PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chí lựa chọn PNMD ở nội thành Hà Nội bao gồm: (i) đã sử dụng ma túy đá ít nhất một lần trong 3 tháng gần đây; (ii) làm việc tại đường phố hoặc các cơ sở trá hình; (iii) đối tượng đồng ý và có khả năng tham gia nghiên cứu.
Những đối tượng sẽ bị loại khỏi nghiên cứu nếu mắc các chứng bệnh tâm thần, hạn chế khả năng nghe nói, không tỉnh táo hoặc không có khả năng trả lời câu hỏi nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu đã được tiến hành từ tháng 30/6/2012 – 30/5/2013 tại quận Hai BàTrưng và quận Đống Đa.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính, kết hợp với số liệu thứ cấp từ nghiên cứu trước về việc sử dụng chất kích thích Amphetamine và nguy cơ nhiễm HIV trong nhóm phụ nữ mại dâm tại Hà Nội Quy trình nghiên cứu bao gồm việc xây dựng đề cương phỏng vấn sâu, sàng lọc đối tượng đủ tiêu chuẩn từ phỏng vấn định lượng, thực hiện phỏng vấn sâu để thu thập thông tin, và cuối cùng là phân tích dữ liệu và viết báo cáo Thông tin chi tiết về việc sử dụng số liệu thứ cấp và vai trò của học viên được trình bày trong Phụ lục 4.
Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu
Có 30 PNMD đáp ứng các tiêu chí lựa chọn nói trên Cần giải thích thêm rằng, do số liệu thu được trong nghiên cứu gốc mới chỉ đáp ứng được một phần của luận văn vì
Trong nghiên cứu gốc với 30 cuộc phỏng vấn, chỉ có 10 đối tượng sử dụng đá được chọn làm đối tượng nghiên cứu cho luận văn này Để đảm bảo thông tin đầy đủ và bão hòa cho các chủ đề nghiên cứu, học viên đã tiến hành phỏng vấn thêm 20 phụ nữ mang thai và sau sinh (PNMD) đáp ứng đầy đủ các tiêu chí chọn mẫu.
Trong luận văn này, đối tượng phỏng vấn sâu được chọn lọc từ dữ liệu định lượng của nghiên cứu gốc Cụ thể, sau mỗi bộ câu hỏi định lượng, có phần tổng hợp thông tin về tiêu chí lựa chọn định tính Những đối tượng đáp ứng đủ các tiêu chí như: (i) đã sử dụng ATS ít nhất một lần trong 3 tháng gần đây; (ii) làm việc ở đường phố hoặc cơ sở trá hình; (iii) đồng ý và có khả năng tham gia nghiên cứu sẽ được đưa vào danh sách phỏng vấn sâu Dựa trên thông tin về tuổi, loại ATS sử dụng và hình thức mại dâm, học viên đã chọn 30 PNMD để thực hiện phỏng vấn sâu.
Phương pháp thu thập số liệu
- Là bản hướng dẫn phỏng vấn sâu bán cấu trúc (Xem chi tiết hướng dẫn PVS phụ lục 2 trang 89).
Giám sát viên (GSV), đi u tra viên (ĐTV)
ĐTV là tác giả luận văn đã được đào tạo về nội dung và yêu cầu của cuộc điều tra, cùng với các kỹ năng tiếp cận và phỏng vấn, nhằm đảm bảo độ chính xác cao trong quá trình thu thập dữ liệu.
- GSV: Là giảng viên hướng dẫn, GSV cũng tham gia quá trình điều tra, và hỗ trợ giải quyết các khó khăn trong việc thu thập số liệu.
Phỏng vấn sâu sử dụng kỹ thuật PVS bán cấu trúc, trong đó ghi chép và ghi âm các cuộc phỏng vấn là rất quan trọng Kỹ thuật này đảm bảo tiêu chuẩn kín đáo, an toàn và thuận tiện cho đối tượng, giúp thu thập thông tin riêng tư và nhạy cảm Tất cả số liệu cho đề tài luận văn được học viên thu thập trực tiếp.
Các chủ đề nghiên cứu chính, khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
2.6.1 Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, thực trạng sử dụng đá được phân tích qua xu hướng sử dụng trong nhóm PNMD, cách thức sử dụng đá, cũng như địa điểm và đối tượng tham gia sử dụng đá.
Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng ma túy đá bao gồm các yếu tố cá nhân và môi trường, ảnh hưởng đến quyết định sử dụng và duy trì thói quen sử dụng loại ma túy này.
Hành vi tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs) do sử dụng đá bao gồm quan hệ tình dục không được bảo vệ qua âm đạo, miệng hoặc hậu môn với đối tác tình dục, cũng như quan hệ tình dục tập thể và bạo lực tình dục.
2.6.2 Các chủ đề nghiên cứu chính
Bảng 2.1 Các chủ đề nghiên cứu chính
STT Nhóm chủ đề Tiểu chủ đề/ nội dung chi tiết
- Tổng thu nhập bình quân
2 Thực trạng sử dụng ma túy đá
2.1 Xu hướng sử dụng - Xu hướng tăng mạnh
2.2 Cách thức sử dụng - Đường sử dụng: đường hút
- Sử dụng đá cầu kì phức tạp
2.2 Địa điểm và đối tượng sử dụng cùng Địa điểm sử dụng
- Sự cần thiết của địa điểm “yên tĩnh”, “an toàn”
- Các địa điểm sử dụng đá được đề cập: nhà nghỉ, quán karaoke, nhà thuê
STT Nhóm chủ đề Tiểu chủ đề/ nội dung chi tiết Đối tượng sử dụng cùng
- Có đôi có cặp (phục vụ QHTD)
- Hình thành văn hóa nhóm: nữ giới ít phải trả tiền, thường đổi bằng “tình dục”
- Thành phần phức tạp, không cố định
3 Các yếu tố liên quan đến việc sử dụng đá
3.1 Yếu tố cá nhân Sử dụng đá vì nhận thức :
- “Độ phê” của đá kéo dài hơn;
- Ít nguy cơ lây nhiễm HIV hơn.
- Đá là ma túy “sành điệu”, “đẳng cấp”“tò mò” muốn dùng thử.
Kinh nghiệm sử dụng ma túy khác:
- Dùng đá để “quên” heroin;
- Để tìm cảm giác khác của heroin;
- Đá là chất dẫn, chất đề cho các loại ma túy tổng hợp khác.
3.2 Yếu tố môi trường Môi trường vật lý: “Nhà nghỉ” tạo điều kiện thuận lợi cho
PNMD sử dụng đá Do:
- Gắn với công việc mại dâm; “cặp đôi vào nhà nghỉ” được liên tưởng đến QHTD hơn là dùng đá “an toàn” cho PNMD
- Đá giúp PNMD hình thành nhóm chơi
- Chuẩn mực nhóm: đá là “đẳng cấp” “sành điệu”sử dụng đá làm tăng vị thế xã hội.
- Nhóm duy trì dùng đá: (1) Khắc phục cách dùng cầu kì;
(2) Giảm nhẹ kinh tế, (3) Thực hiện tiêu khiển; (4) Thỏa mãn TD
- Dễ tiếp cận với đá: do nhu cầu sử dụng đá caoPNMD là đích của người buôn đá
STT Nhóm chủ đề Tiểu chủ đề/ nội dung chi tiết
- Sử dụng lần đầu không mất tiền
- Sử dụng đá để mại dâm
- Mại dâm kiếm tiềnduy trì sử dụng đá.
- Pháp luật chưa đủ tính răn đe
- Can thiệp giảm hại còn hạn chế
4 Các hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV dưới tác dụng của đá
4.1 Hoàn cảnh thực hiện QHTD
- Địa điểm thực hiện QHTD dưới tác dụng của đá
- Mạng lưới QHTD cùng + MDĐP: anh em, bạn bè có nhu cầu dùng đá + MDNH: chủ yếu là khách hàng
4.2 QHTD an toàn - MDĐP hầu như không sử dụng BCS vì :
+ Quan hệ trong trạng thái ảo giác, thiếu sự chuẩn bị; + BCS loại thông thường không phù hợp với QHTD dưới tác dụng của đá;
+ Buông xuôi, chủ quan, chấp nhận duy trì không sử dụng BCS khi QHTD dưới tác dụng của đá;
- MDNH đa số thường sử dụng BCS khi QHTD với khách; một số không sử dụng BCS là do “tâm lý chiều khách”.
4.3 QHTD tập thể - Thực trạng QHTDTT
- Thái độ khi thực hiện hành vi QHTDTT
- Sử dụng BCS khi QHTDTT dưới tác dụng của đá
4.4 Bạo lực tình dục - Bị ép buộc “chơi đá” và QHTD
- “Chơi đá” ảo giác nên bị bạo hành
Khung lý thuyết nghiên cứu
Khung lý thuyết trong nghiên cứu này tập trung vào thực trạng và các yếu tố liên quan đến hành vi tình dục có nguy cơ nhiễm HIV Nghiên cứu nhằm đạt ba mục tiêu chính: mô tả thực trạng sử dụng ma túy đá trong nhóm phụ nữ mại dâm, xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi này, và phân tích mối liên hệ giữa việc sử dụng ma túy và nguy cơ nhiễm HIV.
Nghiên cứu này tập trung vào ảnh hưởng của HUPH đến hành vi sử dụng ma túy đá của phụ nữ mại dâm, đồng thời mô tả hành vi tình dục có nguy cơ lây nhiễm HIV của họ tại khu vực nội thành Hà Nội trong giai đoạn 2012 - 2013 Khung lý thuyết của nghiên cứu nêu rõ thực trạng sử dụng ma túy đá qua bốn khía cạnh: xu hướng, cách thức, địa điểm và người cùng sử dụng Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố cá nhân và môi trường liên quan đến việc sử dụng ma túy đá Các hành vi tình dục có nguy cơ nhiễm HIV được xác định bao gồm: quan hệ tình dục không bảo vệ, quan hệ tình dục tập thể và bạo lực tình dục.
Nghiên cứu này phân tích hành vi sử dụng đá dựa trên "lý thuyết môi trường nguy cơ" của Rhodes, cho thấy rằng có hai lý thuyết chính: "lý thuyết hợp lý cá nhân" và "thuyết môi trường nguy cơ" Mặc dù "lý thuyết hợp lý cá nhân" phổ biến, nhưng nó không thể giải thích sự tương tác giữa hành vi nguy cơ và bối cảnh xã hội Ngược lại, "lý thuyết môi trường nguy cơ" tập trung vào cách hành vi nguy cơ phát sinh từ bối cảnh xung quanh, nhấn mạnh rằng hành vi này là kết quả của sự tương tác phức tạp giữa cá nhân và xã hội, từ đó làm nổi bật ảnh hưởng của môi trường đến quyết định của cá nhân.
Nghiên cứu dựa trên lý thuyết của Rhodes xác định hai nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến việc sử dụng ma túy đá: yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường Nhóm yếu tố cá nhân bao gồm nhận thức về ưu điểm của ma túy đá như độ hưng phấn và các tác động đến sức khỏe, thái độ coi đá là một loại ma túy sang trọng và đẳng cấp, cùng với tiền sử sử dụng các loại ma túy khác, như việc sử dụng đá để tìm kiếm cảm giác mới lạ từ heroin Nhóm yếu tố môi trường bao gồm môi trường vật lý, như địa điểm và lý do chọn nhà nghỉ làm nơi sử dụng đá, và môi trường xã hội, nơi người dùng có thể sử dụng đá để đối phó với áp lực xã hội.
HUPH đối mặt với kỳ thị và áp lực trong cuộc sống, trong khi PNMD dễ dàng tiếp cận với ma túy đá Nhóm này liên quan đến quyết định sử dụng và duy trì trạng thái sử dụng đá Môi trường kinh tế cho phép thử nghiệm mà không tốn chi phí, và việc sử dụng đá có liên quan đến mại dâm Ngoài ra, môi trường chính sách cũng đặt ra vấn đề về truyền thông và các dịch vụ hỗ trợ cho người sử dụng đá, cũng như các vấn đề pháp lý liên quan đến người dùng.
KHUNG LÝ THUYẾT THỰC TRẠNG, CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ HÀNH VI TÌNH DỤC NGUY
CƠ LÂY NHIỄM HIV TRONG NHÓM PHỤ NỮ MẠI DÂM TẠI HÀ NỘI
HÀNH VI SỬ DỤNG ĐÁ Ở PNMD
Thực trạng sử dụng đá
- Mạng lưới người sử dụng
Hành vi tình dục nguy cơ lây nhiễm HIV
- Ép buộc QHTD, Bạo lực TD
Yếu tố cá nhân Yếu tố môi trường
Nhận thức: ưu điểm của đá so với heroin
- Ít nguy cơ lây nhiễm
Thái độ: Đá là ma túy
“sành điệu”, “đẳng cấp” “tò mò” muốn dùng thử.
Kinh nghiệm sử dụng ma túy khác:
- Dùng đá để “quên”/ tìm cảm giác khác của heroin
- Đá là chất dẫn, chất đề cho các loại ma túy tổng hợp khác.
Môi trường vật lý: “Nhà nghỉ” tạo điều kiện thuận lợi cho PNMD sử dụng đá Do:
- Gắn với công việc mại dâm; “cặp đôi vào nhà nghỉ” được liên tưởng đến QHTD hơn là dùng đá “an toàn” cho PNMD
- Đá giúp PNMD hình thành nhóm chơi
- Chuẩn mực nhóm: đá là “đẳng cấp” “sành điệu” sử dụng đá làm tăng vị thế xã hội.
- Nhóm duy trì dùng đá: (1) Khắc phục cách dùng cầu kì; (2) Giảm nhẹ kinh tế, (3) Thực hiện tiêu khiển; (4) Thỏa mãn TD
- Dễ tiếp cận với đá: do nhu cầu sử dụng đá cao PNMD là đích của người buôn đá
- Sử dụng lần đầu không mất tiền
- Sử dụng đá để mại dâm
- Mại dâm kiếm tiền duy trì sử dụng đá.
- Pháp luật chưa đủ tính răn đe
- Can thiệp giảm hại còn hạn chế
HUPH nghiên cứu sâu sắc các khía cạnh của cuộc sống của ĐTNC, đặc biệt là PNMD Do đó, việc bảo vệ đối tượng tham gia nghiên cứu là rất quan trọng Nghiên cứu tuân thủ các quy định về đạo đức của Cục phòng, chống HIV/AIDS.
Các đối tượng tham gia nghiên cứu được thông báo rõ ràng về mục đích, nội dung, lợi ích và các vấn đề có thể phát sinh Họ có quyền đặt câu hỏi và nhận được câu trả lời từ nghiên cứu viên Ngoài ra, họ cũng có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia nếu cảm thấy không thoải mái.
- Mỗi đối tượng tham gia được nhận được 50 nghìn đồng để bù đắp cho khoảng thời gian họ dành cho nghiên cứu.
Các đối tượng tham gia nghiên cứu sẽ hoàn thành phiếu tự nguyện trước khi tiến hành phỏng vấn, theo mẫu phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu được đính kèm trong Phụ lục 1.
- Trước khi PVS, học viên đã xin phép ghi âm ĐTNC và chỉ thực hiện khi được sự cho phép của đối tượng.
- Các thông tin thu thập sẽ không bao gồm các thông tin cá nhân như tên, địa chỉ.
- Học viên giải thích rằng mọi thông tin của ĐTNC sẽ hoàn toàn được giữ bí mật, chỉ trong nhóm nghiên cứu biết.
- Kết quả nghiên cứu được báo cáo dưới các hình thức phù hợp, không làm ảnh hưở ng đến ĐTNC.
2.9 Thực địa và thu thập số liệu
Quá trình thu thập số liệu định tính diễn ra trong gần 2 tháng, từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013 Thời gian thu thập thường bắt đầu từ 4 giờ chiều đến 10 giờ tối, tùy thuộc vào thời điểm PNMD vắng khách hoặc rảnh rỗi Đặc biệt, có những trường hợp phỏng vấn kéo dài đến 11 giờ đêm do đối tượng tham gia hào hứng không muốn dời lịch phỏng vấn.
Nhóm nghiên cứu HUPH đã hợp tác với 8 đồng đẳng viên (ĐĐV) để hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu ĐĐV đóng vai trò quan trọng, không chỉ giúp học viên tiếp cận đối tượng tiềm năng mà còn hướng dẫn nhóm nghiên cứu cách tạo ấn tượng ban đầu Họ cũng giúp giải thích phương pháp làm việc với nhóm PNMD và thông báo trực tiếp cho PNMD về nội dung và mục đích của nghiên cứu.
Người gác cổng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nhóm nghiên cứu tiếp cận và thu thập dữ liệu Việc tiếp xúc với PNMD trong quá trình thực hiện cấu phần định lượng là tiền đề quan trọng để xây dựng mối quan hệ và sự tin tưởng, từ đó khai thác thông tin hiệu quả hơn trong phỏng vấn định tính Địa điểm phỏng vấn rất linh động, thường do ĐTNC tự chọn quán cafe quen thuộc và thông báo cho điều tra viên Một số trường hợp, phỏng vấn diễn ra ngay sau khi trả lời định lượng tại những nơi yên tĩnh như góc quán nước hoặc trong vườn hoa Sự linh hoạt trong lựa chọn địa điểm phỏng vấn mang lại cảm giác thoải mái và an toàn cho PNMD, ảnh hưởng tích cực đến thái độ và khả năng tham gia nghiên cứu, giúp thu thập thông tin chính xác hơn Nhóm nghiên cứu cũng linh động trong quá trình thực địa, như di chuyển địa điểm phỏng vấn khi có công an kiểm tra Mỗi người tham gia được nhận 50.000 đồng để đền bù cho thời gian họ đã đóng góp cho nghiên cứu.
2.10 Phương pháp phân tích số liệu
Nội dung các cuộc phỏng vấn được ghi chép và tổng hợp thành biên bản, đồng thời được ghi âm để đảm bảo thông tin chính xác Toàn bộ quá trình này được hoàn thành trong vòng 1-2 ngày sau mỗi buổi phỏng vấn, giúp điều chỉnh kịp thời cho các cuộc phỏng vấn tiếp theo.
2.11 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Do kích thước mẫu trong nghiên cứu định tính hạn chế, việc lựa chọn phỏng vấn được thực hiện một cách có chủ đích để tối đa hóa sự đa dạng của đối tượng tham gia Điều này bao gồm việc xem xét các yếu tố như nhóm tuổi, nhóm thu nhập, độ tuổi bắt đầu hành nghề và thời gian sử dụng đá.
Để giảm thiểu sai số trong việc lựa chọn đối tượng, cần tập trung vào những người có ít khách và thời gian rảnh rỗi Học viên đã tiếp cận đối tượng này qua nhiều thời điểm và kênh khác nhau Thông thường, đối với mô hình nghiên cứu hành vi người tiêu dùng, học viên thường đến các tụ điểm vào giờ ăn hoặc khi chờ khách, nhằm tạo mối quan hệ thân mật và "phá băng", sau đó hẹn họ đến quán cafe để thuận tiện cho việc phỏng vấn.
Với vị thế là một học viên trẻ, tôi đã tận dụng những trải nghiệm của PNMD để xây dựng mối quan hệ tốt với người phỏng vấn Sự trẻ trung và thái độ lắng nghe của tôi đã tạo ra niềm tin và sự kết nối, khiến PNMD sẵn lòng chia sẻ những câu chuyện của họ Bên cạnh đó, tôi luôn coi PNMD như những người thầy, từ đó khai thác được nhiều thông tin quý giá về chủ đề này.
Thực địa và thu thập số liệu
Quá trình thu thập số liệu định tính diễn ra trong gần 2 tháng, từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 3 năm 2013 Thời gian thu thập thường bắt đầu từ 4 giờ chiều đến 10 giờ tối, tùy thuộc vào thời điểm PNMD vắng khách hoặc có thời gian rảnh Đặc biệt, có những trường hợp phỏng vấn kéo dài đến 11 giờ đêm do đối tượng tham gia rất hào hứng và không muốn dời lịch phỏng vấn.
Nhóm nghiên cứu HUPH đã cần sự hỗ trợ từ 8 đồng đẳng viên (ĐĐV) quan trọng ĐĐV không chỉ giúp học viên tiếp cận đối tượng tiềm năng mà còn hướng dẫn nhóm nghiên cứu cách tạo ấn tượng ban đầu và giải thích phương pháp làm việc với nhóm PNMD Họ cũng thông báo trực tiếp cho PNMD về nội dung và mục đích của nghiên cứu.
Người gác cổng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp nhóm nghiên cứu tiếp cận và thu thập dữ liệu Việc tiếp xúc với PNMD trong quá trình thực hiện định lượng là tiền đề quan trọng để xây dựng mối quan hệ và sự tin tưởng, từ đó khai thác thông tin hiệu quả hơn trong phỏng vấn định tính Địa điểm phỏng vấn rất linh động, thường do ĐTNC tự chọn quán cafe quen thuộc và thông báo cho điều tra viên Một số trường hợp, phỏng vấn diễn ra ngay sau khi trả lời định lượng tại những nơi yên tĩnh như góc quán nước hoặc trong vườn hoa Sự linh hoạt trong lựa chọn địa điểm phỏng vấn mang lại cảm giác thoải mái và an toàn cho PNMD, ảnh hưởng tích cực đến thái độ và khả năng tham gia nghiên cứu, giúp thu thập thông tin chính xác hơn Nhóm nghiên cứu cũng linh động trong quá trình thực địa, như di chuyển địa điểm phỏng vấn khi có công an kiểm tra Cuối mỗi cuộc phỏng vấn, mỗi người tham gia nhận 50.000 đồng để đền bù cho thời gian họ đã đóng góp cho nghiên cứu.
Phương pháp phân tích số liệu
Nội dung các cuộc phỏng vấn được ghi chép và tổng hợp thành biên bản, đồng thời được ghi âm để đảm bảo tính chính xác Toàn bộ thông tin sẽ được gỡ băng và tổng hợp trong vòng 1-2 ngày sau mỗi buổi phỏng vấn, nhằm kịp thời điều chỉnh cho các cuộc phỏng vấn tiếp theo.
Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Do kích thước mẫu trong nghiên cứu định tính hạn chế, việc lựa chọn phỏng vấn được thực hiện một cách có chủ đích để tối đa hóa sự đa dạng Điều này nhằm đảm bảo rằng các đối tượng tham gia phỏng vấn đại diện cho nhiều nhóm khác nhau, bao gồm các nhóm tuổi, nhóm thu nhập, độ tuổi bắt đầu hành nghề và thời gian sử dụng đá.
Để giảm thiểu sai số trong việc lựa chọn đối tượng, cần tập trung vào những MDĐP ít khách và có thời gian rảnh rỗi Học viên đã tiếp cận đối tượng này qua nhiều thời điểm và kênh khác nhau Thông thường, đối với MDNH, học viên thường đến các tụ điểm vào giờ ăn hoặc khi chờ khách, nhằm tạo mối quan hệ thân mật, "phá băng" và sau đó hẹn họ đến quán cafe để thuận tiện cho việc phỏng vấn.
Với vai trò là một học viên trẻ, tôi đã tận dụng những trải nghiệm của PNMD để xây dựng mối quan hệ tốt hơn với người phỏng vấn Sự trẻ trung và thái độ lắng nghe của tôi đã tạo ra niềm tin và sự kết nối, khiến PNMD sẵn lòng chia sẻ những câu chuyện quý giá Bên cạnh đó, tôi luôn xem PNMD như những người thầy, từ đó khai thác được nhiều thông tin quan trọng về chủ đề này.
Việc thu thập thông tin và chất lượng của các thông tin này phụ thuộc vào khả năng của ĐTV, do đó, tác giả đã tự thu thập toàn bộ số liệu trong phần định tính Phương pháp này giúp đưa ra quyết định quan trọng trong phỏng vấn, xây dựng mối quan hệ với PNMD, và xác định chiều sâu của cuộc phỏng vấn Tuy nhiên, việc một người thực hiện tất cả các PVS có thể dẫn đến khó khăn trong việc phát hiện điểm mới do lượng thông tin quá lớn Để khắc phục, học viên thường xuyên ghi chép trong quá trình thực địa nhằm thảo luận với giáo viên hướng dẫn và phát hiện những điểm mới sau mỗi buổi thực địa.
HUPH tiếp, nhằm phục vụ cho việc thu thập thông tin được đa dạng hơn.
Để tránh sai số trong quá trình phỏng vấn, cần ghi chép chi tiết ngay sau mỗi cuộc phỏng vấn và đọc lại các kết quả kết hợp với ghi chép hàng ngày để làm rõ ý của người trả lời Việc này là cần thiết vì thông tin từ băng ghi âm có thể không phản ánh đầy đủ và còn phụ thuộc vào bối cảnh và thái độ của người được phỏng vấn Hơn nữa, việc tổng hợp và ghi chú kết quả trong ngày giúp người thực hiện phỏng vấn phát hiện những thiếu sót và xác định thông tin cần khai thác trong các cuộc phỏng vấn tiếp theo.
Nghiên cứu có thể gặp phải sai số thông tin do đối tượng phỏng vấn không trả lời trung thực các câu hỏi nhạy cảm, điều này đòi hỏi sự khéo léo và tinh tế từ ĐTV để khắc phục Hơn nữa, các câu trả lời cần được xem xét trong bối cảnh và thái độ của người trả lời.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin về đối tượng nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu bao gồm 30 phụ nữ làm nghề mại dâm (PNMD) với độ tuổi trung bình là 31, dao động từ 18 đến 45 tuổi Hơn một nửa trong số họ làm việc tại đường phố, trong khi phần còn lại hành nghề tại các quán massage, cafe, và khách sạn/nha nghỉ Thu nhập trung bình hàng tháng của các PNMD này là 10,8 triệu đồng, với mức thu nhập dao động từ 3 đến 30 triệu đồng Tuổi bắt đầu hành nghề mại dâm của các đối tượng nghiên cứu cũng được ghi nhận.
9 năm (dao động từ 7 tháng đến 16 năm) Số năm sử dụng đá trung bình của PNMD là 2,89 năm (dao động từ 0,5 tháng đến 6 năm) (Bảng 3.1).
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu – xã hội của PNMD tham gia nghiên cứu Đặc điểm PNMD N (%) Trung bình
Tình tr ạ ng hôn nhân Độc thân 7 (23,3) Đã kết hôn 5 (16,7)
Ly hôn/thân hoặc góa 18 (60,0)
Cấp 3 6 (20,0) Đ ị a đi ể m đón khách Đường phố 18 (60,0)
Trong phần phân tích này, chúng tôi xem xét thực trạng sử dụng đá của PNMD, bao gồm xu hướng và cách thức sử dụng, cũng như hoàn cảnh vật lý và xã hội liên quan Việc mô tả này không chỉ là cơ sở cho các phân tích sâu hơn mà còn hỗ trợ trong việc thiết kế các chương trình can thiệp giảm hại phù hợp cho nhóm ĐTNC.
3.2.1 Xu hướng sử dụng đá
Hầu hết người nghiện ma túy (PNMD) tham gia phỏng vấn đều cho rằng xu hướng sử dụng đá hiện nay đang trở nên "phổ biến" và giống như một "phong trào" Nhiều PNMD đã từng sử dụng loại ma túy này nhận định rằng đá là loại ma túy "sành điệu" và việc sử dụng nó trở thành "mốt" Một PNMD từng sử dụng heroin trong thời gian dài và hiện tại chuyển sang sử dụng đá cho biết xu hướng này "không khác gì so với heroin vào năm 97 – 98, thậm chí có thể còn nhiều hơn".
Xu hướng sử dụng đá hiện nay đang gia tăng, tương tự như thời kỳ 1997-1998 khi heroin phổ biến Thực tế, mức độ sử dụng đá hiện tại còn cao hơn so với những năm đó.
Khi được yêu cầu tự đánh giá về tỷ lệ sử dụng đá trong số các PNMD mà họ biết, một ĐTNC đã đưa ra nhận định như sau:
Biết người sử dụng đá là hiểu biết sâu sắc về một phần lớn trong cộng đồng, với khoảng 70% chị em trong nghề này có liên quan đến việc sử dụng đá.
3.2.2 Cách thức sử dụng đá: hút với dụng cụ “cầu kì”, cách dùng “phức tạp” Đá (crystal Meth) thực chất là Meth ở dạng tinh thể có công thức là d- methamphetamine hydrochloride [15] Theo mô tả của PNMD, đá có hình dạng giống
“hạt đường”và“trong trong như mì chính” Đặc điểm trên khá giống những hình ảnh về loại ma túy này trên phương tiện truyền thông đại chúng (hình 4).
(Nguồn: factsheet “ma túy sự thật phũ phàng”[1])
Mỗi loại ma túy có cách sử dụng riêng, trong đó đá thường được sử dụng chủ yếu qua hình thức hút Tất cả người tham gia nghiên cứu đều xác nhận rằng đá được tiêu thụ bằng cách hút, và so với các loại ma túy khác, việc sử dụng đá đòi hỏi nhiều công cụ hơn, bao gồm “cóng thủy tinh” và “bình” để “lọc”.
Hình 3.2: Dụng cụ sử dụng đá
( nguồn: http://img.news.zing.vn/img/357/t357273.jpg)
Dụng cụ sử dụng đá rất đa dạng và có nhiều mức giá khác nhau, phản ánh các đẳng cấp khác nhau trong giới chơi đá Một nữ mại đâm đã chia sẻ rằng "bộ đồ chơi đá" của những "dân chơi" có thể lên đến "vài triệu" Đối với PNMD trong PVS, họ tự nhận là
Để hút đá, bạn cần một bình nước giống như chai Lavie Đục hai lỗ: một lỗ để cắm ống hút (vòi) và một lỗ để cắm cóng, nơi bạn đổ đá vào Khi đốt lửa dưới cóng, khói sẽ chảy vào bình và bạn có thể hút khói lên qua ống hút Khói sẽ lắng lại trong bình trước khi được hút lên.
Việc sử dụng đá không chỉ đòi hỏi các dụng cụ phức tạp mà còn liên quan đến kỹ thuật “tiêm thuốc”, tức là cách đốt đá bằng ngọn lửa phù hợp Quá trình “tiêm thuốc” này yêu cầu sự chuyên nghiệp và khéo léo, không phải ai cũng có thể thực hiện Do đó, đá trở thành một yếu tố thể hiện sự tinh tế trong nghệ thuật này.
“Đẳng cấp” thể hiện phong cách chơi theo nhóm, giúp người chơi “khẳng định mình” và “thể hiện cái tôi” thông qua việc “ngồi hàng nước chém với nhau” và chia sẻ những trải nghiệm chơi đá độc đáo.
Chơi đá không phải ai cũng biết cách tiêm, mà đây là tiêm vật liệu khò, cần có người biết đốt để tránh mất đi hiệu quả Địa điểm sử dụng đá cần phải “yên tĩnh” và “an toàn” vì đá kích thích mạnh đến hệ thần kinh trung ương, gây ảo giác và làm người sử dụng khó kiểm soát bản thân, do đó, việc sử dụng nên diễn ra trong “phòng kín”.
Khi chơi đá, người dùng thường rơi vào trạng thái "quấn", tức là họ liên tục suy nghĩ và lặp đi lặp lại hành động cho đến khi hết thuốc Điều này dẫn đến việc lo lắng và suy nghĩ về việc sử dụng đá ở những địa điểm không an toàn, ảnh hưởng đáng kể đến tâm lý và chất lượng trải nghiệm "cuộc chơi đá".
Nó khác heroin vì kích thích não, khiến mình phải suy nghĩ nhiều Khi ở một chỗ lạ, mình không cảm thấy thoải mái và luôn lo lắng về điều đó.
HUPH tránh phải suy nghĩ quá mức dẫn đến“lo lắng, sợ hãi”.
Để đảm bảo an toàn và yên tâm khi sử dụng đá, nhiều PNMD thường chọn nhà nghỉ làm địa điểm chính Họ cảm thấy cần phải có sự yên tĩnh và kín đáo, vì những nơi không an toàn có thể gây lo lắng khi sử dụng Ngoài nhà nghỉ, một số PNMD cũng lựa chọn quán karaoke và nhà thuê là những địa điểm thuận lợi cho việc này.
3.2.4 Mạng lưới sử dụng đá cùng PNMD
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng ma túy đá
Yếu tố cá nhân Yếu tố môi trường
Sử dụng đá vì nhận thức :
- “Độ phê” của đá kéo dài hơn;
- “Ít gây nghiện hơn”; Ít nguy cơ lây nhiễm HIV hơn.
Môi trường vật lý: “Nhà nghỉ” tạo điều kiện thuận lợi cho PNMD sử dụng đá Do:
- Gắn với công việc mại dâm; “cặp đôi vào nhà nghỉ” được liên tưởng đến QHTD hơn là dùng đá “an toàn” cho PNMD
Thái độ: Đá là ma túy “sành điệu”,
“đẳng cấp” “tò mò” muốn dùng thử.
- Đá giúp PNMD hình thành nhóm chơi
- Chuẩn mực nhóm: đá là “đẳng cấp” “sành điệu” sử dụng đá làm tăng vị thế xã hội.
- Nhóm duy trì dùng đá: (1) Khắc phục cách dùng cầu kì;
(2) Giảm nhẹ kinh tế, (3) Thực hiện tiêu khiển; (4) Thỏa mãn TD
- Dễ tiếp cận với đá: do nhu cầu sử dụng đá cao PNMD là đích của người buôn đá
Kinh nghiệm sử dụng ma túy khác:
- Dùng đá để “quên” heroin;
- Để tìm cảm giác khác của heroin;
- Đá là “chất dẫn”, “chất đề” cho các loại ma túy tổng hợp khác.
- Sử dụng lần đầu không mất tiền
- Sử dụng đá để mại dâm Mại dâm kiếm tiềnduy trì sử dụng đá.
- Pháp luật chưa đủ tính răn đe
- Can thiệp giảm hại còn hạn ch ế
3.3.1.1 Nhận thức của PNMD về đá Đa phần khi trả lời các câu hỏi liên quan đến kiến thức về tác dụng, liên quan của đá đến sức khỏe, PNMD trong nghiên cứu có xu hướng so sánh các đặc điểm này với heroin - loại ma túy đã được sử dụng phổ biến từ rất lâu tại Việt Nam Cụ thể:
“Độ phê” của đá mạnh và kéo dài hơn heroin
HUPH, hay còn gọi là "đá", tác động mạnh mẽ đến hệ thần kinh, mang lại cảm giác hưng phấn kéo dài hơn heroin Khác với cảm giác "li bì" sau khi sử dụng heroin, đá kích thích người dùng tham gia vào các hoạt động giải trí vui vẻ và thoải mái Đặc biệt, trạng thái hưng phấn trong quan hệ tình dục là một trong những đặc điểm nổi bật của đá, khiến nhiều người tìm đến loại ma túy này.
Cảm giác khi sử dụng heroin thường mang lại sự khó chịu vào ngày hôm sau, khiến người dùng cảm thấy li bì và chỉ muốn nằm một chỗ Ngược lại, sau khi sử dụng ma túy đá, người dùng thường cảm thấy vui vẻ, hưng phấn hơn, và có thể tận hưởng những khoảnh khắc thoải mái, kích thích hơn khi ở bên bạn bè hoặc trong quan hệ tình dục.
Chơi đá là để tạo cảm giác khi QHTD thôi (MDĐP,31 tuổi)
Việc sử dụng ma túy đá có thể tạo ra ảo giác hưng phấn và kích thích hoạt động, giúp người dùng vượt qua sự nhút nhát và thể hiện bản thân tốt hơn Điều này làm tăng sự tự tin cho những người sử dụng, đặc biệt là trong các tình huống giao tiếp với khách hàng, giúp họ mạnh dạn hơn và giảm bớt cảm giác sợ hãi, e dè.
Theo một người phụ nữ 34 tuổi, việc chơi đá có thể giúp tăng cường sự tự tin, đặc biệt đối với những người nhút nhát Khi sử dụng đá, họ cảm thấy mạnh dạn hơn và không còn sợ hãi hay xấu hổ khi đối diện với người khác Ngoài ra, đá cũng được cho là ít gây nghiện hơn heroin.
Phần lớn người nghiện ma túy (PNMD) trong nghiên cứu không nhận thức được rằng đá là một chất gây nghiện khi họ bắt đầu sử dụng Một PNMD chia sẻ rằng, một năm trước khi tham gia nghiên cứu, họ có hiểu biết rất hạn chế về khả năng gây nghiện của chất này.
Nhiều người cho rằng việc sử dụng ma túy đá không gây nghiện, nhưng thực tế lại khác Ban đầu, tôi cũng nghĩ như vậy và cảm thấy nếu không nghiện thì thật tuyệt, nên đã quyết định thử Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng ma túy đá thực sự có thể gây nghiện.
Trạng thái nghiện ma túy đá xảy ra chậm hơn so với heroin, khiến người dùng nhầm tưởng rằng loại ma túy này không gây nghiện Theo phản ánh của PNMD, sau một ngày ngừng sử dụng đá sau thời gian dài, họ không gặp phải các triệu chứng cai như khi ngừng heroin Tuy nhiên, từ ngày thứ 5 trở đi, khi có tiền, họ chỉ nghĩ đến việc sử dụng lại loại ma túy này.
Nhiều người dùng ma túy đá, như MDĐP (31 tuổi), cho rằng họ không nghiện, vì có thể ngừng sử dụng mà không gặp triệu chứng khó chịu ngay lập tức Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy hầu hết người dùng ma túy đá đều thừa nhận rằng nó có khả năng gây nghiện Đặc biệt, 1/5 số người tham gia nghiên cứu cảm thấy họ đã bị nghiện.
“nghiện đá” Một PNMD có chia sẻ:
Khi bắt đầu chơi một trò gì đó mà thấy thú vị, chúng ta thường không nhận ra rằng mình đang dần trở nên nghiện Đến khi nhận ra thì đã quá muộn, và việc dừng lại trở nên khó khăn hơn Sự đam mê ban đầu có thể dẫn đến những khó khăn không ngờ tới.
Nhận thức về tác hại của đá với sức khỏe: ít hại và nguy cơ nhiễm HIV hơn heroin
Kết quả PVS cho thấy một số PNMD có kiến thức sai lệch về mối liên hệ giữa đá và sức khỏe, cũng như nguy cơ nhiễm HIV từ loại ma túy này Một PNMD cho biết đá được coi là ít nguy hại hơn heroin do cách sử dụng phức tạp, thường được lọc qua bình trước khi vào cơ thể Hơn nữa, khi hút đá, người dùng không “nuốt khói” như với heroin mà chỉ ngậm rồi nhả ra, dẫn đến quan điểm rằng đá ít ảnh hưởng đến sức khỏe hơn heroin Quan điểm này được thể hiện rõ qua lời giải thích của người sử dụng.
HUPH dụng, mà chưa tính đến hàm lượng và mức độ liên quan đến cơ thể của từng loại ma túy này.
Chơi ma túy đá ít hại sức khỏe hơn heroin vì khi sử dụng, người chơi phải lọc qua bình nước, trong khi heroin thì được hút trực tiếp Hút ma túy đá không gây đầy bụng như heroin, vì người dùng không nuốt khói mà chỉ hít vào.
Kết quả từ cuộc khảo sát PVS cho thấy 2/3 người nghiện ma túy (PNMD) cho rằng việc sử dụng đá có nguy cơ lây nhiễm HIV thấp hơn so với heroin Nguyên nhân chủ yếu được nêu ra là do phương pháp sử dụng đá thường là hút, trong khi heroin thường được tiêm chích, dẫn đến nguy cơ lây nhiễm cao hơn.
Nó an toàn hơn về mặt không lây HIV so với việc chơi heroin, vì heroin có nguy cơ cao hơn do tiếp xúc với máu nhiều hơn Trong khi đó, nếu quan hệ tình dục mà cả hai bên không bị xây xước, nguy cơ nhiễm HIV qua đường tình dục sẽ rất thấp.
Một số người cho rằng việc sử dụng ma túy đá có nguy cơ nhiễm HIV thấp hơn so với heroin, vì họ tin rằng ma túy đá hoạt động như một loại kháng sinh mạnh, giúp giảm khả năng lây nhiễm bệnh.
Hành vi tình dục nguy cơ lây nhiễm HIV dưới tác dụng của đá
3.4.1 Hoàn cảnh thực hiện hành vi quan hệ tình dục
QHTD là công cụ hỗ trợ nhóm PNMD thỏa mãn nhu cầu tình dục do việc sử dụng đá gây ra Hành vi này thường diễn ra trong hoặc ngay sau khi PNMD sử dụng đá, do đó hoàn cảnh thực hiện QHTD thường liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng đá Trong phần này, chúng ta sẽ mô tả hoàn cảnh QHTD qua hai khía cạnh: (1) hoàn cảnh vật lý, bao gồm địa điểm sử dụng đá và thực hiện hành vi.
Nhà nghỉ nơi lý tưởng để PNMD sử dụng đá và QHTD
Nhà nghỉ không chỉ là nơi lý tưởng cho PNMD sử dụng đá mà còn đáp ứng nhu cầu quan hệ tình dục (QHTD) của đa số người dùng Hầu hết các nhà nghỉ hiện nay đều kín đáo, sạch sẽ và có đầy đủ tiện nghi như nhà tắm, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải tỏa nhu cầu tình dục Do đó, nhà nghỉ trở thành lựa chọn phổ biến của PNMD để sử dụng ma túy kích thích tình dục mạnh và thực hiện QHTD "Chị chọn những nơi sạch sẽ, những chỗ bọn chị quen hay đến," một người dùng chia sẻ.
Mạng lưới người quan hệ tình dục dưới tác dụng của đá của MDĐP
MDĐP và MDNH có sự khác biệt rõ rệt về môi trường sống, làm việc và các mối quan hệ xã hội MDĐP thường là những người lớn tuổi hơn và được xem là kém hấp dẫn hơn, dẫn đến việc khách hàng của họ chủ yếu là những người có thu nhập thấp Một ví dụ điển hình là chia sẻ của một PNMD 36 tuổi.
Khách hàng của MDĐP rất đa dạng, bao gồm thợ xây, phụ hồ, công nhân, xe ôm, và cả những thanh niên chưa vợ, có và không có kinh nghiệm Bộ đội, trong ngữ cảnh này, là những người không có tiền án tiền sự, có thể là khách hoặc người bảo kê Đặc điểm chung của họ là thu nhập thấp, ít khả năng chi trả cho các khoản tiền lớn, dẫn đến việc họ hiếm khi sử dụng đá Mục đích sử dụng đá của MDĐP thường không liên quan đến mại dâm.
MDĐP thường là “bạn bè nghiện ngập”, “anh em quen biết” , những người có nhu cầu
Trong nhóm chơi đá, mối quan hệ giữa các thành viên thường rất nông và rộng, không cần phải thân thiết mà chỉ cần có người dắt Để tham gia, họ chỉ cần quen biết một vài người trong nhóm, và có thể được giới thiệu lẫn nhau Trong các cuộc chơi này, MDĐP cho biết họ không quan tâm đến nghề nghiệp hay thành phần của những người tham gia: "Ôi giời ơi, nghiện thì cần gì phải làm nghề gì đâu, làm nghề gì thì mình có nhu cầu thì chơi cùng, cũng chẳng có gì phải quan tâm."
Sự kết nối giữa MDĐP và các thành phần tham gia sử dụng đá là rất lỏng lẻo, với nhóm nghiên cứu thường không cố định và các thành viên có thể thay đổi liên tục Điều này dẫn đến sự phức tạp trong mối quan hệ giữa QHTD và PNMD khi sử dụng đá Đặc biệt, có những trường hợp "không quen biết", khi một người mới được dẫn đi lần đầu vẫn có thể thiết lập QHTD trong các cuộc vui có đá.
Trong một nhóm có cả nam và nữ, không cần phải quen biết nhau trước Ví dụ, một người có thể dẫn theo một bạn nam và hai bạn nữ, trong khi người khác có thể dẫn theo hai bạn nam và một bạn nữ Sau khi gặp gỡ, mọi người có thể chơi với nhau và nếu có nhu cầu tình dục, họ có thể quan hệ một cách bình thường.
Mạng lưới người quan hệ tình dục dưới tác dụng của đá với MDNH
MDĐP sử dụng đá và QHTDTT để tìm kiếm “sự ảo giác” và “sự thỏa mãn nhu cầu” cho bản thân, trong khi MDNH chủ yếu dùng đá để gia tăng thu nhập từ công việc mại dâm Mại dâm nhà hàng thường là những người “trẻ” và “đẹp”, do đó họ thường được khách mời sử dụng đá nhiều hơn Tất cả MDNH tham gia nghiên cứu đều thừa nhận đã từng sử dụng đá và QHTD với khách Một MDNH 25 tuổi chia sẻ về trải nghiệm của mình.
HUPH không chỉ không mất tiền khi sử dụng loại ma túy này, mà còn nhận được một khoản tiền “boa” đáng kể Khoản tiền “boa” này được hiểu là số tiền PNMD mà họ nhận thêm từ khách hàng, ngoài khoản tiền đã được thương thuyết cho việc thực hiện hành vi QHTD.
Khi khách hàng hài lòng, họ có thể chi thêm từ một triệu đến ba triệu đồng Nếu chúng ta mang lại cho họ cảm giác thoải mái và thỏa mãn, thì số tiền đó sẽ không còn là vấn đề lớn.
MDNH thường tiếp đón khách tại các địa điểm giải trí như quán cafe, karaoke và vũ trường, nơi mà khách hàng thường đi theo nhóm Điều này yêu cầu PNMD phục vụ khách theo nhóm, dẫn đến việc đối tượng QHTDTT của MDNH chủ yếu là khách hàng Một MDNH 27 tuổi đã chia sẻ về trải nghiệm này.
Lần gần nhất tham gia hoạt động tập thể, nhóm chị em đã gặp gỡ và chơi đá với nhóm anh em Tất cả cùng ngồi chơi đến khi mệt mỏi, không còn nhớ ai đã ngủ cùng ai Điều này có nghĩa là mọi người đã thay phiên nhau tham gia vào hoạt động một cách tự nhiên.
Hầu hết phụ nữ nghiện ma túy (PNMD) tham gia nghiên cứu đều nhận thức được nguy cơ lây nhiễm HIV cao nếu không sử dụng bao cao su (BCS) Tuy nhiên, nhận thức này không phải là yếu tố duy nhất ảnh hưởng đến hành vi sử dụng BCS khi quan hệ tình dục dưới tác dụng của ma túy Nghiên cứu chỉ ra rằng loại PNMD, bao gồm người sử dụng ma túy đường tiêm (MDĐP) và người sử dụng ma túy không đường tiêm (MDNH), có mối liên hệ chặt chẽ với hành vi sử dụng BCS Sự khác biệt về mục đích sử dụng, mạng lưới bạn bè cùng sử dụng ma túy, và ý thức trách nhiệm với tương lai giữa MDNH và MDĐP đã tạo ra sự khác biệt trong hành vi sử dụng BCS của hai nhóm này.
Nhóm sử dụng đá của MDĐP chủ yếu là những người tự nguyện tham gia “các cuộc chơi đá” để thỏa mãn nhu cầu tình dục Trong những “cuộc chơi” này, quan hệ tình dục diễn ra một cách bình đẳng, với MDĐP và bạn tình có vai trò tương đương trong việc quyết định sử dụng bao cao su (BCS) Tuy nhiên, 15/18 MDĐP thừa nhận không bao giờ sử dụng BCS khi quan hệ tình dục dưới tác dụng của đá Trong số 3 MDĐP thường xuyên sử dụng BCS, có 2 PNMD đã chia sẻ về tình trạng nhiễm HIV dương tính Các MDĐP đã nêu rõ lý do không sử dụng BCS khi quan hệ tình dục dưới tác dụng của đá.
Quan hệ trong trạng thái ảo giác, thiếu sự chuẩn bị
Theo chia sẻ của MDĐP, các “cuộc chơi” thường bắt đầu từ nhu cầu sử dụng đá của các thành viên Đá là chất kích thích tình dục mạnh, thường được sử dụng trong môi trường có cả nam và nữ tại nhà nghỉ, dẫn đến hành vi quan hệ tình dục (QHTD) trong nhóm người sử dụng loại ma túy này Hành vi QHTD này thường mang tính bộc phát, xuất hiện khi người sử dụng rơi vào trạng thái ảo giác Sự bộc phát này, cùng với kích thích tình dục mạnh do đá gây ra, đã cản trở việc sử dụng bao cao su (BCS) của các thành viên.
“cuộc chơi” Cụ thể, hầu hết MDĐP cho biết họ “không làm chủ được mình”, “không nghĩ đến việc dùng bao” khi QHTD dưới tác dụng của đá.