ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng của nghiên cứu định lượng:
+ Người bệnh và bệnh án của người bệnh đang điều trị Methadone tại Trung tâm Y tế Đô Lương, Nghệ An, năm 2020
Tiêu chuẩn lựa chọn ĐTNC:
Người bệnh đang điều trị Methadone giai đoạn duy trì trên 1 tháng và đồng ý tham gia nghiên cứu sẽ được xem xét Tiêu chí loại trừ sẽ được áp dụng để xác định những trường hợp không đủ điều kiện tham gia.
Người bệnh bao gồm những đối tượng đã ngừng điều trị, chuyển sang cơ sở khác hoặc đã tử vong; những người không đồng ý tham gia nghiên cứu hoặc không đủ năng lực tinh thần và kiến thức để trả lời câu hỏi.
2.1.2 Đối tượng của nghiên cứu định tính:
+ Cán bộ y tế: Làm việc kiêm nhiệm tại CSĐT Methadone Trung tâm Y tế Đô Lương
+ Người nhà người bệnh: Là người nhà của người bệnh đang điều trị Methadone tại cơ sở trên
Tiêu chuẩn lựa chọn ĐTNC:
Cán bộ y tế tham gia nghiên cứu cần có kinh nghiệm làm việc tại vị trí được lựa chọn từ 06 tháng trở lên và làm việc kiêm nhiệm tại cơ sở điều trị.
+ Người nhà người bệnh: Đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Cán bộ y tế: Không đồng ý tham gia nghiên cứu
+ Người nhà người bệnh: Không đủ năng lực tinh thần, kiến thức để trả lời câu hỏi; không đồng ý tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 09/2019 đến tháng 09/2020 tại cơ sở điều trị Methadone Trung tâm Y tế Đô Lương, Nghệ An.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp định tính
• Phần nghiên cứu định lượng gồm: Hồi cứu thông tin từ bệnh án điều trị và thu thập thông tin qua phỏng vấn trực tiếp người bệnh
• Phần nghiên cứu định tính gồm: Phỏng vấn sâu cán bộ làm việc tại CSĐT
Trung tâm Y tế Đô Lương cung cấp dịch vụ điều trị methadone với đội ngũ chuyên gia bao gồm bác sĩ điều trị, cán bộ tư vấn, cán bộ xét nghiệm, cán bộ dược và cán bộ hành chính Ngoài ra, trung tâm còn có sự tham gia của một số người nhà của bệnh nhân đang điều trị tại đây, với tổng cộng 05 cuộc phỏng vấn với cán bộ y tế và 06 cuộc phỏng vấn với người nhà bệnh nhân.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng:
Sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
Trong nghiên cứu này, cỡ mẫu được xác định là n, và tỷ lệ ước tính số người bệnh tuân thủ điều trị là p, với p = 0.65, dựa trên kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nương tại Ninh Bình năm 2018.
Z = 1,96 (α = 0,05, độ tin cậy 95%, tra cứu từ bảng Z) d = 0,1 là sai số tuyệt đối Áp dụng các giá trị vào công thức trên, ta tính được cỡ mẫu n = 88 người bệnh
Trong giai đoạn duy trì liều, có 98 người bệnh đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn lựa chọn đang điều trị tại cơ sở Do đó, nghiên cứu viên đã áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ và mời 98 người bệnh tham gia nghiên cứu.
2.4.2 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:
Nghiên cứu viên áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp chọn ngẫu nhiên Tổng cộng có 11 cuộc phỏng vấn sâu
Cỡ mẫu phỏng vấn sâu :
Dựa trên bảng phân công công việc tại CSĐT, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên 01 cán bộ cho mỗi vị trí để tham gia phỏng vấn sâu Hiện tại, CSĐT có 11 cán bộ làm việc kiêm nhiệm tại 05 vị trí, bao gồm 03 bác sĩ (trong đó có 01 bác sĩ là trưởng cơ sở điều trị), 02 cán bộ tư vấn, 02 cán bộ xét nghiệm, 02 cán bộ dược và 02 cán bộ cấp phát Phương pháp bốc thăm ngẫu nhiên đã giúp chúng tôi chọn ra 05 cán bộ để tiến hành phỏng vấn sâu, trong đó có 01 bác sĩ.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi có 01 cán bộ tư vấn, 01 cán bộ xét nghiệm, 01 cán bộ dược và 01 cán bộ hành chính Đối với người nhà của bệnh nhân, có 06 người được chọn Từ danh sách bệnh nhân, chúng tôi đã phân loại thành bệnh nhân TTĐT và không TTĐT, sau đó ngẫu nhiên chọn 03 người nhà của bệnh nhân TTĐT và 03 người nhà của bệnh nhân không TTĐT để đảm bảo tiêu chuẩn lựa chọn.
Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Phần nghiên cứu định lượng được thực hiện thông qua phỏng vấn trực tiếp và hồi cứu bệnh án của những bệnh nhân đủ tiêu chuẩn Bộ câu hỏi có cấu trúc, được xây dựng dựa trên các nghiên cứu trước đây về Methadone và tuân thủ điều trị, đã được điều chỉnh cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, bộ câu hỏi được chia thành 8 phần.
+ Thông tin chung về người bệnh
+ Thực trạng tuân thủ điều trị MMT của ĐTNC
+ Đặc điểm nhân khẩu học liên quan đến TTĐT
+ Đặc điểm hành vi của ĐTNC
+ Kiến thức về điều trị và TTĐT Methadone
+ Dịch vụ điều trị methadone
Phần nghiên cứu định tính: Sử dụng công cụ là hướng dẫn phỏng vấn sâu cho
CBYT và người nhà người bệnh (Phụ lục 4, 5)
2.5.2 Quy trình thu thập số liệu
Học viên liên hệ với Trung tâm Y tế Đô Lương để trình bày mục tiêu và nội dung nghiên cứu Sau khi được chấp thuận, học viên phối hợp với cơ sở điều trị để thống nhất kế hoạch thực hiện, tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi và phỏng vấn sâu, đồng thời thực hiện các chỉnh sửa cần thiết.
Thu thập số liệu định lượng:
Điều tra viên (ĐTV) gồm 2 cán bộ từ Trung tâm y tế huyện Thanh Chương, nhằm đảm bảo tính khách quan trong kết quả phỏng vấn liên quan đến cán bộ y tế và chất lượng cơ sở điều trị ĐTV đã được tập huấn kỹ lưỡng về nội dung phiếu phỏng vấn và phương pháp phỏng vấn.
Giám sát viên là học viên và bác sĩ trưởng tại cơ sở điều trị MMT Đô Lương, có nhiệm vụ đảm bảo tính chính xác của dữ liệu thu thập và hỗ trợ học viên trong quá trình nghiên cứu.
Bộ công cụ thu thập số liệu sẽ được thử nghiệm trên 10 bệnh nhân điều trị Methadone và sẽ được điều chỉnh trước khi tiến hành thu thập dữ liệu trên đối tượng nghiên cứu.
Lập danh sách các đối tượng nghiên cứu và tiếp cận họ với sự hỗ trợ từ trưởng cơ sở cùng nhân viên tại cơ sở điều trị Methadone.
Phần nghiên cứu định tính: Học viên là người trực tiếp thực hiện phỏng vấn sâu các CBYT và người nhà người bệnh.
Các biến số nghiên cứu
• Các biến số trong nghiên cứu định lượng
Bảng 2.1 Các biến số nghiên cứu
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Phương pháp thu thập ĐẶC ĐIỂM CHUNG
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Tuổi của đối tượng Tuổi dương lịch của ĐTNC tính đến thời điểm nghiên cứu Rời rạc Phỏng vấn
Giới tính Nam/nữ Nhị phân Quan sát
Trình độ học vấn của ĐTNC
Là trình độ học vấn cao nhất của ĐTNC: Mù chữ, Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, Cao đẳng, đại học trở lên
Tình trạng hôn nhân của ĐTNC
Tình trạng hôn nhân của đối tượng nghiên cứu tại thời điểm khảo sát bao gồm các trạng thái như sống độc thân, đã kết hôn, đã ly hôn, ly thân hoặc góa vợ/chồng.
Dân tộc của ĐTNC ĐTNC thuộc dân tộc nào: Kinh hay dân tộc khác Định danh Phỏng vấn Nghề nghiệp của ĐTNC đang làm
Nghề nghiệp chính chiếm phần lớn thời gian của ĐTNC ở thời điểm nghiên cứu (Nông dân, công nhân …) Định danh Phỏng vấn
Lệ thuộc gia đình - Thu nhập trong năm qua không đủ lo cho bản thân, phải nhờ vào sự hỗ trợ của các thành viên khác trong gia đình
THỰC TRẠNG TTĐT METHADONE CỦA ĐTNC
Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone
Số lần ĐTNC không uống Methadone trong vòng 1 tháng tính từ thời điểm NC
Phân loại Phỏng vấn / Hồi cứu bệnh án
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Lí do không tuân thủ điều trị
Nhiều người bệnh không đến uống Methadone vì các lý do như quên lịch hẹn, không muốn tham gia, gặp khó khăn trong việc di chuyển, bận rộn với công việc khác, cho rằng việc không uống không ảnh hưởng đến sức khỏe, hoặc gặp phải tác dụng phụ.
Xử trí của ĐTNC khi không tuân thủ điều trị
Cách xử trí của ĐTNC trong trường hợp không uống Methadone: Thông báo cho cơ sở điều trị hay không
Xử trí của cơ sở điều trị khi người bệnh không tuân thủ điều trị
Trong trường hợp người dùng không uống Methadone, cơ sở điều trị sẽ không thực hiện can thiệp gì mà chỉ gọi điện nhắc nhở về việc uống thuốc Ngoài ra, cơ sở cũng sẽ tiến hành khám, xét nghiệm và tư vấn cho người dùng, đồng thời thực hiện định danh và phỏng vấn để hiểu rõ hơn về tình trạng của họ.
MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TTĐT CỦA ĐTNC
THÔNG TIN CHUNG NHÂN KHẨU HỌC VÀ XÃ HỘI
Thu nhập trung bình hàng tháng
Mức thu nhập bình quân đầu người khi bắt đầu điều trị liên tục phụ thuộc vào nơi sinh sống của đối tượng nghiên cứu, bao gồm địa điểm đăng ký tạm trú hoặc thường trú, cũng như nơi làm việc, có thể là tại Đô Lương, huyện khác thuộc tỉnh Nghệ An, hoặc tỉnh khác.
Sống chung với ai Phần lớn thời gian ĐTNC sống cùng ai (Một mình, sống cùng Định danh Phỏng vấn
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Phương pháp thu thập vợ/bạn gái, sống cùng với người thân, sống cùng với bạn, không cố định …) Tình trạng mắc các bệnh truyền nhiễm
Tình trạng mắc các bệnh HIV/HBV/HCV của ĐTNC Định danh Hồi cứu bệnh án Điều trị ARV Tình trạng tham gia điều trị
ARV của NB Nhị phân Hồi cứu bệnh án
Tình trạng mắc các rối loạn lo âu
Là tình trạng bất ổn về tâm thần do sử dụng ma túy Định danh Hồi cứu bệnh án Đánh giá mức độ trầm cảm theo thang Kessler
Mức điểm đánh giá đầu vào về mức độ trầm cảm theo thang điểm Kessler
Liên tục Hồi cứu bệnh án
Xuất hiện hội chứng cai
Là các biểu hiện lâm sàng thuộc hội chứng cai được ghi nhận khi bắt đầu điều trị Định danh Hồi cứu bệnh án
Tác dụng phụ của thuốc trong 01 tháng qua
Là những tác dụng không mong muốn do điều trị Methadone được ghi trong bệnh án Định danh Hồi cứu bệnh án
Liều điều trị ban đầu
Là liều sử dụng khi khởi liều Methadone ghi trong bệnh án, tính bằng mg
Liên tục Hồi cứu bệnh án
Liều điều trị duy trì Là liều NB đạt được hiệu quả sau 04 tuần không sử dụng heroin và không xuất hiện hội chứng cai
Liên tục Hồi cứu bệnh án
Thời gian tham gia chương trình điều
Là khoảng thời gian từ khi bắt đầu điều trị đến thời điểm Liên tục Hồi cứu bệnh án
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Phương pháp thu thập trị nghiên cứu ĐẶC ĐIỂM HÀNH VI CỦA ĐTNC
Tiền sử sử dụng ma túy
Thời gian bắt đầu sử dụng ma túy Rời rạc
Lý do sử dụng ma túy Định danh
Loại ma túy ĐTNC đã từng sử dụng
Có tiêm chích ma túy không Nhị phân
Chích loại nào Định danh Nơi chích
Tần suất tiêm … Thứ bậc
Tiền sử cai nghiện ma túy
Số lần đã đi cai nghiện ma túy của ĐTNC Liên tục Phỏng vấn
Tình trạng tiết lộ thông tin sử dụng ma túy ĐTNC có tiết lộ tình trạng nghiện ma túy cho gia đình hay không: Có/Không
Thực trạng tiêm chích ma túy trong
Xác định ĐTNC tiêm chích ma trong thời gian 01 tháng gần đây Liên tục
Phỏng vấn/ Hồi cứu bệnh án
Sử dụng rượu bia trong 01 tháng qua
Tình trạng có hay không sử dụng rượu bia với số lượng bất kì
Nhị phân Hồi cứu bệnh án
Tần suất sử dụng Mức độ thường xuyên sử dụng Liên tục Hồi cứu bệnh án
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Phương pháp thu thập rượu bia trong 01 tháng qua rượu bia với lượng bất kì
Tình trạng có hay không hút thuốc lá/thuốc lào với số lượng bất kì
Nhị phân Hồi cứu bệnh án
Tần suất hút thuốc lá trong 01 tháng qua
Mức độ thường xuyên hút thuốc lá/thuốc lào với lượng bất kì Liên tục Hồi cứu bệnh án
Tiền án, tiền sự trước khi tham gia điều trị
Tình trạng có hay không vi phạm quy định của pháp luật và đã bị cơ quan có thẩm quyền xử lí
Nhị phân Hồi cứu bệnh án
Nội dung tiền án, tiền sự
Hình thức vi phạm và đã bị cơ quan có thẩm quyền xử lí Định danh Hồi cứu bệnh án
KIẾN THỨC VỀ ĐIỀU TRỊ VÀ TTĐT METHADONE
Kiến thức của ĐTNC về
Mức độ kiến thức của ĐTNC về Methadone và điều trị Methadone: Tốt/Trung bình/Kém
Kiến thức của ĐTNC về tuân thủ điều trị Methadone
Mức độ Kiến thức của ĐTNC về Methadone và điều trị Methadone: Tốt/Trung bình/Kém
Sự hỗ trợ của gia đình trong điều trị
Sự giúp đỡ từ người thân trong gia đình liên quan đến việc điều Định danh Phỏng vấn
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Phương pháp thu thập trị MMT
Hình thức hỗ trợ của gia đình trong điều trị
Hỗ trợ vật chất, tinh thần Định danh Phỏng vấn
Sự kì thị, phân biệt Có sự kì thị, phân biệt không Nhị phân Phỏng vấn
DỊCH VỤ ĐIỀU TRỊ METHADONE
Tính sẵn có và dễ tiếp cận của chương trình điều trị MMT
Mức độ sẵn có của chương trình điều trị MMT theo ý kiến của ĐTNC: dễ tiếp cận/khó tiếp cận chương trình
NB đến cơ sở điều trị bằng phương tiện gì Phân loại Phỏng vấn Đánh giá của người bệnh về thái độ, phục vụ của CBYT
Thái độ, phục vụ của CBYT tại CSĐT điều trị methadone theo ý kiến của ĐTNC: Hài lòng/
Phân loại Phỏng vấn Đánh giá dịch vụ điều trị của người bệnh
Mức độ đáp ứng của dịch vụ điều trị MMT theo ý kiến của ĐTNC: Hài lòng/ Chưa hài lòng
Phân loại Phỏng vấn Đánh giá về mưc phí phải trả
Mức độ hài lòng của người bệnh về mức phí phải trả Phân loại Phỏng vấn
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG
Có hay không có bạn bè là người NCMT Nhị phân Phỏng vấn
Biến số Định nghĩa Loại biến số
Công an trong vùng Các hoạt động của công an trong vùng có ảnh hưởng đến tình trạng TTĐT của NB Định danh Phỏng vấn
Sự kỳ thị đối với người bệnh tham gia điều trị MMT ĐTNC xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau Qua quá trình phỏng vấn, người bệnh đã nhận thấy rằng sự kỳ thị này không chỉ đến từ xã hội mà còn từ chính những người xung quanh họ Điều này ảnh hưởng lớn đến tâm lý và quá trình điều trị của họ.
Chính sách điều trị Các đổi tượng tham gia được hưởng những chính sách điều trị nào Định danh Phỏng vấn
• Chủ đề trong nghiên cứu định tính
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân tại cơ sở điều trị Methadone thông qua hai đối tượng chính: người nhà bệnh nhân và cán bộ y tế (CBYT) làm việc tại cơ sở.
- Các yếu tố thuộc về môi trường: sự kì thị của cộng đồng, các chính sách được hưởng khi tham gia điều trị
Các yếu tố liên quan đến dịch vụ điều trị bao gồm quy trình điều trị, chính sách thu phí, đội ngũ cán bộ làm việc tại cơ sở điều trị, và mức độ hài lòng của nhân viên với vị trí công việc.
- Các yếu tố thuộc về gia đình: sự hỗ trợ của gia đình, sự kì thị, mối liên hệ giữa người bệnh, gia đình và cơ sở điều trị
Tiêu chuẩn đánh giá
Đánh giá tuân thủ điều trị : Dựa vào hướng dẫn điều trị Methadone của Bộ Y tế
(8), tuân thủ điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone được đánh giá như sau:
- Tuân thủ điều trị: Không bỏ liều điều trị ngày nào trong 1 tháng qua
- Không tuân thủ điều trị: có bỏ liều điều trị trong 1 tháng qua Đánh giá Kiến thức của ĐTNC về Methadone và tuân thủ điều trị Methadone:
Các câu hỏi liên quan đến kiến thức và tuân thủ điều trị Methadone được xây dựng dựa trên hướng dẫn điều trị của Bộ Y tế năm 2010 và tham khảo các nghiên cứu thực hiện tại Ninh Bình và Đắc Lắc vào năm 2018.
Trong nghiên cứu này, kiến thức của người bệnh được đánh giá cụ thể như sau:
Methadone là một loại thuốc được sử dụng trong điều trị nghiện, và câu hỏi về Methadone cho thấy rằng câu trả lời 1 là đúng, trong khi các câu trả lời khác không chính xác Tương tự, trong điều trị Methadone, câu trả lời 1 cũng phản ánh sự hiểu biết đúng đắn, trong khi các câu trả lời còn lại không đúng.
Câu hỏi về tuân thủ điều trị Methadone: trả lời 1 là hiểu đúng về tuân thủ Methadone; còn lại là hiểu không đúng
Đánh giá về điều trị Methadone đạt yêu cầu khi người bệnh trả lời đúng cả 3 câu hỏi Nghiên cứu tại cơ sở điều trị của Lê Nguyễn Bảo Châu ở Đăk Lắk năm 2018 đã khảo sát mức độ hài lòng của người bệnh đối với thái độ của cán bộ y tế và cơ sở vật chất Câu hỏi về dịch vụ điều trị chỉ tập trung vào sự hài lòng của người bệnh, với các câu trả lời được phân loại là hài lòng hoặc không hài lòng Đánh giá hài lòng chung được xác định dựa trên tổng số điểm của các câu trả lời.
+ Từ 4 điểm trở lên: Hài lòng
+ Dưới 4 điểm: Không hài lòng
Phân tích từng câu để đánh giá mức độ hài lòng của bệnh nhân đối với bác sĩ, tư vấn viên, nhân viên cấp phát thuốc, nhân viên hành chính, kỹ thuật viên xét nghiệm và nhân viên bảo vệ Đồng thời, cần xem xét sự hài lòng với mức thu phí hiện hành Ngoài ra, đánh giá sự hỗ trợ từ gia đình cũng rất quan trọng, bao gồm việc xác định có hay không sự hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình.
Sự hỗ trợ thể hiện như thế nào
Người bệnh tham gia điều trị MMT đã từng bị kỳ thị hay chưa bao giờ bị kỳ thị Đánh giá về tác động của môi trường:
Bạn bè là người nghiện có tác động tới sự TTĐT của người bệnh
Công an có ảnh hưởng tới tình trạng TTĐT hay không: 1 là có, 2 là không
Phân tích số liệu
Mỗi phiếu trả lời của đối tượng nghiên cứu được nhập và quản lý bằng phần mềm Epidata 3.1, trong khi các số liệu được kiểm tra, xử lý và phân tích thông qua phần mềm Stata 5.0.
Phần phỏng vấn sâu được ghi âm toàn bộ và ghi chép các thông tin chính Sau khi hoàn thành cuộc phỏng vấn, học viên sẽ gỡ băng để thu thập thông tin đầy đủ từ các ĐTNC.
Kết quả phân tích được chia thành hai phần là phần mô tả và phân tích mối liên quan một số yếu tố ảnh hưởng:
Phân tích thống kê mô tả được thực hiện để xác định các đặc trưng chung và tỷ lệ tuân thủ điều trị của bệnh nhân đang sử dụng Methadone, cũng như tình trạng nhiễm HIV, HBV và HCV.
Phân tích mối liên quan giữa các yếu tố như đặc điểm cá nhân, kiến thức, sự hài lòng của người điều trị nghiện chất (ĐTNC), sự hỗ trợ của gia đình và cán bộ y tế (CBYT) là cần thiết để hiểu rõ hơn về việc tuân thủ điều trị Methadone của ĐTNC Những yếu tố này có thể ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả điều trị và sự thành công trong việc phục hồi của người bệnh.
Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu đã nhận được sự chấp thuận từ Giám đốc Trung tâm Y tế Đô Lương, cùng với sự đồng ý tham gia của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và cán bộ y tế.
Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế công cộng phê duyệt theo số 147/2020/YTCC-HD3 vào ngày 13/4/2020, cho phép triển khai nghiên cứu với các vấn đề đạo đức liên quan.
- Những quy định về đạo đức nghiên cứu đã được tuân thủ đúng trong quá trình tiến hành nghiên cứu.
Hạn chế nghiên cứu đánh giá
Hạn chế và cách khắc phục:
Việc thu thập thông tin từ người nghiện các chất dạng thuốc phiện thường gặp sai số do thái độ hợp tác của họ Để khắc phục tình trạng này, điều tra viên cần giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, đồng thời động viên sự tự nguyện tham gia của họ.
Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 đã ảnh hưởng đến quá trình thu thập số liệu, khi nhiều bệnh nhân lo ngại về dịch bệnh đã quyết định bỏ qua chương trình điều trị.
- Cỡ mẫu nghiên cứu còn ít tại 01 cơ sở và sử dụng phương pháp phân tích đơn biến nên độ tin cậy có thể bị hạn chế
Sai số và cách khắc phục:
Để giảm thiểu sai số thông tin do người tham gia không trả lời trung thực các câu hỏi nhạy cảm hoặc liên quan đến chất lượng dịch vụ, học viên cần giải thích rõ ràng ý nghĩa và mục đích của nghiên cứu Họ cũng nên khéo léo trong việc khai thác thông tin và xem xét các câu trả lời dựa trên bối cảnh và thái độ của người tham gia.
Nghiên cứu chủ yếu dựa vào phỏng vấn người bệnh, điều này có thể gây ra sai số tự khai báo và sai số nhớ lại, đặc biệt khi đề cập đến thông tin nhạy cảm như việc sử dụng ma túy và chất lượng cuộc sống Người bệnh thường có xu hướng trả lời theo cách có lợi cho bản thân thay vì thực tế Tuy nhiên, việc đảm bảo tính bí mật và quyền riêng tư có thể giúp giảm thiểu vấn đề này.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Một số thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3 1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Tuổi TB Tuổi nhỏ nhất 19, lớn nhất 52, trung bình 37,9 (±7,8)
Ngoài tỉnh 0 0 Đang sống cùng ai
Bảng 3.1 cho thấy trong 98 đối tượng nghiên cứu, 100% là người dân tộc Kinh, sinh sống chủ yếu trên địa bàn huyện 94,9%, trong đó nam giới chiếm 99%;
Trong nghiên cứu, độ tuổi của bệnh nhân tham gia điều trị dao động từ 19 đến 52 tuổi, với độ tuổi trung bình là 37,9 (±7,8) Đặc biệt, tỷ lệ bệnh nhân từ 30 tuổi trở lên chiếm 80,6%.
Trình độ học vấn của nhóm người bệnh (NB) khá thấp, với 41,9% có trình độ dưới trung học phổ thông Đáng chú ý, 87,8% trong số họ đang có việc làm và tham gia vào quá trình điều trị Methadone (MMT).
Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng theo tình trạng hôn nhân
Từ biểu đồ 3.1 ta thấy, 26,5% NB đang sống độc thân, 65,3% NB đã kết hôn và 8,2% NB đã ly hôn/ly thân HUPH
Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone của người bệnh tham gia nghiên cứ
Bảng 3.2 Thực trạng bỏ liều điều trị trong 01 tháng qua
Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)
Số ngày bỏ liều trong 01 tháng qua
Trên 05 ngày liên tiếp trở lên
Lý do bỏ liều điều trị trong 01 tháng qua
Do không sắp xếp được công việc
Bảng 3.2 cho thấy tỷ lệ tuân thủ điều trị (Không bỏ liều ngày nào trong 01 tháng qua) của người bệnh là 77,6%, tỷ lệ không tuân thủ điều trị là 22,4%
Những lý do bỏ liều điều trị là:
Do không thể sắp xếp công việc, 52,2% người bệnh đã phải bỏ liều điều trị Nguyên nhân chủ yếu là do họ phải đi làm xa hoặc thường xuyên bận rộn với tính chất đặc thù về giờ giấc làm việc.
- Do các vấn đề về sức khỏe chiếm 30,4% một số người bệnh sức khỏe không đảm bảo nên không thể đến cơ sở uống thuốc đúng quy định
- 17,4% người bệnh không nêu rõ lí do dẫn đến bỏ trị, hầu hết các NB này không muốn thổ lộ nguyên nhân vì sao đã bỏ trị
Mô tả thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị Methadone
3.3.1 Yếu tố cá nhân của người bệnh tham gia nghiên cứu
3.3.1.1 Đặc điểm sức khỏe và điều trị
Bảng 3.3 Phân bố người bệnh theo tình trạng mắc một số bệnh
Tình trạng sức khỏe Số lượng Tỷ lệ (%)
Tình trạng nhiễm HIV Âm tính
84,7 15,3 Tình trạng mắc viêm gan B Âm tính
93,9 6,1 Tình trạng mắc viêm gan C Âm tính
42,9 57,1 Tình trạng mắc lao Âm tính
99,0 1,0 Tình trạng mắc các rối loạn lo âu
Theo Bảng 3.3, tỷ lệ người bệnh nhiễm HIV là 15,3%, viêm gan B là 6,1%, và viêm gan C là 57,1% Trong khi đó, tỷ lệ mắc lao chỉ là 1% và rối loạn lo âu là 3,1%, cho thấy tình trạng sức khỏe tâm thần và thể chất của bệnh nhân cần được chú ý.
Bảng 3.4 Phân bố người bệnh theo thời gian tham gia điều trị, liều điều trị và tác dụng phụ của người bệnh trong 01 tháng qua
Thời gian tham gia chương trình
16,3 20,4 13,3 50,0 Liều điều trị ban đầu
70,4 29,6 Liều điều trị duy trì
49,5 50,5 Xuất hiện hội chứng cai khi bắt đầu điều trị
0 Mức điểm đánh giá theo COWS
55,1 43,9 1,0 Tác dụng phụ trong 01 tháng qua
Bảng 3.4 chỉ ra rằng có 83,7% người bệnh đã điều trị tại cơ sở trên 12 tháng, trong khi 16,3% còn lại có thời gian điều trị dưới 12 tháng.
Liều điều trị ban đầu 0,05, cho thấy không có sự khác biệt so với các nhóm khác.
Bảng 3.22 Yếu tố ảnh hưởng giữa tiền sử sử dụng CDTP và TTĐT
Yếu tố Tuân thủ điều trị OR
Tuổi bắt đầu sử dụng ma túy
Tổng thời gian sử dụng ma túy
Tiền sử sử dụng chung BKT
Bảng 3.21 chỉ ra rằng không có sự ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê giữa việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân và các yếu tố như tuổi bắt đầu, tổng thời gian sử dụng ma túy, tiền sử sử dụng chung BKT, tiền sử quá liều, và tiền sử cai nghiện CDTP (p>0,05).
Bảng 3.23 Yếu tố ảnh hưởng giữa sử dụng heroin, chất gây nghiện bất hợp pháp khác, rượu bia, thuốc lá với TTĐT
Yếu tố Tuân thủ điều trị OR
Xét nghiệm heroin nước tiểu Âm tính
Sử dụng rượu bia trong quá trình điều trị MMT
Sử dụng chất gây nghiện bất hợp pháp khác trong quá trình điều trị MMT
Kết quả từ bảng 3.22 cho thấy có sự ảnh hưởng thống kê đáng kể giữa việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân và việc sử dụng Heroin trong quá trình điều trị Methadone Cụ thể, bệnh nhân không sử dụng Heroin trong quá trình điều trị có khả năng tuân thủ cao gấp 4,9 lần so với những bệnh nhân sử dụng Heroin, với tỷ lệ odds ratio (OR) là 4,9, khoảng tin cậy 95% (1,78-13,42) và p0,05)
3.4.4 Sự ảnh hưởng giữa các yếu tố môi trường và TTĐT MMT
Bảng 3.28 Yếu tố ảnh hưởng giữa bạn bè NCMT và TTĐT của người bệnh
Tuân thủ điều trị OR
Gặp gỡ bạn bè NCMT
Kết quả từ bảng 3.27 cho thấy, bệnh nhân có gặp gỡ bạn bè NCMT có tỷ lệ TTĐT thấp hơn một nửa (OR=0,55, 95%CI (0,14-2,08)) so với bệnh nhân không gặp hoặc hiếm gặp bạn bè NCMT; tuy nhiên, ảnh hưởng này không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05).
Bảng 3.29 Yếu tố ảnh hưởng giữa công an và TTĐT của người bệnh
Tuân thủ điều trị OR
Công an trong vùng có ảnh hưởng
HUPH đến sự tham gia điều trị
Công an có hỗ trợ điều trị
Bảng 3.30 Yếu tố ảnh hưởng giữa chính sách hỗ trợ và TTĐT của người bệnh
Yếu tố Tuân thủ điều trị OR
NB có được hưởng các chính sách hỗ trợ không
Kết quả từ bảng 3.29 và 3.30 chỉ ra rằng không có mối liên hệ thống kê có ý nghĩa giữa TTĐT và các yếu tố như công an trong vùng cũng như chính sách hỗ trợ người bệnh điều trị (p>0,05).
Yếu tố đối tượng bị ảnh hưởng bởi công an trong vùng có khả năng TTĐT cao hơn 2,47 lần so với đối tượng không bị ảnh hưởng (OR=2,47, p>0,05) Ngoài ra, những đối tượng tham gia điều trị và được hưởng chính sách hỗ trợ có khả năng TTĐT cao gấp 1,76 lần so với những người không được hưởng chính sách.
BÀN LUẬN
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Trong nghiên cứu về nơi cư trú của người bệnh tham gia điều trị Methadone, có đến 94,9% người bệnh đến từ huyện Đô Lương, cao hơn so với tỷ lệ 86,6% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Nương tại Ninh Bình năm 2018 Sự tập trung này phù hợp với phân bố các cơ sở điều trị Methadone tại tỉnh Nghệ An, khi mỗi huyện chỉ có một cơ sở Giao thông thuận lợi tại địa phương cũng giúp người bệnh dễ dàng tiếp cận các cơ sở điều trị Ngoài ra, một số người bệnh từ các huyện lân cận như Thanh Chương và Yên Thành cũng chọn tham gia điều trị tại Đô Lương do sự thuận tiện trong việc di chuyển.
Về giới tính, có 99% NB là nam giới tỷ lệ này cao hơn so với nghiên cứu của Lê
Vào năm 2018, tại Đăk Lawk, tỷ lệ nam giới chiếm 97,5% trong số người tham gia nghiên cứu, với 42 nam giới Sự chênh lệch này không lớn, chủ yếu do phần lớn người nhiễm HIV tại Đô Lương là nam giới, dẫn đến việc nam giới đăng ký điều trị nhiều hơn nữ giới.
Trong nghiên cứu, độ tuổi của bệnh nhân (NB) tham gia điều trị dao động từ 19 đến 52, với độ tuổi trung bình là 37,9 (± 7,8) Đặc biệt, tỷ lệ NB từ 30 tuổi trở lên chiếm 80,6%, cao hơn so với nghiên cứu của Lê Nguyễn Bảo Châu năm 2018, khi tuổi trung bình là 33,9 (± 7,5) và tỷ lệ NB trên 30 tuổi là 67,4% Theo số liệu giám sát hàng năm của Công an huyện Đô Lương, người nghiện ma túy (NCMT) chủ yếu dưới 45 tuổi, trong đó tỷ lệ NCMT từ 18-30 tuổi chỉ khoảng 6-8% so với tổng số.
Về tình trạng hôn nhân, người đang sống cùng, có 65,3% NB đã kết hôn và
96,9% người bệnh đang sống cùng vợ con hoặc bố mẹ, cho thấy vai trò quan trọng của gia đình trong quá trình điều trị Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sống cùng gia đình thúc đẩy sự tiến triển trong điều trị, nhờ vào sự hỗ trợ và nhắc nhở từ người thân, đặc biệt là trong giai đoạn khởi liều Sự hỗ trợ từ vợ hoặc chồng cũng đóng góp đáng kể vào quá trình này.
NB là yếu tố quan trọng trong việc nhắc nhở người bệnh uống thuốc đúng giờ, góp phần nâng cao tuân thủ điều trị Methadone khi tham gia chương trình Sự hỗ trợ từ gia đình cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phối hợp với cơ sở điều trị trong quá trình điều trị của người bệnh.
Trong nghiên cứu này, 58,1% đối tượng tham gia có trình độ học vấn từ trung học phổ thông trở lên, cao hơn so với 45,5% trong nghiên cứu của Nguyễn Thanh Long, Lê Trường Giang và Vũ Văn Công (2011) và 50,9% trong nghiên cứu của Nguyễn Lê Bảo Châu tại Đắk Lắk năm 2018 Điều này cho thấy đối tượng nghiên cứu có khả năng tiếp nhận thông tin và hiểu biết về chương trình điều trị tốt hơn.
Trong nghiên cứu, có 87,8% người bệnh có việc làm, cao hơn so với 67,7% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Nương tại Ninh Bình năm 2018 Sự khác biệt này có thể do thời điểm nghiên cứu của Nguyễn Thị Nương diễn ra khi chương trình điều trị vừa bắt đầu, trong khi nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng tình trạng việc làm của người nghiện chất dạng thuốc phiện được cải thiện đáng kể sau khi tham gia điều trị Methadone.
Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone
Trong nghiên cứu, có 77,6% người bệnh tuân thủ điều trị Methadone theo quy định, không bỏ liều nào trong tháng qua, trong khi 22,4% người bệnh không tuân thủ, bỏ liều từ 01 đến 05 ngày Tỷ lệ tuân thủ này cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Bảo Châu (63,5%) và Nguyễn Thị Nương (64,6%) vào năm 2018 Sự khác biệt có thể do thời gian đánh giá và thu thập số liệu khác nhau, và những người bệnh đã duy trì điều trị có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với những người mới bắt đầu.
Trong số 22,4% bệnh nhân không tuân thủ điều trị, lý do chính khiến họ bỏ thuốc là do không sắp xếp được công việc, chiếm 52,2%.
Tỷ lệ người bệnh bỏ liều điều trị là 30,4%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Lê Bảo Châu (64,4%) Nguyên nhân chủ yếu là do tính chất công việc phải đi làm xa hoặc bận rộn, dẫn đến việc không thể tuân thủ giờ giấc điều trị Ngoài ra, 30,4% người bệnh gặp vấn đề về sức khỏe, không thể đến cơ sở y tế để uống thuốc đúng quy định Một tỷ lệ 17,4% người bệnh không nêu rõ lý do bỏ trị, cho thấy họ không muốn chia sẻ nguyên nhân của mình.
Khoảng 64,4% người bệnh bỏ trị do phải đi làm xa hoặc bận rộn với công việc có tính chất đặc thù về giờ giấc Tiếp theo, 21,8% người bệnh quên việc điều trị, có thể do ngủ quên hoặc bị cuốn vào công việc đến mức quên giờ làm việc của cơ sở điều trị.
Có 23 NB bỏ uống thuốc từ 4 ngày trở lên (8,3%), tất nhiên theo phác đồ điều trị của BYT (8) thì những NB này sẽ được điều chỉnh liều hoặc khởi liều lại Tuy tỷ lệ này không cao nhưng cần lưu ý các người bệnh này, tìm hiểu rõ nguyên nhân, đưa ra giải pháp phù hợp để khắc phục và thường xuyên tư vấn để có sự hỗ trợ cần thiết và hợp lý.
Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị
4.3.1 Yếu tố thuộc về cá nhân của người bệnh nghiên cứu
4.3.1.1 Đặc điểm sức khỏe và điều trị
Tỷ lệ người bệnh nhiễm HIV trong nghiên cứu này là 15,3%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Nương tại Ninh Bình năm 2018 (13,4%) và cao hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long, Đào Thị Minh An tại Thái Nguyên năm 2015 (43,3%) Sự khác biệt này có thể do đối tượng nghiên cứu tại Thái Nguyên chủ yếu là những người bỏ trị và rời khỏi chương trình, dẫn đến tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn so với nhóm đang duy trì điều trị.
Tỷ lệ người mắc viêm gan B là 6,1%, thấp hơn so với tỷ lệ nhiễm HIV và các nghiên cứu trước đây tại Ninh Bình (11,6%), Thái Nguyên (25%) và TP.HCM (20,6%) Ngược lại, tỷ lệ người mắc viêm gan C lên tới 57,1%, cho thấy hơn một nửa số người điều trị tại cơ sở này nhiễm viêm gan C, cao hơn nhiều so với viêm gan B và HIV Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn thấp hơn so với Ninh Bình (76,2%) và TP.HCM (69,8%), nhưng cao hơn Thái Nguyên (45,4%) Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc viêm gan C ở những người nghiện CDTP là tương đối cao và ở mức trung bình so với toàn quốc.
Tỷ lệ người tham gia nghiên cứu mắc Lao chỉ đạt 1%, thấp hơn so với tỷ lệ 3,7% ở Ninh Bình Nguyên nhân chính dẫn đến tỷ lệ mắc Lao thấp này là nhờ vào quy trình khám sàng lọc và chẩn đoán Lao hàng năm tại cơ sở, giúp phát hiện kịp thời các trường hợp dương tính.
HUPH sẽ chuyển gửi điều trị kịp thời nên tỷ lệ người mắc Lao ít và không có trường hợp lây nhiễm khi đang điều trị MMT
Tỷ lệ người mắc rối loạn lo âu là 3.1%, thấp hơn nhiều so với 26,1% tại Tuyên Quang Theo bác sĩ điều trị và tư vấn viên, người bệnh được tư vấn rõ ràng về lợi ích của điều trị MMT và cách giải quyết các tác dụng phụ Họ cũng nhận thấy rằng điều trị MMT tương tự như điều trị các bệnh mãn tính như cao huyết áp và tiểu đường Sự gần gũi và chia sẻ của các cán bộ điều trị giúp tạo tâm lý thoải mái cho người bệnh khi tham gia điều trị, không có sự phân biệt hay kỳ thị.
Trong chương trình, tỷ lệ người bệnh điều trị dưới 12 tháng là 16,3%, trong khi đó, 83,7% người bệnh điều trị trên 12 tháng, và 50% trong số đó đã điều trị trên 36 tháng Điều này cho thấy tỷ lệ người bệnh duy trì điều trị cao trong số những người tham gia Mặc dù vậy, số lượng người bệnh điều trị mới vẫn còn thấp, trong khi số người nghiện ma túy tại địa bàn vẫn ở mức cao với 456 người.
Khoảng 70,4% bệnh nhân được điều trị với liều khởi đầu dưới 20 mg, trong khi 29,6% bắt đầu với liều từ 20 mg trở lên, với một trường hợp khởi liều cao nhất là 30 mg Mức khởi liều này phù hợp với hướng dẫn tại Quyết định 3140/QĐ-BYT của Bộ Y tế Khi chỉ định khởi liều, bác sĩ sẽ xem xét tình trạng sử dụng CDTP và sức khỏe hiện tại của bệnh nhân để xác định liều lượng phù hợp cho từng trường hợp.
Trong nghiên cứu, 49,5% người bệnh duy trì liều điều trị dưới 60 mg, trong khi 50,5% duy trì liều từ 60 mg trở lên Liều thấp nhất ghi nhận là 0,5 mg và cao nhất là 290 mg Đặc biệt, người bệnh sử dụng liều 290 mg có tiền sử nhiễm HIV và đang điều trị bằng thuốc ARV, cho thấy việc kết hợp thuốc ARV có thể làm giảm mức độ hấp thụ Methadone, dẫn đến việc cần thiết phải sử dụng liều cao hơn so với các đối tượng khác.
Tất cả người bệnh tham gia điều trị tại đây đều gặp phải hội chứng cai khi bắt đầu điều trị, điều này hoàn toàn phù hợp với phác đồ điều trị của Bộ Y tế Nguyên nhân là do liều Methadone khởi đầu chưa đáp ứng đủ mức độ dung nạp.
Hội chứng cai xuất hiện khi cơ thể người bệnh thiếu hụt các chất cần thiết, đặc biệt là CDTP Theo thang điểm COWS, tỷ lệ hội chứng cai ở mức nhẹ là 55,1%, mức trung bình là 43,9% và mức nặng chỉ chiếm 1% Sự khác biệt này phụ thuộc vào mức sử dụng chất dạng thuốc phiện cũng như tình trạng sức khỏe và cơ địa của từng người.
Trong một tháng qua, 55,1% người tham gia điều trị Methadone đã gặp phải tác dụng phụ Theo hướng dẫn của Bộ Y tế, người nghiện chất dạng thuốc phiện thường gặp các tác dụng phụ như táo bón, khô miệng, và tăng tiết mồ hôi Tỷ lệ người bị táo bón trong số này phù hợp với các khuyến cáo trong hướng dẫn điều trị.
Theo nghiên cứu, 83,7% người bệnh lần đầu sử dụng chất gây nghiện (CDTP) trước 30 tuổi, trong khi 16,3% bắt đầu từ 30 tuổi trở lên Độ tuổi sử dụng CDTP dao động từ 14 đến 46 tuổi, nhưng chủ yếu tập trung ở nhóm dưới 30 tuổi Điều này phản ánh xu hướng trẻ hóa trong tình hình tệ nạn ma túy tại huyện Đô Lương.
Tỷ lệ người bệnh bắt đầu tiêm chích chất gây nghiện (CDTP) dưới 30 tuổi là 56,1%, trong khi tỷ lệ từ 30 tuổi trở lên chỉ đạt 14,3% Điều này cho thấy rằng nhiều người bệnh đã sử dụng CDTP qua các hình thức khác như hút hoặc hít trước khi chuyển sang tiêm chích.
Thời gian sử dụng CDTP dao động từ 1 đến 27 năm, với trung bình là 6,8 năm, thấp hơn so với nghiên cứu ở Ninh Bình năm 2018 là 7,6 năm Thời gian sử dụng CDTP của các đối tượng nghiên cứu tương đối dài, do đó, thời gian điều trị MMT tại CSĐT cũng cần tối thiểu tương đương với thời gian sử dụng CDTP Việc thực hiện tốt chương trình điều trị sẽ giúp người bệnh tránh tái sử dụng CDTP.
Tỷ lệ người bệnh sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT) đạt 15,3%, cao hơn nhiều so với mức 2,6% được ghi nhận tại TP.HCM Hành vi này tiềm ẩn nguy cơ cao lây nhiễm HIV, viêm gan B và các bệnh lây truyền qua máu khác Mặc dù đã có các chương trình can thiệp giảm tác hại nhằm ngăn chặn hành vi này, tỷ lệ vẫn còn đáng lo ngại.
Tại HUPH, tỷ lệ người bệnh sử dụng chung BKT vẫn cao, có thể do tâm lý chủ quan Khi lên cơn nghiện, người bệnh thường không kiểm soát được hành vi và suy nghĩ của mình.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị
Nghiên cứu này chỉ ra rằng yếu tố nghề nghiệp ảnh hưởng đáng kể đến tuân thủ điều trị Cụ thể, người bệnh thất nghiệp có nguy cơ không tuân thủ điều trị cao gấp 4,37 lần so với người có việc làm (OR=4,37, 95%CI: 1,24-15,2, p