1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch và một số yếu tố liên quan ở trẻ 12 23 tháng tuổi tại huyện kon rẫy, tỉnh kon tum năm 2022

108 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch và một số yếu tố liên quan ở trẻ 12-23 tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum năm 2022
Tác giả Trần Thị Lệ Kiều
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Ngọc Bích
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 3,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với tình hình đó, đề tài đã được tiến hành nghiên cứu với mục tiêu mô tả thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch ở trẻ từ 12-23 tháng tuổi trong chương trình tiêm chủng mở rộng tại huy

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ LỆ KIỀU

THỰC TRẠNG TIÊM CHỦNG ĐẦY ĐỦ, ĐÚNG LỊCH VÀ MỘT SỐ YẾU

TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ 12-23 THÁNG TUỔI TẠI HUYỆN KON RẪY, TỈNH

KON TUM NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

HÀ NỘI, 2022 HUPH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

TRẦN THỊ LỆ KIỀU

THỰC TRẠNG TIÊM CHỦNG ĐẦY ĐỦ, ĐÚNG LỊCH VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở TRẺ 12-23 THÁNG TUỔI TẠI

HUYỆN KON RẪY, TỈNH KON TUM NĂM 2022

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN NGỌC BÍCH

HÀ NỘI, 2022 HUPH

Trang 3

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1 .4

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số khái niệm 4

1.2 Các loại vắc xin trong tiêm chủng mở rộng (TCMR) cho trẻ dưới 12 tháng 5

1.3 Thực trạng tiêm chủng mở rộng cho trẻ 12 -23 tháng tuổi trên thế giới và tại Việt Nam 7

1.4 Thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng trên thế giới và tại Việt Nam 14

1.5 Một số yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng trên thế giới và tại Việt Nam 18

1.6 Giới thiệu về huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum 21

1.7 Khung lý thuyết 22

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 24

2.3 Thiết kế nghiên cứu 25

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 25

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 26

2.6 Các biến số nghiên cứu 28

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá 29

2.8 Phương pháp phân tích số liệu 32

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 32

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33

3.1 Đặc điểm chung của bà mẹ/người nuôi dưỡng và bản thân trẻ 33

3.2.Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ từ 12-23 tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum 36

3.3 Một số yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ từ 12-23 tháng tuổi tại huyện Kon rẫy, tỉnh Kon Tum 39

Chương 4 BÀN LUẬN 53

4.1 Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 53

4.2 Các yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 57

4.3 Hạn chế nghiên cứu 62

KẾT LUẬN 63

1 Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ từ 12-23 tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum năm 2022 63

HUPH

Trang 4

2 Một số yếu tố liên quan đến chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ từ 12-23 tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum năm 2022 63

KHUYẾN NGHỊ 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

HUPH

Trang 5

gan B, viêm phổi và viêm màng não do Hib

HUPH

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Lịch tiêm chủng của trẻ dưới 12 tháng trong chương trình TCMR 4

Bảng 2.1 Danh sách tổng số trẻ được đưa vào nghiên cứu theo các thôn 25

Bảng 2.2 Lịch tiêm chủng của trẻ từ 12-23 tháng tuổi trong chương trình TCMR 30

Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ từ 12-23 tháng tuổi trong chương trình TCMR 31

Bảng 3.1 Một số đặc điểm nhân khẩu học của bà mẹ/người nuôi dưỡng 33

Bảng 3.2 Kiến thức về tiêm chủng cho trẻ dưới 12 tháng của bà mẹ/người nuôi dưỡng 34

Bảng 3.3 Tiền sử sinh của trẻ 35

Bảng 3.4 Tiền sử bệnh tật của trẻ 36

Bảng 3.5 Tỷ lệ trẻ từ 12-23 tháng tuổi đã tiêm chủng theo từng loại vắc xin 37

Bảng 3.6 Tỷ lệ trẻ từ 12-23 tháng tuổi tiêm chủng đúng lịch theo từng loại vắc xin 38

Bảng 3.7 Tỷ lệ tiêm vắc xin đầy đủ, đúng lịch 38

Bảng 3.8 Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học của bà mẹ/người nuôi dưỡng với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 39

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa khả năng tiếp cận địa điểm tiêm chủng của bà mẹ/người nuôi dưỡng với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 43

Bảng 3.10 Mối liên quan giữa kiến thức về tiêm chủng của bà mẹ/người nuôi dưỡng với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 44

Bảng 3.11 Mối liên quan giữa tiền sử sinh của trẻ với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 45

HUPH

Trang 7

Bảng 3.12 Mối liên quan giữa tiền sử bệnh tật của trẻ với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 46 Bảng 3.14 Mối liên quan giữa sự hỗ trợ của gia đình với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 49 Bảng 3.15 Mối liên quan giữa đánh giá về quy trình tiêm chủng của bà mẹ/người nuôi dưỡng với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch ( 50 Bảng 3.16 Mối liên quan giữa đánh giá về cơ sở tiêm chủng của bà mẹ/người nuôi dưỡng với tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch 51

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Chương trình Tiêm chủng mở rộng (TCMR) đã góp phần quan trọng trong thanh toán và phòng chống nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm phổ biến ở trẻ em Huyện Kon Rẫy là huyện có số đồng bào dân tộc bản địa chiếm tỷ lệ tương đối cao,

có nền văn hoá cổ truyền đa dạng, phong phú, đặc trưng cho bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên Việc truyền thông, thông báo, tổ chức thực hiện tiêm chủng theo chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 12 tháng tuổi bị gián đoạn và gặp nhiều khó khăn do thiếu nhân lực Mặt khác, trong bối cảnh dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, hoạt động tổ chức tiêm chủng cho trẻ dưới 12 tháng tuổi lại càng khó khăn hơn Với tình hình đó, đề tài đã được tiến hành nghiên cứu với mục tiêu mô tả thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch ở trẻ từ 12-23 tháng tuổi trong chương trình tiêm chủng mở rộng tại huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum năm 2022 và phân tích một số yếu

tố liên quan

Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện từ tháng 11/2021 đến tháng 6/2022 kết hợp nghiên cứu định lượng được thực hiện trên 531 bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ, nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua phỏng vấn sâu các đối tượng là Trạm trưởng các trạm y tế, cán bộ y tế trạm y tế, các bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ

Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ từ 12-23 tháng tuổi tiêm đầy đủ 5 loại vắc xin là 94,5% Tỷ lệ trẻ từ 12-23 tháng tuổi tuổi được tiêm đầy đủ, đúng lịch là 18,3% Các yếu tố liên quan được tìm thấy bao gồm nhóm tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập bình quân, khoảng cách từ nhà đến cơ sở tiêm chủng; số lần trẻ bị ốm, trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu, gia đình ủng hộ, gia đình nhắc nhở đưa con đi tiêm chủng, cán bộ y tế có thông báo về vắc xin được tiêm trước khi tiêm

và luôn sẵn vắc xin

Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch cho trẻ là một hành động hết sức quan trọng

và cần thiết để bảo vệ sức khỏe của trẻ trong những năm đầu đời Vì thế các ban ngành

HUPH

Trang 9

y tế lin quan cần tăng cường truyền thông về tiêm chủng cho người dân; kết nối các nguồn lực cộng đồng để nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch.

HUPH

Trang 10

ho gà, uốn ván, viêm gan B và sởi (1)

Tại Việt Nam, từ khi chương trình tiêm chủng mở rộng được triển khai năm

1985 đến nay đã đạt được những thành tích to lớn như thanh toán bệnh bại liệt năm

2000, loại trừ bệnh uốn ván sơ sinh năm 2005 và tiến tới loại trừ bệnh sởi, khống chế Viêm gan B (2) Tuy nhiên, năm 2014 dịch sởi bùng phát khi có 47/63 tỉnh thành báo cáo có ca mắc sởi và tỉ lệ mắc cao nhất ở miền Bắc có với trên 2000 trường hợp, khu vực miền Nam với trên 1500 ca, khu vực miền Trung có gần 300 ca và khu vực Tây nguyên có 54 ca được báo cáo Trong nhiều nguyên nhân được đưa ra thì việc đảm bảo tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch cho trẻ dưới 12 tháng tuổi theo chương trình tiêm chủng mở rộng đóng một vai trò nhất định (2) Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng tuổi đã được quy định trong quyết định số 845/2010/QĐ-BYT ngày 17/03/2010 của Bộ y tế về về lịch tiêm các vắc xin phòng lao, viêm gan B, bạch hầu,

ho gà, uốn ván, Bại liệt, sởi, Hib trong dự án tiêm chủng mở rộng quốc gia (3) Nghiên cứu về tình trạng tiêm chủng trong giai đoạn dưới 12 tháng tuổi thường được tiến hành trên nhóm trẻ 12-23 tháng tuổi Theo số liệu của điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ MICS Việt Nam 2014, có 75,6% trẻ em từ 12-23 tháng tuổi

ở nước ta được tiêm chủng đầy đủ Trong đó, tỷ lệ tiêm phòng viêm gan B sơ sinh đạt thấp nhất 78,5%; thấp thứ hai là vắc xin phòng sởi 86,2% Có 1,5% trẻ em từ 12-23 tháng tuổi không được tiêm chủng (4)

HUPH

Trang 11

Tỉnh Kon Tum nằm về phía bắc của Tây Nguyên với diện tích 2/5 là đồi núi,

có hơn 40 dân tộc cùng sinh sống với 5 tôn giáo khác nhau Toàn tỉnh có 9 huyện và

1 thành phố Tính đến nay, chương trình tiêm chủng mở rộng đã bao phủ 100% trong toàn tỉnh với tỷ lệ đối tượng được tiêm chủng đầy đủ năm sau cao hơn năm trước, tỷ

lệ bao phủ trong nhóm trẻ dưới 12 tháng đạt trên 95% Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch còn rất thấp Tại các huyện biên giới tỉnh Kon Tum chỉ có 22,4% trẻ dưới 12 tháng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch (5), tại hai huyện

Sa Thầy và Ngọc Hồi tỷ lệ này là 9,3% (6)

Huyện Kon Rẫy là huyện có số đồng bào dân tộc bản địa chiếm tỷ lệ tương đối cao, có nền văn hoá cổ truyền đa dạng, phong phú, đặc trưng cho bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên Toàn huyện có 6 trạm y tế và 1 phòng khám đa khoa khu vực Thực hiện Nghị Quyết 36/2020/NQ-HĐND (7) đã hạn chế số lượng những người hoạt động không chuyên trách cấp xã, ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh Kon Tum Theo

đó, toàn huyện chỉ còn 24/49 cộng tác viên hoạt động trên 4/7 xã, thị trấn Vì vậy, việc truyền thông, thông báo, tổ chức thực hiện tiêm chủng theo chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ dưới 12 tháng cũng bị gián đoạn và gặp nhiều khó khăn do

thiếu nhân lực Mặt khác, trong bối cảnh dịch bệnh Covid diễn biến phức tạp, hoạt động tổ chức tiêm chủng cho trẻ dưới 12 tháng lại càng khó khăn hơn Với tình hình

đó, câu hỏi đặt ra là thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng của huyện năm qua như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến tỉ lệ tiêm chủng

đầy đủ và đúng lịch ở trẻ em dưới 12 tháng? Để trả lời những câu hỏi này, nghiên cứu

“Thực trạng tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch và một số yếu tố liên quan ở trẻ 12 - 23 tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum năm 2022” đã được triển khai năm 2022

trên địa bàn huyện Kon Rẫy

HUPH

Trang 12

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch 8 loại vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng ở trẻ dưới 12 tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum năm

2022

2 Phân tích một số yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch 8 loại vắc xin trong chương trình tiêm chủng mở rộng ở trẻ dưới 12 tháng tuổi tại huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum năm 2022

HUPH

Trang 13

Chương 1

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Tiêm chủng

Tiêm chủng là việc sử dụng các hình thức khác nhau để đưa kháng nguyên vào

cơ thể con người với mục đích tạo cho cơ thể khả năng tạo ra miễn dịch chủ động để

dự phòng bệnh tật (8)

1.1.2 Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch

Tiêm chủng đầy đủ: Trẻ dưới 12 tháng được coi là tiêm chủng đầy đủ là trẻ

nhận được đủ 8 loại vắc xin và đủ liều như sau: 1 mũi viêm gan B (phòng bệnh viêm gan B); 1 mũi BCG (phòng bệnh lao); 3 mũi DPT-VGB-Hib (phòng bệnh bạch hầu,

ho gà, uốn ván, viêm gan B, viêm phổi và viêm màng não do Hib); 3 lần uống OPV (phòng bệnh bại liệt); 1 mũi sởi (phòng bệnh sởi) (3)

Bảng 1.1 Lịch tiêm chủng của trẻ dưới 12 tháng trong chương trình TCMR STT Tuổi của trẻ Vắc xin sử dụng

Trang 14

Tiêm chủng đúng lịch: Trẻ dưới 12 tháng được coi là tiêm chủng đúng lịch khi

các liều đều tiêm đúng lịch theo khuyến cáo của chương trình tiêm chủng mở rộng

Cụ thể: vắc xin Viêm gan B đúng lịch khi tiêm trong vòng 24 giờ sau sinh; vắc xin BCG đúng lịch khi tiêm trong vòng 01 tháng tuổi; các loại vắc xin DTP, OPV, Viêm màng não mủ do Hib đúng lịch khi tiêm khi đủ 02 tháng tuổi, hoàn thành 03 mũi trước

06 tháng tuổi, các mũi cách nhau tối thiểu 1 tháng, vắc xin sởi đúng lịch khi tiêm 01 mũi khi đủ 9 tháng tuổi đến trước 11 tháng tuổi (3), (8)

Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch: Trẻ được coi là tiêm chủng đầy đủ và đúng

lịch khi trẻ nhận đủ 8 loại vắc xin và đủ liều theo đúng độ tuổi quy định và đảm bảo khoảng cách giữa các liều của các mũi tiêm đó theo quy định của Bộ Y tế (3)

1.1.4 Vắc xin

Vắc xin là những chế phẩm được sản xuất từ những sinh vật (vi khuẩn, vi rút) chỉ là một hay thành phần của chúng đã được làm biến đổi để trở thành vô hại không gây bệnh cho người khi được đưa vào cơ thể, nhưng lại kích thích cơ thể sinh ra kháng thể đặc hiệu chống lại bệnh (10)

1.2 Các loại vắc xin trong tiêm chủng mở rộng (TCMR) cho trẻ dưới 12 tháng

Vắc xin viêm gan B liều sơ sinh

HUPH

Trang 15

Vắc xin viêm gan B liều sơ sinh được chỉ định tiêm cho trẻ trong vòng 24 giờ sau sinh để dự phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con (8)

Vắc xin phối hợp DPT-VGB-Hib

Sử dụng trong tiêm chủng mở rô ̣ng là vắc xin dạng dung dịch gồm có giải độc

tố vi khuẩn bạch hầu, uốn ván, vi khuẩn ho gà bất hoạt, kháng nguyên vi rút VGB và kháng nguyên Hib Vắ c xin DPT - VGB - Hib phòng được các bệnh: Bạch hầu, uốn ván, ho gà, viêm gan B và Haemophilus influenzae type B (8)

Vắc xin Sabin (Bại liệt)

Vắc xin phòng bệnh bại liệt là vaccine vi rút bại liệt sống, giảm độc lực (OPV) hoặc vi rút bại liệt chết Chỉ định: Trẻ 2 tháng tuổi

Vaccin OPV: Trẻ từ 2-18 tháng tuổi, uống nhắc ở mọi lứa tuổi

Vaccin IPV: Tiêm cho trẻ từ 5 tháng tuổi

Liều lượng: Uống 2 giọt, tiêm 0,5ml Cách dùng: OPV uống, IPV tiêm bắp hoặc tiêm dưới da (liều 1: 2 tháng tuổi, liều 2: 3 tháng, liều 3: 4 tháng (9)

Vắc xin sởi

Vắc xin vi rút sởi sống, giảm động lực Vaccine sởi tiêm cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên với liều lượng: 0,5ml cho mọi lứa tuổi Tiêm dưới da hoặc tiêm bắp mặt ngoài của phần trên cánh tay Trên thực tế là vắc xin đơn hoặc phối hợp với các vắc xin khác như vắc xin 2 trong 1 (sởi - rubella), 3 trong 1 (sởi - quai bị - rubella) Chỉ định tiêm cho trẻ từ 9 tháng tuổi trở lên với liều lượng 0,5ml cho mọi lứa tuổi (9)

HUPH

Trang 16

1.3 Thực trạng tiêm chủng mở rộng cho trẻ 12 -23 tháng tuổi trên thế giới và tại Việt Nam

1.3.1 Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ 12 -23 tháng tuổi trên thế giới

Chương trình tiêm chủng phổ cập cho trẻ em chống lại các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc xin đã được công nhận là một trong những chương trình tiết kiệm chi phí nhất để giảm tỷ lệ tử vong và bệnh tật ở trẻ em trên toàn thế giới (11, 12) Khoảng 2,5 triệu trẻ em mỗi năm được ngăn ngừa tử vong bởi tiêm chủng, tiến tới đạt được mục tiêu kết thúc tử vong có thể phòng ngừa được ở trẻ sơ sinh và trẻ em dưới

5 tuổi vào năm 2030 (13, 14) Qua nhiều thập kỷ, những cải tiến đáng kể đã được thực hiện đối với sự phát triển của các chương trình tiêm chủng quốc gia, trong đó Chương trình Tiêm chủng mở rộng là một đóng góp lớn cho thành công này (15)

Tiêm chủng mở rộng được chính thức thành lập vào năm 1974, với sự hỗ trợ của WHO, với mục tiêu tạo miễn dịch cho mọi trẻ em chống lại sáu bệnh truyền nhiễm (tức là bạch hầu, ho gà, uốn ván (DPT), bại liệt, sởi và lao) vào năm 1990 (16) Ưu tiên tối đa các nước đang phát triển vì tỷ lệ mắc bệnh cao hơn và điều kiện cung cấp dịch vụ tiêm chủng không đầy đủ (17)

Dựa trên ước tính năm 2015 của WHO và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), mức độ bao phủ toàn cầu với liều vắc xin bạch hầu-uốn ván-ho gà thứ ba (DTP3), liều vắc-xin sởi đầu tiên (MCV1) và liều vắc-xin bại liệt thứ ba ( Pol3) vẫn

ổn định (84% -86%) kể từ năm 2010 Từ năm 2014 đến 2015, ước tính độ bao phủ toàn cầu với liều MCV thứ hai (MCV2) đã tăng từ 39% lên 43% vào cuối năm thứ hai của cuộc đời và từ 58% đến 61% khi bao gồm các nhóm tuổi lớn hơn Tỷ lệ bao phủ toàn cầu năm 2015 cao hơn so với năm 2010 đối với các loại vắc xin mới hơn hoặc ít được sử dụng, bao gồm vắc xin vi rút rota, vắc xin liên hợp phế cầu (PCV), vắc xin rubella, Thuốc chủng ngừa Haemophilus influenzae týp b (Hib), và 3 liều thuốc chủng ngừa viêm gan B (HepB3) Ước tính phạm vi bao phủ rất khác nhau theo Khu vực, quốc gia và quận/huyện của WHO; Ngoài ra, đối với các vắc-xin được đánh giá

HUPH

Trang 17

(MCV, DTP3, Pol3, HepB3, Hib3), có sự chênh lệch lớn về tỷ lệ bao phủ theo phân loại thu nhập của quốc gia (18)

Tại các quốc gia châu Phi cận Sahara, nơi có tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi rất cao và phần lớn là do các bệnh ở trẻ em có thể phòng ngừa được bằng tiêm chủng Với mục đích nhằm giảm tỷ lệ tử vong sơ sinh xuống khoảng 12/1000 trẻ

sơ sinh sống trở xuống, tỷ lệ tử vong hàng năm cho khoảng 25/1000 trẻ đẻ sống vào năm 2030 (19) Bộ Y tế Liên bang phối hợp với WHO và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đưa TCMR vào Nigeria vào năm 1976 như một chương trình thí điểm, và thực hiện trên toàn quốc bắt đầu từ năm 1979 (20, 21) Mục tiêu của chương trình ở Nigeria là đạt tỷ lệ bao phủ tiêm chủng là 80% vào năm 1990 để giảm đến 50% tỷ lệ tử vong và bệnh tật do các bệnh mục tiêu của TCMR (20) Đến năm 1990 mới giảm được 20,4% tỷ lệ tử vong sơ sinh và tỷ lệ tử vong sơ sinh thực tế là 49/1000 trẻ đẻ sống trong cùng năm (13, 22) Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong sơ sinh từ năm 1990 đến năm 2013 không giảm nhiều, tỷ lệ tử vong sơ sinh là 37/1000 trẻ đẻ sống vào năm

đã cải thiện đáng kể trong tỷ lệ tiêm chủng ở trẻ em và xóa bỏ bệnh bại liệt Tiếp nối thành công, Bangladesh đã có những cải thiện ấn tượng trong việc tăng tỷ lệ tiêm chủng và đóng góp đáng kể vào việc giảm tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong ở trẻ em và cũng như duy trì tình trạng không có bệnh bại liệt Mặc dù đã thành công trong việc giảm 2/3 tỷ lệ tử vong ở trẻ em kể từ năm 1990, Bangladesh đã ghi nhận 0,1 triệu trẻ

HUPH

Trang 18

em tử vong vào năm 2016 10 và nằm trong top 10 quốc gia có tỷ lệ tử vong ở trẻ em cao nhất trên toàn cầu (17)

1.3.2 Chương trình tiêm chủng mở rộng cho cho trẻ 12 – 23 tháng tuổi tại Việt Nam

Chương trình Tiêm chủng mở rộng bắt đầu được triển khai ở Việt Nam từ năm

1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc Chương trình có mục tiêu ban đầu là cung cấp dịch vụ tiêm chủng miễn phí cho trẻ em dưới 12 tháng, bảo vệ trẻ khỏi mắc 6 loại bệnh truyền nhiễm phổ biến và gây tử vong cao Sau một thời gian thí điểm, Chương trình từng bước được mở rộng dần cả về địa bàn và đối tượng tiêm chủng Từ năm 1985 tới nay toàn bộ trẻ em dưới 12 tháng trên toàn quốc đã có cơ hội được tiếp cận với Chương trình TCMR Đến năm 2010, đã có 11 vắc xin phòng bệnh truyền nhiễm phổ biến, nguy hiểm cho trẻ em được đưa vào Chương trình bao gồm vắc xin phòng bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B, sởi, viêm não Nhật Bản, tả, thương hàn, viêm phổi/viêm màng não mủ do Hib (1) Quá trình triển khai chương trình TCMR ở nước ta được chia làm 4 giai đoạn, bao gồm:

Giai đoạn thí điểm (1981 – 1984 )

Giai đoạn mở rộng dịch vụ tiêm chủng trong cả nước (1985 - 1990)

Giai đoạn xóa xã trắng về tiêm chủng mở rộng (1991 -1995)

Giai đoạn duy trì và nâng cao chất lượng Chương trình (1996 đến nay)

Sau gần 40 năm triển khai hoạt động của Chương trình TCMR ở nước ta đã đạt được một số thành tựu nhất định:

Địa bàn được bao phủ dịch vụ TCMR tăng dần hàng năm ở cả 3 tuyến tỉnh, huyện và xã trên phạm vi toàn quốc Tuyến tỉnh: từ 27% năm 1982 tăng lên 100% số tỉnh thành đã có dịch vụ TCMR vào năm 1985, tức là chỉ 4 năm kể từ khi bắt đầu triển khai Chương trình Tuyến huyện: từ 9,8% năm 1982 đã đạt tỷ lệ 100% vào năm 1989,

HUPH

Trang 19

khoảng 8 năm sau khi khởi động Chương trình Tuyến xã: từ một tỷ lệ rất thấp (khoảng 5%) vào năm 1982, tỷ lệ bao phủ tăng nhanh trong vòng 8 năm đầu, đạt trên 90% vào năm 1989 Tuy nhiên, để có tỷ lệ 100% số xã được bao phủ dịch vụ TCMR (xóa xã trắng) cũng phải mất 8 năm nữa Lý do đây là những xã, ấp, bản, buôn vùng sâu, vùng núi cao, hải đảo xa xôi, việc tiếp cận dịch vụ rất khó khăn, do chưa có đường giao thông, cơ sở y tế, lưới điện, dân trí chưa cao

Tỷ lệ này liên tục tăng lên theo các năm và kể từ năm 1995 luôn được duy trì

ở mức trên 90% ở quy mô tuyến tỉnh Kể từ năm 2004 tỷ lệ này luôn được duy trì mức trên 9 Trên 90% trẻ dưới 12 tháng được uống đủ 3 liều vắc xin bại liệt trong tiêm chủng thường xuyên

Việt Nam không ghi nhận trường hợp bại liệt hoang dại và tiếp tục bảo vệ thành công thành quả Thanh toán bệnh bại liệt kể từ năm 2000 Liên tục từ năm 1997 đến nay Việt Nam không có ca bệnh bại liệt, đi cùng với tỷ lệ uống vắc xin bại liệt thường xuyên rất cao trên 95%.0% ở quy mô tuyến huyện (trừ năm 2007 do thiếu vắc xin sởi)

Duy trì tỷ lệ tiêm vắc xin uốn ván cho phụ nữ có thai đạt trên 80% Thực hiện tiêm vắc xin uốn ván cho nữ tuổi sinh đẻ tại một số vùng nguy cơ cao thường xuyên đạt trên 90% Tỷ lệ phòng uốn ván sơ sinh đạt 88,7%

Tỷ lệ mắc uốn ván sơ sinh (UVSS) của Việt Nam liên tục giảm từ năm 1991 đến nay Kể từ năm 2005 (năm công bố thành công loại trừ UVSS) đến 2011, tỷ lệ mắc UVSS thường xuyên đạt 0,04/100.000 dân, và 100% số huyện trên toàn quốc đạt chỉ tiêu loại trừ UVSS của WHO khu vực Tây Thái Bình Dương đề ra

Duy trì tỷ lệ tiêm chủng 2 mũi vắc xin sởi trên phạm vi toàn quốc đạt trên 95% Trong đó 585/696 (84,1% số huyện) có tỷ lệ tiêm chủng vắc xin sởi đạt > 95% Tỷ lệ mắc sởi của Việt Nam liên tục giảm từ năm 1984 đến nay (từ 1.566,2/100.000 dân năm 1984 xuống 29,8/100.000 dân năm 2010, sau chiến dịch tiêm vắc xin sởi cho trẻ

từ 1-5 tuổi trên toàn quốc cuối năm 2010 tỷ lệ mắc sởi tiếp tục giảm còn 8,6/100.000

HUPH

Trang 20

năm 2011), đi cùng với tỷ lệ tăng dần của các mũi tiêm vắc xin sởi cho trẻ dưới 12 tháng Liên tục trong 8 năm từ năm 2003, không ghi nhận ca tử vong do sởi trên toàn quốc

Số tỉnh triển khai tiêm vắc xin viêm gan B tăng dần qua các năm từ 29 tỉnh năm 1998 lên 42 tỉnh năm 2000 Từ năm 2003, được sự hỗ trợ của tổ chức GAVI, vắc xin VGB được triển khai cho trẻ dưới 12 tháng trong tiêm chủng thường xuyên với 100% số huyện trên toàn quốc được bao phủ Từ năm 2006 đến nay, tỷ lệ tiêm vắc xin viêm gan B đủ 3 mũi ở trẻ dưới 12 tháng luôn đạt trên 90%, ngoại trừ năm 2007 đạt thấp do tình trạng thiếu vắc xin

Tỷ lệ tiêm chủng vắc xin DPT3 trong nhiều năm đạt trên 90% Mặc dù năm

2010 là năm bắt đầu triển khai vắc xin DPT dưới dạng vắc xin phối hợp HiB) nhưng tỷ lệ DPT3 vẫn đạt cao 93,4% Thống kê năm 2010 cho thấy 583/696 huyện (84% số huyện) đạt tỷ lệ DPT3 > 90% (1)

(DPT-VGB-1.3.3 Chương trình tiêm chủng mở rộng cho trẻ 12 – 23 tháng tuổi ở tỉnh Kon Tum

Chương trình tiêm chủng mở rộng được bắt đầu triển khai tại tỉnh Kon Tum vào năm 1991 34/64 xã, phường, thị trấn Tính đến thời điểm hiện tại, trên địa bàn tỉnh Kon Tum đã triển khai công tác TCMR tại 102/102 xã, phường, thị trấn; triển khai tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin phòng bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, Hib, bại liệt, sởi và triển khai tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản, rubella, uốn ván cho phụ nữ có thai và phụ nữ tuổi sinh đẻ

Năm 2010, Chính phủ đã phê duyệt cho phép sử dụng vắc xin “5 trong 1” (bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, Hib) DPT-VGB-HIb trong chương trình TCMR đã làm giảm số mũi tiêm so với giai đoạn trước, góp phần tăng chất lượng tiêm chủng Tình hình mắc chết các bệnh truyền nhiễm qua các năm giảm rõ rệt

HUPH

Trang 21

Để góp phần thực hiện tốt chương trình Tiêm chủng mở rộng quốc gia, trong thời gian qua, Sở Y tế, Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh Kon Tum đã phối hợp tổ chức giám sát chặt chẽ tình hình bệnh truyền nhiễm trong TCMR tại Trung tâm Y tế các huyện, thành phố và Trạm Y tế xã, phường, thị trấn; phối hợp với Bệnh viện Đa khoa tỉnh giám sát tốt các trường hợp uốn ván sơ sinh viêm não Nhật Bản, bạch hầu, nghi sởi/rubella và liệt mềm cấp Tổ chức và triển khai thành công các chiến dịch và đạt được nhiều kết quả tốt

Năm 2020, Chương trình tiêm chủng mở rộng tỉnh đã triển khai tiêm/uống bổ sung vắc xin viêm não Nhật Bản cho đối tượng 36-60 tháng tuổi Tiêm bổ sung vắc xin IPV cho 22.605/23.420 đối tượng, đạt 96,5% Tiêm bổ sung vắc xin uốn ván - bạch hầu giảm liều (Td) cho12.552/13.082 trẻ 07 tuổi trên địa bàn, đạt tỷ lệ 95,9% Uống bổ sung vắc xin bại liệt (bOPV) cho 19.056/19.753 trẻ dưới 5 tuổi tại 04 huyện Đăk Tô, Tu Mơ Rông, Sa Thầy và Kon Rẫy, đạt 96,5% Tiêm bổ sung vắc xin sởi - rubella cho 18.617/19.323 đối tượng 1-5 tuổi tại 04 huyện Đăk Glei, Ngọc Hồi, Đăk

Tô và Kon Rẫy Tiêm vắc xin cúm mùa cho 1.989/2.390 nhân viên y tế trên địa bàn tỉnh, đạt 83,2% và hiện còn đang tiêm vét Tiêm vắc xin phòng, chống bệnh bạch hầu trên địa bàn tỉnh năm 2020, kết quả cụ thể: Kết thúc giai đoạn 1 tại 26 xã/phường/thị trấn có ca bệnh, kết quả: Đợt 1: 141.683/149.539 đối tượng, đạt 94,7%; đợt 2: 133.171/142.698 đối tượng, đạt 93,3% Hiện đang triển khai giai đoạn 2 và giai đoạn

3 tại các xã/phường/thị trấn còn lại trên địa bàn tỉnh Kon Tum

Bên cạnh đó, Tổ chức 10 lớp tập huấn thực hành tiêm chủng, hướng dẫn triển khai chiến dịch tiêm vắc xin phòng chống bệnh bạch hầu năm 2020 và cấp giấy chứng nhận tham gia tập huấn cho 470 học viên tại 10 huyện/thành phố Phối hợp với Viện

Vệ sinh Dịch tễ Trung ương và Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên tổ chức các lớp tập huấn chuyên môn về tiêm chủng cho cán bộ y tế tuyến tỉnh và tuyến huyện Góp phần nâng cao chất lượng tiêm chủng, đảm bảo an toàn tiêm chủng và phòng chống dịch COVID-19 (25)

HUPH

Trang 22

Sau hơn 30 năm hoạt động, chương trình TCMR tỉnh Kon Tum đã đạt được những thành quả to lớn, góp phần làm thay đổi cơ cấu bệnh tật của trẻ em trên cả nước nói chung và tỉnh Kon Tum nói riêng Một số bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở trẻ em

đã được thanh toán, loại trừ và giảm đáng kể, góp phần bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho trẻ em và phụ nữ trên địa bàn tỉnh Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình hình dịch bệnh truyền nhiễm có vắc xin trong Tiêm chủng mở rộng tại tỉnh Kon Tum ngày càng diễn biến phức tạp (bạch hầu, sởi/rubella, uốn ván sơ sinh), cụ thể: Ghi nhận 39 trường hợp bạch hầu xác định (TP Kon Tum 05, Đăk Hà 09, Sa Thầy 08, Đăk

Tô 11, Kon Rẫy 06) trong đó 01 trường hợp tử vong (Sa Thầy); 01 trường hợp uốn ván sơ sinh (Ngọc Hồi); 07 truờng hợp (+)/nghi ngờ với bệnh sởi (Đăk Glei 01, Đăk

Hà 01, Kon Rẫy 02, Ngọc Hồi 02, Tu Mơ Rông 01), 16 trường hợp (+)/nghi ngờ với bệnh rubella (Đăk Glei 04, Đăk Tô 01, Kon Plông 02, Kon Rẫy 03, Ngọc Hồi 02, Tu

Mơ Rông 04)

Chương trình TCMR tỉnh Kon Tum còn gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định Mặc dù đã triển khai quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp (tăng cường tỷ lệ tiêm chủng vắc xin viêm gan B liều sơ sinh tại các cơ sở có phòng sinh; thực hiện chặt chẽ việc quản lý trẻ sinh tại nhà và tổ chức tiêm viêm gan B liều sơ sinh); nhưng do tỷ lệ sinh tại nhà cao, một số trẻ có chống chỉ định với tiêm viêm gan B liều sơ sinh nên tỉnh Kon Tum rất khó thực hiện được chỉ tiêu TCMR quốc gia giao là > 80% Bên cạnh đó, hiện nay, hệ thống dây chuyền lạnh tại tuyến huyện và tuyến xã bắt đầu hư hỏng không sửa chữa được do thời gian đưa vào sử dụng đã lâu Chưa có đường truyền internet hoặc đường truyền internet không ổn định tại một số Trạm Y tế nên không thể áp dụng phần mềm Hệ thống quản lý thông tin tiêm chủng quốc gia trực tiếp vào buổi tiêm chủng, phải nhập liệu vào phần mềm sau buổi tiêm chủng; máy tính phần lớn phải sử dụng chung với phần mềm khám chữa bệnh; cán bộ chuyên trách tuyến

xã thay đổi liên tục ảnh hưởng lớn đến việc quản lý và sử dụng Hệ thống (25)

HUPH

Trang 23

1.4 Thực trạng tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng trên thế giới và tại Việt Nam

1.4.1 Trên thế giới

Một nghiên cứu tại Bangladesh (2019) cho thấy có khoảng 86% trẻ em (từ 12 -59 tháng tuổi đã được chủng ngừa đầy đủ BCG có tỷ lệ bao phủ cao nhất (97,1%), tiếp theo là vắc xin bại liệt uống 1 (97%) và vắc xin pentavalent 1 (96,6%), trong đó

tỷ lệ bao phủ vắc xin sởi thấp nhất (88%) Tỷ lệ bao phủ ở khu vực thành thị cao hơn (88,5%) so với khu vực nông thôn (85,1%) (17)

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trẻ em ở Ghana, Gambia, Burkina Faso và Cộng hòa Benin có nhiều khả năng được chủng ngừa đầy đủ hơn ở Nigeria Tỷ lệ trẻ em được tiêm chủng đầy đủ ở Nigeria rất thấp, chỉ có 25,8% trẻ em được tiêm chủng đầy

đủ các vắc xin cơ bản đến 12 tháng tuổi (26) Sống ở khu vực phía Bắc của Nigeria được cho là có liên quan đến khả năng trẻ em được chủng ngừa đầy đủ thấp hơn so với các khu vực khác của đất nước

Một cuộc khảo sát cắt ngang hộ gia đình được tiến hành giữa các bậc cha mẹ có con

từ 12-23 tháng tuổi tại miền nam Ấn Độ cho thấy rằng tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng được tiêm chủng đầy đủ là 65% (KTC 95%: 53-76%) và 77% (KTC 95%: 58-88%) dựa trên thông tin từ phiếu tiêm chủng hoặc phiếu tiêm chủng và thẻ tiêm chủng của cha

mẹ (27)

Nghiên cứu của Tổ chức Y tế thế giới tại Cambodia năm 2018, tỷ lệ trẻ < 12 tháng tiêm tiêm vaccine viêm gan B liều sơ sinh ≤ 24 giờ là 69% (28), tỷ lệ trẻ tiêm vaccine lao (BCG) là 90% (29), tỷ lệ trẻ tiêm vaccine DPT-VGB-Hib mũi 3 là 98% (30), tỷ lệ trẻ uống vaccine bại liệt (OPV) mũi 3: 96% (31), tỷ lệ tiêm vac xin sởi đạt 99% (32)

Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ ở trẻ em từ 11-23 tháng tuổi ở châu Phi cận Sahara năm 2021 trung bình là 85,6%, dao động từ 67,0% ở Ethiopia đến 98,5% ở Namibia (33) Ở Đông Phi, việc bao phủ đầy đủ vắc xin cơ bản cho trẻ em vẫn là mối quan tâm lớn về sức khỏe cộng đồng với sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia Một nghiên

HUPH

Trang 24

cứu trên 12 quốc gia của Đông Phi (2020) cho thấy tiêm chủng cơ bản đầy đủ cho trẻ

em từ 11-23 tháng tuổi là 69,21% (KTC 95%, 69,20, 69,21%) (34)

Tỷ lệ tiêm chủng của trẻ em từ 12-23 tháng tuổi ở Kenya dao động từ 82% 84] cho liều thứ ba của bệnh bại liệt đến 97,4% [96,7-98,2] cho liều DTP-VGB-Hib đầu tiên, trong khi tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ là 68% [66-71] vào năm 2014 (35)

[81-Tỷ lệ trẻ em từ 12-23 tháng tuổi ở vùng nông thôn Gambia được tiêm đủ các loại vắc xin theo quy định là 66% Ở mức độ bao phủ đặc hiệu với kháng nguyên, khoảng 88,5% nhận BCG, 71% nhận OPV 3, 82,5% nhận Penta 3, trong khi 72 và 71% nhận Sởi-Rubella và sốt vàng da, tương ứng (36)

1.4.2 Tại Việt Nam

Trong các nghiên cứu tại Việt Nam đã chỉ ra phần nào thành quả đạt được trong công tác TCMR toàn quốc, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 12 tháng cao hơn mức khuyến cáo trên 90% quy mô tuyến huyện (37) Kết quả nghiên cứu cho thấy những địa bàn này người dân tiếp cận rất tốt với dịch vụ TCMR

Tỷ lệ trẻ từ 12 đến 24 tháng tuổi đang sống tại quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ được tiêm đầy đủ và đúng lịch là 7,8% BCG là vắc xin được tiêm đủ liều cao nhất, chiếm tỷ lệ 99,7%, tiếp đến là vắc xin bại liệt 96,0% Vắc xin sởi mũi 1 và BCG được tiêm đủ liều, đúng lịch chiếm tỷ lệ cao nhất 62,0%; vắc xin VGB sơ sinh là vắc xin có

tỷ lệ tiêm đủ liều, đúng lịch thấp nhất với 26,3% (38)

Một nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin ở trẻ dưới

12 tháng tại 3 xã của tỉnh Hà Nam là khá cao đạt 91,2%, tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch đạt 53% Lý do chủ yếu của việc không được tiêm chủng đúng lịch cho tất cả các liều vắc xin là do trẻ bị ốm (48,2%), mẹ không nhớ lịch tiêm (33,9%) (39)

Tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin tại 6 xã thuộc huyện Mù Căng Chải tỉnh Yên Bái (2017) là 76,3%; tỷ lệ trẻ được tiêm đầy đủ và đúng lịch giao động từ 26,6% đến 100% Trong đó, có 2,16% trẻ hoàn toàn không tiêm chủng; 97,84% trẻ được tiêm ít nhất 1 loại vắc xin (40)

HUPH

Trang 25

Tại huyện An Phú, tỉnh An Giang (2020), tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ dưới 24 tháng tuổi cao nhất là vắc xin BCG đạt 100%, vắc xin VGB sơ sinh, DTP-VGB-Hib1 đều chiếm 99,7% Tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch cao nhất là vắc xin BCG chiếm 98%, VGB sơ sinh 805, OPV1 80%; thấp nhất DTP-VGB-Hib1 và DTP-VGB-Hib3

có tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch đạt 43% Tóm lại, tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

8 loại vắc xin của trẻ dưới 24 tháng tuổi tại huyện là 37%, trong đó tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ là 94,7% Lí do trẻ hoãn tiêm nhiều nhất là trẻ bị sốt (65,3%), 14% trẻ mắc các bệnh cấp tính và 4,7% lí do khác (41)

Tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng được tiêm chủng đầy đủ các loại vắc xin tại huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh là 93,6% Trong đó cao nhất là 99,7% trẻ tiêm chủng đầy

đủ mũi BCG sơ sinh, thấp nhất là 95,5% trẻ tiêm đầy đủ mũi vắc xin sởi Tỷ lệ trẻ được tiêm đầy đủ và đúng lịch rất thấp, chỉ 5,8% Trong đó, cao nhất là 88,8% trẻ tiêm đầy đủ và đúng lịch vắc xin BCG; 54,8% vắc xin sởi, các mũi còn lại thấp dưới 10% Lí do chủ yếu là do trẻ bị bệnh ngày tiêm chủng (95,8%) (42)

Nghiên cứu ở thành phố Buôn Ma Thuột (2020) cho thấy 95% trẻ dưới 12 tháng được tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin nhưng tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch chỉ đạt 43,1% Trong đó, 100% trẻ được tiêm vắc xin BCG; vắc xin OPV 3 mũi

tỷ lệ tương ứng 96,8% - 95,2% -92,1%; vắc xin DTP-VGB-Hib tiêm 3 mũi tương ứng với tỷ lệ 96,8% - 95,2% - 92,1% và 99% trẻ tiêm đầy đủ vắc xin sởi (43)

Tại Kon Tum, một nghiên cứu ở huyện Kon Plong cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy

đủ 8 loại vắc xin là 95,7% Nhưng tỷ lệ trẻ em được TCĐĐ và đúng lịch 8 loại vắc xin chỉ đạt 18,6%, tiêm chủng đầy đủ không đúng lịch đạt 77,1 và 4,3% tiêm chủng không đầy đủ và không đúng lịch Tỷ lệ được tiêm/uống đủ và đúng lịch cao nhất loại vắc xin là OPV1 61%, kế tiếp là mũi DPT-VGB-Hib1 đạt 59%; vắc xin sởi 53%; vắc xin DPT-VGB-Hib3 40,5%; thấp nhất là vắc xin OPV3 chỉ có 40,2% (44) Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ em dưới 12 tháng ở một

số huyện biên giới tỉnh Kon Tum là 22,4% Trong đó, chỉ có 40,5% trẻ được tiêm

HUPH

Trang 26

vắc xin viêm gan B liều sơ sinh (trong đó 35,2% tiêm trong 24 giờ và 5,2% tiêm sau 24 giờ sau sinh) (5)

Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin cho trẻ em độ tuổi 12 đến 23 tháng tuổi huyện Thanh Trì, Hà Nội là 93,33%, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch chỉ đạt 30,48% Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của vắc xin phòng bệnh lao cao nhất là 88,09%, tỷ lệ phòng sởi đạt 78,57%, tỷ lệ phòng bạch hầu - ho gà - uốn ván - Hib đạt 70,95%, thấp nhất là hai loại vắc xin viêm gan B (55,71%) và bại liệt (60,48%) (45)

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ trong độ tuổi

12 đến 23 tháng tuổi tại phường Quan Triều, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên cho từng loại vắc xin là: Viêm gan B đạt 99%, lao 100%; DPT-Hib 99%; bại liệt là 99% và sởi đạt 100% Tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch cho từng loại vắc xin là: Viêm gan B 83,8%, lao 87,6%; DPT-Hib 83,8%; bại liệt là 83,8% và Sởi đạt 71,4% Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ 8 loại vắc xin 99%, đúng lịch 8 loại vắc xin là 57,1% Như vậy tỷ

lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch các loại vắc xin còn thấp (57,1%) (46)

Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng (hay trẻ từ 12 -23 tháng tuổi) tiêm chủng đầy đủ khá cao ở nhiều quốc gia khác nhau Điều đó cho thấy kết quả của sự nỗ lực của Chương trình Tiêm chủng Mở rộng bao phủ lên khắp các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tiêm chủng mở rộng đã góp phần lớn trong việc đẩy lùi, hạn chế nguy

cơ tử vong của trẻ em ở những bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc xin Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch còn rất thấp ở các nước Các quốc gia cần có chiến lược can thiệp dài hạn nhằm nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch cho trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả của vắc xin, nhằm nâng cao sức khỏe và phòng tránh bệnh tật cho trẻ

Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng, được nghiên cứu trên người chăm sóc chính/bà mẹ có con trẻ từ 12 -23 tháng tuổi, cho thấy tiêm chủng đầy đủ khá cao ở nhiều quốc gia khác nhau Điều

HUPH

Trang 27

đó cho thấy kết quả của sự nỗ lực của Chương trình Tiêm chủng Mở rộng bao phủ lên khắp các quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển Tiêm chủng mở rộng

đã góp phần lớn trong việc đẩy lùi, hạn chế nguy cơ tử vong của trẻ em ở những bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc xin Tuy nhiên, tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy

đủ và đúng lịch còn rất thấp ở các nước Các quốc gia cần có chiến lược can thiệp dài hạn nhằm nâng cao tỷ lệ tiêm chủng đúng lịch cho trẻ, góp phần nâng cao hiệu quả của vắc xin, nhằm nâng cao sức khỏe và phòng tránh bệnh tật cho trẻ

Người chăm sóc chính/bà mẹ có con trẻ từ 12 -23 tháng tuổi thường được lựa chọn là đối tượng nghiên cứu, để đảm bảo trẻ đủ tuổi để hoàn thành các mũi tiêm dành cho trẻ dưới 12 tháng, đồng thời đảm bảo đủ cỡ mẫu nghiên cứu tuy nhiên thời gian không quá xa thời điểm trẻ tròn 12 tháng, trẻ vẫn trong lứa tuổi tiêm chủng và còn lưu giữ sổ tiêm chủng đầy đủ

1.5 Một số yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới

12 tháng trên thế giới và tại Việt Nam

Nhiều nghiên cứu đã tìm ra các yếu tố liên quan đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng Những phát hiện này đã cung cấp thông tin , đổi mới các phương pháp tiếp cận cho các chương trình tiêm chủng và đưa ra các chính sách liên quan, bao gồm giám sát và đánh giá thường xuyên việc bao phủ tiêm chủng - đặc biệt đối với các vùng hoạt động kém, để có thể đạt được lợi ích rộng rãi hơn của các chương trình tiêm chủng trong mọi tầng lớp trong xã hội (17)

Yếu tố thuộc về bà mẹ/người nuôi dưỡng

Tiêm chủng đầy đủ trẻ dưới 12 tháng có liên quan đáng kể với giáo dục của bà

mẹ Nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy trẻ có cha mẹ/người nuôi dưỡng có trình độ học vấn cao hơn (OR = 1,96; KTC 95% 1,21 đến 3,17, p = 0,006) thì tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch cao hơn những đứa trẻ khác (17) Tương tự một nghiên cứu khác tại

12 quốc gia Đông Phi cho thấy tỷ lệ trẻ được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch ở bà mẹ

có trình độ tiểu học (AOR = 1,26, 95% CI: 1,15, 1,38) thấp hơn cở các bà mẹ có trình

độ trung học cơ sở trở lên (AOR = 1,54, 95% CI: 1,36, 1,75) (34) Tại Kenya con của

HUPH

Trang 28

các bà mẹ có trình độ tiểu học trở lên có tỷ lệ được tiêm chủng đầy đủ cao hơn ít nhất 54% so với con của các bà mẹ không có trình độ học vấn (35) Ở các vùng nông thôn Gambia, người chăm sóc có trình độ học vấn tiểu học 88,8% (aOR = 0,112; 95% CI

= 0,029-0,434), trung học trở lên 87,2% (aOR = 0,128; 95% CI = 0,029, 0, 561) và tiếng Ả Rập / madrassa 95,7% (aOR = 0,043; 95% CI = 0,008-1,277) ít có khả năng được tiêm chủng đầy đủ hơn so với những người chưa bao giờ đi học (36) Tương tự, nhiều nghiên cứu ở Việt Nam cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy trình độ học vấn của bà mẹ/người nuôi dưỡng có liên quan theo chiều thuận với tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

Nghiên cứu ở Vellore, miền nam Ấn Độ cho thấy rằng những đứa trẻ có mẹ là người làm công ăn lương [Tỷ lệ chênh lệch tỷ lệ hiện hành đã điều chỉnh (aPOR): 0,21, 95% CI = 0,07-0,64] hoặc chủ doanh nghiệp nhỏ/làm công ăn lương [aPOR: 0,18, 95% CI = 0,04-0,73] ít có khả năng tiêm chủng đầy đủ hơn so với những trẻ có

mẹ nội trợ (27) Con của người nông dân ở Gambia ít có khả năng hơn tiêm chủng đầy đủ đúng lịch hơn 88,9% (aOR = 0,111; 95% CI 0,020, 0,635) các ngành nghề khác (36)

Một nghiên cứu tại Bangladesh (2019) cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ sống trong một gia đình cỡ trung bình (OR = 1,56; KTC 95% 1,32 đến 1,86, p <0,001) và thuộc các gia đình giàu nhất (OR = 2,2; KTC 95% 1,5 đến 3,21, p <0,001) cao hơn những trẻ sống trong một gia đình kinh tế khó khăn hơn (17) Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại cho rằng kinh tế gia đình không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng rất thấp đến vấn đề tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ Một nghiên cứu phân tích 16 bài báo ở các trên thế giới về vấn đề tiêm chủng của trẻ cho thấy rằng hộ gia đình có thể

có ít hoặc không ảnh hưởng đến tỷ lệ bao phủ tiêm chủng đầy đủ (RR 1,05, KTC 95% 0,90-1,23, bằng chứng có độ chắc chắn thấp) (47) Trẻ em trong các hộ gia đình giàu

có trung bình và giàu hơn ở Kenya có khả năng được tiêm chủng đầy đủ cao hơn 57% so với trẻ em trong các hộ gia đình thuộc nhóm giàu nghèo nhất (35)

43-HUPH

Trang 29

Các bậc cha mẹ đã xác định những khó khăn trong việc tiếp cận với tiêm chủng thông thường khi đi công tác và cho thấy những lỗ hổng kiến thức về lợi ích và rủi ro của việc tiêm chủng, cũng như lo ngại xung quanh một số loại vắc xin do các báo cáo tin tức tiêu cực và các tác dụng phụ thường gặp sau khi tiêm chủng ở trẻ em (27) Một nghiên cứu ở Hà Nam cho thấy tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ con những

bà mẹ có kiến thức về tiêm chủng cao hơn 2,07 lần những trẻ con bà mẹ không có kiến thức về tiêm chủng (p<0,05)

Cung cấp cho cha mẹ/ người nuôi dưỡng và các thành viên khác trong cộng đồng thông tin về tiêm chủng kết hợp với thẻ nhắc nhở tiêm chủng được thiết kế lại, tiếp cận tiêm chủng thường xuyên có thể cải thiện việc tiêm chủng ở trẻ em Một phân tích hồi cứu các bài báo trên thế giới cho thấy rằng tiếp cận tiêm chủng thường xuyên

có thể cải thiện tỷ lệ bao phủ tiêm chủng đầy đủ (RR 3,09, KTC 95% 1,69 đến 5,67, bằng chứng có độ chắc chắn thấp), điều này có thể cải thiện đáng kể nếu kết hợp với các biện pháp khuyến khích hộ gia đình (RR 6,66, KTC 95% 3,93 đến 11,28, bằng chứng có độ chắc chắn thấp) (47)

Các yếu tố thuộc về bản thân trẻ

Sức khỏe của trẻ là yếu tố liên quan mật thiết quyết định trẻ có được tiêm chủng hay không, có tiêm đầy đủ đúng lịch hay không Các trường hợp hoăn tiêm, chỉ định không được tiêm chủng theo quy định của Bộ Y tế trong quyết định Quyết định số 2470/QĐ-BYT ngày 14/06/2019 ban hành Hướng dẫn Khám sàng lọc trước tiêm

chủng đối với trẻ em đều có liên quan đến tình trạng sức khỏe của trẻ (48) Nghiên

cứu của Hồ Thị Ly Lan (2020) cho thấy 49,2% trẻ bị ốm đúng thời gian tiêm chủng

là lý do trẻ không tiêm chủng đầy đủ đúng lịch (43) Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa cho thấy một trong hai nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ trẻ tiêm chủng vắc xin Quivaxem thấp là do trẻ bị ốm (52,4%) (49)

Các yếu tố của gia đình

Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng đó là sự hỗ trợ của gia đình Sự ủng hộ, tham gia của người nhà đưa trẻ

HUPH

Trang 30

đi tiểm chủng, giúp đỡ chăm sóc, lo lắng tai biến có thể xảy ra sau tiêm chủng làm tăng tỷ lệ tiêm chủng đày đủ, đúng lịch Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân (2016) cho thấy 98,3% hộ gia đình ủng hộ việc tiêm chủng cho trẻ, trong đó 67,3% trẻ được người cha đưa đi tiêm chủng cho thấy sự quan tâm của người cha đến lịch tiêm chủng của con Tỷ lệ trẻ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch ở người cha có đưa trẻ đi tiêm chủng cao hơn nhóm trẻ người cha không đưa đi tiêm chủng (50)

Các yếu tố về cơ sở dịch vụ y tế

Tính tiếp cận với cơ sở dịch vụ y tế bao gồm khoảng cách từ nhà đến điểm tiêm chủng, thời gian tiêm chủng đã được chứng minh là những yếu tố có liên quan đến tỷ

lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ trong nhiều nghiên cứu (5, 40, 41, 43)

Cơ sở vật chất, trang thiết bị các khu vực tiêm, khu vực theo dõi và xử trí sau tiêm, khu vực chờ chật hẹp, khu vệ sinh chưa được sạch sẽ và không được vệ sinh thường xuyên là một trong những yếu tố tác động tiêu cực đến thái độ của người dân về chất lượng dịch vụ tiêm chủng (51)

Tính sẵn có của vaccine, các vắc xin được sử dụng trong chương trình TCMR đáp ứng được các yêu cầu và tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng của Tổ chức y tế thế giới Các mẫu vắc xin cũng đã được kiểm tra và khẳng định về tính an toàn tại Viện Kiểm định quốc gia Vắc xin và sinh phẩm y tế cũng như tại các phòng xét nghiệm quốc tế Chất lượng và độ an toàn của vắc xin sử dụng trong chương trình TCMR không khác gì so với các vắc xin sử dụng trong tiêm chủng dịch vụ Việc cung cấp vắc xin đầy đủ và an toàn là rất cần thiết để người dân tham gia tiêm chủng mở rộng đầy đủ và đúng lịch hơn (52) Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hòa cho thấy một trong hai nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ trẻ tiêm chủng vắc xin Quivaxem thấp là do thiếu vắc xin 57,3% (49)

1.6 Giới thiệu về huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum

Kon Tum là một tỉnh nằm ở phía Bắc của vùng Tây Nguyên, có đường biên giới chung với các nước Lào, Campuchia, diện tích 9.676,5 km2 lớn thứ 8 trong

HUPH

Trang 31

63 tỉnh thành Việt Nam Địa hình chủ yếu là đồi núi, có khoảng 598.548 người sinh sống với 25 dân tộc, trong đó 46,8% là dân tộc Kinh, 24,4% người dân tộc

Xơ Đăng; 12,5% người dân tộc Bana; 7,4% người dân tộc Giẻ Triêng Toàn tỉnh có

10 huyện/thành phố, trong đó 10/10 huyện miền núi 102 xã/phường/thị trấn, trong đó

82 xã miền núi, vùng sâu, vùng xa Về y tế, toàn tỉnh có 02 bệnh viện tuyến tỉnh bao gồm Bệnh viện Đa khoa tỉnh và Bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Hồi, 08 bệnh viện tuyến huyện

Huyện Kon Rẫy có 28.591 người sinh sống, dân số thành thị là 5.167 người chiếm 18% và dân số nông thôn 23.424 người chiếm 82%, mật độ dân số đạt 32 người/km² Huyện có số đồng bào dân tộc bản địa Kinh, Ba na, Xê đăng, chiếm tỷ

lệ tương đối cao, có nền văn hoá cổ truyền đa dạng, phong phú, đặc trưng cho bản sắc văn hoá các dân tộc Tây Nguyên Đời sống kinh tế người dân phụ thuộc nhiều vào trồng lúa nước và các nghề tự do Có 7 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Đăk Rve và 6 xã: Đăk Kôi, Đăk Pne, Đăk Ruồng, Đăk Tơ Lung, Đăk Tờ Re, Tân Lập

1.7 Khung lý thuyết

Khung lý thuyết được xây dựng dựa trên tham khảo mô hình sinh thái của Bronfenbrenner U (53), (54), tham khảo tổng quan tài liệu một số nghiên cứu trước, tham khảo tiêu chuẩn đánh giá trẻ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch theo quyết định số 845/2010/QĐ-BYT ngày 17/03/2010 của Bộ y tế về về lịch tiêm các vắc xin phòng lao, viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, Bại liệt, sởi, Hib trong dự án tiêm chủng

mở rộng quốc gia (3); Thông tư 38/2017/TT-BYT ngày 17 tháng 10 năm 2017 của Bộ

Y tế về Danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc (8) và căn cứ theo tình hình thực tế tại địa phương, khung lý thuyết được xây dựng cụ thể như sau:

HUPH

Trang 32

KHUNG LÝ THUYẾT THỰC TRẠNG TIÊM CHỦNG ĐẦY ĐỦ VÀ ĐÚNG LỊCH TRONG

TCMR Ở TRẺ DƯỚI 12 THÁNG TUỔI

- Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng tuổi

- Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của trẻ dưới 12 tháng tuổi

- Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của từng loại vắc xin lao, viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, Bại liệt, sởi, Hib của trẻ dưới 12 tháng tuổi

- Tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ của từng loại vắc xin lao, viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, Bại liệt, sởi, Hib của trẻ dưới 12 tháng tuổi

-

-

Yếu tố cơ sở y tế

- Thực hiện quy trình tiêm của cán bộ y tế (khám sàng lọc, giới thiệu vắc xin, hướng dẫn chăm sóc tại nhà)

- Cơ sở vật chất - trang thiết bị

- Kinh phí

- Số lượng vắc xin

- Truyền thông giáo dục sức khỏe về tiêm chủng mở rộng

- Địa điểm tổ chức tiêm chủng

12 tháng tuổi

- Trẻ sinh đủ tháng/non tháng

- Trẻ sinh nhẹ cân/bình thường

- Trẻ có/không dị tật

- Trẻ nuôi sữa mẹ/sữa công thức

- Số lần ồm trong năm

- Tình trạng dinh dưỡng trước

- Giúp đỡ chăm sóc trẻ tại nhà

- Nhắc nhở lịch tiêm

HUPH

Trang 33

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng

- Bà mẹ/người nuôi dưỡng trực tiếp của trẻ từ 23 tháng tuổi và trẻ từ

12-23 tháng tuổi đang sinh sống tại huyện Kon Rẫy Tỉnh Kon Tum

Tiêu chí lựa chọn:

- Bà mẹ/người nuôi dưỡng có trẻ từ 12-23 tháng tuổi (sinh từ tháng 1/2020 đến tháng 12/2020) tại thời điểm nghiên cứu đang sinh sống tại huyện Kon Rẫy Tỉnh Kon

Tum

- Bà mẹ/người nuôi dưỡng có trẻ từ 12-23 tháng tuổi tại thời điểm nghiên cứu

tham gia tiêm chủng chương trình tiêm chủng mở rộng và đồng ý tham gia nghiên

- Bà mẹ/người nuôi dưỡng có trẻ từ 12-23 tháng tuổi tham gia tiêm chủng

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 12 năm 2021 đến tháng 6 năm 2022

HUPH

Trang 34

- Địa điểm: tại 7 xã và thị trấn thuộc huyện Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum Bao gồm: thị trấn Đăk Rve và 6 xã: Đăk Kôi, Đăk Pne, Đăk Ruồng, Đăk Tơ Lung, Đăk Tờ Re, Tân Lập

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang, kết hợp định lượng và định tính

Nghiên cứu định lượng nhằm đáp ứng mục tiêu 1) Xác định tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ từ 12-23 tháng tuổi trong chương trình tiêm chủng mở rộng tại huyện Kon Rẫy tỉnh Kon Tum năm 2022

Nghiên cứu định tính được tiến hành song song với nghiên cứu định lượng nhằm xác định yếu tố ảnh hưởng đến tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ từ 12-23

tháng tuổi trong chương trình tiêm chủng mở rộng

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Nghiên cứu định lượng

Cỡ mẫu được tính theo công thức tính cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ:

𝒏 = 𝒁𝟏−∝ 𝟐𝟐 ⁄ × 𝒑(𝟏 − 𝒑)

𝐝𝟐Trong đó:

n: Cỡ mẫu nghiên cứu;

α: ngưỡng tin cậy; α = 0,05 =>𝒁𝟏−∝ 𝟐⁄ = 1,96

d: sai số ước lượng của p, d = 0,05

p: p=0,431 (Theo kết quả nghiên cứu của Hồ Thị Ly Lan trong” Thực trang tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch cho trẻ dưới 12 tháng và một số yếu tố ảnh hưởng tại phường Tân Lợi thành phố Buôn Ma Thuột, năm 2020.” tỷ lệ trẻ dưới 12 tháng tiêm chủng

đầy đủ và đúng lịch là 43,1%) (43)

HUPH

Trang 35

Thay vào công thức tính được n= 377 người Dự phòng thêm 10% bỏ cuộc, từ chối hoặc phiếu bị loại, vậy cỡ mẫu cần lấy vào nghiên cứu là 415 trẻ Thực tế trên địa bàn huyện Kon Rẫy có 531 trẻ từ 12-23 tháng tuổi đạt tiêu chuẩn lựa chọn nên chọn mẫu toàn bộ 531 trẻ Tương ứng với gia đình mỗi trẻ đã được lấy mẫu, chọn 531

bà mẹ/người nuôi dưỡng của trẻ được đưa vào nghiên cứu

Danh sách tổng số trẻ được đưa vào nghiên cứu theo các thôn được trình bày trong phụ lục 8

2.4.2 Nghiên cứu định tính

Chọn mẫu có chủ đích Chọn 13 người tham gia phỏng vấn sâu Bao gồm,

01 trưởng phòng khám đa khoa khu vực Đăk Rve (thị trấn),

02 trạm trưởng trạm y tế (chọn 01 trạm trưởng ở xã có tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ thấp nhất, 01 trạm trưởng ở xã có tỷ lệ cao nhất),

2.5 Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Phương pháp thu thập số liệu định lượng

Thu thập số liệu thứ cấp về các mũi tiêm chủng của trẻ từ 12-23 tháng tuổi thông qua hồi cứu số liệu từ sổ tiêm chủng, phiếu tiêm chủng cá nhân, sổ tiêm chủng tại 6 Trạm Y tế các xã Đăk Kôi, Đăk Pne, Đăk Ruồng, Đăk Tờ Lung, Đăk Tờ Re, Tân Lập và khám đa khoa khu vực Đăk Rve, bằng phiếu hồi cứu số liệu thứ cấp soạn sẵn (phụ lục 2)

HUPH

Trang 36

Thu thập số liệu sơ cấp thông qua hình thức phỏng vấn các bà mẹ/người nuôi dưỡng có trẻ từ 12-23 tháng bằng công cụ là phiếu phỏng vấn soạn sẵn Phiếu phỏng vấn được xây dựng dựa trên nhiều nghiên cứu đã thực hiện trước đây và căn cứ theo tình hình thực tế của địa phương (phụ lục 3)

Phiếu phỏng vấn bao gồm các phần:

Phần A: Các câu hỏi liên quan đến bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ, bao gồm thông tin nhân khẩu học, kiến thức về tiêm chủng, khả năng tiếp cận với dịch vụ tiêm chủng Trong đó, các câu hỏi kiến thức về tiêm chủng được tham khảo từ các nghiên cứu trước (45), (55), (42)

Phần B: Các câu hỏi liên quan đến bản thân trẻ

Phần C: Các câu hỏi liên quan đến gia đình trẻ

Phần C: Các câu hỏi liên quan đến cơ sở dịch vụ y tế

Những trường hợp đối tượng nghiên cứu vắng nhà, điều tra viên phải quay lại lần 2 Trường hợp điều tra viên đến 2 lần vẫn không gặp được đối tượng nghiên cứu thì chuyển sang đối tượng khác trong danh sách

2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu định tính

Thu thập số liệu thông qua phỏng vấn dựa trên phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu

đã được soạn sẵn (Phụ lục 4,5,6)

* Thực hiện phỏng vấn sâu các đối tượng gồm:

+ 01 trưởng phòng khám đa khoa khu vực Đăk Rve (thị trấn),

+ 02 trạm trưởng trạm y tế chọn 01 trạm trưởng ở xã có tỷ lệ tiêm chủng đầy

Trang 37

+ 07 bà mẹ/người nuôi dưỡng có trẻ từ 12-23 tháng tuổi tham gia tiêm chủng tại 7 xã/thị trấn

Điều tra viên giới thiệu và giải thích rõ nội dung cũng như mục đích của cuộc phỏng vấn cũng như khẳng định với đối tượng về việc bảo mật thông tin của cuộc phỏng vấn Điều tra viên xin phép ghi âm cuộc phỏng vấn và ghi chép trong quá trình phỏng vấn

2.6 Các biến số nghiên cứu

Biến số nghiên cứu định lượng:

- Biến số thu thập số liệu thứ cấp bao gồm: số lượng trẻ tiêm đủ 5 loại vắc xin,

số lượng trẻ tiêm đầy đủ từng loại vắc xin lao, VGB, DPT, OPV, sởi

- Biến số thuộc về bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ, bao gồm thông tin chung (tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, dân tộc, kinh tế gia đình), kiến thức của bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ về tiêm chủng (loại vắc xin tiêm cho trẻ dưới 1 tuổi, lợi ích của tiêm chủng), khả năng tiếp cận địa điểm tiêm chủng (thời gian, địa điểm, khoảng cách từ nhà đến cơ sở tiêm chủng)

- Biến số thuộc về bản thân trẻ, bao gồm: trẻ sinh non, thứ tự sinh, số lần trẻ ốm/năm, số lần trẻ đi viện/năm, trẻ gặp tai biến nặng sau tiêm chủng, cân nặng khi sinh, hình thức nuôi dưỡng, dị tật bẩm sinh

- Biến số thuộc về gia đình, bao gồm gia đình ủng hộ việc đưa con đi tiêm chủng, gia đình hỗ trợ chăm sóc trẻ sau tiêm chủng tại nhà, gia đình có nhắc nhở chị

về lịch tiêm của con

- Biến số thuộc về cơ sở dịch vụ y tế, bao gồm: khám sàng lọc, thông báo về vắc xin được tiêm, hướng dẫn theo dõi phản ứng sau tiêm của trẻ tại nhà, hài lòng về

cơ sở vật chất của trạm y tế, vắc xin, tuyên truyền về tiêm chủng, kinh phí, bổ sung thông tin vào phần mềm tiêm chủng quốc gia

Chi tiết biến sô được trình bày trong phụ lục 1

HUPH

Trang 38

Chủ đề nghiên cứu định tính:

- Chủ đề liên quan đến bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ dưới 12 tháng tuổi: những ảnh hưởng của độ tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp của bà mẹ/người nuôi dưỡng trẻ tác động đến việc tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch của trẻ dưới 12 tháng tuổi

- Chủ đề về gia đình trẻ: Sự hỗ trợ của gia đình (bao gồm bố/mẹ, ông/bà, người thân sống trong gia đình) đối với việc tiêm chủng của trẻ, nhắc nhở lịch đưa trẻ đi tiêm chủng, giúp đỡ chăm sóc trẻ sau tiêm

- Chủ đề liên quan đến bản thân trẻ: những ảnh hưởng về tình trạng sức khỏe của trẻ, tình trạng dinh dưỡng của trẻ đến việc tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch

- Chủ đề về cơ sở dịch vụ tiêm chủng:

+ Nguồn nhân lực: thực trạng về số lượng, chất lượng CBYT trong đáp ứng việc thực hiện và quản lý tiêm chủng Hoạt động của mạng lưới CTV trong công tác tuyên truyền, tư vấn, giáo dục sức khỏe về tiêm chủng cho người dân

+ Những thuận lợi và khó khăn về cơ sở vật chất - trang thiết bị trong việc đáp ứng tổ chức thực hiện tiêm chủng trên địa bàn

+ Kinh phí dành cho công tác tiêm chủng và quản lý tiêm chủng

+ Tình trạng cung cấp số lượng vắc xin hàng tháng đáp ứng được đủ số trẻ tiêm chủng

+ Tổ chức thực hiện tiêm chủng (ngày tiêm chủng cố định hàng tháng, có thông báo trên loa đài phát thanh về thời gian đi tiêm chủng

+ Hoạt động phối hợp của các ban ngành liên quan trong xã trong công tác truyền thông tiêm chủng mở rộng

2.7 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ từ 12-23 tháng tuổi được đánh giá theo quyết định số 845/2010/QĐ-BYT ngày 17/03/2010 của Bộ y tế về về lịch tiêm các

HUPH

Trang 39

vắc xin phòng lao, viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, Bại liệt, sởi, Hib trong dự

án tiêm chủng mở rộng quốc gia (3) và Thông tư 38/2017/TT-BYT ngày 17 tháng 10 năm 2017 của Bộ Y tế về Danh mục bệnh truyền nhiễm, phạm vi và đối tượng phải

sử dụng vắc xin, sinh phẩm y tế bắt buộc (8) Theo đó,

Tiêu chí đánh giá tiêm chủng đầy đủ: trẻ từ 12-23 tháng tuổi được coi là tiêm chủng đầy đủ khi trẻ tiêm đủ 8 loại vắc xin phòng lao, viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, Bại liệt, Hib, sởi trong chương trình TCMR, thời gian được tính từ khi sinh

ra đến trước sinh nhật 1 tuổi

Tiêu chỉ đánh giá tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch: trẻ từ 12-23 tháng tuổi được coi là tiêm chủng đầy đủ, đúng lịch khi trẻ tiêm đủ 8 loại vắc xin phòng lao, viêm gan

B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, Bại liệt, Hib, sởi trong chương trình TCMR theo từng mốc thời gian được quy định đối với từng loại vắc xin, thời gian tính từ khi sinh ra đến trước sinh nhật 1 tuổi Cụ thể được trình bày trong bảng 2.2

Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch của trẻ từ 12-23

tháng tuổi trong chương trình TCMR STT Vắc

Tiêm trong vòng 24 giờ sau sinh

Hoàn thành 01 mũi trong vòng 24 giờ sau sinh

2 BCG Hoàn thành 01

mũi trước sinh nhật 1 tuổi

Tiêm trong vòng 01 tháng tuổi

Hoàn thành 01 mũi trong vòng 01 tháng tuổi

3 DPT Hoàn thành 03

mũi trước sinh nhật 1 tuổi

Tiêm khi đủ 02 tháng tuổi, hoàn thành 03 mũi trước 06 tháng

Hoàn thành 03 mũi theo đúng thời gian cụ thể, Mũi 1: khi đủ 02 tháng tuổi Mũi 2: khi đủ 03 tháng tuổi:

HUPH

Trang 40

tuổi, các mũi cách nhau tối thiểu 1 tháng

Mũi 3: khi đủ 04 tháng tuổi

4 OPV Hoàn thành 03

mũi/liều uống trước sinh nhật

1 tuổi

Tiêm/uống khi

đủ 02 tháng tuổi, hoàn thành

03 mũi trước 06 tháng tuổi, các mũi cách nhau tối thiểu 1 tháng

Hoàn thành 03 mũi/liều theo đúng thời gian cụ thể, Mũi 1: khi đủ 02 tháng tuổi Mũi 2: khi đủ 03 tháng tuổi: Mũi 3: khi đủ 04 tháng tuổi

1 tuổi

Tiêm khi đủ 02 tháng tuổi, hoàn thành 03 mũi trước 06 tháng tuổi, các mũi cách nhau tối thiểu 1 tháng

Hoàn thành 03 mũi theo đúng thời gian cụ thể, Mũi 1: khi đủ 02 tháng tuổi Mũi 2: khi đủ 03 tháng tuổi: Mũi 3: khi đủ 04 tháng tuổi

6 Sởi Hoàn thành 01

mũi/liều uống trước sinh nhật

1 tuổi

Tiêm 01 mũi khi đủ 9 tháng tuổi đến trước

11 tháng tuổi

Hoàn thành 01 mũi/liều khi

đủ 9 tháng tuổi

Trong trường hợp thông tin có sự chênh lệch giữa phiếu tiêm chủng cá nhân,

sổ tiêm chủng cá nhân, sổ quản lý tiêm chủng trẻ em và trên hệ thống thông tin tiêm chủng quốc gia tại TYT thì ưu tiên thông tin có giá trị từ cao đến thấp lần lượt là phiếu

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm