quan trọng của an toàn NB, được quy định tại điểm b khoản 1 điều 7 của Thông tư 19/2013/TT-BYT [10]

1.1.4 Mười mục tiêu an toàn phẫu thuật

Theo khuyến cáo của TCYTTG có mười mục tiêu ATPT:

Trang 14

(5)- Tránh sử dụng đồ hay thuốc gây dị ứng ở những BN biết có nguy cơ dị ứng (6)- Áp dụng tối đa các phương pháp giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng ngoại

khoa

(7)- Tránh để quên dụng cụ mổ hay bông gạc trong vùng mổ

(8)- Kiểm tra đối chiếu kỹ bệnh phẩm phẫu thuật

(9)- Thông báo kết quả và trao đổi thông tin đến người tổ chức thực hiện ATPT (10)- Các Bệnh viện và hệ thống y tế thành lập bộ phận có nhiệm vụ thường

xuyên theo dõi số lượng và kết quả phẫu thuật [13]

1.1.5 Giải pháp chung phòng ngừa sự cố y khoa trong phẫu thuật

1.1.5.1 Những quan điểm chung phòng tránh sự cố y khoa

- Cần được xem xét như một vấn đề y tế công cộng mang tính toàn cầu

- Trách nhiệm không chỉ từng cá nhân mà cả hệ thống y tế (từ bệnh viện đến ngành y tế, các chính sách liên quan đến y tế)

- Cần tăng cường nghiên cứu về sự cố, triển khai hệ thống báo cáo sự cố,

1.1.5.2 Những giải pháp chung hạn chế sai sót, sự cố y khoa trong phẫu thuật

- Tạo văn hóa an toàn: lỗi và biến chứng phải được xem xét như cơ hội học tập cho tương lai NVYT cần dũng cảm công bố các biến chứng để đồng nghiệp tham khảo trên các diễn đàn

- Cải thiện thu thập, đo lường lỗi: thông tin về các lỗi thường gặp mới xảy ra là

cơ hội duy nhất để cải thiện hữu hiệu độ ATPT Báo cáo biến chứng và tử vong chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ so với thực tế

- Đi theo hướng tiếp cận hệ thống

- Xác định vấn đề cần ưu tiên giải quyết

- Thận trọng khi tiên phong thực hiện các kỹ thuật mới

- Chấp nhận bắt buộc và hạn chế phạm lỗi

1.1.5.3 Những nội dung chính phòng tránh sự cố phẫu thuật

- NVYT có liên quan cần phải nắm rõ thông tin về NB

- Chuẩn bị kỹ lưỡng trước mỗi ca phẫu thuật

- Gắn kết nhóm phẫu thuật (PTV, Bác sĩ gây mê, Điều dưỡng và người phụ)

- Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng

HUPH

Trang 15

- Các bệnh viện, cơ sở y tế nên tổ chức các khóa học hoặc tọa đàm chủ đề sai sót, sự cố y khoa để nhắc nhở NVYT thường xuyên

- Cải thiện điều kiện làm việc

- Có hệ thống báo cáo sự cố thường xuyên, kịp thời Trong danh mục các sự cố y khoa nghiêm trọng phải báo cáo của TCYTTG thì sự cố do phẫu thuật, thủ thuật được đặt lên hàng đầu, bao gồm:

* Phẫu thuật nhầm vị trí trên người bệnh

* Phẫu thuật nhầm người bệnh

* Phẫu thuật sai phương pháp trên người bệnh

* Sót gạc, dụng cụ phẫu thuật

* Tử vong trong hoặc ngay sau khi PT thường quy [13]

1.1.6 Mức độ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật

Phòng QLCL của BVĐKĐT xây dựng bảng đánh giá mức độ thực hiện bảng kiểm

ATPT theo bộ tiêu chí ATPT của Bộ Y Tế ngày 18/12/2018 [ 9]

Bảng 1.1: Bảng đánh giá mức độ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật đạt

Mức 1 Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ

Mức 2 Thực hiện không đúng hướng dẫn

Mức 3 Thực hiện đầy đủ và đúng hướng dẫn

1.1.7 Bảng kiểm an toàn phẫu thuật là gì?

1.1.7.1 Định nghĩa và mục đích bảng kiểm an toàn phẫu thuật

Theo định nghĩa của TCYTTG năm 2009, bảng kiểm an toàn phẫu thuật

(surgical safety checklist) là quy trình thực hiện các bước kiểm tra, đối chiếu thông

tin thực hiện an toàn cho NB trong quá trình phẫu thuật [37]

Mục đích thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật nhằm mục đích giúp đội

ngủ NVYT trong ê kíp phẫu thuật cải thiện ATPT và giúp làm giảm tỷ lệ tử vong không đáng có xảy ra do biến cố phẫu thuật gây ra [37]

HUPH

Trang 16

1.1.7.2 Nội dung bảng kiểm an toàn phẫu thuật của TCYTTG

Bảng kiểm ATPT của TCYTTG gồm 19 tiêu chí; chia theo 3 giai đoạn chính

là tiền mê/trước khi gây mê, trước khi rạch da và trước khi NB rời khỏi phòng phẫu thuật Chi tiết bảng kiểm ATPT thể hiện qua hình 1.1 [36]

Hình 1.1: Bảng kiểm an toàn phẫu thuật của Tổ chức y tế Thế giới Tóm tắt các bước của quy trình thực hiện “Bảng kiểm ATPT” chia làm 3 giai

đoạn chính:

Giai đoạn tiền mê/trước khi gây mê

a/ NB đã xác nhận nhận dạng/vùng mổ, phương pháp mổ và đồng ý phẫu thuật chưa?

b/ Vùng mổ có được đánh dấu không?

c/ Việc kiểm tra máy gây mê và thuốc đã hoàn tất chưa?

d/ Có máy đo độ bão hòa oxy trong máu gắn trên NB và hoạt động bình thường

HUPH

Trang 17

không?

e/ NB có tiền sử dị ứng không?

f/ NB có biểu hiện khó thở/nguy cơ hít thở không?

g/ NB có nguy cơ mất máu trên 500 ml không (7 ml/kg ở trẻ em)?

Giai đoạn trước khi rạch da

a/ Xác nhận tên và vai trò của tất cả thành viên ê kíp trong ca phẫu thuật

b/ Xác nhận tên, loại phẫu thuật/thủ thuật và vùng mổ

c/ Kháng sinh dự phòng có được triển khai trong vòng 60 phút trước khi phẫu thuật?

d/ Tiên lượng biến cố bất thường có thể xảy ra

e/ NB có những vấn đề đặc biệt chính và đột xuất là gì? Thời gian diễn ra bao lâu? Tiên lượng mất máu là bao nhiêu?

f/ Đối vối BS GMHS thì có những lo ngại cụ thể nào về NB không?

g/ Đối với đội ngủ ĐD dụng cụ thì cần xác nhận tình trạng vô khuẩn chưa? Có các kết quả chỉ số? Có lo ngại hoặc vấn đề gì về trang thiết bị không?

h/ Chẩn đoán hình ảnh thiết yếu có được hiển thị không?

Giai đoạn trước khi NB rời phòng phẫu thuật

a/ Tên của phẫu thuật, thủ thuật

b/ Hoàn thành việc kiểm tra gạc phẫu thuật, kim tiêm và dụng cụ phẫu thuật

c/ Dán nhãn bệnh phẩm (bao gồm thông tin NB và có cả chữ ký xác nhận của PTV trên nhãn bệnh phẩm)

d/ Liệu có những vấn đề chính nào đáng lo ngại trong chăm sóc hồi sức sau mổ

Trang 18

1.1.7.3 Nội dung của bảng kiểm an toàn phẫu thuật của BVĐK ĐT

Bảng kiểm ATPT gồm 21 tiêu chí của BVĐK ĐT được xây dựng dựa trên 19

tiêu chí bảng kiểm ATPT của TCYTTG và được triển khai thực hiện từ năm 2016 với phân công NVYT thực hiện cụ thể gồm các thành phần đối tượng như BS GMHS, PTV, KTV/ĐD GMHS và ĐD dụng cụ Được thể hiện qua hình 1.2 [ 4],[5]

Hình 1.2: Bảng kiểm an toàn phẫu thuật của Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp

HUPH

Trang 19

1.2 Một số nghiên cứu về thực trạng an toàn phẫu thuật

1.2.1 Thực trạng an toàn phẫu thuật trên thế giới

Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới, cho thấy việc không tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT của NVYT và thông thường là chưa làm đúng mục xác định đúng

vị trí phẫu thuật trong bảng kiểm ATPT Điều đó được thể hiện rõ trong báo cáo của Viện Y Học Mỹ (Institute of Medicine) công bố hàng năm có khoảng 2500 ca phẫu thuật bị mắc lỗi sai sót về vị trí phẫu thuật Trong cuộc điều tra 1050 BS phẫu thuật bàn tay cho thấy rằng có 21% đã từng ít nhất 1 lần mổ sai vị trí trong suốt thời gian

mổ và phương pháp mổ nên đã làm 214 NB thiệt mạng do PTV cắt nhầm các nội tạng [35]

Quy định, quy trình đã được ban hành trong nghiên cứu của Vogts N, Hunnam JA Et al (2011) về việc “Tuân thủ và chất lượng thự hiện bảng kiểm ATPT tại Bệnh Viện Đại Học New Zealand” Trong quan sát 100 ca phẫu thuật ở người lớn thì có kết quả việc tuân thủ thực hiện ba giai đoạn cho thấy mức độ tuân thủ các mục bảng kiểm ATPT trung bình cho giai đoạn tiền mê là 56,0%, cho giai đoạn trước khi rạch da là 69,0% và cho giai đoạn trước khi NB rời phòng phẫu thuật là 40,0% Thời gian thực hiện bảng kiểm là thích hợp trong hơn 80% ca phẫu thuật

HUPH

Trang 20

Sự tham gia của các đội ngủ phẫu thuật trong ê kíp phẫu thuật thường xuyên không đầy đủ [32]

1.2.2 Thực trạng an toàn phẫu thuật tại Việt Nam

Tại Bệnh Viện Từ Dũ, năm 2015 thì vấn đề ATPT sản phụ khoa cũng được

báo cáo rằng có 36 trường hợp sự cố y khoa tại Khoa GMHS trên tổng số 50483 ca

phẫu thuật do NVYT không tuân thủ quy trình thực hiện ATPT cho NB.[7]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyệt (2015), “Đánh giá thực hiện quy

trình đảm bảo ATPT tại Khoa Ngoại Bệnh Viện Đa Khoa Tiên Lãng” Kết quả cho

thấy: ở giai đoạn tiền mê thì các PTV và ĐD đã kiểm tra lại công việc chuẩn bị NB gần như chu đáo, còn một số ít 3% không ký cam kết phẫu thuật do NB phải được

mổ cấp cứu, các thủ tục hành chánh làm sau và còn 5,5% chưa kịp thời hỏi về tiền

sử dị ứng của NB; ở giai đoạn trước khi rạch da thì 100% công việc chính được hoàn tất, còn 39,9% kháng sinh dự phòng là không thực hiện vì chỉ thực hiện sau mổ; ở giai đoạn trước khi NB rời khỏi phòng phẫu thuật thì biên bảng kiểm tra gạc phẫu thuật, dụng cụ phẫu thuật, TTBYT phòng mổ được ghi lại đầy đủ để bàn giao lại cho ê kíp phẫu thuật sau và mục dán mẫu bệnh phẩm thì chưa thực hiện do là Bệnh viện tuyến huyện chưa có xét nghiệm giải phẫu bệnh [18]

Trong nghiên cứu 614 ca phẫu thuật của Ngô Thị Mai Hương và CS (2017),

về việc “Đánh giá kết quả thực hiện SSCs tại khoa Gây Mê Hồi Tỉnh Bệnh viện Sản Nhi Tỉnh Quảng Ninh” Nghiên cứu này đã cho thấy kết quả thực hiện bảng kiểm ATPT qua 3 giai đoạn như sau: Giai đoạn trước khi gây mê thì có các kết quả như là 100% các ca phẫu thuật được xác nhận đúng NB, có biên bản phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật Có 2,1% NB không chuẩn bị vùng mổ Có 90,1% NB được khai thác tiền sử dị ứng và các nguy cơ liên quan trước gây mê Giai đoạn trước khi rạch

da thì có 34,2% thành viên trong ê kíp phẫu thuật giới thiệu tên và nhiệm vụ Có 93% xác nhận tên NB, phương pháp phẫu thuật và vị trí rạch da Có 44,3% không thực hiện kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật 30 phút Có 9% (55 ca PT) các bất thường được BS GMHS nhận định Có 100% các dụng cụ, phương tiện được Điều dưỡng viên xác nhận đảm bảo vô khuẩn Có kiểm tra gạc và dụng cụ chiếm tỷ lệ 97% Có 8,3% thiết bị y tế chưa đạt yêu cầu Giai đoạn trước khi NB rời phòng

HUPH

Trang 21

phẫu thuật thì có 98,7% Điều dưỡng dụng cụ hoàn thành việc kiểm tra gạc, kim và dụng cụ phẫu thuật Việc đọc to nhãn bệnh phẩm cùng tên NB còn 18,6% chưa thực hiện đúng quy định bảng kiểm ATPT [17]

Theo nghiên cứu của Huỳnh Thanh Phong (2018), đã nghiên cứu “Khảo sát việc thực hiện bảng kiểm an toàn người bệnh trong phẫu thuật và một số yếu tố ảnh

hưởng tại Bệnh viện Nhân Dân 115 Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2018” và báo

cáo kết quả thực hiện hoàn thành bảng kiểm là 83,0%, trong đó có giai đoạn tiền mê đạt 88,1%; giai đoạn trước khi rạch da đạt 90,4% và giai đoạn trước khi rời phòng phẫu thuật đạt 94,8% [14]

Trong nghiên cứu của Lê Tiến Thành về “Kiến thức, thực hành an toàn người bệnh trong phẫu thuật của Điều dưỡng- Nữ hộ sinh- Kỹ thuật viên hệ ngoại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2018” chỉ có 20 KTV tham gia trong nghiên cứu thì kết quả thực hành bảng kiểm ATPT đạt chung của đối tượng này là 90% và lần lượt 95% cho giai đoạn trước khi rạch da; 90% cho giai đoạn trước khi

NB rời khỏi phòng phẫu thuật [15]

Theo nghiên cứu của Lương Thị Thoa và CS (2018), về việc “Đánh giá sự tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT tại khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên” Kết quả đánh giá sự tuân thủ thực hiện bảng kiểm trên

1010 ca phẫu thuật: Có 20% NB không được đánh dấu và chuẩn bị vùng phẫu thuật Kiểm tra thuốc và thiết bị gây mê trước phẫu thuật đạt >98,5% Trước khi gây mê,

NB được khai thác kỹ về tiền sử bệnh, dị ứng các nguy cơ có liên quan là 100% Các thành viên trong kíp phẫu thuật chưa hoàn thành việc giới thiệu tên và nhiệm

vụ của mình trước khi phẫu thuật là 4% Các thông tin NB được xác nhận là 98% Việc dùng kháng sinh dự phòng trước khi phẫu thuật là 79% Trước phẫu thuật, PTV tiên lượng được những bất thường có thể xảy ra là 96,6% Có 49 ca chưa tiên lượng được thời gian phẫu thuật, 37 ca không tiên lượng được mất máu Có 96,63%

số ca phẫu thuật được BS GMHS lưu ý trước khi rạch da [16]

HUPH

Trang 22

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật

1.3.1 Nhận thức và thực hành của đội ngũ NVYT

Tại Bệnh viện tỉnh Khánh Hòa, nhóm nghiên cứu của tác giả Võ Văn Tuấn

và CS (2015), nghiên cứu về việc áp dụng bảng kiểm ATPT trên 872 bệnh nhân cũng cho thấy kết quả chưa đạt của đội ngủ NVYT ảnh hưởng trong quá trình thực hiện bảng kiểm ATPT, làm cho các kết quả còn thấp như có 14% kháng sinh dự phòng thực hiện trước 60 phút; 25% PTV có đánh giá lượng máu mất trong phẫu thuật; 47% sự cố bất thường về TTBYT do ĐD dụng cụ không chuẩn bị tốt và chỉ

có 10% sự phối hợp giữa PTV, BS GMHS, ĐD dụng cụ với chăm sóc NB tại hậu phẫu [22]

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà và CS (2016) đã nghiên cứu “Thực trạng thực hiện bảng kiểm ATPT trong tim mạch can thiệp tại Viện Tim Mạch Việt Nam”, đã công bố kết quả về việc không thực hiện bảng kiểm xảy ra trong 26% trường hợp do ý thức việc tuân thủ của NVYT [18]

Trong nghiên cứu của Ngô Thị Mai Hương và CS (2017), về việc “Đánh giá kết quả thực hiện bảng kiểm ATPT tại khoa Gây Mê Hồi Tỉnh Bệnh viện Sản Nhi

Tỉnh Quảng Ninh” Kết quả là bảng kiểm ATPT không được hoàn thiện ngay do

người đánh chưa tự giác thực hiện hoặc do áp lực, yêu cầu công việc Vì vậy việc thực hiện bảng kiểm ATPT thường không được thực hiện đầy đủ, hoặc thực hiện sau khi hoàn thành phẫu thuật [17]

Theo nghiên cứu của Lê Tiến Thành về “Kiến thức, thực hành an toàn người bệnh trong phẫu thuật của Điều dưỡng- Nữ hộ sinh- Kỹ thuật viên hệ ngoại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2018” cũng cho thấy là khả năng thực hành đúng (đạt) của KTV có thâm niên công tác trên hoặc bằng 5 năm thì có kiến thức về

ATPT tốt hơn nhóm mới vào làm, tuy sự khác biệt chưa rõ ràng nhiều [15]

Theo nghiên cứu của Michał Hawranek et al (2011 đến 2012) “Đánh giá ý thức tuân thủ của nhân viên y tế trước và sau can thiệp bằng SSCs” Kết quả cho thấy rằng có ý thức chủ quan của NVYT trong việc thực hiện bảng kiểm dường như

có liên quan đến việc cải thiện kỹ năng giao tiếp, công việc tổ chức, phòng ngừa sự

HUPH

Trang 23

xuất hiện của các lỗi y tế và giảm tỷ lệ biến chứng liên quan đến thủ tục thực hiện bảng kiểm ATPT [29]

Tại Thụy Sĩ, theo nghiên cứu của Cullati S et al (2014) “Thực hiện bảng kiểm ATPT và nhận thức về lợi ích của nó” trong khảo sát cắt ngang 433 lượt nghiên cứu, thì có 152 lượt trả lời nghiên cứu (tỷ lệ 35,1%); 64,7% số người được hỏi thừa nhận có sử dụng bảng kiểm ATPT trong bệnh viện hoặc phòng khám của

họ, BS phẫu thuật (61,6%) Hơn 8 trong số 10 người được hỏi cho biết nhóm của họ

đã áp dụng bảng kiểm ATPT trong phẫu thuật Đa số những người được hỏi đồng ý rằng bảng kiểm ATPT là một công cụ có giá trị để cải thiện an toàn trong phẫu thuật (89,5%), phát triển văn hóa an toàn giữa các nhóm phẫu thuật (75,4%) và thúc đẩy làm việc nhóm (68,8%) Kết quả những nhận thức này là: những người được hỏi không đồng ý với ý kiến cho rằng bảng kiểm ATPT là một sự lãng phí thời gian (68,8%), không mang lại giá trị gia tăng nào cho các quy trình an toàn hiện có (61,5%) và đã không chứng minh được hiệu quả khoa học của nó trong nghiên cứu (53,7%) Ý kiến ít tích cực hơn đối với áp dụng bảng kiểm ATPT tạo điều kiện cho tinh thần đồng đội, và xóa bỏ phân cấp (trong quá trình kiểm soát) giữa các chuyên gia chăm sóc sức khỏe (không đồng ý 43,3%) [25]

Theo nghiên cứu của Schwendimann et al (2017), “Đánh giá nhân viên tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT của TCYTTG tại khoa phẫu thuật của Bệnh viện Đại học Basel, Thụy Sĩ” Kết quả quan sát từ 104 trường hợp thì NVYT thực hiện bảng kiểm cho thấy 32 trường hợp (22%) là tuân thủ đúng, còn lại 72 trường hợp (78%) là không tuân thủ Chủ yếu là các lỗi không có thái độ làm việc nhóm khi phẫu thuật và bỏ qua các bước thực hiện Những yếu tố gây cản trở tuân thủ thực hiện bảng kiểm là thứ nhất là tính nhất quán của bảng kiểm chưa được thống nhất; thứ hai là nội dung bảng kiểm chưa được áp dụng đúng cách và chính xác trong quá trình phẫu thuật [31]

Tại Ủy ban Chất lượng và An toàn Hiệp hội Phẫu thuật Nhi khoa Hoa Kỳ (The American Pediatric Surgical Association Quality and Safety Committee), tác giả Roybal, Jessica MD, MPH et al (2018), đã nghiên cứu về “Bảng kiểm ATPT trong phẫu thuật trẻ em” Kết quả cho thấy thái độ và đánh giá của BS phẫu thuật

HUPH

Trang 24

trong 353 người tham gia khảo sát và đánh giá thì có 93,6% sử dụng bảng kiểm ATPT và 62,6% muốn sử dụng bảng kiểm ATPT trong quá trình phẫu thuật, nhưng chỉ 54,7% cảm thấy rằng bảng kiểm ATPT cải thiện được sự an toàn của NB Lý do cho sự hoài nghi không muốn sử dụng bảng kiểm ATPT bao gồm độ dài của quy trình thực hiện, sự phân tâm từ chăm sóc người bệnh chu đáo và thiếu sự quan tâm

hỗ trợ khi sử dụng Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng bảng kiểm ATPT cải thiện giao tiếp, thúc đẩy làm việc nhóm và xác định lỗi sẽ giảm tỷ lệ không an toàn phẫu thuật cho người bệnh, trong đó yếu tố nhận thức của NVYT là một rào cản lớn

để thực hiện bảng kiểm ATPT [30]

1.3.2 Cách thức quản lý thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật của bệnh viện

Trong 33 trường hợp nghiên cứu của Jonathan R Treadwell , Scott Lucas và Amy Y Tsou (2012), “Bảng kiểm ATPT và đánh giá các tác động hệ thống khi thực hiện bảng kiểm ATPT” Nghiên cứu đã báo cáo kết quả bao gồm tránh các sự kiện bất lợi, người hỗ trợ và các rào cản để thực hiện bảng kiểm ATPT

Cụ thể là lý do thành công trong nghiên cứu: thứ nhất là cách thức quản lý thực hiện SSCs của lãnh đạo cấp trên (bao gồm đào tạo tốt và hiểu nhân viên, cập nhật và sửa đổi nội dung kiểm tra kịp thời, phân công trách nhiệm thực hiện, tạo cảm giác thoải mái của các thành viên trong nhóm phẫu thuật, quy trình thực hiện từng bước kết hợp phản hồi thời gian thực hiện, tăng cường giao tiếp và làm việc nhóm); thứ hai là lãnh đạo nhận thức được rào cản đối với việc thực hiện thường rơi vào bốn loại như

là nhầm lẫn về cách sử dụng đúng bảng kiểm ATPT, những thách thức thực tế đối với quy trình làm việc hiệu quả, tiếp cận nguồn lực, niềm tin và thái độ cá nhân thực

hiện bảng kiểm ATPT [26]

Cũng trong kết quả nghiên cứu của Lê Tiến Thành (2018), về việc “Kiến thức, thực hành an toàn người bệnh trong phẫu thuật của Điều dưỡng- Nữ hộ sinh- Kỹ thuật viên hệ ngoại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2018” Có các kết quả

cụ thể: thứ nhất là ĐD trưởng Bệnh viện biết đã xây dựng các quy trình, các tiêu chuẩn phẫu thuật, thực hiện kháng sinh dự phòng trước mổ, đánh giá vị trí mổ và

HUPH

Trang 25

giao nhận NB trước mổ Đặc biệt, Bệnh viện vừa triển khai bảng kiểm ATPT tại tất

cả các khoa liên quan đến phẫu thuật; thứ hai là Bệnh viện thiết lập hệ thống báo

cáo sự cố y khoa để ngăn ngừa để ngăn ngừa và kiểm soát các sự cố; định kỳ kiểm tra, giám sát việc thực hiện và sử dụng bảng kiểm tại tất cả các khoa để kịp thời có những điều chỉnh phù hợp, nhằm đảm bảo ATPT tốt nhất cho NB [15]

Theo nghiên cứu “Khảo sát việc thực hiện bảng kiểm an toàn người bệnh trong phẫu thuật và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Nhân Dân 115 Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2018” của tác giả Huỳnh Thanh Phong, kết quả cho thấy rằng: thứ nhất là nhận thức và sự quan tâm kịp thời của lãnh đạo Bệnh viện về vai trò của bảng kiểm ATPT trong việc tăng cường đảm bảo an toàn cho NB trong PT đã giúp cho việc thực hiện bảng kiểm được nhất quán và thuận lợi; thứ hai là cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá, động viên, khen thưởng cũng là yếu tố không nhỏ để quá trình thực hiện bảng kiểm ATPT được diễn ra liên tục, đầy đủ Quá trình triển khai nếu không có giám sát và đánh giá sẽ chắc chắn xảy ra sai sót, vì tỷ lệ tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT sẽ bị tác động nhiều bởi cơ chế giám sát và đánh giá Bệnh viện làm tương đối tốt công tác kiểm tra thường xuyên và có cơ chế khen thưởng

chon ê kíp phẫu thuật theo định kỳ [14]

Cũng theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hà và CS (2016) đã nghiên cứu

“Thực trạng thực hiện bảng kiểm ATPT trong tim mạch can thiệp tại Viện Tim

Mạch Việt Nam”, cũng đã cho thấy kết quả ảnh hưởng việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT ở các đơn vị dần tốt lên sau mỗi lần giám sát và can thiệp của lãnh đạo bệnh viện Nên tác giả cũng đã khuyến nghị lãnh đạo bệnh viện có chính sách động viên, khen thưởng những đơn vị và cá nhân tuân thủ thực hiện tốt bảng kiểm ATPT [18]

1.3.3 Đặc điểm ca phẫu thuật ảnh hưởng đến việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật

Trong nghiên cứu của Ngô Thị Mai Hương và CS (2017), về việc “Đánh giá kết

quả thực hiện bảng kiểm ATPT tại khoa Gây Mê Hồi Tỉnh Bệnh viện Sản Nhi Tỉnh

Quảng Ninh” Kết quả là đối với các bệnh nhân thuộc diện cấp cứu phải thực hiện

ngay việc phẫu thuật Vì vậy việc thực hiện bảng kiểm ATPT thường không được

HUPH

Trang 26

thực hiện đầy đủ, hoặc thực hiện sau khi hoàn thành phẫu thuật [17]

Trong kết quả nghiên cứu “Khảo sát việc thực hiện bảng kiểm an toàn người bệnh trong phẫu thuật và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Nhân Dân 115

Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2018” của Huỳnh Thanh Phong, cho thấy rằng: thứ nhất là thời gian thực hiện ca phẫu thuật nếu quá dài (>4 giờ) sẽ để tâm sinh lý mệt

mỏi, chủ quan nên sẽ bỏ qua một số bước khi thực hiện quy trình của SSCs Và quá

trình giám sát cho ca mổ kéo dài thì cũng phức tạp hơn, dễ gián đoạn; thứ hai là mức độ phức tạp, khó khăn của loại phẫu thuật (Phẫu thuật loại đặc biệt, I, II, III

hay thủ thuật) và Phân loại ASA (I, II, III, IV, V ) cộng với số lượng ca phẫu thuật

nhiều và sự quá tải của các phòng mổ dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ việc tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT, gây phẫu thuật không an toàn cho NB khi phẫu thuật;

thứ ba là phương thức ca phẫu thuật là những ca phẫu thuật chương trình hoặc ca

phẫu thuật cấp cứu tối khẩn và đặc biệt phải thông qua nhiều bước, đôi khi sự phức tạp sẽ làm cho đội ngũ NVYT của ê kíp phẫu thuật quá tập trung vào công việc chuyên môn mà quên đi việc thực hiện bảng kiểm ATPT hoặc thực hiện bảng kiểm ATPT trước hoặc thực hiện bảng kiểm ATPT sau cuộc mổ [14]

1.3.4 Trang thiết bị y tế và cơ sở hạ tầng phòng mổ của Bệnh viện

Cũng theo nghiên cứu “Khảo sát việc thực hiện bảng kiểm an toàn người bệnh trong phẫu thuật và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện Nhân Dân 115 Thành

Phố Hồ Chí Minh, năm 2018” của Huỳnh Thanh Phong, kết quả cho thấy rằng

TTBYT và cơ sở hạ tầng phòng mổ của Bệnh viện là một yếu tố giúp ca phẫu thuật diễn ra thành công và thuận lợi; tạo trạng thái và cảm giác tốt cho ê kíp phẫu thuật

để họ thấy được vai trò của bảng kiểm, cũng như thay đổi suy nghĩ về thực hiện bảng kiểm ATPT là phiền hà, tốn thời gian Tuy nhiên, do số lượng NB phẫu thuật ngày càng nhiều nên số lượng phòng mổ không đáp ứng đầy đủ và cộng với áp lực phải hoàn thành ca mổ sớm thì đội ngủ ê kíp phẫu thuật có thể đã bỏ qua một số nội dung trong việc thực hiện bảng kiểm ATPT vì nghĩ rằng nó không cần thiết hoặc tốn thời gian Do đó Bệnh viện đã cân nhắc để bổ sung, bố trí thêm số lượng phòng

mổ để đáp ứng nhu cầu về phẫu thuật [14]

HUPH

Trang 27

Còn theo kết quả nghiên cứu của Lê Tiến Thành (2018), về việc “Kiến thức, thực hành an toàn người bệnh trong phẫu thuật của Điều dưỡng- Nữ hộ sinh- Kỹ thuật viên hệ ngoại tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2018” Kết quả đối tượng nghiên cứu cho rằng TTBYT là đầy đủ, chất lượng tốt để phục vụ cho công việc thực hiện bảng kiểm chiếm 34,5% và chiếm 16,0% cho rằng chưa đầy đủ, chất lượng chưa tốt [15]

Trong nghiên cứu của Lương Thị Thoa và CS (2018), về việc “Đánh giá sự tuân

thủ thực hiện bảng kiểm ATPT tại khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện Đa khoa Trung

ương Thái Nguyên” Kết quả đánh giá sự tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT trên

1010 ca phẫu thuật đã thể hiện công tác chuẩn bị dụng cụ đảm bảo vô khuẩn đạt tỷ

lệ 100%, dụng cụ và gạc phẫu thuật được kiểm tra đầy đủ, có 6/1010 (0,56%)

TTBYT chưa đạt yêu cầu phục vụ thực hiện bảng kiểm ATPT [16]

1.4 Sơ lược tình hình hiện nay của Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp

BVĐK ĐT là Bệnh viện Tỉnh hạng I, thuộc Sở Y Tế Tỉnh, có 41 khoa/phòng trong đó có 07 phòng chức năng, 24 Khoa lâm sàng, 2 Đơn vị Chuyên khoa là Đột quị, Cấp cứu sản, 10 khoa cận lâm sàng và không giường bệnh, 1000 Giường kế hoạch, 1340 Giường thực kê và có 905 cán bộ viên chức

Quản lý kinh tế y tế BVĐK ĐT là Bệnh viện tự chủ tài chính vào đầu năm 2018

và thực hiện Nghị Định 43 của Chính Phủ có hiệu quả và kết quả là thu nhập tăng thêm đạt 1,1 lần lương

Điểm chất lượng bệnh viện tại BVĐK ĐT 2018 đạt điểm trung bình chung của

các tiêu chí là 3.60

Nhân sự của Khoa PT-GMHS có 64 nhân viên gồm có: 1 TS.BS GĐBV, 1 BS.CKII Trưởng khoa, 2 BS.CKI Phó trưởng khoa, 2 BS.CKI Điều trị, 3 BS Điều trị, 1 Thạc sĩ quản lý bệnh viện Điều Dưỡng Trưởng Khoa, 3 ĐD Hành Chánh, 16

Cử Nhân ĐD Chăm sóc hồi sức ngoại và Hồi Tỉnh, 3 Cử Nhân GMHS, 13 ĐD/KTV GMHS, 14 ĐD Phụ dụng cụ

Trang thiết bị y tế và cơ sở hạ tầng của Khoa PT-GMHS gồm có TTBYT kèm theo 7 phòng mổ, 1 phòng nhận bệnh phẫu thuật, 1 phòng khám tiền mê, 2 bộ phận

hồi tỉnh, 3 bộ phận hồi sức ngoại, 2 phòng hành chính,…

HUPH

Trang 28

1.5 Khung lý thuyết:

Hình 1.3: Khung lý thuyết đánh giá mức độ an toàn phẫu thuật bằng bảng

kiểm tại Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp HUPH

Trang 29

CHƯƠNG 2:

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng

Ca phẫu thuật tại Khoa PTGM-HS của Bệnh viện Đa Khoa Đồng Tháp trong

thời gian nghiên cứu

Tiêu chuẩn chọn:

- Ca phẫu thuật có thời gian phẫu thuật ít hơn 4 giờ (vì theo TCYTTG khuyến cáo thời gian thực hiện mỗi gian đoạn của bảng kiểm ATPT không nên kéo dài quá một phút)

- Ca phẫu thuật được tiến hành tại phòng mổ của Khoa PT-GMHS

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Ca thủ thuật được tiến hành tại phòng mổ của Khoa PT-GMHS

- Ca phẫu thuật là NB bị rối loạn tâm thần hoặc không có người giám hộ

2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính

- Nhóm lãnh đạo quản lý gồm giám đốc, trưởng khoa PT-GMHS, trưởng phòng quản lý chất lượng, PTV trưởng khoa

- Nhóm NVYT thực hiện bảng kiểm ATPT gồm PTV, BS GMHS, KTV/ĐD GMHS, ĐD dụng cụ

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Từ tháng 03/2020 đến tháng 06/2020

- Tại khoa PTGM-HS của Bệnh Viện Đa Khoa Đồng Tháp

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính

HUPH

Trang 30

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu

2.4.1 Đối với nghiên cứu định lượng

2 = 1,96 (với mức ý nghĩa α = 0,05)

d: độ chính xác mong muốn (mức sai số cho phép) là 0,06 n: số trường hợp phẫu thuật điều tra

p= 0,83 (Vì dựa theo nghiên cứu tương đồng của Huỳnh Thanh Phong , năm

2018 tại BV Nhân Dân 115 Thành Phố Hồ Chí Minh, thì tỷ lệ p hoàn thành bảng kiểm ATPT đạt 83%)[14]

2.4.2 Đối với nghiên cứu định tính

Bảng 2.1: Bảng số lượng cỡ mẫu nghiên cứu định tính

Thành phần Đối tượng (Mã hóa) Số lượng phỏng vấn sâu

Trang 31

2.5 Phương pháp chọn mẫu

2.5.1 Đối với nghiên cứu định lượng

Tại BVĐKĐT, trong 6 tháng đầu năm 2019 có 6.437 ca PT do đó nghiên cứu

sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống trong 3 tháng nghiên cứu theo công thức:i + n.k và trong đó có:

i: số ngẫu nhiên giữa 1 và k (chọn i = 1)

n: cỡ mẫu (n = 150)

k: khoảng cách chọn mẫu (k = 3150/150= 21)

Vậy chọn k = 21, có ý nghĩa là cứ cách 21 ca phẫu thuật thì chọn 1 ca phẫu thuật vào mẫu Như vậy, ca phẫu thuật có số thứ tự là i + 0k, i + 1k, i + 2k… được đưa

vào mẫu (ca phẫu thuật thứ 1, 22, 43,…)

2.5.2 Đối với nghiên cứu định tính

Chọn mẫu định tính có chủ đích cho nhóm lãnh đạo và nhóm NVYT thực hiện gồm 8 cuộc PVS theo bộ câu hỏi nghiên cứu định tính được xây dựng, chỉnh sửa dựa trên bộ câu hỏi của tác giả Huỳnh Thanh Phong và phải được Hội đồng nghiên cứu thông qua trước khi thu thập

Thông tin thu thập từ mẫu định tính nhằm trả lời cho mục tiêu 2 của nghiên cứu Từ đó, nhà nghiên cứu đề xuất những khuyến nghị thích hợp cho bệnh viện quản lý thực hiện ngày càng tốt hơn

2.6 Phương pháp thu thập số liệu

2.6.1 Số liệu định lượng

- ĐTV thu thập thông tin định lượng bằng cách quan sát ca phẫu thuật theo

bộ công cụ nghiên cứu trong phụ lục 3 và đánh giá có hay không thực hiện của bốn đối tượng gồm PTV, BS GMHS, KTV/ĐD GMHS và ĐD dụng cụ trong mỗi ca PT

Bước 1: ĐTV thu thập từ hồ sơ bệnh án các thông tin chung của ca phẫu

thuật và thông tin từng nhóm đối tượng NVYT được phân công thực hiện

Bước 2: ĐTV quan sát từng nhóm đối tượng NVYT được phân công thực

hiện các mục bảng kiểm ATPT cho đến khi ca phẫu thuật mổ xong

Bước 3: ĐTV đánh giá bảng kiểm ATPT có đạt đầy đủ và đúng hướng dẫn

phía dưới trong hình 1.2, bao gồm nội dung giải thích nguy cơ phẫu thuật trong mục

HUPH

Trang 32

1.1 của PTV và cả hai chữ ký của hai đối tượng ĐD dụng cụ và ĐD/KTV GMHS dựa trên bảng phân công trong phụ lục 6

- Phiếu thu thập số liệu dựa trên bộ công cụ thu thập bảng kiểm an toàn phẫu thuật của BVĐKĐT đã xây dựng sẵn dựa trên tiêu chí của bảng kiểm ATPT của TTYTTG xây dựng năm 2009 và phải được thông qua Hội đồng nghiên cứu trước khi thu thập

2.6.2 Số liệu định tính

- Thời gian PVS kéo dài khoảng 30 đến 45 phút

- Thu thập nội dung PVS từ các đối tượng nghiên cứu được chọn dựa trên cỡ mẫu

- Nghiên cứu viên tiến hành PVS theo bộ câu hỏi nghiên cứu đã xây dựng

sẵn và đã được Hội đồng nghiên cứu thông qua (phụ lục 1 và 2)

2.7 Các biến số nghiên cứu chính

Bảng 2.2: Biến số nghiên cứu chính

Phương pháp thu thập

Nhị phân Thu thập

từ kết quả thực hiện bảng kiểm

2 Tỷ lệ tuân thủ

thực hiện bảng

kiểm ATPT giai

đoạn trước khi

gây mê

Là tỷ lệ NVYT thực hiện đạt 100% các mục của bảng kiểm ATPT thuộc giai đoạn trước khi gây mê

Nhị phân Thu thập

từ kết quả thực hiện bảng kiểm

3 Tỷ lệ tuân thủ

thực hiện bảng

kiểm ATPT giai

Là tỷ lệ NVYT thực hiện đạt 100% các mục của bảng kiểm ATPT thuộc giai đoạn trước khi rạch da

Nhị phân Thu thập

từ kết quả thực hiện

HUPH

Trang 33

TT Tên biến số Định nghĩa Loại biến

Phương pháp thu thập

đoạn trước khi

ATPT thuộc giai

đoạn trước khi

người bệnh rời

phòng phẫu

thuật

Là tỷ lệ NVYT thực hiện đạt 100% các mục của bảng kiểm ATPT thuộc giai đoạn trước khi người bệnh rời phòng phẫu thuật

Nhị phân Thu thập

từ kết quả thực hiện bảng kiểm

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

2.8.1 Phương pháp phân tích các số liệu định lượng

Phân tích số liệu định lượng dựa theo biến số định lượng trong phụ lục 5.1 để cho ra kết quả của mục tiêu nghiên cứu 1

Số liệu sau khi thu thập sẽ được mã hóa, làm sạch được nhập bằng phần mềm nhập liệu Epi data 3.1 và phân tích bằng SPSS 20.0

Sử dụng phương pháp thống kê mô tả phù hợp cho các biến số và đáp ứng mục tiêu nghiên cứu 1, tính giá trị thực hành bảng kiểm ATPT bằng tần số, tỷ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn

HUPH

Trang 34

Phân tích mối quan hệ giữa các thông tin chung của các phẫu thuật và mức

độ đạt tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT qua 3 giai đoạn dựa trên kiểm định chi

bình phương với độ tin cậy là 95% (p= 0,05)

Quan sát NVYT tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT dựa trên “Quy định

phân công đánh giá tuân thủ thực hiện các bước của quy trình bảng kiểm ATPT”

Tính mỗi giai đoạn thực hiện các mục của bảng kiểm là 100% và tổng các mục không thực hiện của giai đoạn trước gây mê, giai đoạn trước khi rạch da và giai đoạn trước khi người bệnh rời phòng phẫu thuật chia trung bình để cho ra kết quả không đạt của bảng kiểm

2.8.2 Phương pháp phân tích số liệu định tính

Nội dung PVS theo từng đối tượng thỏa chọn mẫu định tính được phân theo hai nhóm đối tượng là nhóm lãnh đạo và nhóm thực hiện

Số liệu nghiên cứu định tính được xử lý bằng phương pháp mã hóa theo chủ đề; nội dung các cuộc PVS được tóm tắt, sắp xếp và hình thành các tiểu mục theo chủ đề Những ý kiến tiêu biểu được lựa chọn để trích dẫn minh họa

Phân tích số liệu định tính dựa theo chủ đề thông tin định tính trong phụ lục 5.2 để trả lời cho mục tiêu nghiên cứu 2

2.9 Đạo đức nghiên cứu

Các bước thực hiện nội dung nghiên cứu phù hợp thực tế tại Khoa PTGMHS, được Ban giám đốc BVĐKĐT quan tâm ủng hộ và được Hội Đồng Nghiên Cứu Khoa Học Bệnh Viện thông qua vào ngày 01 tháng 03 năm 2020

Nghiên cứu được thông qua sự tuân thủ xét duyệt của Hội Đồng Đạo Đức Trường Đại học Y Tế Công Cộng Hà Nội chấp thuận ngày 03 tháng 04 năm 2020,

số 135/2020/YTCC-HDD3

Đối tượng nghiên cứu được giải thích về mục đích nghiên cứu, nội dung nghiên cứu trước khi tiến hành quan sát và PVS khi có sự chấp nhận của đối tượng nghiên cứu

Mọi thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu sẽ được giữ kín Các dữ liệu thông tin thu thập được nhằm phục vụ cho mục đích nghiên cứu khoa học y học, không phục vụ cho mục đích nào khác

HUPH

Trang 35

Kết quả nghiên cứu được thông báo cho Ban Giám Đốc và phổ biến cho đội ngũ NVYT của BVĐK ĐT khi kết thúc nghiên cứu Kết quả nghiên cứu có thể làm

cơ sở cho việc cải tiến quy trình thực hiện “Bảng kiểm ATPT” cho Bệnh Viện và nhằm mục đích nâng cao chất lượng dịch vụ phẫu thuật tại Khoa PTGMHS, cũng như thể hiện uy tín mức độ ATPT đạt mức độ bảo đảm an toàn cao cho người bệnh trong phẫu thuật tại BVĐK ĐT

2.10 Hạn chế, sai số của nghiên cứu và biện pháp khắc phục

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu

Do thời gian nghiên cứu trong thời gian dịch bệnh Covid- 19 đang xảy ra, nên số lượng ca phẫu thuật được chọn ngẫu nhiên chưa được nhiều đúng như dự kiến chọn mẫu mà chỉ chọn ngẫu nhiên tất cả, cụ thể là chọn 4 ca phẫu thuật vào buổi sáng và chọn ngẫu nhiên 2 ca vào buổi tối cho đến khi đủ mẫu nghiên cứu

Quan sát thu thập thông tin của ĐTV còn có sự nể nang ê kíp phẫu thuật nên gặp một số yếu tố mang tính thiết thực chưa cao có thể sai số khoa học của nghiên cứu khảo sát thực trạng

Do nguồn lực về thời gian ngắn và nhân lực hạn chế nên nghiên cứu chỉ đánh giá đối tượng trường hợp phẫu thuật tham gia nghiên cứu còn chưa nhiều, không thể đánh giá tất cả các đối tượng NVYT tham gia nghiên cứu (số lượng PVS còn ít, chưa thu thập hết ý kiến của đối tượng nghiên cứu là NVYT của các khoa liên quan đến phẫu thuật người bệnh)

Bộ công cụ “Đánh giá mức độ ATPT bằng bảng kiểm tại BVĐKĐT, năm

2020 và một số yếu tố ảnh hưởng” đã được BVĐKĐT xây sẵn dựa theo các tiêu chí

từ bộ công cụ bảng kiểm an toàn phẫu thuật của TCYTTG

2.10.2 Sai số của nghiên cứu

Sai số do đối tượng nghiên cứu trả lời không đúng sự thật hoặc do câu hỏi không nhất quán, hiểu sai, bỏ sót câu hỏi

Sai số do quá trình quan sát chưa đầy đủ thông tin và còn nể nang đối tượng nghiên cứu nên số lượng ca phẫu thuật chưa đồng đều giữa các chuyên khoa

Sai số trong quá trình nhập liệu, mã hóa và làm sạch số liệu

HUPH

Trang 36

2.10.3 Biện pháp khắc phục:

Nghiên cứu viên đã giải thích rõ mục đích nghiên cứu và tính bảo mật của

thông tin đối với đối tượng nghiên cứu

Quá trình quan sát mang tính trung thực, khách quan để thu thập thông tin đầy đủ, chính xác dưới sự giám sát của lãnh đạo khoa PTGMHS

Giám sát chặt chẽ trong quá trình thu thập số liệu và kiểm soát số liệu sau khi thu thập sẽ được mã hóa, làm sạch và thực hiện nhập liệu bởi chính nghiên cứu viên

HUPH

Trang 37

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thông tin chung về ca phẫu thuật

Bảng 3.1: Thông tin về đặc điểm ca phẫu thuật

Thông tin chung Tần số (n) Tỷ lệ (%)

Trang 38

Bảng 3.1 thể hiện các thông tin chung từ 150 ca phẫu thuật được quan sát cơ bản như sau:Về giới tính thì chiếm đa số là nữ giới có 60,0%; Về loại phẫu thuật thì thể hiện các ca phẫu thuật ngày càng khó và phức tạp chuyên sâu với ca phẫu thuật loại

I chiếm cao nhất là 53,3% và không có ca phẫu thuật loại IV cùng với phân loại ASA của người bệnh góp phần ca phẫu thuật ngày càng phức tạp cao với ASA II là chiếm nhiều nhất là 78,7%; Về thời gian phẫu thuật thể hiện trình độ phẫu thuật chuyên khoa ngày càng sâu nên chiếm đa số thời gian phẫu thuật từ 30 phút đến 60 phút là 45,3%; Về phương thức phẫu thuật thể hiện uy tín phẫu thuật của Bệnh viện ngày càng cao với phẫu thuật chương trình là 71,3%; Về chuyên khoa phẫu thuật bộc lộ sự chưa đồng đều giữa các chuyên khoa như cao nhất khi quan sát là Khoa sản có 26,7% và thấp nhất là chuyên khoa ung bướu có 4,0%; Về phương pháp vô cảm thường quy nhiều nhất là mê NKQ với 58,0%

3.2 Kết quả tuân thủ thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật ba giai đoạn

3.2.1 Kết quả tuân thủ thực hiện bảng kiểm giai đoạn tiền mê

Bảng 3.2: Kết quả PTV và KTV GMHS thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật

giai đoạn tiền mê

1.1 NB đã xác nhận, nhận dạng vùng

mổ và đồng ý PT

Bảng 3.2 thể hiện mục 1.1 với nội dung người bệnh đã xác nhận, nhận dạng vùng

mổ và đồng ý phẫu thuật được thực hiện trên 150 ca phẫu thuật thì 37,3% không được thực hiện, trong đó PTV chưa hoàn thành giải thích thông tin liên quan đến nguy cơ phẫu thuật là 24,0% và KTV GMHS không kiểm tra thông tin nhận dạng người bệnh không có đeo lắc tay thông tin người bệnh là 13,3%

HUPH

Trang 39

3.2.1 Kết quả tuân thủ thực hiện bảng kiểm giai đoạn tiền mê

Bảng 3.3: Kết quả PTV thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật giai đoạn tiền mê

1.3 Thuốc và thiết bị gây mê đã được

kiểm tra đầy đủ

1.5 NB có các nguy cơ : Tiền sử dị ứng 148 98,7 2 1,3

Nguy cơ mất máu trên 500ml

(7ml/kg ở trẻ em)

Bảng 3.4 thể hiện sự tuân thủ thực hiện các mục 1.3, mục 1.4, mục 1.5 giai đoạn tiền mê của KTV/ĐD trên 150 ca phẫu thuật thì không tuân thủ thực hiện bảng kiểm ATPT là 1,3%

HUPH

Trang 40

3.2.2 Kết quả tuân thủ thực hiện bảng kiểm giai đoạn trước khi rạch da

Bảng 3.5: Kết quả KTV/ĐD GMHS thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật giai

đoạn trước khi rạch da

Bảng 3.6: Kết quả PTV thực hiện bảng kiểm an toàn phẫu thuật giai đoạn trước khi

Bảng 3.6 thể hiện kết quả PTV tuân thủ thực hiện mục 2.3 bảng kiểm ATPT giai

đoạn trước khi rạch da trên 150 ca phẫu thuật thì PTV không thực hiện dự kiến bất thường có thể xảy ra và dự kiến thời gian phẫu thuật là 2,7%

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm