ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu
Điều dưỡng trực tiếp chăm sóc tại các phòng hồi sức tích cực được thực hiện ở ba khoa lâm sàng: Khoa Hồi sức ngoại thần kinh, Khoa Ngoại thần kinh 3B1 và Khoa Ngoại thần kinh 3B3.
Định lượng trong nghiên cứu này dựa trên các tiêu chí lựa chọn và loại trừ cụ thể Tiêu chí lựa chọn bao gồm điều dưỡng trực tiếp chăm sóc tại phòng Hồi sức tích cực và đồng ý tham gia nghiên cứu Ngược lại, tiêu chí loại trừ áp dụng cho điều dưỡng làm công việc hành chính (chăm sóc gián tiếp) và những điều dưỡng không tham gia chăm sóc trong thời gian nghiên cứu do đi học, thai sản hoặc nghỉ ốm.
Định tính: chọn mẫu có chủ đích o Tiêu chí lựa chọn:
Phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và các quản lý phòng như điều dưỡng, quản lý chất lượng, và kiểm soát nhiễm khuẩn, cùng với điều dưỡng trưởng khoa, nhằm thu thập thông tin chi tiết về quy trình và chiến lược quản lý trong bệnh viện.
Trong cuộc thảo luận nhóm, chúng tôi sẽ xem xét các điều dưỡng trưởng theo từng ca trực, cùng với các điều dưỡng viên có thâm niên công tác từ 5 năm, 10 năm đến 15 năm trở lên Đối tượng tham gia sẽ được lựa chọn dựa trên tiêu chí loại trừ là những người không thể sắp xếp thời gian tham gia.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu đƣợc thực hiện từ tháng 03/ 2020 đến tháng 10/ 2020
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Tại 3 khoa có phòng hồi sức tích cực, bao gồm:
Khoa Hồi sức Ngoại thần kinh
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lƣợng và nghiên cứu định tính
Nghiên cứu định lượng được thực hiện nhằm quan sát thực hành chăm sóc phòng ngừa VPLQTM của điều dưỡng tại 03 khoa có phòng hồi sức tích cực Mỗi điều dưỡng được quan sát một lần trong các ca trực khác nhau, sau đó được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi về thông tin cá nhân và kiến thức liên quan đến thực hành gói phòng ngừa VPLQTM Mục tiêu của nghiên cứu là thu thập thông tin về thực hành phòng ngừa của điều dưỡng.
Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi phân tích sơ bộ kết quả nghiên cứu định lượng, nhằm khám phá sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành dựa trên những phát hiện từ kết quả định lượng.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Nghiên cứu được thực hiện với cỡ mẫu toàn bộ, bao gồm 79 điều dưỡng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân tại phòng hồi sức của 03 khoa Mỗi điều dưỡng tham gia nghiên cứu được quan sát thực hành một lần, đảm bảo đáp ứng các tiêu chí lựa chọn.
Số lƣợng ĐD tham gia nghiên cứu tại 3 khoa nhƣ sau:
- Khoa Hồi sức Ngoại thần kinh: 40 ĐD
- Khoa Ngoại thần kinh 3B1: 12 ĐD
- Khoa Ngoại thần kinh 3B3: 27 ĐD
Cỡ mẫu định tính: chọn mẫu có chủ đích, tổng mẫu là 22 đối tƣợng (Bảng 2.1)
Phỏng vấn sâu (PVS) đã được thực hiện với 7 đối tượng, bao gồm lãnh đạo bệnh viện, quản lý phòng điều dưỡng, quản lý phòng kiểm soát nhiễm khuẩn, quản lý phòng quản lý chất lượng, và điều dưỡng trưởng của 3 khoa.
Nhóm thảo luận (TLN) bao gồm 15 đối tượng, trong đó có 6 ĐD trưởng tua trực và 9 ĐD thuộc nhóm ĐDV Các ĐD được chia thành 02 nhóm thảo luận, đảm bảo sự cân đối về tuổi tác, giới tính, trình độ học vấn và thâm niên công tác tại bệnh viện.
Nhóm 1: điều dưỡng trưởng tua trực (mỗi khoa chọn 2 điều dưỡng trưởng tua trực)
Nhóm 2: điều dƣỡng viên (mỗi khoa chọn 3 ĐDV trực tiếp chăm sóc)
Bảng 2.1: Bảng đối tượng và cỡ mẫu định tính
STT Đối tƣợng Phỏng vấn sâu
Thảo luận nhóm tập trung
2 Quản lý phòng điều dƣỡng 01
3 Quản lý phòng kiểm soát nhiễm khuẩn 01
4 Quản lý phòng quản lý chất lƣợng 01
5 Điều dưỡng trưởng khoa (3 khoa) 03
6 Điều dưỡng trưởng tua trực 01(6)
Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp: Quan sát + phát vấn theo bộ câu hỏi đã được xây dựng theo nội dung thực hành phòng ngừa VPLQTM
1 Bộ câu hỏi tự điền: Khảo sát kiến thức theo nội dung gói phòng ngừa VPLQTM đƣợc thiết kế dựa trên nội dung của “Bảng kiểm thực hành gói phòng ngừa VPLQTM” (phụ lục 1) Bảng kiểm này đã đƣợc BV xây dựng năm 2018, áp dụng cho tất cả các khoa HSTC và các khoa lâm sàng
HUPH có phòng HSTC Tính hiệu quả của bảng kiểm thể hiện qua việc kiểm soát đƣợc tỷ lệ VPLQTM tại BV
2 Phiếu quan sát thực hành VPLQTM (phụ lục 2.1): đƣợc thiết kế sẵn, dựa trên công cụ giám sát gói VPLQTM và bảng kiểm thực hành VPLQTM, đang sử dụng tại BV Chợ Rẫy Điều tra viên: học viên + 02 nhân viên (01 nhân viên trong đội giám sát thực hành phòng ngừa VPLQTM thuộc phòng điều dƣỡng, 01 nhân viên của khoa kiểm soát nhiễm khuẩn), có kiến thức, kỹ năng giám sát, đánh giá tuân thủ thực hành phòng ngừa VPLQTM Học viên cùng các điều tra viên cùng thảo luận thống nhất nội dung và cách thức thực hiện trước khi tiến hành việc thu thập số liệu
Danh sách điều dƣỡng tham gia nghiên cứu, thực hiện chăm sóc NB sẽ do Điều dưỡng trưởng khoa cung cấp
Quá trình thực hiện thu thập số liệu đƣợc thực hiện nhƣ sau:
Học viên sẽ gặp các điều dưỡng trưởng tại ba khoa nghiên cứu để trình bày mục đích, kế hoạch và thời gian thực hiện từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2020 Nhóm điều tra viên sẽ quan sát thực hành của điều dưỡng nhưng không tiết lộ đối tượng và thời gian quan sát Sau khi nhận được sự đồng ý từ lãnh đạo khoa và các đối tượng nghiên cứu, điều tra viên sẽ tiến hành quan sát thực hành gói phòng ngừa VPLQTM và kiểm tra nội dung thực hành thông qua phiếu giám sát Phương pháp quan sát không tham gia sẽ được sử dụng, với điều tra viên đứng ở vị trí phù hợp để không ảnh hưởng đến công tác chăm sóc Các đối tượng tham gia không biết trước khi nào và ai sẽ quan sát, và điều tra viên sẽ ghi lại các bước thực hiện của điều dưỡng trong bảng kiểm.
Mỗi điều dưỡng tham gia nghiên cứu được quan sát ngẫu nhiên vào thời gian các điều tra viên thực hiện quan sát, với một mã số nghiên cứu tương ứng với mã số phiếu khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phòng ngừa vi phạm luật phòng chống tham nhũng Đối tượng nghiên cứu được theo dõi theo danh sách lịch trực hàng ngày, đã được thảo luận trước với đội ngũ điều dưỡng của khoa.
Mỗi buổi thu thập tiến hành quan sát từ 2 đến 3 ĐD thực hành phòng ngừa VPLQTM, lần lƣợt đến khi đủ số lƣợng ĐD tham gia nghiên cứu
Thời gian lấy mẫu của ĐTV diễn ra vào đầu giờ mỗi ca trực, khi điều dưỡng tập trung thực hiện các nhiệm vụ chăm sóc trong gói phòng ngừa, bao gồm kiểm tra đầu giường, điều chỉnh dây thở, kiểm tra bóng chèn, thay bộ lọc và hút đàm.
Mỗi hành động chăm sóc của điều dưỡng, như hút đàm, kiểm tra vị trí ống thông dạ dày, và thay bộ lọc ẩm, đều được ghi nhận trong quá trình chăm sóc bệnh nhân Điều dưỡng cũng cần quan sát bệnh nhân theo bảng kiểm phòng ngừa VPLQTM, bao gồm kiểm tra đầu giường và quan sát dây máy thở Việc thực hiện vệ sinh tay (VST) là một phần quan trọng trong gói phòng ngừa, và điều dưỡng phải quan sát các hành động chăm sóc để đảm bảo thực hiện đủ 6 bước VST, từ đó đạt tiêu chuẩn chăm sóc an toàn cho bệnh nhân.
Sau khi hoàn tất đợt quan sát, ĐTV tiến hành kiểm tra lại một số nội dung mà ĐD đã thực hiện trong quá trình chăm sóc Các nội dung kiểm tra bao gồm đo áp lực bóng chèn, xác định tình trạng vệ sinh của VSRM, và kiểm tra bộ lọc ẩm cùng dây thở.
Hành động chăm sóc hoặc kiểm tra được coi là hành động thực hiện ĐTV ghi chép vào phiếu quan sát thực hành với ba cột: “có”, “có, chưa đạt”.
Bước 2: Sau khi thực hiện quan sát và kiểm tra các biện pháp phòng ngừa, học viên tiến hành phỏng vấn để thu thập thông tin cá nhân của điều dưỡng (ĐD) tham gia nghiên cứu (NC) Mục tiêu là tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phòng ngừa và kiến thức liên quan đến gói phòng ngừa Thời gian phỏng vấn được tổ chức sau giờ giao ca sáng, tại phòng giao ban của khoa, nơi các ĐD tham gia NC sẽ trả lời các câu hỏi theo bộ câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn.
Trong mỗi buổi thu thập số liệu, học viên sẽ thông báo về mục đích và nội dung của nghiên cứu, cũng như hướng dẫn cách trả lời phiếu khảo sát Đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ nhận được phiếu "thông tin nghiên cứu".
HUPH cứu” Nếu tiếp tục tham gia NC thì đánh vào ô đồng ý, nếu không đồng ý tham gia
NC thì đánh vào ô không đồng ý
Trước khi thu thập số liệu, học viên cần nhấn mạnh tính trung thực và độc lập của nghiên cứu, yêu cầu sự hợp tác từ các đối tượng tham gia và không trao đổi thông tin trong suốt quá trình trả lời câu hỏi Học viên cũng phải theo dõi liên tục để đảm bảo rằng các câu trả lời không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu Sau khi các đối tượng hoàn thành phần trả lời, học viên sẽ thu gom phiếu, kiểm tra và hướng dẫn bổ sung thông tin nếu có phần nào bị thiếu hoặc chưa chính xác.
Sau khi thực hiện nghiên cứu định lƣợng, học viên sẽ xử lý sơ bộ kết quả
NC, và sẽ điều chỉnh một số nội dung hướng dẫn phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm dựa trên kết quả NC định lƣợng đã thu thập đƣợc
2.5.2.1 Phỏng vấn sâu: Dựa vào bảng hướng dẫn PVS, phỏng vấn
Lãnh đạo bệnh viện (phụ lục 3 ),
Quản lý phòng điều dƣỡng (phụ lục 4 ),
Quản lý phòng quản lý chất lƣợng (phụ lục 5),
Quản lý phòng kiểm soát nhiễm khuẩn (phụ lục 6 ),
Điều dưỡng trưởng khoa sẽ thực hiện phỏng vấn sâu tại phòng hành chính của các đối tượng được phỏng vấn Học viên sẽ trực tiếp tiến hành phỏng vấn, ghi âm và lập biên bản ghi chép kết quả phỏng vấn.
2.5.2.2 Thảo luận nhóm (TLN): Dựa vào bảng hướng dẫn TLN đối với điều dưỡng trưởng tua trực và điều dưỡng viên
Nhóm 1: điều dưỡng trưởng tua trực (mỗi khoa chọn 2 điều dưỡng trưởng tua trực – phụ lục 8)
Nhóm 2: điều dƣỡng viên (mỗi khoa chọn 3 ĐDV trực tiếp chăm sóc – phụ lục 9)
Thời gian PVS, TLN: 60 – 90 phút/ cuộc
Thời điểm TLN: Ngoài giờ làm việc (giờ nghỉ trƣa hoặc sau khi kết thúc ca trực đối với điều dƣỡng trực 3 ca 4 kíp)
Các buổi thảo luận nhóm được tổ chức tại phòng giao ban của các khoa, do học viên trực tiếp điều khiển Mỗi buổi thảo luận đều có biên bản ghi lại và được ghi âm để đảm bảo thông tin được lưu trữ đầy đủ.
Biến số nghiên cứu và tiêu chuẩn đánh giá
Biến số định lƣợng (Phụ lục 10)
Thông tin đặc điểm chung về ĐTNC bao gồm 07 biến số quan trọng: tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, thái độ làm việc, số ca trực trong 1 tháng và số bệnh nhân chăm sóc trong ca trực.
Phần A: Quan sát thực hành bao gồm 12 biến số quan trọng như tư thế đầu giường của bệnh nhân thở máy, việc sử dụng ống thông dạ dày, vệ sinh răng miệng bằng bàn chải hoặc gòn gạc, dung dịch vệ sinh răng miệng, kiểm tra áp lực bóng chèn, đổ nước đọng trong dây thở, bộ làm ẩm, hút dịch trên bóng chèn, hút đàm kín, áp dụng vật lý trị liệu và rửa tay Bảng kiểm thực hành phòng ngừa VPLQTM cần được hoàn thành cho các ngày trước hôm nay.
Phần B: Kiến thức theo tiêu chuẩn thực hành phòng ngừa VPLQTM, gồm
Trong việc chăm sóc bệnh nhân, cần hiểu rõ 8 biến số quan trọng: tư thế bệnh nhân, quy trình chăm sóc ống thông dạ dày, vệ sinh đường hô hấp, và sự cần thiết của việc sử dụng bộ lọc vi khuẩn cho cả đường thở vào và ra Thời gian thay bộ lọc ẩm, áp lực bóng chèn, và dây thở cũng là những yếu tố không thể bỏ qua để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong quá trình điều trị.
Phần C cung cấp thông tin về quản lý và đào tạo, bao gồm các yếu tố như thực hiện kiểm tra giám sát, thông báo kết quả kiểm tra, đào tạo và cập nhật thực hành phòng ngừa VPLQTM, nhận xét về chương trình đào tạo, ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, và sự sẵn có của tài liệu phòng ngừa VPLQTM.
Các chủ đề nghiên cứu định tính tập trung vào việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phòng ngừa VPLQTM Các biến số được thu thập thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn định lượng, kết hợp với phân tích các chủ đề nghiên cứu định tính liên quan đến điều dưỡng trực tiếp trong chăm sóc.
Yếu tố cá nhân của điều dưỡng (ĐD) bao gồm nhận thức về vai trò của họ trong việc thực hành phòng ngừa viêm phổi liên quan đến thở máy (VPLQTM), kiến thức về các biện pháp phòng ngừa, và quan điểm cá nhân đối với thực hành này.
Yếu tố nhân lực: Tình hình nhân lực ĐD, áp lực thời gian, công việc
Các chương trình đào tạo, tập huấn của BV về thực hành phòng ngừa VPLQTM
Yếu tố cơ sở vật chất đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc răng miệng, bao gồm sự sẵn có của máy móc, trang thiết bị và bộ dụng cụ cần thiết Điều kiện về cơ sở vật chất, phòng bệnh và giường bệnh cũng ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của bệnh nhân.
Yếu tố quản lý và giám sát đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các biện pháp phòng ngừa VPLQTM Cần gửi văn bản hướng dẫn đến các khoa, thực hiện kiểm tra và giám sát thường xuyên, đồng thời áp dụng công tác khen thưởng và kỷ luật để đảm bảo sự tuân thủ các thực hành phòng ngừa VPLQTM.
2.6.2.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức theo nội dung thực hành VPLQTM Điểm kiến thức liên quan đến thực hành phòng ngừa VPLQTM của ĐD dựa theo tiêu chí đánh giá chuẩn năng lực cơ bản của ĐD Việt Nam, quyết định số 1352/QĐ-BYT, ngày 24/4/2012 (2) Bộ câu hỏi phù hợp với mục tiêu nghiêu cứu bao gồm: 30 câu hỏi Từ câu B1 đến câu B30 (phụ lục 1), mỗi câu trả lời đúng đƣợc tính 1 điểm, trả lời sai tính 0 điểm Tổng điểm kiến thức là 30 điểm Điểm kiến thức đạt khi trả lời đúng ≥ 70% câu hỏi
Kiến thức đạt: Có tổng điểm ≥ 21 điểm
Kiến thức không đạt: Có tổng điểm < 21 điểm
2.6.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành phòng ngừa VPLQTM của ĐD Đối với phiếu giám sát tuân thủ thực hành phòng ngừa VPLQTM, tiêu chuẩn thực hành đúng của mỗi nội dung đƣợc đánh giá theo các tiêu chí thực hành chuẩn năng lực cơ bản của ĐD Việt Nam (2) Trong các nội dung phòng ngừa VPLQTM, ĐD có thực hiện bằng hành động chăm sóc hoặc có kiểm tra quan sát theo bảng kiểm, thì đƣợc tính là “Có” thực hành Mỗi nội dung thực hành hay kiểm tra đƣợc thực hiện đúng theo quy trình thực hành của từng nội dung phòng ngừa đƣợc tính là đạt Mỗi nội dung trong gói phòng ngừa đƣợc tính là tuân thủ khi đạt 100%.
Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi làm sạch, dữ liệu được nhập vào phần mềm Epidata và xử lý bằng SPSS 18.0 Các phương pháp phân tích mô tả được áp dụng bao gồm tính tần số và tỷ lệ phần trăm Kết quả được trình bày dưới dạng bảng và biểu đồ.
2.7.2 Số liệu định tính : Đƣợc gỡ băng ghi âm, chuyển sang bảng word và phân tích theo chủ đề.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu sẽ được thực hiện sau khi được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt, theo NCYSH số: 186/2020/YTCC-HD3 và sự đồng thuận của Ban giám đốc BV Chợ Rẫy, TP.Hồ Chí Minh Đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ về mục đích và nội dung nghiên cứu trước khi thu thập dữ liệu, và chỉ tiến hành khi có sự đồng thuận Những người từ chối tham gia hoặc rút lui sẽ được đối xử bình đẳng, và tất cả thông tin cá nhân của họ sẽ được giữ bí mật.
Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu và không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo cho lãnh đạo các khoa tham gia và phòng điều dưỡng của bệnh viện, nhằm làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo và giám sát công tác phòng ngừa VPLQTM.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và phương pháp khắc phục sai số
Hạn chế của nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện trong thời gian ngắn hạn và chỉ tập trung vào các khoa có bệnh lý thần kinh, do đó chưa thể đại diện và khái quát chính xác cho thực hành phòng ngừa VPLQTM của tất cả điều dưỡng tại BV Chợ Rẫy.
Sai số và biện pháp khắc phục
Sai số chọn mẫu xuất hiện khi có đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu Do đó, cần giải thích rõ ràng cho các đối tượng tham gia về mục đích của nghiên cứu.
HUPH mang lại hiệu quả thiết thực cho người bệnh, đảm bảo rằng những người tham gia nghiên cứu không gặp phải bất kỳ nguy hại nào trong suốt quá trình tham gia.
Sai số thông tin có thể phát sinh từ việc thu thập dữ liệu không chính xác hoặc phân loại nhầm các đối tượng nghiên cứu Để khắc phục tình trạng này, cần cấp mã số nghiên cứu riêng cho từng đối tượng tham gia.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tƣợng nghiên cứu
3.1.1 Đặc điểm chung của ĐD tham gia nghiên cứu
Thông tin chung về đối tượng tham gia nghiên cứu được trình bày trong bảng 3.1, bao gồm các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác và loại hình lao động.
Bảng 3.1 Thông tin của điều dưỡng tham gia nghiên cứu
Cao đẳng 4 5,1 Đại học trở lên 36 45,6
Tỷ lệ người lao động trong độ tuổi lao động đạt 91,1%, trong đó nữ giới chiếm 88,6% Nhóm lao động có thâm niên từ 4 đến 10 năm chiếm 48,1%, trong khi nhóm có thâm niên trên 10 năm chiếm 43% Hơn một nửa số lao động (57%) là biên chế Về trình độ học vấn, tỷ lệ lao động có trình độ trung cấp là 49,4%, trong khi tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên đạt 45,6%.
3.1.2 Đặc điểm về môi trường làm việc
Thông tin về số ca trực của ĐD trong 1 tháng và số BN mà ĐD chăm sóc trong mỗi ca trực đêm
Bảng 3.2 Thông tin về buổi trực
Nội dung Trung bình Nhiều nhất Thấp nhât
Số ca trực trong 1 tháng 7,09 8 4
Số bệnh nhân chăm sóc/ ca trực 4,39 5 3
Kết quả nghiên cứu cho thấy, mỗi điều dưỡng (ĐD) có trung bình 7,09 ca trực trong một tháng, với số bệnh nhân (BN) được chăm sóc trung bình là 4,39 BN mỗi ca Trong đó, số BN nhiều nhất mà một ĐD chăm sóc trong mỗi ca là 5 BN, trong khi số BN ít nhất là 3 BN.
Thực trạng tuân thủ thực hành phòng ngừa VPLQTM của ĐD tại 03 khoa có phòng HSTC
có phòng hồi sức tích cực
Kết quả quan sát cho thấy sự tuân thủ thực hành phòng ngừa VPLQTM của đội ngũ điều dưỡng tại ba khoa nghiên cứu đã được thực hiện theo nội dung gói phòng ngừa đã triển khai tại bệnh viện.
Bảng 3.3 Thực hành về tư thế giường bệnh
Tỷ lệ ĐD thực hành đúng về tƣ thế nằm đầu cao cho BN đạt 100%
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy trong giai đoạn đầu triển khai tư thế nằm đầu cao cho tất cả bệnh nhân thở máy gặp khó khăn do sử dụng giường cũ và phải quay đầu giường bằng tay, dẫn đến tỷ lệ tuân thủ chưa cao Tuy nhiên, với việc thay mới giường cũ, việc chăm sóc bệnh nhân đã trở nên thuận tiện hơn, và tỷ lệ tuân thủ hiện đạt 100%.
Khi triển khai gói phòng ngừa VPLQTM, chúng tôi phải đo độ cao đầu giường bằng thước êke để đảm bảo đúng tư thế 30 – 45 độ cho bệnh nhân Hiện tại, khoa đã có một số giường quay tự động, giúp giảm thời gian và công sức cho nhân viên Tỷ lệ tuân thủ đã cải thiện đáng kể.
Ban đầu, quá trình điều chỉnh giường rất tốn thời gian, với việc phải đo đạc và điều chỉnh nhiều lần Hiện tại, nhờ vào giường tự động với các mức độ sẵn có, công việc đã trở nên dễ dàng hơn Đối với một số giường cũ, chúng tôi chỉ cần căn cứ vào độ cao của giường mới hoặc đánh dấu mức độ cao cần đạt, giúp việc điều chỉnh trở nên thuận tiện mà không cần sử dụng thước đo.
Bảng 3.4 là kết quả tuân thủ thực hành chăm sóc ống nuôi ăn trên BN đang thở máy
Bảng 3.4 Thực hành chăm sóc ống ăn
STT Nội dung Tần số
1 Kiểm tra dịch dạ dày tồn lưu Áp dụng 13 16,5
2 Kiểm tra vị trí cố định ống thông Áp dụng 18 22,8
Tại thời điểm quan sát, tỷ lệ ĐD tuân thủ kiểm tra dịch dạ dày tồn lưu là 16,5%, trong khi 83,5% không được đánh giá do người bệnh đang được nuôi dưỡng liên tục bằng máy và túi cho ăn Về kiểm tra vị trí cố định ống cho ăn, tỷ lệ ĐD tuân thủ đạt 22,8%, còn lại 77,2% là tỷ lệ điều dưỡng không áp dụng.
Kết quả định tính cho thấy tỷ lệ kiểm tra dịch tồn lưu và xác định vị trí ống thấp do sự chủ quan của đội ngũ y tế, cho rằng bệnh nhân đang được nuôi ăn liên tục và không cần thực hiện kiểm tra thường xuyên.
Đa số bệnh nhân thở máy được nuôi ăn sớm và liên tục bằng máy hoặc túi cho ăn nhỏ giọt chậm Do đó, việc kiểm tra dịch dạ dày tồn lưu hoặc vị trí ống thông không thường xuyên được thực hiện.
“…kiểm tra dịch dạ dày tồn lưu mỗi đầu ca là không cần thiết, bởi vì
BN được nuôi dưỡng liên tục bằng máy hoặc qua phương pháp ăn nhỏ giọt chậm, giúp kiểm soát tốc độ dinh dưỡng Thời gian cho ăn có thể kéo dài từ 16 đến 24 giờ.
Kết quả tuân thủ thực hành chăm sóc răng miệng và tình trạng VSRM theo gói phòng ngừa VPLQTM của ĐD đƣợc thể hiện qua bảng 3.5
Bảng 3.5 Thực hành chăm sóc răng miệng
STT Nội dung Tần số
Tỷ lệ tuân thủ vệ sinh răng miệng (VSRM) đạt 100% Kết quả kiểm tra cho thấy 68,4% bệnh nhân có răng miệng sạch, trong khi 24,1% có tình trạng răng miệng dơ và 7,6% bệnh nhân có tổn thương vùng miệng Tỷ lệ bệnh nhân được chăm sóc bằng Chlorhexidine 0,12% cũng đạt 100%.
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy bệnh nhân sọ não có sự tăng tiết đờm đáng kể, dẫn đến tình trạng hôi miệng đặc trưng nếu không thực hiện vệ sinh răng miệng (VSRM) Vì lý do này, hầu hết bệnh nhân đều được chăm sóc răng miệng hàng ngày, với các dụng cụ chăm sóc thường được sử dụng.
HUPH cung cấp bàn chải và gòn gạc cho bệnh nhân Tuy nhiên, trong những thời điểm đông bệnh nhân, đội ngũ điều dưỡng không đủ thời gian để chăm sóc, dẫn đến tình trạng răng miệng vẫn còn dơ.
Bệnh nhân tại khoa chủ yếu mắc chấn thương sọ não, hôn mê và có tình trạng tăng tiết đàm nhiều Nếu không thực hiện vệ sinh răng miệng cho bệnh nhân, tình trạng sẽ trở nên rất bẩn và có mùi hôi khó chịu.
Việc thực hiện VSRM được quy định vào đầu tua sáng và đầu tua đêm để dễ nhớ, phù hợp với thói quen đánh răng của mọi người, thường diễn ra hai lần mỗi ngày: một lần vào buổi sáng và một lần vào buổi tối trước khi đi ngủ.
Đôi khi, do khối lượng công việc lớn, chúng em phải làm nhanh chóng mà không thể chú ý đến từng chi tiết Nhiều lúc, bệnh nhân kích thích, vật vã, nôn ói, và việc lấy sạch các mảng bám trở nên rất tốn thời gian.
“…dùng bàn chải chà sạch các mảng bám trước, sau đó dùng gòn và nước muối lấy sạch mảng bám, sau cùng bôi Chlorhexidine 0,12% ” (TLN_ĐDTT, ĐDV)
Kết quả tuân thủ thực hành chăm sóc dây thở cho BN theo nội dung gói phòng ngừa VPLQTM đƣợc thực hiện qua bảng 3.6
Bảng 3.6 Thực hành chăm sóc dây thở
STT Nội dung Tần số
1 Vẩy nước đọng trên dây thở 78 98,7
2 Dây thở thấp hơn đầu trên ống nội khí quản
Tỷ lệ tuân thủ thực hành vẩy nước đọng trên dây thở đạt 98,7%, trong khi tỷ lệ tuân thủ về vị trí dây thở đặt thấp hơn đầu trên ống nội khí quản là 96,2%.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành phòng ngừa VPLQTM của ĐD tại 03
Yếu tố cá nhân của ĐD
Tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác
Nghiên cứu của chúng tôi đã khảo sát 79 điều dưỡng làm việc tại 03 khoa có phòng hồi sức tích cực, trong đó tỷ lệ nam giới là 11,4% và nữ giới là 88,6% Đối tượng nghiên cứu chủ yếu nằm trong độ tuổi từ 26 đến 44, chiếm 91,1%, với tuổi trung bình là 33,96 ± 5,8 Tuổi nhỏ nhất trong nhóm là 25 và lớn nhất là 50.
Trình độ chuyên môn của đối tượng khảo sát cho thấy tỷ lệ cao nhất là trung cấp với 49,4%, tiếp theo là đại học chiếm 45,6% và cao đẳng chỉ 5,1% Về thâm niên công tác, trung bình là 10,42 năm với độ lệch chuẩn 5,8 Đối với loại hình lao động, nhân viên biên chế chiếm hơn 45%, trong khi đó lao động hợp đồng chiếm 34%.
Một cuộc phỏng vấn sâu với một quản lý bệnh viện cho thấy rằng điều dưỡng (ĐD) có thâm niên công tác lâu năm thường có khả năng nhận định tình trạng bệnh nhân nặng tốt hơn, từ đó xây dựng kế hoạch chăm sóc chủ động hơn Tuy nhiên, họ có thể lơ là trong việc tuân thủ các quy trình Ngược lại, những ĐD có thâm niên ít hơn thường tuân thủ quy trình cao hơn, nhưng khả năng đánh giá tình trạng bệnh nhân lại không tốt bằng Do đó, việc phân công nhân lực trong ca trực với sự kết hợp giữa ĐD nhiều kinh nghiệm và ít kinh nghiệm sẽ tạo ra sự hỗ trợ lẫn nhau trong việc chăm sóc bệnh nhân.
Kiến thức và thái độ về thực hành phòng ngừa VPLQTM là rất quan trọng Để thực hiện gói phòng ngừa này, điều dưỡng (ĐD) cần nắm vững các nội dung liên quan, bao gồm cơ chế gây ra VPLQTM và kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) Sự hiểu biết này sẽ giúp nâng cao hiệu quả chăm sóc dựa trên bằng chứng, từ đó khuyến khích ĐD có ý thức tự giác tốt trong việc tuân thủ các thực hành phòng ngừa.
Khảo sát kiến thức theo tiêu chuẩn thực hành gói phòng ngừa VPLQTM của ĐD đang đƣợc áp dụng tại BV cho kết quả nhƣ sau:
Bảng 3.13 Kiến thức về tư thế đầu giường bệnh nhân
STT Nội dung Tần số
1 Tƣ thế nằm đầu cao 30 - 45 độ (không chống chỉ định) 79 100
Tư thế nằm đầu cao là rất quan trọng trong chăm sóc bệnh nhân, với 100% người tham gia nghiên cứu có kiến thức về lợi ích của tư thế này Sự hiểu biết về việc cần thiết cho bệnh nhân nằm ở tư thế đầu giường cao khi thực hiện các chăm sóc khác như hút đàm, làm thủ thuật, cho ăn và vệ sinh răng miệng đạt tỷ lệ 98,7%.
“…BN của chúng em đều là sọ não, tư thế đầu giường cao ngoài phòng ngừa VPLQTM còn giúp giảm áp lực nội sọ….” (TLN_ĐDTT)
“…chăm sóc răng miệng hay khi cho ăn chúng em vẫn thực hiện đặt
BN nằm đầu cao, đề phòng BN bị hít sặc…”.(TLN_ĐDV)
Tiếp theo là kiến thức về chăm sóc ống cho ăn đối với BN đang thở máy
Bảng 3.14 Kiến thức về chăm sóc ống ăn
STT Nội dung Tần số
1 Kiểm tra vị trí ống cho ăn 79 100
2 Kiểm tra dịch tồn lưu 75 94,9
Nuôi ăn liên tục bằng máy hoặc sử dụng túi cho ăn 44 55,7
Sử dụng bơm tiêm cho ăn bằng tay 22 27,8
4 Rửa tay trước khi chuẩn bị thức ăn, thao tác với ống ăn 75 94,9
Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% điều dưỡng (ĐD) có kiến thức về kiểm tra vị trí ống cho ăn Về hình thức cho ăn, 55,7% bệnh nhân (BN) được nuôi dưỡng liên tục bằng máy hoặc túi cho ăn, 27,8% được cho ăn bằng tay, và 16,5% áp dụng cả hai phương pháp Đặc biệt, 94,9% ĐD hiểu biết về thời điểm vệ sinh tay (VST) trước khi cho ăn.
Mặc dù BV đã triển khai cho ăn bằng túi nhỏ giọt hay máy nuôi ăn, nhƣng vẫn còn tồn tại hình thức cho ăn bơm qua Sonde
Chúng em nhận thức được tầm quan trọng của việc kiểm tra dịch tồn lưu Mặc dù biện pháp nuôi ăn bằng máy hoặc túi nhỏ giọt mang lại hiệu quả tốt hơn, nhưng đôi khi khối lượng công việc quá lớn khiến việc bơm tay trở nên nhanh chóng và tiện lợi hơn.
Bên cạnh đó là kiến thức về VSRM áp dụng cho BN đang thở máy thể hiện qua bảng 3.15
Bảng 3.15 Kiến thức về chăm sóc răng miệng
STT Nội dung Tần số
1 Kiểm tra, đánh giá tổn thương vùng miệng 78 98,7
2 Biện pháp chăm sóc răng miệng
Sử dụng bàn chải hoặc que chuyên dụng 19 24,1
3 Thời gian vệ sinh răng miệng bằng bàn chải
4 Thời gian vệ sinh răng miệng bằng gòn gạc
5 Dung dịch vệ sinh răng miệng
Tỷ lệ điều dưỡng nhận thấy cần thiết phải quan sát và đánh giá tổn thương răng miệng lên đến 98,7% Biện pháp vệ sinh răng miệng (VSRM) chủ yếu được thực hiện bằng bàn chải và gòn gạc, với tỷ lệ lần lượt là 72,2% và 20,35% Thời gian thực hiện VSRM bằng bàn chải đúng đạt 87,3%, trong khi đó thời gian sử dụng gòn gạc chỉ đạt 20,35% Về dung dịch VSRM, Chlorhexidine 0,12% được sử dụng nhiều nhất với 57,7%, tiếp theo là nước muối sinh lý chiếm 18,3%, và các loại nước súc miệng như Orafar và Betadine chiếm 24%.
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy nguyên nhân khiến đối tượng trả lời câu hỏi về vệ sinh răng miệng bằng gòn gạc có tỷ lệ đúng thấp là do ảnh hưởng từ thói quen chăm sóc hàng ngày.
Chúng em thường bắt đầu bằng cách chà các mảng bám bằng bàn chải, sau đó vệ sinh lại bằng gòn gạc và nước muối sinh lý, và cuối cùng là bôi Chlorhexidine.
Kiến thức về áp lực bóng chèn nội khí quản của ĐD trong gói phòng ngừa VPLQTM đƣợc thể hiện qua bảng 3.16
Bảng 3.16 Kiến thức về áp lực bóng chèn
STT Nội dung Tần số
1 Thường xuyên kiểm tra áp lực bóng chèn 77 97,5
2 Thời gian kiểm tra áp lực bóng chèn
3 Mức áp lực bóng chèn 79 100
4 Hút dịch trên bóng chèn Áp dụng 34 43
Kết quả nghiên cứu cho thấy kiến thức chung của điều dưỡng (ĐD) về áp lực bóng chèn đạt 82,27% Đặc biệt, 97,5% ĐD cho rằng cần thường xuyên kiểm tra bóng chèn Tỷ lệ ĐD có kiến thức đúng về thời gian đo áp lực bóng chèn là 88,6%, và hầu hết đều trả lời đúng về mức duy trì áp lực bóng chèn Tuy nhiên, chỉ có 43% ĐD hiểu biết về việc cần áp dụng hút dịch trên bóng chèn.
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy đội ngũ chăm sóc y tế nhận thức rõ vai trò của áp lực bóng chèn trong việc hỗ trợ bệnh nhân thở máy Tuy nhiên, khả năng sử dụng thành thạo và thời gian sử dụng thiết bị cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả chăm sóc.
“…Khi BN thở máy, bóng chèn NKQ giúp cố định ống đúng vị trí, máy thở bơm đủ thể tích, BN không bị trào ngược đàm nhớt ” (TLN_ĐDTT)
Áp lực bóng chèn là một thách thức lớn đối với chúng em, mặc dù có máy đo khoa nhưng không đủ để phục vụ cho từng bệnh nhân, nên chúng em phải sử dụng chung Chúng em thường kiểm tra áp lực vào đầu giờ, nhưng không hiểu vì sao đến giữa hoặc cuối ca thì áp lực lại bị xẹp.
Đôi khi, khi bệnh nhân đông, việc sử dụng máy đo áp lực bóng chèn có thể mất thời gian Để kịp tiến độ công việc, một số nhân viên thường đo bằng tay, dẫn đến áp lực không đạt yêu cầu.
Kết quả NC định tính cho thấy có yếu tố ảnh hưởng bởi sự điều trị cho
BN trước khi nhập khoa cũng ảnh hưởng đến thực hành chăm sóc của ĐD
Khi vào khoa, chúng em thường đã đặt NKQ trước, chủ yếu là NKQ không có cổng hút dịch trên bóng chèn Do đó, chúng em nhận thấy rằng việc có hút dịch trên bóng chèn không quan trọng.