1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mong muốn sinh con trai và một số yếu tố liên quan của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện lương sơn, tỉnh hòa bình năm 2012

114 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mong muốn sinh con trai và một số yếu tố liên quan của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012
Tác giả Nguyễn Quốc Huy
Người hướng dẫn PGS.TS. Lưu Thị Hồng
Trường học Trường đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Tình hình tỉ số giới tính khi sinh (15)
      • 1.1.1. Khái niệm tỷ số giới tính và tỉ số giới tính khi sinh (15)
      • 1.1.2. Tình hình TSGTKS trên thế giới (16)
      • 1.1.3. Tình hình TSGTKS tại Việt Nam (18)
    • 1.2. Các yếu tố tác động đến mong muốn sinh con trai ở Việt Nam (21)
      • 1.2.1. Phong tục tập quán (21)
      • 1.2.2. Sự khá giả, học vấn cao và đô thị hóa nhanh đã có ảnh hưởng tới TSGTKS ở các vùng miền của Việt Nam (22)
      • 1.2.3. Sự tiếp cận với các thông tin và công nghệ hiện đại để lựa chọn giới tính thai (22)
      • 1.2.4. Chính sách (25)
    • 1.3. Hậu quả của sự ƣa thích con trai (27)
    • 1.4. Tình hình tỉ số trẻ sơ sinh nam/trẻ sơ sinh nữ tại huyện Lương Sơn, Hòa Bình từ năm 2010 - 2012 (29)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (34)
    • 2.2. Đối tƣợng nghiên cứu (34)
    • 2.3. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (34)
    • 2.4. Phương pháp chọn mẫu (34)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (35)
    • 2.6. Biến số, chỉ số nghiên cứu (37)
    • 2.7. Phương pháp phân tích số liệu (39)
    • 2.8. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (39)
    • 2.9. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (40)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (43)
    • 3.1. Thông tin về đối tƣợng nghiên cứu (43)
    • 3.2. Nhận thức, quan niệm của các cặp vợ chồng về mất cân bằng giới tính khi sinh (43)
      • 3.2.1. Hiểu biết của vợ/chồng về hiện tƣợng mất cân bằng giới tính khi sinh (0)
      • 3.2.2. Hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh (44)
    • 3.3. Các yếu tố tiền đề tác động đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012 (44)
      • 3.3.1. Yếu tố cá nhân (44)
        • 3.3.1.1. Vị thế và sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong xã hội với việc sinh (44)
        • 3.3.1.2. Áp lực có con trai của chính bản thân người phụ nữ (46)
        • 3.3.1.3. Mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (48)
      • 3.3.2. Yếu tố gia đình (50)
        • 3.3.2.1. Tâm lý ƣa thích con trai của bố mẹ chồng (0)
        • 3.3.2.2. Áp lực có con trai từ gia đình, dòng họ (51)
        • 3.3.2.3. Mong muốn sinh con trai để đề phòng rủi ro (54)
      • 3.3.3. Áp lực xã hội (54)
        • 3.3.3.1. Khía cạnh dân tộc của sự ƣa thích con trai (0)
        • 3.3.3.2. Tư tưởng ưa thích con trai trong xã hội (55)
        • 3.3.3.3. Áp lực từ bạn bè, đồng nghiệp (57)
    • 3.4. Các yếu tố tạo điều kiện tác động đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012 (57)
      • 3.4.1.1. Chính sách giảm mức sinh (57)
      • 3.4.1.2. Chính sách cấm chẩn đoán giới tính thai nhi (61)
    • 3.5. Các yếu tố tăng cường tác động đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012 (62)
      • 3.5.1. Yếu tố về tiếp cận thông tin lựa chọn giới tính, các biện pháp và công nghệ hiện đại (62)
      • 3.5.2. Yếu tố kinh tế (66)
      • 3.5.3. Chọn tuổi con theo “năm đẹp”, hợp tuổi bố mẹ (67)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (69)
    • 4.1. Thực trạng mong muốn sinh con trai ở các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012 (69)
    • 4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có (70)
      • 4.3.1. Ảnh hưởng của các giá trị, quan niệm xã hội đến mong muốn sinh con trai (70)
        • 4.3.1.1. Tư tưởng ưa thích con trai – trọng nam khinh nữ (70)
        • 4.3.1.2. Sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong xã hội ngày nay (72)
      • 4.3.2. Tiếp cận thông tin lựa chọn giới tính, các biện pháp và công nghệ hiện đại . 62 4.3.3. Các yếu tố dịch vụ dân số KHHGĐ, chính sách giảm mức sinh và chính sách cấm chẩn đoán giới tính trước sinh (73)
        • 4.3.3.1. Chính sách giảm mức sinh khiến các gia đình mong muốn con trai tăng . 65 4.3.3.2. Pháp lệnh cấm chẩn đoán giới tính trước sinh không hiệu quả (76)
    • 4.4. Các yếu tố liên quan khác (80)
      • 4.4.1. Vai trò của nam giới trong văn hóa dân tộc Mường (80)
      • 4.4.2. Kinh tế tăng trưởng làm tăng nhu cầu có con trai (80)
      • 4.4.3. Các yếu tốt khác: năm đẹp theo âm lịch (82)
    • 4.3. Bàn luận về phương pháp nghiên cứu và hạn chế của nghiên cứu (82)
  • KẾT LUẬN (85)
    • 1. Mong muốn sinh con trai ở các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (85)
    • 2. Các yếu tố tác động đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai (85)
    • 1. Tăng cường bình đẳng giới (87)
    • 2. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với dịch vụ y tế chẩn đoán giới tính khi sinh (87)
    • 3. Khuyến nghị về công tác truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình (88)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (89)
  • PHỤ LỤC (93)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang và phương pháp thu thập số liệu định tính nhằm khám phá mong muốn sinh con trai cùng với các yếu tố liên quan.

Đối tƣợng nghiên cứu

- Đối tƣợng đích của nghiên cứu là các cặp vợ chồng có từ 2 con gái đầu trở lên, trong thời gian từ 2010 – 2012, đang sinh sống trên địa bàn huyện

Cán bộ y tế chuyên trách về dân số và sức khỏe sinh sản tại các cơ sở y tế công và y tế tư nhân thực hiện các biện pháp kế hoạch hóa gia đình nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và sức khỏe cho cộng đồng.

- Người cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và kế hoạch hóa gia đình

Chúng tôi đã thu thập thông tin từ các đối tượng như bố mẹ chồng/vợ, cán bộ hội phụ nữ xã, cán bộ phụ trách dân số và cộng tác viên dân số tại địa bàn nghiên cứu.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, có bốn xã ghi nhận tỷ số trẻ sơ sinh nam/trẻ sơ sinh nữ cao nhất, bao gồm: Cao Thắng với tỷ số 1,96, Lâm Sơn 1,92, Nhuận Trạch 1,69 và Hợp Châu 1,65.

- Thời gian: từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 05năm 2013

Phương pháp chọn mẫu

Phương pháp chọn mẫu chỉ tiêu có chủ đích được thực hiện thông qua TYT xã, trong đó nhóm nghiên cứu đã làm việc với cán bộ phụ trách công tác DS-KHHGĐ và cộng tác viên dân số, y tế thôn bản Mục tiêu là lập danh sách các cặp vợ chồng phù hợp với tiêu chí nghiên cứu, cụ thể là những cặp có hai con đầu là gái.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 24 người, được chọn từ 4 xã khác nhau, với mỗi xã có 6 đối tượng là vợ hoặc chồng trong gia đình, dựa trên các tiêu chuẩn nghiên cứu đã đề ra.

- Chọn mẫu các bên liên quan: chúng tôi tiến hành 10 cuộc phỏng vấn sâu trong đó:

▪ 04 cuộc phỏng vấn sâu mẹ chồng (mẹ của các cặp vợ chồng có 2 con gái đầu)

▪ 01 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ hội phụ nữ

▪ 03 cuộc phỏng vấn sâu chuyên trách công tác dân số kế hoạch hóa gia đình tại xã

▪ 02 cuộc phỏng vấn sâu cán bộ y tế chuyên ngành sản khoa làm việc tại cơ sở y tế tƣ nhân trên địa bàn

Nhƣ vậy tổng số đối tƣợng tham gia phỏng vấn sâu là 34 đối tƣợng

Với thảo luận nhóm: Chúng tôi tiến hành 02 cuộc thảo luận nhóm tại 02 xã với

Trong giai đoạn từ 2010 đến 2012, có 12 đối tượng là những bà mẹ có từ 2 con gái trở lên, trong đó con cuối cùng là con trai hoặc đang mang thai con trai tại hai xã Cao Thắng và Nhuận Trạch.

Phương pháp thu thập số liệu

Sau khi bản đề cương nghiên cứu được hội đồng khoa học trường Đại học Y tế công cộng thông qua và hồ sơ đạo đức được xét duyệt, nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành các bước tiếp theo trong quá trình thực hiện nghiên cứu.

Ba điều tra viên là học viên cao học tại trường đại học Y tế công cộng, đã được đào tạo chi tiết về nội dung và mục tiêu nghiên cứu cũng như bộ công cụ thu thập số liệu Sau khi làm việc với Trung tâm Y tế huyện để xác định thời gian và địa bàn nghiên cứu, nhóm đã thử nghiệm các bộ công cụ thu thập số liệu để hoàn thiện trước khi thực hiện thu thập dữ liệu Sau khi trình bày mục đích nghiên cứu với lãnh đạo trạm y tế xã, nhóm đã thảo luận với các cán bộ y tế, đặc biệt là những người phụ trách dân số và kế hoạch hóa gia đình, để lập danh sách đối tượng và xây dựng kế hoạch cụ thể cho việc thu thập số liệu Đồng thời, nhóm cũng tìm hiểu phong tục tập quán và văn hóa địa phương nhằm thuận lợi hóa việc thu thập thông tin định tính.

Phỏng vấn sâu được thực hiện dựa trên bản hướng dẫn đã chỉnh sửa và kế hoạch cụ thể về thời gian, địa điểm, và đối tượng tham gia Mặc dù gặp khó khăn trong việc tiếp cận đối tượng do thời điểm thu thập dữ liệu trùng với vụ gặt, nhưng nghiên cứu viên đã thành công nhờ vào kế hoạch chi tiết và sự hỗ trợ của người dẫn đường Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài khoảng 60 phút, thường diễn ra tại nhà đối tượng do tính nhạy cảm của các chủ đề như việc chọn lọc giới tính Sau mỗi cuộc phỏng vấn, nghiên cứu viên nghe lại băng ghi âm để ghi chú nội dung chính và kiểm tra thông tin còn thiếu Tuy nhiên, nhóm nhận thấy rằng một số thông tin nhạy cảm rất khó khai thác, dẫn đến quyết định sử dụng phương pháp điều tra chéo để thu thập thông tin từ các đối tượng nghiên cứu khác, qua đó bổ sung được nhiều dữ liệu quan trọng mà phỏng vấn trực tiếp không thể đạt được.

Về thảo luận nhóm, chúng tôi dựa trên bản hướng dẫn thảo luận nhóm (Phụ lục 4) để mời các đối tượng thỏa mãn tiêu chí chọn mẫu của nghiên cứu lên trạm y tế xã thông qua cộng tác viên dân số Sau khi giới thiệu về nhóm nghiên cứu và trình bày rõ mục đích của nghiên cứu, chúng tôi xin phép sự đồng ý tham gia của các đối tượng cũng như xin phép ghi âm Chỉ khi nhận được sự đồng ý từ tất cả các đối tượng, nhóm mới tiến hành thảo luận.

HUPH tổ chức cuộc thảo luận với sự tham gia của 01 nghiên cứu viên dẫn dắt, 01 thư ký và 01 người quan sát, cùng với các đối tượng phỏng vấn được sắp xếp chỗ ngồi theo hình chữ U có đánh số Trước khi bắt đầu, nhóm đã hội ý để có cái nhìn tổng quát về từng đối tượng, giúp người dẫn dắt có kế hoạch hiệu quả nhằm đảm bảo mọi người đều có cơ hội chia sẻ thông tin và quan điểm Mỗi cuộc thảo luận kéo dài từ 60 đến 90 phút.

Việc sử dụng các bản ghi chép của đối tượng tham gia nghiên cứu giúp củng cố ý kiến của họ trong phỏng vấn Bản tổng hợp ý kiến từ các nhóm thảo luận, do thư ký ghi chép lại, là cơ sở quan trọng để tìm kiếm thông tin liên quan đến chủ đề đã thảo luận.

Biến số, chỉ số nghiên cứu

TSGKTS là tỷ lệ số trẻ trai sinh ra còn sống so với 100 trẻ gái sinh ra còn sống trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm tại một quốc gia, vùng hoặc tỉnh Tỷ lệ này thường dao động từ 104 đến 106.

Hành vi lựa chọn giới tính trong nghiên cứu này đề cập đến các hành động nhằm sinh con trai, bao gồm việc sử dụng công nghệ khoa học để xác định giới tính thai nhi, thực hiện siêu âm để biết giới tính, và áp dụng biện pháp đình chỉ thai nghén khi phát hiện thai nhi là nữ.

Bảng 2.1: Bảng biến số và chỉ số nghiên cứu

Mục tiêu Nhóm biến số Chỉ số/thông tin thu thập Nguồn thu thập thông tin

Vị thế của người phụ nữ trong gia đình

Sinh con trai và vị thế của phụ nữ trong gia đình

Bộ công cụ hướng dẫn PVS và TLN

Sự thay đổi vai trò phụ nữ trong xã hội ngày nay Áp lực phải có con trai Áp lực từ bản thân người phụ Bộ công cụ hướng

HUPH nữ dẫn PVS và TLN

Mong muốn sinh con trai ở người vợ/chồng

2 Áp lực có con trai từ gia đình Áp lực từ chồng, bố mẹ chồng… trong việc sinh con trai để nối dõi

Bộ công cụ hướng dẫn PVS và TLN nêu bật áp lực mà phụ nữ phải đối mặt khi có con trai, bao gồm cả áp lực từ dòng họ và từ chính bản thân họ Nhiều phụ nữ mong muốn sinh thêm con trai để giảm thiểu rủi ro trong tương lai, điều này phản ánh áp lực xã hội và khía cạnh dân tộc liên quan đến sự ưa thích con trai.

Bộ công cụ hướng dẫn PVS và TLN nêu rõ áp lực từ hệ tư tưởng Nho giáo trong việc sinh con trai, cũng như áp lực từ bạn bè và đồng nghiệp về vấn đề này.

Tiếp cận thông tin lựa chọn giới tính, các biện pháp và công nghệ hiện đại

- Nguồn thông tin về các biện pháp và công nghệ lựa chọn GTKS

- Siêu âm xác định giới tính thai nhi

- Các công nghệ y học: sự sẵn có, sự quảng cáo, sự tin tưởng vào hiệu quả các công nghệ

- Khả năng tiếp cận với các công nghệ, tiếp thị tới người

Bộ công cụ hướng dẫn PVS và TLN

HUPH tiêu dùng về công nghệ chọn lọc giới tính và tính sẵn có ở khu vực nông thôn và thành thị

Chính sách giảm sinh và cấm chẩn đoán giới tính thai nhi

- Tác động của chính sách giảm sinh?

- Việc thực hiện và quản lý qui định cấm chẩn đoán giới tính thai nhi, phá thai to tại các cơ sở y tế công và tƣ

Bộ công cụ hướng dẫn PVS và TLN

Phương pháp phân tích số liệu

Các số liệu thứ cấp được thu thập từ sổ sách báo cáo và phân tích qua Excel nhằm mô tả thực trạng vấn đề Số liệu định tính sau khi thu thập sẽ được gỡ băng và tổng hợp thành biên bản phỏng vấn Nội dung gỡ băng sẽ được đọc, đánh dấu các câu nói và đoạn trích cần thiết, sau đó ghi mã chú thích Các mã này được sắp xếp theo chủ đề và đưa vào ma trận thông tin, từ đó lựa chọn các đoạn trích phù hợp để minh họa cho từng nhóm chủ đề Cuối cùng, từ ma trận thông tin, dàn ý sẽ được lập theo chủ đề dựa trên khung lý thuyết và các mục tiêu nghiên cứu cụ thể, hình thành bản nháp và chỉnh sửa để hoàn thiện báo cáo.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu đã tuân thủ các quy định đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng và được hội đồng thông qua Sau khi được phê duyệt, nhóm nghiên cứu bắt đầu thu thập dữ liệu Trước khi phỏng vấn, các đối tượng tham gia được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung nghiên cứu, cũng như cam kết bảo mật thông tin thu thập được, chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu Các đối tượng có quyền đặt câu hỏi về mục đích của nghiên cứu.

HUPH và các nghiên cứu viên có trách nhiệm trả lời và có quyền từ chối hoặc ngừng tham gia nghiên cứu nếu có nghi ngờ Các đối tượng tham gia sẽ ký vào phiếu tự nguyện trước khi phỏng vấn Trước khi thực hiện phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm, nghiên cứu viên cần xin phép ghi âm và chỉ thực hiện khi có sự đồng ý của đối tượng Thông tin thu thập sẽ không bao gồm thông tin cá nhân như tên và địa chỉ, và mọi thông tin sẽ được giữ bí mật, chỉ nhóm nghiên cứu biết Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo một cách phù hợp, không ảnh hưởng đến đối tượng tham gia.

Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

Nghiên cứu được thực hiện trên 4 xã của huyện Lương Sơn, do đó chưa phản ánh đầy đủ mong muốn sinh con trai và vấn đề lựa chọn giới tính trước sinh cho toàn huyện Việc chọn lựa đối tượng nghiên cứu không cân đối (12 vợ và 12 chồng) có thể ảnh hưởng đến tính khách quan, vì thông tin chủ yếu từ phía người vợ Nghiên cứu chỉ tập trung vào mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái mà chưa xem xét mong muốn của những cặp đã có con trai hoặc muốn có con trai ngay từ lần sinh đầu Thêm vào đó, việc khai thác thông tin về hành vi lựa chọn giới tính thai nhi gặp khó khăn, như siêu âm lựa chọn giới tính hay việc chia sẻ thông tin về việc bỏ thai do lý do nhạy cảm về đạo đức Cuối cùng, thời điểm nghiên cứu diễn ra vào mùa vụ khiến việc tiếp cận đối tượng và thu thập thông tin gặp nhiều trở ngại.

Lựa chọn giới tính trước sinh là một vấn đề nhạy cảm, dẫn đến việc đối tượng nghiên cứu (ĐTNC) có thể không hợp tác trong phỏng vấn hoặc không muốn chia sẻ thông tin khi có sự hiện diện của chồng hoặc người thân Hơn nữa, sai số trong dữ liệu có thể xuất phát từ kỹ năng phỏng vấn định tính của điều tra viên (ĐTV) còn yếu, cùng với cách đặt câu hỏi và dẫn dắt mang tính gợi mở.

HUPH trả lời cho ĐTNC cũng có thể làm sai lệch thông tin thu đƣợc

Để khắc phục sai số trong nghiên cứu, nhóm đã xây dựng kế hoạch thu thập số liệu chi tiết, phù hợp với từng địa bàn và thời gian rảnh rỗi của đối tượng Nhóm đã tiến hành thu thập thông tin chéo và thảo luận với các chuyên gia để xác thực thông tin Phỏng vấn sâu 34 đối tượng và 02 cuộc thảo luận nhóm đã được thực hiện, đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt phương pháp chọn mẫu Kỹ năng của điều tra viên (ĐTV) đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin, do đó, họ đã được thực hành nhiều lần để thống nhất cách hỏi, đặc biệt là với thông tin nhạy cảm Để hạn chế sai số nhớ lại, ĐTV được yêu cầu đọc lại kết quả phỏng

Trong quá trình phỏng vấn, ĐTV đã phát hiện những thông tin thiếu hụt và bổ sung chi tiết mới vào bộ công cụ để đảm bảo thông tin thu được là bão hòa Để khắc phục sai số thông tin do đối tượng phỏng vấn có thể không trả lời thật một số câu hỏi nhạy cảm, nhóm nghiên cứu đã chia sẻ kỹ năng tiếp cận và tạo thiện cảm với ĐTNC, đồng thời đánh giá bối cảnh cuộc nói chuyện Khi đến từng địa bàn cụ thể, nhóm cũng tìm hiểu phong tục, văn hóa và cách giao tiếp để tạo không khí thân mật, góp phần vào hiệu quả của cuộc phỏng vấn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin về đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu bao gồm các cặp vợ chồng có ít nhất hai con gái và đang có con thứ ba là con trai hoặc đang mang thai con trai, trong khoảng thời gian từ 2010 đến 2012, tại huyện Chúng tôi đã chọn 24 đối tượng phỏng vấn sâu, 12 đối tượng tham gia thảo luận nhóm và 10 đối tượng liên quan như cán bộ xã, y tế tư nhân, mẹ chồng và chuyên trách dân số Đối tượng chủ yếu là phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, với độ tuổi trung bình là 33 Nghề nghiệp chủ yếu của họ là nông dân, chiếm 82%, trong khi phần còn lại là viên chức nhà nước, bán hàng hoặc làm nghề tự do Trong số các gia đình, 28 đối tượng có 3 con, trong đó 22 đối tượng có 2 con gái và 1 con trai, 6 đối tượng có 3 con gái; bên cạnh đó, có 5 đối tượng sinh 2 con gái và 3 đối tượng có 3 con gái và 1 con trai.

Nhận thức, quan niệm của các cặp vợ chồng về mất cân bằng giới tính khi sinh

3.2.1 Hiểu biết của vợ/chồng về hiện tượng mất cân bằng giới tính khi sinh

Mất cân bằng giới tính khi sinh được hiểu là tình trạng sinh con trai nhiều hơn con gái, dẫn đến hiện tượng thừa nam thiếu nữ Hầu hết các đối tượng đều nhận thức được vấn đề này thông qua các phương tiện truyền thông, tuyên truyền của chi hội phụ nữ và cán bộ chuyên trách tại xã Trong các cuộc thảo luận, nhiều người khẳng định rằng hiện tượng này đang tồn tại tại địa phương.

Hiện nay, tỷ lệ sinh con trai đang cao hơn so với con gái Chẳng hạn, trong thôn này, từ đầu năm đến nay, trong số 6 ca sinh, có tới 5 ca sinh con trai.

(Nữ, 29 tuổi, PVSxã Lâm Sơn)

Trong các cuộc họp của chi hội, các chị thường nhấn mạnh vấn đề sinh con thứ ba, đặc biệt là những gia đình có con thứ ba, vì điều này ảnh hưởng đến sự thi đua trong thôn xóm Mặc dù nhận thức được điều đó, gia đình em là con một và chưa có con trai, nên em vẫn cố gắng sinh thêm một đứa nữa.

HUPH đi họp cũng xấu hổ lắm nhưng cũng chẳng biết thế nào, may mà lần này mang bầu con trai”

(Nữ, 36 tuổi, PVS, xã Nhuận Trạch)

3.2.2 Hậu quả của mất cân bằng giới tính khi sinh

Phỏng vấn sâu về hậu quả của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh cho thấy nhiều quan điểm khác nhau Một số phụ nữ cho rằng tình trạng này không có ảnh hưởng đáng kể.

“Theo em đẻ nhiều con trai thì không ảnh hưởng gì, bây giờ thì lo cái gì”

(Nữ, 37 tuổi,PVS, xã Cao Thắng)

Hầu hết các đối tượng đều nhận thấy rằng hậu quả rõ ràng nhất là con trai sẽ gặp khó khăn trong việc kết hôn, điều này cũng ảnh hưởng đến nhiều vấn đề xã hội khác.

Chắc chắn rằng trong tương lai, sự mất cân bằng giới tính sẽ khiến con trai gặp khó khăn hơn trong việc tìm kiếm bạn đời Điều này có thể dẫn đến gia tăng các vấn đề xã hội.

(Nữ, 38 tuổi, PVS, xã Cao Thắng.

Các yếu tố tiền đề tác động đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012

3.3.1.1 Vị thế và sự thay đổi vai trò của người phụ nữ trong xã hội với việc sinh con trai

Trong xã hội hiện đại, vai trò và địa vị của phụ nữ đã có nhiều thay đổi tích cực, được giải phóng khỏi phong tục phong kiến và có cơ hội học tập, làm việc như nam giới Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại sự bất bình đẳng trong gia đình, với áp lực lớn từ việc sinh con trai Quan niệm về việc sinh con trai và con gái đã có sự thay đổi, với thái độ tích cực hơn từ chồng, gia đình chồng và xã hội đối với việc sinh con gái, giúp phụ nữ không còn bị kỳ thị hay thiếu sự chăm sóc.

Ngày xưa, việc sinh con gái gặp nhiều khó khăn, thường bị nhà chồng châm chọc Có một chị hàng xóm của tôi, dù đã sinh đến 3 lần nhưng vẫn chỉ có con gái, phải làm việc ngoài đồng đến trưa mà không ai quan tâm.

HUPH đã trải qua những khó khăn khi sinh con, chỉ có một mình bà ngoại bên cạnh Chồng bà thì thờ ơ, chỉ khuyên bà sinh con trai để có thể được chiều chuộng May mắn thay, lần đó bà đã sinh được con trai, và gia đình đã nâng niu đứa trẻ như nâng trứng Hiện nay, xã hội đã có nhiều thay đổi tích cực, việc sinh con gái không còn bị coi là khổ sở như trước đây.

(Mẹ chồng, 55 tuổi, PVS, xã Nhuận Trạch)

Cũng có những quan điểm khá tân tiến về vai trò của con trai, con gái trong việc phụng dƣỡng cha mẹ lúc về già

Con cái, dù là trai hay gái, nếu được nuôi dạy tốt sẽ không khiến cha mẹ phải lo lắng khi về già Chẳng hạn như gia đình bác Vững, có hai con trai và ba con gái, nhưng các anh chị ấy đều chăm sóc bố mẹ rất chu đáo Đặc biệt, chị Phương, con gái trưởng, còn chăm sóc bố mẹ tốt hơn cả các anh trai.

(Nữ, 33 tuổi, PVS, xã Hợp Châu)

Mặc dù có những thay đổi tích cực về vị trí của phụ nữ trong xã hội, nhưng vẫn tồn tại nhiều trường hợp địa vị của họ trong gia đình không được coi trọng Nhiều quan niệm lỗi thời vẫn gây áp lực và hạ thấp vai trò của phụ nữ, như quan niệm "tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu" và việc con gái không được hưởng quyền thừa kế từ bố mẹ Các gia đình vẫn cho rằng dù con gái có tài giỏi và chăm sóc bố mẹ, họ vẫn không thể sánh bằng con trai, vì khi lấy chồng, họ phải theo nhà chồng.

Con gái khi lớn lên sẽ lấy chồng, nếu chồng gần thì còn có thể nhờ vả, nhưng nếu chồng xa, cha mẹ có thể không về thăm được Dù có về thì cũng chỉ giúp được một phần, không thể bằng con trai, vì dù con trai có vô tâm, nhưng vẫn có khả năng lo toan mọi việc.

(Nam, 31 tuổi, PVS, xã Nhuận Trạch)

Vai trò của phụ nữ trong quyết định sinh con ngày càng được coi trọng, nhưng thường thì quyết định cuối cùng vẫn phụ thuộc vào ý kiến của chồng và gia đình chồng.

Khi quyết định có thêm con, tôi đã hỏi ý kiến vợ về việc năm nay có nên sinh thêm một đứa nữa hay không, bất kể là trai hay gái.

Chồng mình luôn động viên, nhưng cũng tạo áp lực vì anh ấy là con trai Cuối cùng, mình quyết định sinh thêm Dù có ý kiến gì, mình biết rằng nếu chồng và gia đình chồng muốn, mình vẫn phải sinh con.

(Nữ, 37 tuổi, PVS, xã Cao Thắng)

Kết quả từ các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy rằng, tại các vùng nông thôn, con gái khi lớn lên thường không được hưởng quyền thừa kế như con trai, và họ không được chia sẻ đất đai cũng như tài sản.

Ở xóm trên, khi sinh con trai, bố mẹ chỉ chia đất cho con trai Gia đình em có nhiều đất, nhưng hiện tại chỉ có con gái, nên em phải cố gắng sinh thêm con trai để giữ nhà Con gái ở đây khi lấy chồng thường không được gì ngoài một ít của hồi môn trong ngày cưới.

(Nữ, 31 tuổi, PVS, xã Hợp Châu)

Phân tích cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về địa vị của phụ nữ trong xã hội nông thôn Việt Nam Sau khi kết hôn, phụ nữ phải sống cùng gia đình chồng, chăm sóc cho họ và tuân theo quyết định của chồng Họ nhận được ít tài sản từ gia đình bố mẹ đẻ và không có nhiều quyền quyết định trong việc sinh con Điều này đã trở thành một phần chấp nhận của cuộc sống mà phụ nữ phải đối mặt.

3.3.1.2 Áp lực có con trai của chính bản thân người phụ nữ

Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy quan niệm của các bà mẹ về việc sinh con trai thay đổi theo từng lần sinh Ở những lần sinh đầu tiên, phụ nữ thường không chịu áp lực lớn về việc phải có con trai Tuy nhiên, khi đến lần sinh thứ hai mà vẫn là con gái, cả họ và gia đình hai bên đều cảm thấy “rầu lòng”.

Khi mới sinh con gái, mọi người thường nói rằng con nào cũng là con, nhưng từ khi tôi sinh con gái thứ hai, có nhiều ý kiến trái chiều từ xung quanh.

Nữ, 42 tuổi, PVS, xã Cao Thắng, cho biết rằng nhiều phụ nữ phải đối mặt với áp lực từ gia đình chồng về việc sinh con trai Điều này không chỉ đến từ mong muốn cá nhân mà còn từ sự kỳ vọng của chồng, khiến họ cảm thấy cần phải sinh con trai để giữ gìn hòa khí trong gia đình.

HUPH ấm gia đình, để tự giải phóng khỏi áp lực tâm lý đè nặng khi sinh toàn con gái:

Các yếu tố tạo điều kiện tác động đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012

3.4.1.1 Chính sách giảm mức sinh

Chính sách giảm mức sinh và qui mô gia đình nhỏ vẫn được duy trì và chấp nhận tại Việt Nam Tuy nhiên, ở vùng nông thôn, lao động tự do, số con mà họ sinh ra phụ thuộc vào tình hình kinh tế và mong muốn cá nhân.

Hầu hết mọi người đều nhận thức rõ chính sách của nhà nước quy định mỗi cặp vợ chồng chỉ nên có từ 1 đến 2 con, và họ đồng tình với quy định này vì nó giúp gia đình có điều kiện tốt hơn trong việc chăm sóc và nuôi dạy con cái Tuy nhiên, mong muốn có một người con trai khiến nhiều cặp vợ chồng vẫn muốn sinh thêm con Chính sách này chủ yếu được tuân thủ bởi những người làm việc cho nhà nước, do đó họ cũng phải đối mặt với áp lực lớn khi chỉ sinh con gái.

Mặc dù nhà nước quy định chỉ cho phép sinh từ 1-2 con, nhưng gia đình tôi đã có hai cô con gái và vẫn mong muốn có thêm con trai, vì vậy vợ chồng tôi quyết tâm sinh thêm.

(Nữ, 33 tuổi, PVS, xã Hợp Châu)

Đa số Đảng viên và công chức tại địa phương thực hiện tốt chính sách này, mặc dù chính sách hiện tại đã được nới lỏng hơn.

Chính sách dân số đã được điều chỉnh, cho phép sinh con thứ ba nếu có khả năng nuôi dạy tốt Tuy nhiên, nhiều người vẫn giữ quan niệm chỉ nên có hai con, bất kể là trai hay gái, để đảm bảo việc nuôi dạy con cái được tốt nhất.

(Chuyên trách dân số, PVS)

Hầu hết những người tham gia phỏng vấn là nông dân hoặc làm nghề tự do, không bị quản lý bởi cơ quan nhà nước, nên họ cảm thấy tự do trong việc sinh con thứ ba mà không lo mất việc hay bị phạt Quyết định sinh thêm con phụ thuộc vào điều kiện kinh tế gia đình; nếu có nhiều đất và tài chính ổn định, họ có xu hướng muốn sinh nhiều hơn hai con, cả trai lẫn gái, với quan niệm "nhiều của không bằng nhiều con".

Ở đây, người dân vẫn tiếp tục sinh con mà không tuân thủ quy định nào Họ cho rằng việc sinh con là trách nhiệm của họ, và nhà nước không hỗ trợ Những gia đình có con gái thường không bị chỉ trích, thậm chí có những gia đình có cả con trai và con gái vẫn quyết định sinh thêm con để phòng ngừa rủi ro Họ không nhận ra rằng việc có hai con sẽ dễ dàng hơn so với ba con Họ tự nuôi dạy con cái, cho học hành nếu có khả năng, còn nếu không thì cho nghỉ và cho con đi làm tại các khu công nghiệp.

(Cán bộ hội phụ nữ, 33 tuổi, PVS)

Gần đây, vấn đề xử phạt những người sinh con thứ ba tại địa phương đang trở nên nhẹ nhàng, đặc biệt là đối với những người làm nghề tự do, vì không có chế tài xử phạt nào áp dụng cho họ Nhiều người cho rằng chỉ những ai làm việc trong nhà nước hoặc là Đảng viên mới phải chịu hình phạt Do đó, việc sinh thêm con thứ ba chưa bị xử phạt đã khiến nhiều người coi đó là điều bình thường.

“Chỉ thấy bảo là làm trong nhà nước thì bị khiển trách, kỷ luật nhưng bọn em làm ngoài tư nhân thì cứ đẻ thôi”

(Nữ, 27 tuổi, PVS, xã Hợp Châu)

Một số Đảng viên, mặc dù đã có con gái lớn, vẫn cố gắng sinh thêm một đứa con trai do thấy cấp lãnh đạo cũng có con thứ ba.

Mặc dù đã có một đứa con 11 tuổi đang học cấp 2, tôi vẫn có mong muốn có thêm một cậu con trai Là một cán bộ Đảng viên, tôi không muốn sinh thêm con, nhưng thấy nhiều quan chức có quyền lực vẫn có thể sinh con, tôi cảm thấy mình cũng có thể làm điều đó.

(Nam, 38 tuổi, PVS, xã Nhuận Trạch)

Hiện tượng công chức và Đảng viên sinh con thứ 3 nhưng để lách luật và tránh bị kiểm điểm ngày càng phổ biến, họ thường chọn cách biến con ruột thành con nuôi.

Nhiều lãnh đạo đã tìm cách lách luật bằng cách khai sinh cho con với danh tính khác, sau đó thực hiện thủ tục nhận con nuôi Đôi khi, họ cũng có con ngoài giá thú và làm thủ tục xin nhận làm con nuôi Hành động này nhằm tránh bị kỷ luật và mất chức.

(Nữ, 32 tuổi, PVS, xã Lâm Sơn)

Hầu hết các đối tượng phỏng vấn không nhận thức được rằng việc sinh nhiều con có thể ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội và môi trường Mặc dù một số người đã nghe về "mất cân bằng giới tính khi sinh" và hiện tượng trẻ trai sinh ra nhiều hơn trẻ gái, nhưng họ không hiểu rõ hệ lụy lâu dài của vấn đề này Họ tin rằng việc sinh thêm con trai sẽ mang lại hạnh phúc cho gia đình, trong khi các vấn đề khác không được họ quan tâm.

Mất cân bằng có nhiều ảnh hưởng rõ rệt, điều này đã được đề cập nhiều trên báo chí và truyền hình Chúng tôi cảm thấy rằng khi có điều kiện, việc sinh con là điều tự nhiên và cần thiết.

Khi bắt đầu nuôi dưỡng một đứa trẻ, chúng ta cần xác định rõ phạm vi và trách nhiệm của mình Việc cân bằng giữa các yếu tố trong quá trình nuôi dạy là điều quan trọng, nhưng hiện tại chúng tôi vẫn chưa hoàn toàn hiểu rõ về vấn đề này.

(Nam, 32 tuổi, PVS, xã Nhuận Trạch)

Các yếu tố tăng cường tác động đến mong muốn sinh con trai của các cặp vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012

vợ chồng có hai con gái đầu tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình năm 2012

3.5.1 Yếu tố về tiếp cận thông tin lựa chọn giới tính, các biện pháp và công nghệ hiện đại

Thông tin về lựa chọn giới tính trước sinh hiện nay rất phổ biến và dễ dàng tiếp cận qua nhiều nguồn như truyền miệng, sách báo và internet Sự phát triển của công nghệ hiện đại như xét nghiệm phôi và siêu âm đã giúp chẩn đoán giới tính sớm và chính xác, trở thành công cụ cho việc lựa chọn giới tính trước sinh Mặc dù phá thai vì lý do giới tính được coi là hành vi vi phạm đạo đức, nhiều cặp vợ chồng vẫn lựa chọn phương pháp này để có con theo ý muốn Đặc biệt, nhiều cặp vợ chồng tham gia nghiên cứu cho biết họ quyết định sinh thêm con sau khi đã có hai con gái, với hy vọng có được con trai.

HUPH hợp rất nhiều phương pháp, từ cổ truyền đến hiện đại, ngay cả việc thờ cúng tâm linh

Nhiều gia đình, khi quyết định sinh thêm con trai, đã thực hiện các nghi lễ tâm linh và cúng bái từ khắp nơi Họ tin rằng việc có con trai hay con gái phần nào phụ thuộc vào số phận, và nếu họ cầu xin có con trai, thì khả năng sẽ đạt được điều đó.

Khi đi chùa, tôi thành tâm cầu xin để có được con trai, và lễ lạc cũng được chuẩn bị theo tâm nguyện của mình Điều quan trọng là tôi luôn giữ lòng thành kính trong mọi việc.

(Nữ, 29 tuổi, PVS, xã Lâm Sơn)

Nhiều người thường được bạn bè khuyên nên đi xem bói để tìm thời điểm thích hợp để mang thai, và họ áp dụng điều này với hy vọng sẽ gặp may mắn như những người khác.

Năm 2012, tôi đã đi xem bói và được ông thầy bói nói rằng năm đó tôi sẽ sinh con trai, chỉ cần mang thai vào tháng 11 hoặc tháng 12 Vì vậy, tôi đã quyết tâm sinh cháu thứ tư.

(Nữ, 37 tuổi, PVS, xã Cao Thắng)

Nhiều cặp vợ chồng hiện nay áp dụng kiến thức từ sách vở để tăng khả năng sinh con trai Họ tìm hiểu về chế độ dinh dưỡng, tính ngày rụng trứng, bắt mạch, cũng như chọn ngày, giờ và tư thế quan hệ phù hợp Những thông tin này được truyền tai nhau và được áp dụng khi có kế hoạch mang thai.

Phụ nữ từ các gia đình thành công đã chia sẻ địa chỉ của các ông lang và phòng khám tư nhân để tiếp cận dịch vụ sinh con theo ý muốn Qua phỏng vấn, nhiều người cho biết họ sẵn sàng đi xa, như đến Sơn Tây hoặc Hà Nội, để tìm kiếm thầy lang và chữa trị Điều này cho thấy rằng khả năng tiếp cận dịch vụ và công nghệ sinh con theo ý muốn tại địa phương là khá thuận tiện.

Khi được mách đi đâu, tôi sẵn sàng đi theo, giống như việc đi bốc thuốc hay bắt mạch Dù người ta chỉ dẫn nhiều nơi, tôi đều không ngần ngại mà đi đến từng chỗ.

(Nam, 34 tuổi, PVS, xã Cao Thắng)

Phụ nữ thường chia sẻ với nhau và các gia đình khác về những địa chỉ mà họ tin tưởng có thể giúp họ sinh con trai.

“Thì chị em họ đi và cũng có rồi nên người ta bảo mình Người ta được rồi nên mình cũng hỏi địa chỉ rồi mình đi theo”

(Nữ, 39 tuổi, PVS, xã Cao Thắng)

Theo cán bộ phụ trách dân số xã, địa phương không có cơ sở cung cấp dịch vụ sinh con theo ý muốn, nhưng người dân thường di chuyển giữa các xã và huyện để tiếp cận dịch vụ này.

Tại xã, chỉ có các dịch vụ khám thai thông thường, trong khi những người cần siêu âm hoặc kiểm tra khác thường lên huyện hoặc sang Tế Tiêu Nhiều người còn chọn đi thẳng ra Hà Nội vì khoảng cách gần Việc hỏi giới tính thai nhi cũng dễ dàng hơn ở những nơi này do công nghệ hiện đại.

(Chuyên trách dân số, PVS)

Nhiều người trong xã áp dụng phương pháp canh ngày rụng trứng để sinh con trai, bằng cách siêu âm và đo nhiệt độ thân nhiệt hàng tháng Họ chọn ngày quan hệ nhằm tăng xác suất sinh con trai và kiểm tra xem trứng đã làm tổ hay chưa Dịch vụ này dễ tiếp cận tại Hà Đông, nơi có nhiều phòng khám sản lớn và uy tín ở Hà Nội Mặc dù chi phí cao và thời gian thực hiện kéo dài, nhưng hiệu quả đạt được khiến nhiều chị em tin tưởng và lựa chọn phương pháp này hơn các biện pháp khác.

Tại Hà Đông, có nhiều phòng khám cung cấp dịch vụ siêu âm canh trứng, theo dõi sự phát triển của trứng và xác định ngày rụng trứng để tính toán thời điểm thụ thai Nhiều chị em trong xã đã thử nghiệm dịch vụ này và cho biết kết quả đạt được như mong muốn.

(Nữ, 31 tuổi, PVS, xã Lâm Sơn)

Việc dễ dàng tiếp cận thông tin và dịch vụ tư vấn hiện đại đã tạo niềm tin cho các cặp vợ chồng trong việc sinh con theo ý muốn, đặc biệt là sinh con trai Điều này ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định sinh thêm của họ.

Khi được hỏi về cách xác định giới tính thai nhi trước khi sinh, nhiều người cho rằng siêu âm là phương pháp phổ biến nhất Việc xác định giới tính thai nhi thông qua siêu âm khá đơn giản và hiệu quả.

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2006), Nghị định 114/2006/NĐ-CP ngày 3-10-2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số gia đình và trẻ em, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định 114/2006/NĐ-CP ngày 3-10-2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về dân số gia đình và trẻ em
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2006
2. Nguyễn Văn Chính (1999), "Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinh đẻ của người Việt", Tạp chí xã hội học, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc trọng nam trong gia đình và tập quán sinh đẻ của người Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chính
Nhà XB: Tạp chí xã hội học
Năm: 1999
3. Chính phủ Việt Nam (2003), Nghị định số 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 16 tháng 9 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh dân số, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ ra ngày 16 tháng 9 năm 2003 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của pháp lệnh dân số
Tác giả: Chính phủ Việt Nam
Năm: 2003
6. Lương Quang Đảng (2011), Những tác động từ mất cân bằng giới tính khi sinh, truy cập ngày 20-5-2013, tại trang web http://giadinh.net.vn/nghien-cuu-trao-doi/nhung-tac-dong-tu-mat-can-bang-gioi-tinh-khi-sinh-20110504045923530.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những tác động từ mất cân bằng giới tính khi sinh
Tác giả: Lương Quang Đảng
Nhà XB: GiadinhNet
Năm: 2011
7. Trường Đại học y tế công cộng (2006), Giáo trình Dân số và phát triển, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dân số và phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2006
8. Nguyễn Thị Bích Huệ (2012), Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hành vi lựa chọn giới tính ở huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các yếu tố liên quan đến hành vi lựa chọn giới tính ở huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Thị Bích Huệ
Năm: 2012
9. Nguyễn Thanh Hương, Lê Thị Hải Hà và Trương Quang Tiến (2008), Các yếu tố quyết định sức khỏe, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các yếu tố quyết định sức khỏe
Tác giả: Nguyễn Thanh Hương, Lê Thị Hải Hà, Trương Quang Tiến
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2008
10. Nguyễn Hải Lê Cự Linh (2006), "Thực trạng sinh con thứ ba trở lên và một số lý do ảnh hưởng tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh", Tạp chí y học dự phòng, 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sinh con thứ ba trở lên và một số lý do ảnh hưởng tại huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh
Tác giả: Nguyễn Hải Lê Cự Linh
Nhà XB: Tạp chí y học dự phòng
Năm: 2006
11. Lê Cự Linh (2009), "Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới và ở Việt Nam", Tạp chí Y tế Công cộng, 12.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới và ở Việt Nam
Tác giả: Lê Cự Linh
Nhà XB: Tạp chí Y tế Công cộng
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w