1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan

61 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng
Người hướng dẫn ThS. Đinh Thu Hà
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2022
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu và stress Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học Bảng 3.2 Đặc điểm các yếu tố sức khỏe và sinh sản Bảng 3.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội Bảng 3.4 Kết quả theo tha

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

TRIỆU CHỨNG STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM CỦA PHỤ NỮ MANG THAI ĐẾN KHÁM

TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2022

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG

Hà Nội, 2022

HUPH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGUYỄN THỊ THU HẰNG

TRIỆU CHỨNG STRESS, LO ÂU, TRẦM CẢM CỦA PHỤ NỮ MANG THAI ĐẾN KHÁM

TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN TRUNG ƯƠNG NĂM 2022

VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG

GIÁO VIÊN HƯỚN DẪN:

ThS Đinh Thu Hà

Hà Nội, 2022

HUPH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành tiểu luận tốt nghiệp cử nhân này, em xin bày tỏ sự cảm kích đặc biệt tới giáo viên hướng dẫn của mình là ThS Đinh Thu Hà – giảng viên trường ĐH Y Tế Công Cộng; là người đã định hướng, trực tiếp dẫn dắt và cố vấn cho em trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học

Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu Trường Đại học Y tế công cộng, Phòng Quản lý Đào tạo Đại học, Phòng Công tác Sinh viên và các Thầy giáo,

Cô giáo của trường đã nhiệt tình giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu để em có thể hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này

Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, em đã nhận được sự động viên, khuyến khích và hỗ trợ rất nhiều từ gia đình, bạn bè và tập thể sinh viên lớp CNCQYTCCK17-1A3 Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2022

Sinh viên

Nguyễn Thị Thu Hằng

HUPH

Trang 4

1.2 Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai 5 1.3 Một số yếu tố liên quan đến Stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai 8 1.4 Một số thang đo sử dụng trong đánh giá sức khoẻ tâm thần 12

3.2 Mô tả tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai 24 3.3 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân và yếu tố văn hoá xã hội với sức khoẻ tâm thần

HUPH

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1: So sánh các loại thang đo trong nghiên cứu về sức khỏe tâm thần

Bảng 2 Bảng biến số nghiên cứu

Bảng 3 Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu và stress

Bảng 3.1 Đặc điểm nhân khẩu học

Bảng 3.2 Đặc điểm các yếu tố sức khỏe và sinh sản

Bảng 3.3 Đặc điểm văn hóa – xã hội

Bảng 3.4 Kết quả theo thang đo Stress, Lo âu, Trầm cảm (DASS-21) của phụ nữ mang thai

Bảng 3.5 Tỷ lệ có dấu hiệu Stress của phụ nữ mang thai theo nhân khẩu học

Bảng 3.6 Tỷ lệ có dấu hiệu Lo âu của phụ nữ mang thai theo nhân khẩu học

Bảng 3.7 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo nhân khẩu học

Bảng 3.8 Mức độ xuất hiện vấn đề SKTT của phụ nữ mang thai theo nhân khẩu học

Bảng 3.9 Tỷ lệ có dấu hiệu Stress của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức khỏe và sinh sản

Bảng 3.10 Tỷ lệ có dấu hiệu Lo âu của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức khỏe và sinh sản

Bảng 3.11 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức khỏe và sinh sản

Bảng 3.12 Mức độ xuất hiện vấn đề SKTT của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức khỏe

và sinh sản

Bảng 3.13 Tỷ lệ có dấu hiệu Stress của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn hóa – xã hội Bảng 3.14 Tỷ lệ có dấu hiệu Lo âu của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn hóa – xã hội Bảng 3.15 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn hóa – xã hội

Bảng 3.16 Mức độ xuất hiện vấn đề SKTT của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn hóa –

xã hội

Bảng 3.17 Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học với dấu hiệu Stress của PNMT

Bảng 3.18 Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học với dấu hiệu Lo âu của PNMT

Bảng 3.19 Mối liên quan giữa yếu tố nhân khẩu học với dấu hiệu Trầm cảm của PNMT Bảng 3.20 Mối liên quan giữa yếu tố sức khỏe và sinh sản với dấu hiệu Stress của PNMT Bảng 3.21 Mối liên quan giữa yếu tố sức khỏe và sinh sản với dấu hiệu Lo âu của PNMT Bảng 3.22 Mối liên quan giữa yếu tố sức khỏe và sinh sản với dấu hiệu Trầm cảm của PNMT

Bảng 3.23 Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa – xã hội với dấu hiệu Stress của PNMT Bảng 3.24 Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa – xã hội với dấu hiệu Lo âu của PNMT Bảng 3.25 Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa – xã hội với dấu hiệu Trầm cảm của PNMT

HUPH

Trang 7

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1: Tỷ lệ có dấu hiệu stress, lo âu, trầm cảm của PNMT theo các mức độ Biểu đồ 2: Tỷ lệ PNMT có đồng thời từ 2 vấn đề SKTT trở lên

HUPH

Trang 8

TÓM TẮT ĐỀ CƯƠNG

Mang thai là giai đoạn có nhiều thay đổi về mặt thể chất, tinh thần Phụ nữ mang thai thường có nhiều suy nghĩ lo lắng, tâm trạng thay đổi thất thường, từ đó có thể dẫn đến các rối loạn tâm thần, phổ biến nhất là stress, trầm cảm, lo âu Phụ nữ mang thai

là đối tượng dễ bị tổn thương ngay cả khi không có dịch bệnh diễn ra vì vậy các vấn

đề về sức khỏe tâm thần đặc biệt là các dấu hiệu stress, lo lắng, trầm cảm đã rất phổ biến trên thế giới cũng như tại Việt Nam Khi mang thai có dấu hiệu stress, lo lắng, trầm cảm ảnh hưởng đến rất nhiều đến bà mẹ cũng như thai nhi đặc biệt là trầm cảm sau sinh Vì vậy, việc xác định các dấu hiệu stress, lo âu, trầm cảm, cũng như tìm hiểu mối liên quan để có thể đưa ra được những giải pháp khắc phục là việc làm vô cùng

cần thiết Cho nên sinh viên quyết định làm nghiên cứu “Triệu chứng stress, lo âu,

trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản Trung Ương năm

2022 và một số yếu tố liên quan” với hai mục tiêu: (1) Mô tả triệu chứng Stress, lo

âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ Sản Trung Ương năm

2022 (2) Xác định các yếu tố liên quan đến triệu chứng Stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ Sản Trung Ương năm 2022

Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viên Phụ sản Trung Ương Hà Nội từ tháng 4/2022 đến tháng 12/2022 tiếp cận 372 phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện Nghiên cứu mô tả cắt ngang với phương pháp định lượng nhằm mô tả các đặc điểm

cá nhân của đối tượng nghiên cứu (như tuổi, tình trạng nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, …) và sử dụng thang đo DASS-21 để mô tả tình trạng stress, lo âu, trầm cảm của đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích hồi quy đơn biến để phân tích mối liên quan giữa stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai với nhóm đặc điểm khác nhau, kiểm định được thực hiện ở mức ý nghĩa 5%

HUPH

Trang 9

ra rằng “các triệu chứng trầm cảm và lo lắng trước khi sinh gia tăng” cũng có thể làm tăng nguy cơ trầm cảm sau sinh như tỷ lệ nhiễm trùng và bệnh tật trước khi sinh [3][4] Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây cho thấy lo lắng và trầm cảm trước khi sinh có thể gây ra những thay đổi trong hoạt động thể chất, dinh dưỡng, giấc ngủ, tâm trạng của

mẹ và sức khỏe thai nhi, có thể làm tăng nguy cơ sẩy thai, sinh non, thấp hơn cân nặng khi sinh [5][6] Trẻ của những bà mẹ phải chịu đựng căng thẳng cao độ có nguy cơ mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần sau này cao hơn [7][8] Lo lắng và trầm cảm trước khi sinh cũng tương quan với những thay đổi trong sự phát triển và chức năng của não ở trẻ sơ sinh và trẻ em [9][10] Những tác động tâm lý và thần kinh kéo dài này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giảm bớt sự khó chịu trước khi sinh cho cả phụ nữ mang thai và trẻ

sơ sinh của họ Chính vì vậy, việc chủ động quan tâm đến SKTT của PNMT là rất quan trọng

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2020, khoảng 10% PNMT và 13% các

bà mẹ bị rối loạn tâm thần, chủ yếu là trầm cảm [11] Hơn nữa các nghiên cứu của người Thổ Nhĩ Kỳ đã kiểm tra cùng một quần thể PNMT đã kết luận rằng mức độ trầm cảm và lo lắng đã tăng lên đáng kể trong giai đoạn sau [12] Tại Phần Lan, kết quả nghiên cứu về “Mức độ căng thẳng và lo lắng ở PNMT và sau sinh năm 2020” trên 210 PNMT có độ tuổi trung bình 31 tuổi (từ 19 đến 45 tuổi) cho thấy ở những

HUPH

Trang 10

PNMT trong ba tháng đầu thai kì là 82% cho thấy mức độ lo lắng cao hơn so với trong

ba tháng giữa thai kì (74%), và đến ba tháng cuối của thai kì (54%) và chỉ 52% trong giai đoạn hậu sản [13] SKTT trước khi sinh gây ra gánh nặng không chỉ cho bản thân PNMT mà còn cho con của họ [14] Các nghiên cứu cho thấy các vấn đề tâm lý trước khi sinh ảnh hưởng xấu đến em bé Lo lắng liên quan đến căng thẳng khi mang thai có thể dẫn đến thai chết lưu hoặc thai nhi bất thường [15] Hơn nữa, con của những bà mẹ gặp phải tình trạng căng thẳng tâm lý khi mang thai có nhiều khả năng gặp các vấn đề

về nhận thức và hành vi và kỹ năng giao tiếp của họ bị ảnh hưởng đáng kể [16,17].Vì vậy, việc quan tâm đến sức khoẻ tâm thần của PNMT đặc biệt về mức độ lo âu, trầm cảm, stress là vô cùng cần thiết

Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ trầm cảm trước sinh hiện hành cao, dao động từ 12.2% đến 29.1% [18][19] Trong những năm gần Bệnh viện Phụ sản trung ương đang hướng tới việc tập trung đẩy mạnh công tác ứng phó với trầm cảm khi mang thai nhằm nâng cao chất lượng sống cho PNMT đến khám tại bệnh viện Đây là chủ đề mới đã được quan tâm, chú ý nhưng chưa được nghiên cứu ở Việt Nam

Do đó sinh viên quyết định thực hiện nghiên cứu “Triệu chứng stress, lo âu, trầm

cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản Trung Ương năm 2022

và một số yếu tố liên quan” để mô tả thực trạng và một số yếu tố liên quan đến stress,

lo âu, trầm cảm ở PNMT Từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng

tiêu cực đến SKTT của PNMT

HUPH

Trang 11

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Mục tiêu 1: Mô tả triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám

tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2022

Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố liên quan đến triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của

phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương năm 2022

HUPH

Trang 12

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm và định nghĩa

1.1.1 Sức khoẻ tâm thần

Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), sức khỏe tâm thần là nền tảng cho sự khỏe mạnh và hoạt động hiệu quả của các cá nhân SKTT không chỉ là trạng thái không có rối loạn tâm thần, mà còn bao gồm khả năng suy nghĩ, học hỏi và hiểu được cảm xúc của một người và phản ứng của người khác Sức khỏe tâm thần là một trạng thái cân bằng, cả bên trong cơ thể và với môi trường Các yếu tố thể chất, tâm lý, xã hội, văn hóa, tinh thần và các yếu tố liên quan khác đều tham gia vào việc tạo ra sự cân bằng này Có mối liên hệ không thể tách rời giữa sức khỏe tâm thần và thể chất [20]

Sức khỏe tâm thần bao gồm tình cảm, tâm lý và xã hội của chúng ta Nó ảnh hưởng đến cách chúng ta suy nghĩ, cảm nhận và hành động Nó cũng giúp xác định cách chúng ta xử lý căng thẳng, quan hệ với người khác và đưa ra những lựa chọn lành mạnh Sức khỏe tinh thần quan trọng trong mọi giai đoạn của cuộc đời, từ thời thơ ấu

và thanh thiếu niên cho đến khi trưởng thành [21] Các vấn đề SKTT, trong đó có stress, lo âu và trầm cảm là các vấn đề ảnh hưởng trầm trọng đến sức khoẻ không những của phụ nữ mang thai mà còn ảnh hưởng đến trẻ [12]

1.1.2 Vấn đề stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai

Mang thai kéo theo những thay đổi tâm sinh lý sâu sắc ở phụ nữ Do đó, mang thai được biết là thời kỳ nhạy cảm để phát triển các triệu chứng lo âu, trầm cảm và căng thẳng [22]

Trầm cảm (depression) được dùng để mô tả một hội chứng tâm lý đặc trưng bởi khí

sắc trầm hay còn gọi là cảm xúc buồn bã, cùng với đó là đi kèm một số triệu chứng khác duy trì trong một khoảng thời gian kéo dài trên 2 tuần, gây ảnh hưởng đến các hoạt động trong cuộc sống như công việc/học tập, gia đình và xã hội” [23]

Một số phụ nữ có thể bị trầm cảm trước khi mang thai Nhưng nó cũng có thể bắt đầu khi mang thai vì một số lý do - ví dụ, nếu một phụ nữ không hài lòng về việc mang thai hoặc đang phải đối mặt với nhiều căng thẳng trong công việc hoặc ở nhà [24]

HUPH

Trang 13

Lo âu (anxiety) là một rối loạn cảm xúc đặc trưng, được miêu tả “như một cảm giác

khó chịu của nỗi sợ hãi mơ hồ, hay còn là lo sợ đi kèm với những tình trạng tâm lý và sinh lý đặc trưng” Trạng thái lo âu là cảnh báo bản thân có những giải pháp thích hợp

để đối phó với những tình huống căng thẳng Trạng thái này có liên quan đến sự rối loạn của hệ thống thần kinh tạo nên 2 triệu chứng cơ bản về tinh thần (ví dụ: lo lắng,

sợ hãi, khó tập trung ) và thể chất (ví dụ: Tăng nhịp tim, thở gấp, run rẩy ) [25]

Về cơ bản lo âu là cảm giác lo lắng hoặc sợ hãi về những điều có thể xảy ra Nếu lo lắng nhiềucó thể gây căng thẳng khi mang thai PNMT lo lắng sẽ không trở thành một người mẹ tốt hoặc rằng không đủ khả năng để nuôi dạy một đứa trẻ [22].

Stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một yêu cầu, áp lực hay một yếu tố tác

động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thể chất lẫn tinh thần [26]

Năm 1966, nhà tâm lý học Richard S Lazarus đã đưa ra định nghĩa “stress là sự mất cân bằng giữa những yêu cầu và những lực tác động” Theo định nghĩa khác, “stress

có thể được coi là bất kỳ yếu tố, tác động bên trong hay bên ngoài làm cho cơ thể khó

để thích nghi và làm gia tăng nỗ lực lên một phần của con người để duy trì một trạng thái cân bằng cả bên trong và với môi trường bên ngoài” [27]

Nếu đáp ứng cá nhân với các yếu tố stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra được một cân bằng mới, thì những chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý thực thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài [28]

1.2 Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai

1.2.1 Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai trên thế giới

Năm 2022 là năm đại dịch COVID-19 dần phục hồi Trong thời kỳ mang thai và giai đoạn sau sinh là những thời điểm dễ bị tổn thương đối với bản thân người mẹ, dễ gặp các vấn đề về nhận thức và hành vi, trong khi tâm lý lo lắng có thể gây ra những hậu quả tiêu cực cho cả mẹ và con [29][30] Vì vậy, không thể bỏ qua tác động tiềm đối với sức khỏe tâm thần, đặc biệt là ở những nhóm dân cư dễ bị tổn thương [31][32] Phụ nữ mang thai và cho con bú đang phải đối mặt với nhiều thay đổi trong cuộc sống khiến họ

HUPH

Trang 14

đặc biệt dễ bị rối loạn sức khỏe tâm thần Theo Tổ chức Y tế Thế giới, khoảng 10% phụ

nữ mang thai và 13% các bà mẹ bị rối loạn tâm thần, chủ yếu là trầm cảm [33] Một nghiên cứu đa quốc gia lớn về sức khỏe tâm thần trong thời kì mang thai và sau sinh được tiến hành năm 2020 cho thấy từ 4% đến 8% phụ nữ có các triệu chứng trầm cảm từ mức độ trung bình đến rất nặng trong thời kỳ mang thai và sau khi sinh [34] Do đó, điều quan trọng là các rối loạn sức khỏe tâm thần phải được phát hiện và giải quyết kịp thời Một nghiên cứu cắt ngang tại Trung Quốc về “Tình trạng sức khỏe tâm thần của bà

mẹ và các phương pháp tiếp cận thông tin chăm sóc trước sinh năm 2020” trên 1873 phụ

nữ mang thai có độ tuổi trung bình 29 tuổi chỉ ra rằng tỷ lệ cảm thấy căng thẳng, lo lắng

và trầm cảm ở PNMT lần lượt là 89,1%, 18,1% và 45,9% trong số những người tham gia[35] Những lo lắng và sợ hãi này có thể kéo dài căng thẳng và lo lắng ở phụ nữ mang thai và góp phần làm tăng tỷ lệ rối loạn sức khỏe tâm thần [36]

Theo một kết quả nghiên cứu tại Phần Lan về “Mức độ căng thẳng và lo lắng ở phụ

nữ mang thai và sau sinh năm 2020” trên 210 phụ nữ mang thai có độ tuổi trung bình 31 tuổi (từ 19 đến 45 tuổi) cho thấy ở những phụ nữ mang thai trong ba tháng đầu thai kì là 82% cho thấy mức độ lo lắng cao hơn so với trong ba tháng giữa thai kì (74%), và đến

ba tháng cuối của thai kì (54%) và chỉ 52% trong giai đoạn hậu sản [36] Lo lắng và đau khổ có xu hướng cao hơn ở những phụ nữ có tiền sử điều trị tâm thần, những người đang trong ba tháng đầu của thai kỳ và những người đang độc thân hoặc có mối quan hệ không chính thức

Cuộc khảo sát trực tuyến với 715 phụ nữ mang thai từ 18 đến 44 tuổi ở Hoa Kỳ,được thực hiện vào tháng 5 năm 2020 cho thấy rằng vào thời điểm cao điểm của việc cách ly

ở nhà tại nhà ở Hoa Kỳ, ít nhất hai trong số năm người được hỏi trong một mẫu phụ nữ mang thai ở Hoa Kỳ (43,3%) bị trầm cảm hoặc lo lắng, cao hơn ít nhất 2,5 lần so với tỷ

lệ phổ biến ở phụ nữ mang thai [37] Khoảng 36% phụ nữ có thể bị trầm cảm khi mang thai Gần 22% phụ nữ cho biết lo lắng khi mang thai [38]

Một nghiên cứu ở Romania trên 559 phụ nữ mang thai từ tháng 5 đến tháng 10 năm

2020 chỉ ra những hạn chế của đại dịch đã ảnh hưởng đến các hoạt động thường ngày của phụ nữ mang thai liên quan đến đời sống nghề nghiệp, gia đình và xã hội Vì vậy,

HUPH

Trang 15

đối với những phụ nữ mang thai vốn dễ bị tổn thương về mặt tinh thần, những hạn chế này đã ảnh hưởng rất nhiều đến sức khỏe tinh thần của họ Phần lớn những người tham gia nghiên cứu (78,8%) bị ảnh hưởng về mặt tinh thần bởi đại dịch Nhóm lo sợ liên quan đến khả năng mang thai bị ảnh hưởng chiếm ưu thế trong nhóm (45,8%) [39]

1.2.2 Thực trạng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai tại Việt Nam

Ngay khi trường hợp đầu tiên nhiễm COVID-19 được phát hiện trong nước vào đầu tháng 3/2020, Việt Nam đã kiên trì thực hiện chiến lược ngăn chặn, phát hiện, truy vết, khoanh vùng, cách ly và dập dịch để có thể hạn chế thấp nhất nguy cơ đại dịch lây lan ra cộng đồng Bộ Y tế tận dụng tối đa thời gian “vàng” khi thực hiện giãn cách xã hội để tăng tốc làm sạch các ổ dịch nhanh nhất có thể Những thành công của Việt Nam trong kiểm soát dịch bệnh trong giai đoạn đầu đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao [40]

Trong nghiên cứu của Phạm Thị Thu Phương về “Trầm cảm, lo âu và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai tại thành phố Hồ Chí Minh” vào tháng 4 năm 2019 [41] cho biết trầm cảm, lo âu là phổ biến ở PNMT, gần một phần tư thai phụ có các dấu hiệu trầm cảm (24,0%) và một phần sáu thai phụ có các dấu hiệu lo âu (16,0%) Tỷ lệ trầm cảm cao hơn được tìm thấy ở thai phụ có nghề nghiệp là viên chức/văn phòng(p=0,038) hoặc nghề nghiệp khác (p=0,019), tình trạng mẹ đơn thân (p=0,007), tình trạng kinh tế nghèo (p=0,005) Tỷ lệ lo âu cao hơn được tìm thấy ở thai phụ có nghề nghiệp là nội trợ (p=0,024), tình trạng mẹ đơn thân (p<0,001)

Ở Việt Nam còn hạn chế số lượng nghiên cứu về vấn đề SKTT của PNMT.Tuy nhiên có một vài nghiên cứu chỉ ra tác động đến stress, lo âu, trầm cảm của một số nhóm đối tượng khác như Theo báo cáo “Đánh giá nhanh về tác động kinh tế - xã hội của năm

2020 đối với các hộ gia đình dễ bị tổn thương ở Việt Nam” do Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam Có tới 66,4% hộ gia đình cho biết tinh thần lo lắng Các vấn đề về sức khỏe tinh thần rất đa dạng, từ việc cảm thấy thỉnh thoảng lo lắng trong ngày (41%) hộ gia đình được phỏng vấn), lo lắng suốt cả ngày (29%), khó ngủ (10,8%), không thể thư giãn (7,3%) và dễ trở nên khó chịu hoặc cáu kỉnh (6,8%), và cảm thấy chán nản (6,5%) Các nữ chủ hộ gia đình dường như bị ảnh hưởng nhiều hơn về mặt

HUPH

Trang 16

tinh thần 81,6% nữ chủ hộ có vấn đề về sức khỏe tinh thần, trong khi tỷ lệ này của nam chủ hộ là 62,8% Vấn đề với các nữ chủ hộ trở nên nghiêm trọng hơn khi 21,3% nữ chủ hộ, chiếm một phần 5, cảm thấy khó ngủ Trong khi đó, con số này chỉ ở mức 8,3% nam chủ hộ cảm thấy khó ngủ Chỉ 26,3% nam chủ hộ lo lắng suốt cả ngày, trong khi tới gần một nửa nữ chủ hộ đối mặt với cùng một vấn đề, ở mức 41,3%

Một trong số rất ít các nghiên cứu về tác động tâm lý ở Việt Nam do Lê Thị Thanh Xuân và đồng nghiệp (2020) thực hiện vào tháng 4/2020 khi dịch bệnh lần đầu tiên bùng phát Nghiên cứu nhằm đo lường tác động tâm đối với các nhóm dân cư và các yếu tố ảnh hưởng Kết quả cho thấy trong tổng số 1.423 người tham gia khảo sát, có 233 người (16,4%) bị tổn thương tâm lý ở cấp độ thấp; 76 người (5,3%) ở cấp độ trung bình và 77 người (5,4%) ở cấp độ cao Kết quả cho thấy phụ nữ, 45 tuổi trở lên hoặc đông con chịu

áp lực nhiều hơn về tinh thần Người tự kinh doanh, thất nghiệp hoặc nghỉ hưu trải qua tâm trạng lo lắng, căng thẳng hơn so với những nhóm khác Những trường hợp phải đi cách ly hoặc sống trong khu vực phong tỏa chịu tác động tiêu cực nhiều hơn, mặc dù đây

là biện pháp bất đắc dĩ nhằm hạn chế sự lây lan của dịch bệnh Từ kết quả thu được, các tác giả khuyến cáo việc thực hiện sàng lọc các tổn thương tâm lý và giám sát dịch tễ học, đặc biệt trong các nhóm bị tác động mạnh của đại dịch, để có các biện pháp can thiệp và

hỗ trợ kịp thời

1.3 Một số yếu tố liên quan đến Stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai

1.3.1 Yếu tố nhân khẩu học

Một số nghiên cứu đã chứng minh được rằng các yếu tố nhân khẩu học – xã hội học của đối tượng có ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần của phụ nữ mang thai, bao gồm: tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thu nhập, tình trạng hôn nhân, và các yếu tố khác

HUPH

Trang 17

mẹ trả lời trẻ hơn [44], trong khi nghiên cứu tại thời gian tương tự của Shevlin M về

“Lo lắng, trầm cảm, căng thẳng sau chấn thương và lo của người dân tại Vương quốc Anh” lại cho thấy những người khác báo cáo mức độ lo lắng cao nhất ở người cao tuổi [45]

Trình độ học vấn

Nghiên cứu của Hatice Kahyaoglu Sut về “Lo lắng, trầm cảm và các yếu tố liên quan ở phụ nữ mang thai ở Thổ Nhĩ Kỳ” vào tháng 6 năm 2020 trên đối tượng mang thai cho thấy trình độ học vấn thấp hơn có xu hướng gây ra mức độ lo lắng và căng thẳng cao hơn [46]

Ngược lại, Trong nghiên cứu của Ilenia Mappa về “Ảnh hưởng của đại dịch coronavirus 19 đối với sự lo lắng của bà mẹ khi mang thai” tại Italia vào tháng 3 năm

2020 cho thấy rằng giáo dục đại học có thể là một yếu tố nguy cơ của mức độ lo lắng cao ở những người mang thai [47]

Tình trạng hôn nhân

Nghiên cứu của Anna Stepowicz và cộng sự (2020) tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng hôn nhân và mức độ lo lắng được đo bằng trạng thái STAI (p = 0,02), cho thấy mức độ lo lắng cao được tìm thấy ở 55% phụ nữ mang thai

đã kết hôn, so với 71% đối tác của họ là những người độc thân/đang trong một mối quan hệ không chính thức [10]

Một nghiên cứu tại Phần Lan năm 2020 cũng chỉ ra mức độ căng thẳng lo lắng ở phụ nữ mang thai cao hơn ở những người đang độc thân hoặc có mối quan hệ không chính thức [36]

Tình trạng nghề nghiệp

Tình trạng nghề nghiệp dường như cũng có tác động đến mức độ lo lắng và căng thẳng Mặc dù làm việc trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe có thể đã bảo vệ phụ nữ ở một mức độ nào đó, nhưng việc thất nghiệp khiến phụ nữ có nguy cơ cao gặp phải tình trạng đau khổ về tinh thần [48]

HUPH

Trang 18

Số con

Trong nghiên cứu của Heidi Preis về “Căng thẳng và lo lắng khi mang thai liên quan đến đại dịch ở phụ nữ mang thai năm 2020” làm vào tháng 4 năm 2020 cho thấy phụ nữ mang thai sinh nhiều con có nhiều khả năng bị ít nhất một trong 3 dạng rối loạn sức

khỏe tâm thần được đánh giá, so với những phụ nữ sinh ít con hơn [43]

Khu vực sống

Phụ nữ mang thai sống ở nông có nhiều khả năng bị ít nhất một trong 3 dạng rối loạn

sức khỏe tâm thần được đánh giá, so với những phụ nữ mang thai sống ở thành thị [43] Hút thuốc lá

Nghiên cứu của Michael Ceulemans và cộng sự (2020) về “Tình trạng sức khỏe tâm thần của phụ nữ mang thai và cho con bú” vào tháng 6 năm 2020 chỉ ra khả năng xuất hiện các triệu chứng trầm cảm chính cao hơn ở phụ nữ mang thai có hút thuốc lá [49]

1.3.2 Yếu tố đặc điểm sức khỏe và sinh sản

Tiền sử điều trị tâm thần

Một nghiên cứu của John Allotey về “Biểu hiện lâm sàng, các yếu tố nguy cơ và kết quả của bà mẹ và chu sinh của bệnh coronavirus 2019 trong thai kỳ: tổng quan hệ thống sống và phân tích tổng hợp” vào tháng chỉ ra mức độ căng thẳng cao phổ biến hơn nhiều

ở những bà mẹ có tiền sử điều trị tâm thần (69%) so với những người không có (39%) [50]

Thai kỳ

Nghiên cứu của Anna Stepowicz và cộng sự (2020) và nghiên cứu của Saccon đều chỉ ra rằng mức độ lo lắng của phụ nữ trong ba tháng đầu cao hơn so với giai đoạn sau của thai kỳ hoặc sau khi sinh [13]

Tình trạng mang thai

Trong nghiên cứu của Heidi Preis về “Căng thẳng và lo lắng khi mang thai liên quan

HUPH

Trang 19

đến đại dịch ở phụ nữ mang thai trong đại dịch coronavirus 2019” làm vào tháng 4 năm

2020 cho thấy các triệu chứng lo âu cũng dễ xảy ra hơn ở phụ nữ mang thai ngoài ý muốn trong thời kì dịch bệnh [43]

Theo dõi thai kỳ

Việc tiếp cận với các dịch vụ y tế bị hạn chế trong thời kỳ đại dịch có thể đã ngăn cản những phụ nữ mắc bệnh mãn tính đến gặp bác sĩ, có khả năng góp phần làm tăng gánh nặng tâm lý [49] [51]

Điều quan trọng là, 53% phụ nữ mang thai cho biết đại dịch coronavirus ảnh hưởng đến quá trình theo dõi thai kỳ hiện tại của họ ở một mức độ nào đó Trong số đó, ít nhất 60% cho biết ít được nữ hộ sinh (65%) và bác sĩ sản khoa (62%) theo dõi hơn so với trước đại dịch [51]

1.3.3 Yếu tố văn hóa – xã hội

Sự hỗ trợ của gia đình

Hỗ trợ từ gia đình được định nghĩa là sự hỗ trợ từ tất cả các thành viên trong gia đình bao gồm: chồng, cha mẹ và anh chị em ruột, anh chị em bên chồng Một số nghiên cứu cho thấy phụ nữ thiếu sự hỗ trợ gia đình thì nguy có TCSS cao hơn so với những phụ nữ được gia đình hỗ trợ

Nghiên tổng hợp từ 20 bài báo của Lancaster và cộng sự năm 2010 đã đề cập đến mối quan hệ giữa hỗ trợ gia đình và trầm cảm khi mang thai Nghiên cứu đã chứng minh rằng thiếu sự hỗ trợ xã hội có liên quan đến trầm cảm khi mang thai Thiếu sự hỗ trợ của chồng hoặc bạn tình có liên quan đến nguy cơ làm tăng trầm cảm khi mang thai [52] Nghiên cứu của Xuehan Dong và cộng sự năm 2013 cho thấy những phụ nữ không được hỗ trợ từ chồng hoặc bạn tình thì nguy cơ bị trầm cảm trong thai kỳ cao gấp gần 4 lần so với những phụ nữ được hỗ trợ thường xuyên từ chồng/bạn tình (OR=3,57; 95% CI: 1,37- 9,57)

Áp lực từ giới tính của thai nhi

Sự ưa thích con trai được coi là một vấn đề phổ biến tại một số nước châu Á, đặc biệt là ở các vùng nông thôn ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nepal và Pakistan [53]

HUPH

Trang 20

Ở Việt Nam, bố mẹ thường sống với con trai và gần như con trai phải kiếm tiền và nuôi dưỡng cha mẹ khi tuổi già và nối dõi tông 28 đường, trong khi đó con gái lớn đi lấy chồng và thường sống ở nhà chồng Hơn nữa, hiện nay chính sách về kế hoạch hóa gia đình của nhà nước là sinh hai con, nên áp lực sinh con trai đối với phụ nữ là rất lớn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của phụ nữ Giống như Việt Nam, ở Trung Quốc, việc yêu thích con trai hơn con gái là phổ biến, đặc biệt là ở vùng nông thôn Bởi vì Trung Quốc thiếu một hệ thống an sinh xã hội, cha mẹ dựa vào con trai về kinh tế khi họ về già và con trai thì có nhiệm vụ quan trọng là nối dõi tông đường Chính điều này đã tạo nên những áp lực nặng nề đối với người phụ nữ và ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe tâm thần của họ Như trong nghiên cứu của Xie và cộng sự trên phụ nữ sau sinh 6 tuần cho thấy: những phụ nữ sinh ra bé gái thì nguy cơ bị trầm cảm cao gấp gần 3 lần khi so sánh với những phụ nữ sinh con trai (OR=2,80; 95%CI: 1,30–6,03) [54] Trong giới hạn khóa luận này, sinh viên sẽ tập trung tìm hiểu về yếu tố nhân khẩu học, đặc điểm sức khỏe và sinh sản, văn hóa – xã hội

1.4 Một số thang đo sử dụng trong đánh giá sức khoẻ tâm thần

1.4.1 Thang đo trầm cảm (PHQ-9) và rối loạn lo âu (PHQ-7)

Thang đo trầm cảm PHQ-9: Bảng câu hỏi bệnh nhân này là phiên bản tự quản lý

của công cụ chẩn đoán PRIME-MD cho các rối loạn tâm thần thông thường PHQ-9 không phải là một công cụ sàng lọc bệnh trầm cảm nhưng nó được sử dụng để theo dõi mức độ nghiêm trọng của trầm cảm và đáp ứng với điều trị Với tổng điểm từ 0-27, theo

đó các mức độ trầm cảm sẽ được đánh giá như sau: Mức độ nghiêm trọng: 0-4 không,

5-9 nhẹ, 10-14 vừa, 15-15-9 vừa phải nặng, 20-27 nặng [55] PHQ-5-9 đã được chuẩn hóa tại Việt Nam và được sử dụng trong những nghiên cứu đánh giá về sức khỏe tâm thần

Thang đo rối loạn lo âu (PHQ-7): PHQ-7 được Spitzer RL cùng các cộng sự giới

thiệu vào năm 2006 gồm tiểu 7 mục với tổng điểm từ 0 – 21 PHQ-7 là một công cụ hữu ích với tiêu chí mạnh mẽ để xác định các trường hợp có thể xảy ra rối loạn lo âu tổng quát [56] Tại Việt Nam bộ công cụ này đã được chuẩn hóa và sử dụng trong một số

nghiên cứu để đánh giá tình trạng sức khỏe tâm thần

1.4.2 Thang đo trầm cảm, lo lắng và căng thẳng (DASS-21)

DASS-21 (Depression Anxiety and Stress Scales) là thang đánh giá được phát triển

bởi các nhà khoa học thuộc Đại học New South Wales (University of New South Wales), Australia DASS-21 có thể được dùng trong tầm soát và đánh giá mức độ trầm cảm, lo âu và stress Thang đo DASS 21 đã được Viện Sức khoẻ tâm thần Quốc gia biên

HUPH

Trang 21

dịch, thử nghiệm trên một số đối tượng nghề nghiệp khác nhau [57] Thang đo DASS 21

đã được nhiều nghiên cứu đánh giá về tính giá trị, độ tin cậy và khẳng định có thể áp dụng tại Việt Nam, không có sự khác biệt về mặt văn hoá [58]

1.4.3 Thang đo mức độ căng thẳng cảm nhận (PSS-10)

Thang đo mức độ căng thẳng cảm nhận (PSS-10) là một bảng câu hỏi gồm 10 mục được phát triển ban đầu bởi Cohen et al (1983) và được dịch sang hơn 20 ngôn ngữ và được sử dụng rộng rãi để đánh giá mức độ căng thẳng ở thanh niên, người lớn từ 12 tuổi trở lên [55] Nó đánh giá mức độ mà một cá nhân cảm nhận cuộc sống là không thể đoán trước, không thể kiểm soát và quá tải so với tháng trước Trong mỗi trường hợp, những người được hỏi được hỏi mức độ thường xuyên họ cảm thấy theo một cách nào đó

1.4.4 Chỉ số 5 sức khỏe tốt của WHO (WHO-5)

Thang đo chỉ số Sức khỏe của WHO-5 là một thang đánh giá toàn cầu ngắn và chung đo lường mức độ hạnh phúc chủ quan [59] WHO coi hạnh phúc tích cực là một thuật ngữ khác của sức khỏe tâm thần, WHO-5 chỉ bao gồm các mục tích cực Các mục WHO-5 là: (1) 'Tôi cảm thấy vui vẻ và có tinh thần tốt', (2) 'Tôi cảm thấy bình tĩnh và thoải mái', (3) 'Tôi cảm thấy năng động và tràn đầy sức sống', (4) 'Tôi thức dậy cảm thấy sảng khoái và nghỉ ngơi 'và (5)' Cuộc sống hàng ngày của tôi tràn ngập những điều khiến tôi thích thú ' Người trả lời được yêu cầu đánh giá mức độ áp dụng của mỗi câu trong số

5 câu đối với họ khi xem xét 14 ngày qua Mỗi mục trong số 5 mục được cho điểm từ 5 (mọi lúc) đến 0 (không mục nào) Do đó, về mặt lý thuyết, điểm thô dao động từ 0 (không có sức khỏe) đến 25 (hạnh phúc tối đa) Vì các thang đo chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe được quy ước thành thang phần trăm từ 0 (không có) đến 100 (tối đa), nên nhân điểm thô với 4

Một số nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng thang đo này để đánh giá cơ bản về sức khỏe tâm thần của các thành viên trong gia đình bị ảnh hưởng bởi COVID-19 như trong nghiên cứu của Solmi M và cộng sự tại 11 quốc gia trên thế giới hay nghiên cứu tại Nhật Bản của Saito M [60] [61]

1.4.5 Thang đo đánh gia mức độ trầm cảm sau sinh (EPDS)

Trầm cảm được sàng lọc bằng thang đo EPDS (Edinburgh Postnatal Depression Scale) Thang đo để đo trầm cảm trong khi mang thai và sau sinh [62] Thang đo bao gồm 10 câu hỏi, 52 tìm hiểu về cảm nhận của phụ nữ trong vòng 7 ngày vừa qua bao gồm tâm trạng phiền muộn, cảm giác bị tội, lo âu và ý tưởng tự sát Mỗi câu hỏi gồm 4 lựa chọn trả lời, tính theo thang điểm từ 0 đến 3 điểm, trong đó: câu 1, 2 và 4: cách tính điểm cho các đáp án tăng dần từ 0 đến 3; câu 3, 5 -10 được cho điểm ngược lại, điểm số cho câu trả lời giảm dần từ 3 đến 0 điểm cho đáp án cuối Tổng điểm của bộ câu hỏi từ 0

HUPH

Trang 22

đến 30 điểm, điểm càng cao thì mức độ trầm cảm càng tăng Gibson và cộng sự đã tiến hành tổng quan 37 nghiên cứu chuẩn hóa bộ công cụ EPDS ở các quốc gia trên thế giới

và đưa ra khuyến nghị sử dụng điểm cắt 9/10 Thang này lần đầu tiên được dịch sang tiếng Việt năm 1999 và được đánh giá trong một nghiên cứu của Úc về TCSS trên cộng đồng người Việt

1.4.6 Đánh giá các thang đo đã chọn

Bảng 1: So sánh các loại thang đo trong nghiên cứu về sức khỏe tâm thần

Các đối tượng được sử dụng thang đo

 Độ tin cậy cao

 Được chuẩn hóa và dịch sang Tiếng Việt

Được sử dụng rộng rãi tại nhiều nhóm

tuổi

Chỉ đánh giá được chỉ

số trầm cảm và rối loạn lo âu

DASS-21

 Được dịch và chuẩn hóa sang tiếng Việt

 Được chứng minh phù hợp với nhóm phụ nữ mang thai

 Tìm hiểu được cả 3 biểu hiện: căng thẳng, lo âu, trầm cảm

Được sử dụng ở nhiều nhóm đối tượng, trong đó

có phụ nữ mang thai

Số lượng câu hỏi dài, tuy nhiên xác định được cả 3 yếu tố sức khỏe tâm thần

 Độ tin cậy cao

 Được chuẩn hóa

và dịch sang Tiếng Việt

Được sử dụng ở nhiều nhóm đối tượng

Chủ yếu tập trung mức độ căng thẳng

Chưa có bản Tiếng Việt được chuẩn hóa

Ít nghiên cứu sử dụng

5 EDPS

 Độ tin cậy cao

 Có giá trị trong việc sang lọc trầm cảm trước và sau sinh

 Được dịch sang tiếng Việt

Phù hợp với bà mẹ mang thai và sau sinh

Chủ yếu tập trung đánh giá mức độ trầm cảm sau sinh

HUPH

Trang 23

Dựa trên đánh giá so sánh và nhận ra điểm mạnh và điểm yếu của từng công cụ, nghiên cứu sử dụng các phiên bản thích hợp của DASS-21 vì các lý do như sau:

Bộ công cụ DASS-21: Đây là bộ công cụ dễ trả lời, rất thuận tiện khi sử dụng và có tính ứng dụng linh hoạt ở các nước có nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là chỉ mất khoảng thời gian ngắn (10 - 15 phút) để tự đánh giá, phù hợp cho đối tượng tham gia nghiên cứu

là phụ nữ mang thai [63] Đồng thời, DASS-21 được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu đánh giá mức độ lo lắng, trầm cảm, căng thẳng thế giới cũng như ở Việt Nam Bên cạnh đó, bộ công cụ này cũng đã có bản dịch tiếng Việt và được tác giả Đỗ Thị Như Huyền sử dụng trong nghiên cứu “THỰC TRẠNG TRẦM CẢM, LO ÂU, STRESS VÀ CÁC BIỆN PHÁP ỨNG PHÓ CỦA PHỤ NỮ ĐẾN PHÁ THAI NGOÀI 3 THÁNG ĐẦU TẠI BỆNH VIỆN PHỤ SẢN HÀ NỘI NĂM 2021” Đặc biệt khi sử dụng thang đo này, có thể khai thác được cả 3 khía cạnh sức khỏe tâm thần: cẳng thẳng,

lo lắng, trầm cảm mà ở các thang đo khác không đáp ứng được đầy đủ

1.5 Địa bàn nghiên cứu

Bệnh viện phụ sản Trung Ương được xây dựng tại địa chỉ 43 Tràng Thi, Hoàn Kiếm, Hà Nội Bệnh viện thành lập từ năm 1955 Lần đầu tiên tại Việt Nam có một Viện chuyên ngành nghiên cứu tình trạng sinh lý, bệnh lý của phụ nữ, của các bà mẹ và trẻ sơ

sinh, hướng tới mục tiêu “Bảo vệ tốt sức khoẻ phụ nữ, các bà mẹ và trẻ sơ sinh, góp

phần vào việc giải phóng phụ nữ, phát triển sản xuất, bảo vệ thế hệ tương lai của Tổ quốc” Đến năm 2003, nhu cầu được chăm sóc sức khỏe sinh sản, khám bệnh, chữa

bệnh của nhân dân ngày một lớn, đòi hỏi phải có sự chuyển đổi cả về tính chất, quy mô của Viện Ngày 18/6/2003 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ký Quyết định 2212/QĐ-BYT đổi tên Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh thành bệnh viện Phụ - Sản Trung ương trực thuộc Bộ

Y tế, tiếp tục thực hiện những chức năng, nhiệm vụ trước đây của Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh với những đòi hỏi cao hơn đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ khám, chữa bệnh trong tình hình mới

Bệnh viện Phụ – Sản Trung ương hiện là cơ sở đầu ngành về chuyên ngành phụ sản, sinh đẻ kế hoạch và sơ sinh Bên cạnh đó, đây còn là nơi đảm nhiệm đào tạo đại học, sau đại học; nghiên cứu khoa học Ngoài ra, bệnh viện còn nhận trọng trách chỉ đạo tuyến và chuyển giao công nghệ về chuyên ngành phụ sản, sơ sinh trong phạm vi cả nước [64] Một ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 500-550 bệnh nhân đến khám, trong đó có

360 PNMT Trong những năm gần đây, bệnh viện cũng đã cung cấp những thông tin liên quan đến COVID-19 trong thời kỳ mang thai trên những trang thông tin đại chúng và đã

tổ chức khám và tiêm chủng cho các PNMT đủ điều kiện tiêm chủng Tuy nhiên, công tác hỗ trợ các vấn đề sức khoẻ tâm thần cho PNMT hiện vẫn còn chưa được bệnh viện chú trọng do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân do thiếu số liệu làm cơ sở cho

HUPH

Trang 24

việc can thiệp

1.6 Khung lý thuyết

Yếu tố đặc điểm sức khỏe và sinh sản

- Tiền sử điều trị tâm thần

- Thai kỳ

- Tình trạng mang thai

- Theo dõi thai kì

Yếu tố nhân khẩu học

Yếu tố văn hóa – xã hội

- Sự hỗ trợ từ gia đình

- Áp lực giới tính thai nhi

HUPH

Trang 25

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng, thời gian và địa điểm nghiên cứu

Phụ nữ mang thai khám thai tại Bệnh viện phụ sản Trung Ương

Tiêu chuẩn lựa chọn:

- Phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương từ đủ 18 tuổi trở lên

- Phụ nữ mang thai từ khi phát hiện mang thai đến trước sinh

Tiêu chuẩn loại trừ:

- Người không có khả năng nói, nghe, không trả lời được hoặc đang điều trị tâm thần ở một cơ sở điều trị chuyên sâu về tâm lý

- Người không đồng ý tham gia nghiên cứu

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu:

Toàn bộ quỹ thời gian của nghiên cứu từ tháng 4/2022 đến tháng 12/2022 nghiên cứu

dự kiến tiến hành thu thập số liệu trong thời gian từ tháng 06/2022 đến tháng 07/2022 tại Bệnh viện Sản Trung Ương

2.3 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang

2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu:

Cỡ mẫu:

Số lượng người trong nghiên cứu được tính theo công thức:

𝑛 =

𝑧1−𝛼 2

2 × 𝑝(1 − 𝑝)

𝑑2n: Cỡ mẫu

a: Chọn mức ý nghĩa thống kê 95%, có α = 0,05

Z: Hệ số tin cậy, với α = 0, 05 độ tin cậy là 95%, tra bảng ta có Z = 1,96

P: Theo nghiên cứu của Fatemeh Effati-Daryani thực hiện tại Iran năm 2019 [65] thì tỉ lệ phụ nữ mang thai có triệu chứng của trầm cảm, cẳng thẳng, lo lắng lần lượt là 32,7%, 32,7% và 43,9% Do vậy chọn P trong nghiên cứu này là 0,673 để thu được cỡ mẫu lớn nhất

d: Sai số tuyệt đối (lấy d=0,05)

Thay vào công thức ta được n= 388

HUPH

Trang 26

Cộng thêm 10% dự phòng Vậy cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu này là 372 người

Phương pháp chọn mẫu

Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện Toàn bộ người bệnh đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn vào thời điểm thu thập số liệu sẽ được mời tham gia vào nghiên cứu Theo quan sát và ghi nhận trước đây tại Bệnh viện Phụ sản Trung Ương, trung bình mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận khoảng 360 PNMT vào khám Do vậy, việc thu thập đủ mẫu trong thời gian 1 tháng là hoàn toàn khả thi

2.5 Bộ công cụ sử dụng và các biến số nghiên cứu

Bộ công cụ gồm 3 phần: thông tin chung, yếu tố văn hoá - xã hội và thang đo DASS 21 Thang đo DASS - 21 (Depression, Anxiety, Stress Scale 21) là bộ công cụ tự điền bao gồm 21 câu hỏi chia làm 3 phần (7 câu hỏi/phần)

DASS – S (Stress): Đo lường căng thẳng bao gồm câu hỏi 1, 6, 8, 11, 12, 14, 18

DASS – A (Anxiety): Đo lường lo âu bao gồm các câu hỏi 2, 4, 7, 9, 15,19, 20

DASS – D (Depression): Đo lường trầm cảm bao gồm các biểu 3, 5, 11, 13,16, 17, 21 Đối với mỗi câu hỏi sẽ có 4 phương án trả lời: 0 – Không đúng; 1 – Đúng một phần hoặc đôi khi có xảy ra; 2 – Khá đúng và cũng thường xảy ra; 3 – Rất đúng và thường xuyên xảy ra Điểm của từng thang đo DASS-S, DASS-A, DASS-D, DASS – 21 là tổng điểm của các câu

Bảng 2 Bảng biến số nghiên cứu

thập Thông tin chung

1 Tuổi Tuổi dương lịch của đối

tượng nghiên cứu tính bằng năm hiện tại trừ năm sinh

Liên tục Bộ câu hỏi

2 Trình độ học vấn Cấp học cao nhất đối Danh mục Bộ câu hỏi

HUPH

Trang 27

tượng nghiên cứu đã hoàn thành

3 Tình trạng hôn

nhân

Tình trạng hôn nhân hiện tại của đối tượng nghiên cứu

Danh mục Bộ câu hỏi

4 Tình trạng nghề

nghiệp

Tình trạng công việc hiện tại của đối tượng nghiên cứu

Thứ bậc Bộ câu hỏi

5 Số con Số con đối tượng nghiên

cứu đã sinh ra cho đến thời điểm hiện tại

Thứ bậc Bộ câu hỏi

6 Khu vực sống Địa điểm đang sống hiện

tại của đối tượng nghiên cứu

Thứ bậc Bộ câu hỏi

7 Sử dụng thuốc lá Đối tượng nghiên cứu có

từng hút thuốc lá ít nhất một lần trong thời gian mang thai

Nhị phân Bộ câu hỏi

Đánh giá sức khỏe tâm thần dựa trên thang đo DASS-21

1 Mức độ Stress Mức độ stress của ĐTNC

theo thang điểm DASS 21 (không stress, stress nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng)

Thứ bậc Thang đo DASS-21

2 Mức độ lo âu Mức độ lo âu của ĐTNC

theo thang điểm DASS 21 (không lo âu, lo âu nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng)

Thứ bậc Thang đo DASS-21

3 Mức độ trầm cảm Mức độ trầm cảm của

ĐTNC theo thang điểm DASS 21 (không trầm cảm, trầm cảm nhẹ, vừa, nặng hoặc rất nặng)

Thứ bậc Thang đo DASS-21

Yếu tố sức khỏe và sinh sản

HUPH

Trang 28

1 Tiền sử điều trị

tâm thần

Đối tượng nghiên cứu đã từng đến bệnh viện khám và điều trị bệnh tâm thần

Nhị phân Bộ câu hỏi

2 Nhóm thai kì Đối tượng nghiên cứu đang

mang thai tháng thứ mấy

Danh mục Bộ câu hỏi

4 Theo dõi thai kỳ Sự theo dõi thai kỳ của đối

tượng nghiên cứu tại các cơ

Định danh Bộ câu hỏi

2 Áp lực về giới

tính của thai nhi

Sự mong muốn của những người xung quanh về giới tính của thai nhi

Nhị phân Bộ câu hỏi

2.6 Tiêu chuẩn đánh giá

Kết quả được phân tích theo điểm trung bình của tổng điểm nhân 2 ở mỗi loại rối loạn với các mức độ:

Bảng 3 Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu và stress

Trang 29

Theo đó, điểm tối thiểu và tối đa của ba thang đo DASS – S, DASS – A, DASS – D là 0 – 21 điểm và thang DASS – 21 là 0 – 63 điểm Điểm càng cao thì càng có nhiều dấu hiệu SKTT

2.7 Phương pháp thu thập số liệu

Phỏng vấn bằng bộ câu hỏi

- Thời gian thu thập: Việc thu thập số liệu diễn ra sau 9 giờ sáng và 15 giờ chiều sau khi các bác sĩ và điều dưỡng thực hiện xong các công việc thăm khám chuyên môn cho người bệnh trong các ngày thu nhập số liệu

- Phương pháp thu thập: Thực tế khi tiến hành thu thập số liệu định lượng vào giữa tháng 6/2022 tình hình dịch Covid – 19 trong nước ở giai đoạn ổn định và việc di chuyển giữa địa bàn nghiên cứu tại Hà Nội diễn ra thuận tiện nên nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại nơi chờ khám của bệnh viện Nghiên cứu viên giới thiệu mục đích nghiên cứu và tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối tượng tham gia nghiên cứu bằng bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Điều tra viên rà soát lại các thông tin trong phiếu trả lời sau khi đối tượng trả lời xong thông tin Tất cả các phiếu trả lời của đối tượng tham gia nghiên cứu được giữ bảo mật

- Giám sát thu thập thông tin: Ngay sau mỗi buổi phỏng vấn, điều tra viên nộp phiếu điều tra cho nghiên cứu viên để kiểm tra, quản lý về số lượng, chất lượng của phiếu điều tra Nghiên cứu viên sẽ kiểm tra thông tin 100% số phiếu thu được hằng ngày, nếu có thiếu sót yêu cầu bổ sung, hoàn chỉnh Các phiếu phát vấn được coi là hợp lệ khi trả lời

đủ các câu hỏi trong phiếu và mỗi câu hỏi chỉ chọn một đáp án trả lời duy nhất

2.8 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu được nhập và làm sạch bằng phần mềm Epidata 3.1 và sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu Nhóm nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả nhằm mô tả đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu (như tuổi, tình trạng nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân,…) Thống kê phân tích cụ thể là hồi quy đơn biến để phân tích mối liên quan giữa stress, lo âu, trầm cảm của PNMT với nhóm đặc điểm khác nhau các kiểm định được thực hiện ở mức ý nghĩa 5%

2.9 Sai số trong nghiên cứu và cách khắc phục

Sai số thông tin

Cố tình trả lời sai do người bệnh không muốn cung cấp thông tin

Bộ câu hỏi được thử nghiệm và điều chỉnh trước khi điều tra

Có hướng dẫn điền phiếu cụ thể và giải thích các thuật ngữ mới

HUPH

Trang 30

Do người nhập liệu: nhìn nhầm, nhập sai, không chú ý tới bước chuyển trong quá trình nhập

Xây dựng những ràng buộc cho phần mềm nhập liệu Epidata tương ứng với câu hỏi

Kiểm tra ngẫu nhiên phiếu đã nhập với phần nhập trên phần mềm Epidata

Sai số nhớ lại Do đối tượng nhớ nhầm nên trả

lời sai câu hỏi

Giới hạn khoảng thời gian trong các câu hỏi về hành vi để hạn chế sai số nhớ lại

2.10 Đạo đức nghiên cứu

Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích tất cả các thông tin liên quan đến nghiên cứu như mục đích, nội dung nghiên cứu để đối tượng tham gia tự nguyện và cung cấp các thông tin chính xác Tất cả thông tin của đối tượng sẽ đượng giữ bảo mật Mọi từ chối trả lời đều được chấp nhận Cam kết mọi kết quả sau khi nghiên cứu và công bố là chính xác, khách quan, không chịu tác động của bất kì người, nhóm người, tổ chức nào vì lợi ích tài chính, chuyên môn, cá nhân Kết quả nghiên cứu chỉ nhằm phục vụ cho y học và sức khỏe cộng đồng

Nghiên cứu được chỉ được thực hiện sau khi thông qua Hội đồng đạo đức trong lĩnh vực y sinh trường Đại học Y tế công cộng

HUPH

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Bảng biến số nghiên cứu - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 2. Bảng biến số nghiên cứu (Trang 26)
Bảng 3. Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu và stress - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3. Phân loại mức độ trầm cảm, lo âu và stress (Trang 28)
Bảng 3.5 Tỷ lệ có dấu hiệu Stress của phụ nữ mang thai theo nhân khẩu học. - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.5 Tỷ lệ có dấu hiệu Stress của phụ nữ mang thai theo nhân khẩu học (Trang 35)
Bảng 3.6 Tỷ lệ có dấu hiệu Lo âu của phụ nữ mang thai theo theo nhân khẩu học. - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.6 Tỷ lệ có dấu hiệu Lo âu của phụ nữ mang thai theo theo nhân khẩu học (Trang 36)
Bảng 3.7 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo theo nhân khẩu  học - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.7 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo theo nhân khẩu học (Trang 37)
Bảng 3.8 Mức độ xuất hiện vấn đề SKTT của phụ nữ mang thai theo theo nhân - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.8 Mức độ xuất hiện vấn đề SKTT của phụ nữ mang thai theo theo nhân (Trang 38)
Bảng 3.11 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức khỏe - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.11 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức khỏe (Trang 41)
Bảng 3.12 Mức độ xuất hiện vấn đề SKTT của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.12 Mức độ xuất hiện vấn đề SKTT của phụ nữ mang thai theo đặc điểm sức (Trang 41)
Bảng 3.13 Tỷ lệ có dấu hiệu Stress của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn hóa xã - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.13 Tỷ lệ có dấu hiệu Stress của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn hóa xã (Trang 42)
Bảng 3.15 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.15 Tỷ lệ có dấu hiệu Trầm cảm của phụ nữ mang thai theo đặc điểm văn (Trang 43)
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa yếu tố theo nhân khẩu với dấu hiệu Lo âu của PNMT - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.18 Mối liên quan giữa yếu tố theo nhân khẩu với dấu hiệu Lo âu của PNMT (Trang 45)
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa yếu tố theo nhân khẩu học với dấu hiệu Trầm cảm - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.19 Mối liên quan giữa yếu tố theo nhân khẩu học với dấu hiệu Trầm cảm (Trang 46)
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa yếu tố sức khỏe và sinh sản với dấu hiệu Stress của - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.20 Mối liên quan giữa yếu tố sức khỏe và sinh sản với dấu hiệu Stress của (Trang 47)
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa – xã hội với dấu hiệu Lo âu của - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.24 Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa – xã hội với dấu hiệu Lo âu của (Trang 49)
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa – xã hội với dấu hiệu Stress của - Triệu chứng stress, lo âu, trầm cảm của phụ nữ mang thai đến khám tại bệnh viện phụ sản trung ương năm 2022 và một số yếu tố liên quan
Bảng 3.23 Mối liên quan giữa yếu tố văn hóa – xã hội với dấu hiệu Stress của (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w