ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5 năm 2019 đến tháng 10 năm 2019 tại Quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp định lượng và định tính
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Mẫu định lượng : Chọn toàn bộ 64 phòng XQ
Mẫu định tính : Chọn ngẫu nhiên
- 02 cơ sở 01 cơ sở tư nhân, 01 cơ sở công lập
- 02 Bác sĩ chuyên khoa X quang : 01 Bác sĩ chuyên khoa X quang cơ sở tuân thủ quy định về an toàn bức xạ
- 01 lãnh đạo BV phụ trách trực tiếp khối cận lâm sàng cơ sở nhà nước
- 02 Trưởng phòng trang thiết bi y tế 01 trưởng phòng cơ sở tư nhân
- 01 Trưởng phòng cơ sở nhà nước
- 01 Trưởng phòng quản lý ATBX thuộc Sở khoa Học và Công nghệ
- 02 nhóm kỹ thuật viên XQ: 01 tư nhân; 01 nhà nước
- 02 nhóm (01 nhóm nhân viên XQ tư nhân 01 nhóm nhân viên XQ nhà nước Mỗi nhóm 06-08 người)
Các biến số nghiên cứu
* Mục tiêu 1 : Mô tả thực trạng điều kiện an toàn các phòng X quang ở các cơ sở y tế
- Nhóm biến đèn, biển cảnh báo, bảng nội quy ATBX
- Nhóm biến vị trí và thiết kế phòng chụp X quang
- Nhóm biến phòng điều khiển
- Nhóm biến phòng xử lý phim
- Nhóm biến an toàn bức xạ thiết bị X quang
- Nhóm biến lưu trữ hồ sơ an toàn bức xạ
- Nhóm biến kế quả đo suất liều bức xạ
- Nhóm biến công tác đào tạo an toàn bức xạ, chăm sóc sức khỏe
Mục tiêu 2: Những yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình an toàn bức xạ tại các phòng X quang
- Yếu tố nhân viên X quang: chưa nhận thức được tác hại chưa được đào tạo tập huấn về an toàn bức xạ đầy đủ
Lãnh đạo các bệnh viện và cơ sở X quang tư nhân chưa chú trọng đến việc tuân thủ quy trình an toàn bức xạ, đồng thời chưa đầu tư thích đáng cho việc kiểm tra và giám sát Việc thiếu khen thưởng và kỷ luật cũng góp phần làm giảm hiệu quả trong công tác này.
- Yếu tố thanh tra kiểm tra giám sát từ phía cơ quan quản lý nhà nước.
Công cụ và phương pháp thu thập thông tin
2.6.1 Công cụ thu thập số liệu
- Nghiên cứu định lượng: quan sát bằng bảng kiểm để đánh giá điều kiện an toàn phòng X quang (phụ lục 1)
Phỏng vấn sâu (phụ lục 4,5,6,7)
Thảo luận nhóm (phụ lục 2)
2.6.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Quá trình thu thập số liệu được thực hiện theo các bước sau:
Điều tra viên (ĐTV) cũng chính là nghiên cứu viên, (NCV) đã được đào tạo về quy trình và phương pháp thu thập số liệu
Trước khi thu thập số liệu, NCV đã lập danh sách các phòng X quang trên toàn quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ Sau đó, NCV đã liên hệ trực tiếp để trình bày mục đích nghiên cứu, phương pháp thu thập số liệu, kế hoạch nghiên cứu và thời gian thực hiện Cuối cùng, NCV đã xin xác nhận từ các đơn vị để được phép tiến hành nghiên cứu.
- Nghiên cứu định lượng: quan sát thực địa Phòng X quang và thực hành của nhân viên X quang, ghi nhận các số liệu theo nội dung nghiên cứu
Đèn biển báo, bảng nội quy, vị trí thiết kế phòng chụp X quang, phòng điều khiển, mã nhãn hiệu thiết bị X quang
Xem xét số liệu thứ cấp từ sổ sách ghi nhận theo nội dung nghiên cứu, bao gồm kiểm định thiết bị X quang đã được cấp phép và có bộ lọt tia Cần theo dõi liều chiếu xạ cá nhân, hồ sơ suất liều môi trường, và hồ sơ kiểm tra chất lượng thiết bị Đồng thời, cần lưu trữ hồ sơ khám sức khỏe định kỳ của nhân viên bức xạ cùng với kết quả đo suất liều hàng năm Cuối cùng, hồ sơ đào tạo an toàn bức xạ và trang bị bảo hộ lao động cho nhân viên cũng rất quan trọng.
Nghiên cứu định tính được thực hiện bằng cách liên hệ với ĐTNC để thống nhất lịch hẹn tại phòng hành chính của khoa chẩn đoán hình ảnh hoặc phòng họp của đơn vị X quang tư nhân Trong mỗi buổi thu thập dữ liệu, NCV sẽ thông báo rõ mục đích nghiên cứu ĐTNC sẽ được cung cấp “Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu” để đọc Nếu đồng ý tham gia, ĐTNC sẽ ký vào phiếu và tiến hành phỏng vấn trực tiếp.
Mỗi cuộc phỏng vấn sẽ do NCV chính thực hiện, trong đó NCV sẽ đặt câu hỏi hoặc gợi ý cho ĐTNC trả lời Đảm bảo rằng nội dung phỏng vấn được thực hiện đầy đủ và kết thúc đúng thời gian NCV sẽ kiểm tra lại các câu trả lời để phát hiện và điều chỉnh kịp thời nếu có thiếu sót.
Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn từ 20 - 35 phút
Nghiên cứu viên sử dụng máy ghi âm bằng điện thoại, và ghi chép nhanh nội dung thông tin thu được trong các cuộc PVS và TLN.
Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu định lượng thu thập sẽ được làm sạch, nhập và quản lý bằng phần mềm SPSS 20.0
- Phân tích thống kê mô tả tần số tỷ lệ phần trăm (%)
Số liệu định tính được phân tích theo các chủ đề nghiên cứu nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự tuân thủ quy định an toàn bức xạ Bài viết cũng đề cập đến những khó khăn và thuận lợi trong công tác tuân thủ an toàn bức xạ tại phòng X quang, cùng với các giải pháp cải thiện để nâng cao điều kiện an toàn cho phòng X quang.
Tiêu chí và cách đánh giá
2.8.1 Đánh giá việc tuân thủ an toàn của cơ sở X-quang
* Nhóm an toàn bức xạ về đèn, biển cảnh báo, bảng nội quy ATBX
- Các nhóm biến số nghiên cứu của phòng X quang
Trang bị đầy đủ đèn, biển cảnh báo khu vực bức xạ và bảng nội quy an toàn bức xạ là rất quan trọng Qua quan sát thực tế tại các phòng X quang, những nơi có trang bị đầy đủ được đánh giá đạt tiêu chuẩn, trong khi những nơi thiếu sót sẽ không đạt yêu cầu.
* Bố trí thiết kế phòng X quang
Vị trí phòng chụp X quang cần được xem xét kỹ lưỡng, đặc biệt là sự liền kề với nhà dân và các khoa như Sản và Nhi Nếu phòng X quang nằm gần nhà dân, điều này không đạt yêu cầu, trong khi nếu không có sự liền kề này, phòng sẽ đạt tiêu chuẩn.
Cửa ra vào phòng chụp X-quang cần được ốp chì đầy đủ và phải luôn đóng kín khi nhân viên thao tác với bệnh nhân Việc quan sát thực tế cho thấy nếu cửa ra vào đóng kín thì đạt yêu cầu, ngược lại, nếu cửa không đóng kín sẽ không đạt tiêu chuẩn.
Để đảm bảo an toàn trong các phòng X quang, việc ốp chì đúng quy định 1,5mm là rất quan trọng Các phòng có ốp chì đầy đủ sẽ đạt tiêu chuẩn, trong khi những phòng không được ốp chì sẽ không đạt yêu cầu.
- Kính chì ô cửa quan sát từ phòng điều khiển quan sát trực tiếp có ô kính chì đầy đủ thì đạt, không có thì không đạt
Chiều cao tấm chì đạt tiêu chuẩn quy định là 2m Qua việc quan sát trực tiếp tại các phòng X quang, kích thước được đo bằng thước dây (m) cho thấy tấm chì đạt yêu cầu nếu đúng kích thước, ngược lại sẽ không đạt.
Phòng chụp X quang được thiết kế với vị trí biệt lập và có phòng điều khiển riêng biệt, đầy đủ trang thiết bị Để đảm bảo tiêu chuẩn, việc quan sát trực tiếp từ phòng điều khiển đến các phòng X quang là điều kiện cần thiết; nếu không có khả năng quan sát này, phòng sẽ không đạt yêu cầu.
Bảng hướng dẫn vận hành chế độ chụp X quang là tài liệu quan trọng trong kế hoạch ứng phó sự cố tại phòng điều khiển Để đảm bảo an toàn và hiệu quả, nhân viên X quang cần thực hiện quan sát trực tiếp phòng điều khiển; nếu đầy đủ trang thiết bị và điều kiện thì đạt yêu cầu, ngược lại sẽ không đạt.
Phòng rửa phim biệt lập với diện tích 7m² cần đạt tiêu chuẩn thiết kế Việc quan sát và đo đạc diện tích phòng rửa phim là rất quan trọng; nếu đúng tiêu chuẩn thì đạt yêu cầu, ngược lại sẽ không đạt Đối với các cơ sở sử dụng X quang kỹ thuật số, nếu không có phòng rửa phim thì sẽ không được đánh giá.
* An toàn bức xạ thiết bị X quang
Mã và nhãn hiệu của thiết bị X quang cần phải đầy đủ và rõ ràng Việc quan sát trực tiếp trên thiết bị sẽ xác định tính hợp lệ; nếu có đầy đủ nhãn hiệu, thiết bị được coi là đạt yêu cầu, ngược lại sẽ không đạt.
Thiết bị X quang cần được kiểm định định kỳ hai năm một lần Để đảm bảo đạt yêu cầu, hồ sơ lưu trữ của phòng X quang phải có kiểm định còn hiệu lực; nếu không có kiểm định hoặc kiểm định đã hết hạn, thiết bị sẽ không đạt tiêu chuẩn.
Thiết bị X quang phải được cấp phép đầy đủ và có giấy phép hoạt động còn hiệu lực Để đảm bảo tiêu chuẩn, cần kiểm tra hồ sơ cấp phép của các phòng X quang; nếu có giấy phép hợp lệ và còn thời hạn, thì đạt yêu cầu, ngược lại, nếu không có giấy phép hoặc giấy phép đã hết hạn thì không đạt.
Bộ lọc tia cần có kiểm định đầy đủ để đảm bảo chất lượng Kết quả kiểm định lưu hồ sơ của phòng X quang phải đầy đủ; nếu có đầy đủ thì đạt yêu cầu, ngược lại nếu không có thì không đạt.
Hồ sơ theo dõi liều kế cá nhân của nhân viên bức xạ phải được lưu trữ đầy đủ Để đạt yêu cầu, các phòng X quang cần có hồ sơ lưu trữ đầy đủ; nếu không có hồ sơ lưu, sẽ không đạt tiêu chuẩn.
Hồ sơ suất liều đo liều phong môi trường cần phải đầy đủ Để đạt yêu cầu, hồ sơ lưu tại phòng X quang phải có đầy đủ thông tin; nếu không đầy đủ, sẽ không đạt tiêu chuẩn.
Hồ sơ kiểm định bảo dưỡng định kỳ phải đầy đủ để đảm bảo tiêu chuẩn Nếu hồ sơ lưu tại phòng X quang đầy đủ, thiết bị sẽ đạt yêu cầu; ngược lại, nếu không đầy đủ, thiết bị sẽ không đạt.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số
Hạn chế của nghiên cứu
Việc thu thập số liệu nghiên cứu yêu cầu sự đồng ý từ các cơ sở nghiên cứu và sự tham gia của cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Quá trình này không mang tính ngẫu nhiên, do đó, các cơ sở X quang có thể đã chuẩn bị trước để đối phó, điều này có thể dẫn đến việc nhiễu kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu định tính có thể gặp sai số trong quá trình phỏng vấn và ghi chép, do thông tin có thể bị ảnh hưởng bởi các gợi ý hướng dẫn Hơn nữa, nội dung nghiên cứu thu được có thể không khách quan nếu đối tượng nghiên cứu không hợp tác do yếu tố tâm lý và thái độ.
Trước khi tiến hành quan sát thực tế tại phòng X quang, cần rút kinh nghiệm và thông báo lịch PVS cùng TLN cho các đối tượng nghiên cứu Việc giải thích rõ mục đích nghiên cứu và tính bảo mật thông tin sẽ giúp tạo điều kiện thoải mái cho người tham gia trong quá trình thực hiện.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thực trạng an toàn bức xạ của Phòng X quang và thực hành an toàn bức xạ của nhân viên X quang
xạ của nhân viên X quang
Bảng 3.1 Đặc điểm phòng X quang STT Thông tin Phòng X quang Tần số (n) Tỷ lệ (%)
2 Phòng XQ tăng sáng(mô phỏng) 2 2,13
Kết quả nghiên cứu cho thấy trong tổng số 64 phòng X quang, phòng X quang tổng hợp chiếm tỷ lệ cao nhất với 67,95%, tiếp theo là phòng X quang nha khoa với 15,63%, phòng X quang nhũ ảnh đạt 14,00%, và phòng X quang tăng sáng (mô phỏng) chỉ chiếm 2,13%.
Bảng 3.2 Tiêu chí an toàn bức xạ đèn, biển báo, bảng nội quy ATBX
Stt Tiêu chí của phòng XQ Có đầy đủ Không có đầy đủ
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
1 Đèn, biển cảnh báo khu vực bức xạ 55 85,9 9 14,1
2 Đèn báo phát sáng khi phát tia X 46 71,9 18 28,1
Bảng 3.2 cho thấy rằng 64 phòng X quang được trang bị đầy đủ đèn biển cảnh báo khu vực bức xạ đạt tỷ lệ 85,9% Đèn báo hiệu phát sáng khi phát tia X có tỷ lệ đạt 71,9%, trong khi bảng nội quy an toàn bức xạ chỉ đạt 45,3%.
Bảng 3.3 Vị trí và thiết kế phòng chụp X quang
Stt Tiêu chí của phòng chụp XQ
Vị trí thiết kế đạt
Vị trí thiết kế không đạt Tần số
1 Vị trí phòng chụp X quang,không gần nhà dân, khoa nhi, khoa sản 61 95,3 3 4,7
2 Diện tích phòng chụp có bàn lật 20m 2 và
Diện tích phòng chụp có bàn cố định 14m 2 59 92,2 3 4,7
3 Cửa ra vào phòng chụp khép kín 64 100 0 00
4 Của ra vào phòng chụp có ốp chì 64 100 0 00
5 Phòng điều khiển có của sổ chì 64 100 0 00
6 Tường phòng chụp có ốp chì hoặc trát batrit 64 100 0 00
7 Bề dày tốm ốp chì ở các tường và cửa ra vào tối thiểu 1,5mm chì 64 100 0 00
8 Chiều cao tấm chắn chì tối thiểu 2m 64 100 0 00 Bảng 3.3 vị trí và thiết kế của 64 phòng chụp X quang cho thấy vị trí phòng
X quang được bố trí không gần khu dân cư và không liền kề với khoa nhi, khoa sản, với tỷ lệ chiếm đa số lên đến 95,3% Diện tích phòng chụp đạt tiêu chuẩn 92,2%, đảm bảo cửa ra vào được khép kín 100% Phòng chụp được trang bị ô cửa kính chì 100%, cửa ra vào được ốp chì 100% với bề dày tấm chì đạt 1,5mm Chiều cao tường ốp chì là 2m, đạt tiêu chuẩn 100%, và tường phòng chụp được ốp chì hoặc trét batrit cũng đạt 100%.
Bảng 3.4 Đánh giá an toàn bức xạ phòng điều khiển
Stt Tiêu chí của phòng điều khiển Có đầy đủ Không có đầy đủ
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
1 Phòng điều khiển biệt lập với phòng chụp X quang 63 98,4 1 1,6
2 Phòng điều khiển có bảng vận hành thiết bị phương án ƯPSC 55 85,9 9 14,1
3 Nhân viên XQ quan sát được BN 61 95,3 3 4,7
Bảng 3.4 Cho thấy đa số phòng điều khiển biệt lập với phòng chụp tỷ 98,4%, phòng điều khiển có bảng vận hành thiết bị ứng phó sự cố 85,9%, nhân viên
X quang quan sát được bệnh nhân qua ô cửa kính chì 95,3%
Bảng 3.5 Đánh giá an toàn bức xạ phòng xử lý phim
Stt Tiêu chí của phòng xử lý phim Có đầy đủ Không có đầy đủ
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
1 Phòng xử lý phim biệt lập với phòng chụp X quang 25 89,1 3 10,9
2 Thiết kế phòng xử lý phim có diện tích tối thiểu 7m 2 25 89,1 3 10,9
3 Của ra vào phòng xử lý phim không bị chiếu tia x trực tiếp 25 89,1 3 10,9
Nghiên cứu tại 28 cơ sở X quang cho thấy có 3 cơ sở sở hữu phòng xử lý phim biệt lập với phòng chụp, đạt tỷ lệ 89,1% Thiết kế phòng xử lý phim có diện tích tối thiểu 7m² cũng đạt tỷ lệ 89,1% Hơn nữa, cửa ra vào phòng xử lý phim không bị chiếu tia X trực tiếp cũng đạt tỷ lệ 89,1%.
Bảng 3.6 Đánh giá an toàn bức xạ thiết bị X quang
Stt Tiêu chí an toàn thiết bị Có đầy đủ Không có đầy đủ
Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
1 Mã hiệu số Seri máy đúng 78 100,0 0 0,0
2 Thiết bị XQ đã được cấp phép 77 98,71 1 1,28
3 Thiết bị XQ được hiệu chuẩn 77 98,71 1 1,28
Bảng 3.6 cho thấy rằng trong số 78 thiết bị X-quang, 100% thiết bị đúng nhãn hiệu số Serri theo hồ sơ cấp phép Đặc biệt, 98,71% thiết bị XQ đã được cấp phép và hiệu chuẩn, trong khi 96,15% thiết bị X-quang có bộ phận lọc tia.
Biểu đồ 3.1 Đánh giá lưu trữ hồ sơ an toàn bức xạ
Kết quả nghiên cứu từ Biểu đồ 3.1 cho thấy công tác quản lý lưu trữ hồ sơ ATBX tại 64 phòng X quang đạt tỷ lệ cao, với hồ sơ liều kế cá nhân đạt 98,4%, hồ sơ khám sức khỏe nhân viên quang cũng đạt 98,4%, hồ sơ theo dõi suất liều phóng môi trường đạt 98,40%, và hồ sơ kiểm định thiết bị X quang đạt 98,4%.
HS LIỀU KẾ HS LIỀU MÔI
HS CHẤT LƯỢNG MÁY HS KHÁM SK
Bảng 3.7 Đánh giá kết quả đo suất liều bức xạ
Stt Tiêu chí đo suất liều phòng XQ Có đo suất liều Không có đo suất liều Tần số Tỷ lệ % Tần số Tỷ lệ %
1 Kết quả đo suất liều bức xạ hàng năm 58 90,6 6 9,4
2 Kết quả đo suất liều bức xạ các vị trí
Bảng 3.7 trình bày kết quả đo suất liều hàng năm của 64 phòng X quang với tỷ lệ đạt 90,6% Kết quả này cho thấy liều bức xạ tại các vị trí và liều phong môi trường cũng đạt 90,6%.
Bảng 3.8 Đánh giá phòng XQ đạt tiêu chuẩn ATBX
Stt Tiêu chuẩn đánh giá Phòng X quang
1 Phòng XQ đạt tiêu chuẩn 56 87,5
2 Phòng XQ không đạt tiêu chuẩn 8 12,5
Bảng 3.8 Có 56 phòng đạt tiêu chuẩn cho phép chiếm 87,5%, phòng không đạt tiêu chuẩn cho phép là 8 phòng chiếm 12,5%
Bảng 3.9 Đào tạo chứng chỉ an toàn bức xạ
Stt Nội dung đánh giá Đạt Không đạt
1 Được đào tạo ATBX, Cấp chứng chỉ ATBX 86 98,8 1 1,10
2 Có sử dụng liều kế cá nhân, đeo đúng quy định 81 93,1 6 6,9
Nghiên cứu trên 87 nhân viên X quang cho thấy tỷ lệ nhân viên được đào tạo về an toàn bức xạ (ATBX) và cấp chứng chỉ đạt 98,8% Bên cạnh đó, tỷ lệ sử dụng liều kế cá nhân đúng quy định cũng đạt 93,10%.
Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ an toàn bức xạ của phòng
3.2.1 Yếu tố ảnh hưởng của nhân viên X quang
Kinh nghiệm công tác cho thấy rằng nhân viên có kinh nghiệm thường làm việc hiệu quả hơn so với nhân viên mới Những người này không chỉ hoàn thành công việc nhanh hơn mà còn giảm thiểu sai sót Nhân viên dày dạn kinh nghiệm có khả năng tiết kiệm thời gian và thể hiện trách nhiệm cao trong chuyên môn Họ cũng tôn trọng pháp luật và tuân thủ các quy định về an toàn lao động, đồng thời thực hiện các thao tác kỹ thuật một cách tốt hơn.
Hạn chế sai sót chuyên môn không chỉ nâng cao hiệu quả kinh tế mà còn giúp tiết kiệm công lao động và vật liệu tiêu hao cho thiết bị của đơn vị.
Do thường xuyên tiếp xúc với môi trường độc hại trong công việc, chúng tôi đã dần quen với những thách thức này Hàng ngày, công việc lặp đi lặp lại, tạo thành thói quen trong cuộc sống.
Tôi là nhân viên chụp X quang với nhiều năm kinh nghiệm Mỗi ngày, khi vào phòng X quang, tôi kiểm tra thiết bị, phim X quang và các thủ tục hành chính để đảm bảo sẵn sàng phục vụ bệnh nhân.
Số năm công tác của nhân viên X quang có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả làm việc, với những người có thâm niên lâu năm thường sở hữu nhiều kinh nghiệm trong thao tác kỹ thuật và tuân thủ quy trình an toàn bức xạ Việc làm việc trong môi trường độc hại được thực hiện nghiêm túc, với sự sử dụng bảo hộ lao động và liều kế cá nhân để đảm bảo an toàn cho sức khỏe.
Với nhiều năm công tác tại khoa X quang và được đào tạo thường xuyên về an toàn thiết bị X quang, tôi đã tích lũy được nhiều kiến thức và kinh nghiệm quý báu Tôi tổ chức phân công công việc cho các nhân viên mới một cách hợp lý, đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành thiết bị Bằng thái độ tích cực, tôi sắp xếp công việc để phục vụ bệnh nhân hiệu quả, từ đó mang lại lợi ích kinh tế, tăng cường sự hài lòng của bệnh nhân và đảm bảo an toàn cho cả bản thân và bệnh nhân.
Khi làm việc lâu năm, chúng tôi nhận thức rõ rằng việc đảm bảo an toàn bức xạ (ATBX) không chỉ bảo vệ bản thân mà còn bảo vệ mọi người xung quanh Tuy nhiên, công tác đào tạo an toàn bức xạ tại các cơ sở X quang hiện còn nhiều hạn chế Phần lớn nhân viên X quang được đào tạo tại các trường cao đẳng nghề, nhưng chương trình đào tạo về ATBX lại không được triển khai Chỉ có các cơ quan chức năng như sở khoa học và công nghệ mới có quyền tổ chức các lớp đào tạo về ATBX.
Việc thiếu đào tạo thường xuyên và liên tục tại các trung tâm và trường đào tạo dẫn đến việc không được cấp phép đào tạo chứng chỉ ATBX Hơn nữa, kiến thức về các văn bản quy phạm và pháp lệnh liên quan đến ATBX không được cập nhật thường xuyên Thời gian đào tạo ngắn cũng là một vấn đề cần được khắc phục.
Trong 3 ngày, học viên sẽ được trang bị kiến thức về an toàn bức xạ (ATBX) và nhận thức về tác hại của bức xạ khi không tuân thủ quy định Nghiên cứu chỉ ra rằng nhân viên được đào tạo thường xuyên về ATBX sẽ có ít sai sót hơn, từ đó đảm bảo tuân thủ đúng các quy định an toàn.
Khám sức khỏe định kỳ cho nhân viên là một vấn đề quan trọng, nhưng nhiều cơ sở X quang chưa thực hiện đầy đủ Nhân viên thường không được kiểm tra sức khỏe định kỳ, và một số tổ chức công đoàn chưa quan tâm đến quyền lợi của họ Mặc dù có nhiều cơ sở thực hiện tốt việc khám sức khỏe và cung cấp chế độ phụ cấp cho nhân viên làm việc trong môi trường bức xạ, nhưng vẫn còn nhiều nơi chưa chú trọng đến vấn đề này.
Chúng tôi làm việc theo ca và không phải là nhân viên chính thức của phòng X quang, do đó không được hưởng chế độ khám sức khỏe hay đào tạo Chúng tôi chỉ nhận lương theo từng ca làm việc theo thỏa thuận.
Kiểm tra, giám sát của lãnh đạo cơ sở phòng X quang
Mặc dù các phòng X quang được trang bị đầy đủ thiết bị an toàn, nhưng sự thiếu quan tâm của người quản lý và việc không có kiểm tra giám sát kịp thời đã dẫn đến tình trạng hỏng hóc thiết bị mà không được sửa chữa hoặc thay mới Việc thiếu kiểm định thiết bị X quang đã khiến cơ sở hết hạn kiểm định, gây ra nguy cơ cho người sử dụng.
HUPH chưa kiểm định lại, do cơ sở không quan tâm, tốn kém kinh phí nên không kiểm định:
Ban đầu, trang bị đầy đủ nhưng sau một thời gian, đèn báo bị hư mà chưa được thay mới Do khối lượng công việc lớn, nên không ai để ý đến việc đèn còn phát sáng hay không.
Cơ sở y tế này đã hoạt động nhiều năm nhưng hiện tại đang gặp khó khăn do trang thiết bị cũ kỹ và lượng bệnh nhân đến chụp rất ít Phần lớn bệnh nhân có bảo hiểm y tế thường chọn khám tại các bệnh viện lớn Với tình hình này, cơ sở đang hoạt động cầm chừng và có khả năng sẽ ngừng hoạt động trong thời gian tới, do đó không tiến hành sửa chữa hay làm hồ sơ xin cấp phép lại.
Một số cơ sở nhà nước vẫn chưa có kinh phí để xây dựng mới hoặc đang chờ sự phê duyệt từ cơ quan chức năng cho việc nâng cấp bệnh viện, dẫn đến việc họ không chú trọng đầu tư trang thiết bị đầy đủ phục vụ cho bệnh nhân.
BÀN LUẬN
Thực trạng tuân thủ ATBX tại các phòng X quang taị các cơ sở y tế
4.1.1 An toàn bức xạ của phòng chụp X quang
Công tác đảm bảo an toàn bức xạ (ATBX) là yêu cầu bắt buộc tại các phòng X quang và được giám sát bởi các cơ quan quản lý nhà nước Việc tuân thủ ATBX tại các phòng X quang bao gồm các khu vực như phòng chụp X quang, phòng tối và phòng điều khiển.
Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ tuân thủ các biện pháp an toàn bức xạ trong phòng X quang là khá cao, với 85,9% phòng có trang bị đèn và biển cảnh báo khu vực bức xạ ở mức thấp Ngoài ra, 71,9% phòng được trang bị đèn báo sáng khi phát tia X, và 54,3% phòng có bảng nội quy đầy đủ.
Theo Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT và TCVN 6561:1999, các phòng X quang phải được trang bị đèn và biển cảnh báo khu vực bức xạ để đảm bảo an toàn Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy vẫn còn một số phòng X quang chưa đầy đủ trang thiết bị cảnh báo, điều này có thể gây nguy hiểm cho trẻ em và phụ nữ mang thai khi lưu thông qua khu vực này.
4.1.2 Bố trí thiết kế phòng chụp X quang
Theo TCVN 6561:1999, phòng X quang cần có diện tích tối thiểu 25m² và không được xây dựng gần khu dân cư Diện tích tối thiểu cho phòng X quang có bàn lật là 20m² Nghiên cứu cho thấy 95,2% phòng X quang cố định đạt diện tích tối thiểu 20m² và 14m², không gần khoa Nhi, khoa Sản, và không kề nhà dân Phòng điều khiển phải tách biệt với phòng chụp, đạt 98,4%, và phòng tối cần có cửa ra vào không bị chiếu bởi tia trực tiếp Kết quả nghiên cứu cho thấy diện tích phòng chụp X quang cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hòa (2016), trong khi một số cơ sở vẫn chưa đảm bảo an toàn về diện tích và máy móc cũ, với 36% chỉ số nhiệt độ hiệu dụng vượt giới hạn cho phép, do điều kiện cơ sở vật chất khác nhau.
Nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng cao yêu cầu các cơ sở y tế phải trang bị phòng X quang và thiết bị đạt tiêu chuẩn để phục vụ bệnh nhân tốt hơn, đặc biệt trong giai đoạn phát triển hiện nay Để đảm bảo an toàn cho môi trường và bảo vệ sức khỏe nhân viên X quang, phòng X quang cần được ốp chì theo quy định của TCVN 6561:1999.
Tấm chì có bề dày 1,5mm và chiều cao 2m được sử dụng cho phòng có thiết bị X quang Nghiên cứu cho thấy 100% các phòng X quang được ốp chì, 100% cửa ra vào phòng chụp được khép kín, và 100% phòng điều khiển có ô cửa sổ chì Ngoài ra, 100% tường phòng chụp được ốp chì hoặc trát batrit.
Kết quả nghiên cứu của tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Hòa và cộng sự (2011), cho thấy phòng ốp chì đạt tỷ lệ 100% Ngoài ra, kết quả của tôi cũng phù hợp với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Hải và cộng sự.
Năm 2004, nghiên cứu cho thấy rằng phòng ốp chì đạt tỷ lệ 100% trong việc tuân thủ an toàn bức xạ So sánh với các nghiên cứu trước đây, các cơ sở X quang đã nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của việc tuân thủ các quy định an toàn này.
* An toàn phòng điều khiển
Theo TCVN 6561:1999 và Thông tư 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT, các tiêu chí về phòng điều khiển phải tách biệt với phòng chụp và phòng tối, đảm bảo không bị chiếu trực tiếp bởi tia xạ Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào được ghi nhận để so sánh vấn đề này Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy hầu hết các cơ sở x-quang đều tuân thủ tiêu chuẩn an toàn phòng điều khiển theo quy định.
* An toàn phòng xử lý phim
Nghiên cứu tại 28 cơ sở có phòng X quang có phòng xử lý phim đạt 25/3 (98,4%)
Kết quả nghiên cứu cao hơn nghiên cứu của tác giả Nguyễn xuân Hòa cùng cộng sự
Năm 2011, nghiên cứu tại 61 phòng X quang ở tỉnh Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ đạt là 68,3%, trong khi tỷ lệ phòng máy và phòng rửa phim chỉ đạt 25,5% Sự khác biệt này xuất phát từ việc một số phòng X quang được trang bị hệ thống X quang kỹ thuật số (CR&DR), dẫn đến tỷ lệ không đạt ở các phòng xử lý phim thấp hơn so với các nghiên cứu khác.
Nghiên cứu chỉ ra rằng việc tuân thủ các văn bản, quy phạm và pháp quy về an toàn bức xạ trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử đã được cải thiện đáng kể tại các cơ sở.
* An toàn bức xạ thiết bị X quang
Theo mục 1 Điều 9 Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT năm
Theo quy định năm 2014, các thiết bị chụp X quang phải được kiểm định định kỳ hai năm một lần kể từ ngày đưa vào sử dụng Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% thiết bị X quang đúng nhãn hiệu số Serri theo hồ sơ cấp phép, trong đó 98,71% thiết bị đã được cấp phép và hiệu chuẩn, và 96,15% thiết bị có bộ phận lọc tia.
Kết quả nghiên cứu của tôi cho thấy tỷ lệ cơ sở không kiểm định thiết bị bức xạ hàng năm là 50,7%, thấp hơn so với nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khắc Hải (2004) Sự khác biệt này có thể do sự hiện diện của Trung tâm kiểm định các thiết bị X quang thuộc Sở Khoa học và Công nghệ tại Cần Thơ, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở X quang trong việc đảm bảo tiêu chí an toàn bức xạ.
* Đào tạo an toàn bức xạ, chăm sóc sức khỏe
Theo quy định tại Thông tư liên tịch số 34/2014/TT-BKHCN, các tổ chức đào tạo phải thực hiện việc nhắc lại và bổ sung kiến thức an toàn bức xạ cho nhân viên y tế ít nhất 03 năm một lần Nghiên cứu cho thấy, các cơ sở X quang ở quận Ninh Kiều đã chú trọng đến tiêu chí này, với tỷ lệ đạt yêu cầu về đào tạo an toàn bức xạ và chăm sóc sức khỏe cho nhân viên X quang lên tới 98,4%.
* Lưu trữ hồ sơ ATBX
Theo Thông tư liên tịch số 34/2014/TT-BKHCN, hồ sơ liều kế cá nhân, khám sức khỏe và hồ sơ theo dõi suất liều phong môi trường phải được lưu trữ ít nhất 2 năm Kết quả nghiên cứu cho thấy công tác quản lý lưu trữ hồ sơ ATBX tại 64 phòng X quang đạt tỷ lệ cao, với hồ sơ liều kế cá nhân, hồ sơ khám sức khỏe nhân viên quang, hồ sơ theo dõi suất liều phong môi trường và hồ sơ kiểm định thiết bị X quang đều đạt 98,4%.
* Kết quả đo suất liều bức xạ
Theo Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BKHCN-BYT năm 2014 Quy định đo suất liều hàng năm tại các phòng X quang
Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ ATBX tại các phòng XQ
Việc tuân thủ ATBX tại các phòng XQ phụ thuộc vào ba bên liên quan chính: nhân viên XQ, lãnh đạo các đơn vị có phòng XQ, và cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm thanh kiểm tra an toàn của các phòng XQ.
Kinh nghiệm làm việc là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc thực hiện các quy định an toàn của nhân viên Tại các phòng XQ hiện nay, tình trạng đông bệnh nhân và quá tải khiến những nhân viên có thâm niên cao hơn thường thực hiện quy trình tốt hơn và ít sai sót hơn so với những người mới vào nghề Tuy nhiên, áp lực công việc, sự đông đúc, thiếu trang bị phòng hộ cá nhân và những bất tiện cá nhân là những yếu tố cản trở nhân viên XQ trong việc đảm bảo thực hành an toàn đầy đủ.
Thiếu trang bị liều kế cá nhân và bảo hộ lao động tại các cơ sở X quang là vấn đề nghiêm trọng, với chỉ 1,6% cơ sở không có trang bị này Nghiên cứu của Nguyễn Xuân Hòa cho thấy việc thực hiện các biện pháp an toàn vệ sinh lao động còn nhiều hạn chế, đặc biệt là thiếu thiết bị che chắn, với 25% cơ sở không có liều kế cá nhân Một số cơ sở nhà nước có trang bị đầy đủ nhưng nhân viên lại không sử dụng Việc thiếu dụng cụ bảo hộ lao động như găng tay chì, tập dề, và kính chì do các cơ sở cho rằng đầu tư tốn kém và ít khi sử dụng.
Không tuân thủ nội quy ATBX, do công việc nhiều bệnh nhân đông nên nhân viên
X quang không tuân thủ quy trình an toàn và bảo mật (ATBX) do áp lực công việc cao, dẫn đến việc nhân viên lơ là trong việc thực hiện các quy định này Điều này vi phạm Thông tư Liên tịch số 13, cần được khắc phục để đảm bảo an toàn trong quy trình X quang.
BKHCN – BYT đã qui định phải đảm bảo các chỉ số yêu cần an toàn cho nhân viên bức xạ cho người bệnh và cộng đồng
Nhân viên bức xạ có thời gian công tác lâu năm, điều này giúp họ thực hiện các thao tác kỹ thuật một cách tốt hơn và cẩn thận hơn, giảm thiểu sai sót trong chuyên môn và đảm bảo tuân thủ các quy trình an toàn bức xạ.
Nhiều bệnh viện hiện nay đang phải đối mặt với lượng bệnh nhân đông, dẫn đến tình trạng thiếu nhân viên Trong quá trình thao tác kỹ thuật, một số quy trình vận hành thiết bị chưa được tuân thủ đúng theo tiêu chuẩn an toàn, nhằm giảm thiểu thời gian chờ đợi cho bệnh nhân, theo quy định của Bộ Y tế về thời gian khám và điều trị.
Việc đào tạo không thường xuyên và liên tục tại các trung tâm không được cấp phép cấp chứng chỉ ATBX dẫn đến việc cập nhật kiến thức về các quy định và pháp lệnh liên quan đến ATBX không đầy đủ Thời gian đào tạo ngắn, chỉ 3 ngày, khiến học viên khó có thể nắm vững kiến thức về ATBX và các tác hại của bức xạ khi không tuân thủ quy định Nghiên cứu cho thấy rằng nhân viên được tập huấn thường xuyên về ATBX sẽ giảm thiểu sai sót và đảm bảo tuân thủ đúng quy định.
Thiếu kế hoạch ứng phó sự cố về bức xạ là vấn đề ít được quan tâm, thường được giao cho nhân viên phụ trách an toàn bức xạ (ATBX) Tuy nhiên, nếu người phụ trách ATBX thực hiện tốt vai trò của mình, sẽ giảm thiểu đáng kể ảnh hưởng đến an toàn bức xạ và bảo vệ môi trường xung quanh.
* Chế độ kiểm tra, giám sát của lãnh đạo cơ sở
Chế độ kiểm tra và giám sát về an toàn bức xạ (ATBX) tại các bệnh viện nhà nước chưa được thực hiện thường xuyên và thiếu chặt chẽ, dẫn đến việc kiểm tra hình thức mà không xử lý vi phạm Cả cá nhân lẫn tập thể đều vi phạm quy định về ATBX, cho thấy sự thiếu sót trong việc quan sát và đôn đốc nhân viên X quang thực hiện bảo hộ lao động cũng như các quy trình kỹ thuật an toàn bức xạ.
Lãnh đạo các cơ sở quản lý nhà nước và người phụ trách an toàn bức xạ (ATBX) cần thường xuyên kiểm tra, đôn đốc và nhắc nhở các cơ sở X quang tuân thủ đúng quy trình.
ATBX, đề xuất kiến nghị với lãnh đạo các cơ quan quản lý là yếu tố ảnh hưởng tốt đến việc tuân thủ an toàn bức xạ
Khen thưởng các cá nhân và tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác quản lý an toàn bức xạ và hạt nhân (ATBX), đồng thời xử lý nghiêm các cá nhân và cơ quan vi phạm quy định về ATBX trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử.
Nhiều cán bộ thanh tra không có chuyên môn phù hợp, dẫn đến việc kiểm tra không sâu sát trong lĩnh vực an toàn bức xạ Công tác kiểm tra các cơ sở X quang thường thiếu tính ngẫu nhiên, khiến các cơ sở này có thời gian chuẩn bị trước, do đó đoàn kiểm tra thường chỉ nhắc nhở về thủ tục hành chính mà không phát hiện được vi phạm về quy định an toàn bức xạ.
Hạn chế của nghiên cứu
Việc thu thập số liệu nghiên cứu yêu cầu sự đồng ý từ các cơ sở nghiên cứu và sự tham gia của cán bộ Sở Khoa học và Công nghệ Quá trình này không mang tính ngẫu nhiên, do đó các cơ sở X quang có thể đã chuẩn bị trước để đối phó, điều này có thể dẫn đến việc nhiễu kết quả nghiên cứu.
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện quan sát ngẫu nhiên các phòng X quang theo bảng kiểm, giúp hạn chế các yếu tố gây sai lệch trong kết quả nghiên cứu.
Nghiên cứu về an toàn bức xạ (ATBX) trong phòng X quang đã thực hiện quan sát trực tiếp để đánh giá kết quả đạt và không đạt Tuy nhiên, tài liệu tham khảo trong lĩnh vực này còn hạn chế, với ít thông tin để đối chiếu và so sánh Mặc dù học viên đã nỗ lực tìm kiếm tài liệu liên quan đến tuân thủ ATBX và các yếu tố ảnh hưởng, phần lớn các nghiên cứu chỉ tập trung vào hướng dẫn kỹ thuật an toàn và che chắn tia X, trong khi các đánh giá về ảnh hưởng của bức xạ và sức khỏe vẫn còn thiếu Chỉ có một số ít tài liệu đề cập đến việc đánh giá phòng X quang.