1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú và khả năng đáp ứng của viện y dược học dân tộc thành phố hồ chí minh năm 2021

104 6 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú và khả năng đáp ứng của viện y dược học dân tộc thành phố hồ chí minh năm 2021
Tác giả Đỗ Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS. Phạm Tiến Nam
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1. Một số khái niệm (14)
      • 1.1.1. Khái niệm công tác xã hội trong bệnh viện (14)
      • 1.1.2. Khái niệm nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú (15)
      • 1.1.3. Khái niệm khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú (17)
    • 1.2. Sự hình thành và phát triển CTXH trong bệnh viện (18)
      • 1.2.1. Trên thế giới (18)
      • 1.2.2. Tại Việt Nam (20)
    • 1.3. Một số nghiên cứu về nhu cầu hỗ trợ công tác xa hội của người bệnh nội trú (22)
      • 1.3.1. Trên thế giới (22)
      • 1.3.2. Tại Việt Nam (26)
    • 1.4. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu (31)
    • 1.5. Khung lý thuyết/cây vấn đề (33)
  • Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (34)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (34)
      • 2.1.1. Nghiên cứu định lượng (34)
      • 2.1.2. Nghiên cứu định tính (34)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (34)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (35)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (35)
      • 2.4.1. Nghiên cứu định lượng (35)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (36)
    • 2.5. Biến số/ chủ đề chính trong nghiên cứu (36)
      • 2.5.1. Nghiên cứu định lượng (36)
      • 2.5.2. Nghiên cứu định tính (37)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (37)
      • 2.6.1. Số liệu định lượng (37)
      • 2.6.2. Số liệu định tính (38)
    • 2.7. Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (39)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (40)
      • 2.8.1. Số liệu định lượng (40)
      • 2.8.2. Số liệu định tính (40)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức nghiên cứu (40)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (42)
    • 3.1. Thông tin về người bệnh (42)
    • 3.2. Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú tại Viện Y dược học dân tộc (45)
      • 3.2.1. Nhu cầu hỗ trợ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh (45)
      • 3.2.2. Nhu cầu tiếp cận với các dịch vụ truyền thông, nâng cao nhận thức (46)
      • 3.2.3. Nhu cầu hỗ trợ tâm lý - xã hội (48)
      • 3.2.4. Nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ viện phí (49)
    • 3.3. Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về CTXH của Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh (50)
      • 3.3.1. Khả năng về chính sách và hệ thống thông tin .. Error! Bookmark not defined. 3.3.2. Khả năng về nhân lực ........................... Error! Bookmark not defined. 3.3.3. Khả năng về cơ sở vật chất (0)
      • 3.3.4. Khả năng về tài chính và kết nối nguồn lực (59)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (61)
    • 4.1. Thông tin chung và thông tin điều trị của người bệnh nội trú (61)
    • 4.2. Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh (62)
      • 4.3.1. Khả năng về chính sách và hệ thống thông tin .. Error! Bookmark not defined. 4.3.2. Khả năng về nhân lực ........................... Error! Bookmark not defined. 4.3.3. Khả năng về cơ sở vật chất .................. Error! Bookmark not defined. 4.3.4. Khả năng về tài chính và kết nối nguồn lực (0)
    • 4.4. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số (73)
      • 4.4.1 Hạn chế .................................................. Error! Bookmark not defined. 4.4.2. Sai số và biện pháp khắc phục ............. Error! Bookmark not defined. KẾT LUẬN (0)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Số liệu thứ cấp từ Viện Y dược học dân tộc TP Hồ Chí Minh cung cấp thông tin quan trọng về chính sách, cơ sở trang thiết bị và khả năng cung cấp các dịch vụ liên quan đến công tác xã hội (CTXH).

Người bệnh từ 18 tuổi trở lên có nhận thức tốt hơn về nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội mà họ cần Ở độ tuổi này, họ cũng có trách nhiệm pháp lý đối với các câu trả lời của mình.

+ Người bệnh nằm viện từ 7 ngày trở lên (đây là thời gian tối thiểu của 1 đợt điều trị bằng thuốc đông y nội trú)

Tiêu chuẩn loại trừ trong nghiên cứu này là những bệnh nhân nặng không đủ nhận thức và không thể tham gia phỏng vấn, chiếm khoảng 1% tổng số bệnh nhân đang điều trị Việc loại trừ nhóm bệnh nhân này sẽ không ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.

Phó Viện Trưởng phụ trách phòng CTXH

- Tiêu chuẩn lựa chọn: Có thời gian công tác từ 6 tháng trở lên (đối với NVYT)

- Tiêu chuẩn loại trừ: Những người không có mặt tại Viện trong thời gian nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 03 năm 2021 đến tháng 08 năm 2021

- Địa điểm: Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh ( Số 273 đường Nguyễn Văn Trỗi, phường 10, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh)

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp theo trình tự định lượng tiến hành trước, định tính tiến hành sau

Phương pháp định lượng nhằm đáp ứng mục tiêu 1 là mô tả thực trạng nhu cầu hỗ trợ về CTXH của NBNT

Sau khi hoàn thành phân tích định lượng, phương pháp định tính được áp dụng để làm rõ nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội (CTXH) của nhóm người cần hỗ trợ (NBNT) Mục tiêu thứ hai là phân tích khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ CTXH của NBNT.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Số liệu thứ cấp bao gồm tất cả các sổ sách và báo cáo về kết quả hoạt động liên quan đến nhiệm vụ công tác xã hội tại Viện Y dược học dân tộc TPHCM.

Công thức chọn mẫu phỏng vấn người bệnh về nhu cầu hỗ trợ công tác xã hội (CTXH) của bệnh nhân nội trú (NBNT) nhằm đáp ứng mục tiêu 1 được xác định bằng n = Z²(1-α/2) Trong đó, n là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết, α là độ tin cậy Với độ tin cậy 95%, ta có z(1-α/2) = 1,96 Tham số p đại diện cho tỷ lệ người bệnh nội trú có nhu cầu hỗ trợ về CTXH tại viện, được chọn là p = 0,5 dựa trên kết quả nghiên cứu “Nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội của bệnh nhân nội trú và khả năng đáp ứng của bệnh viện Hữu nghị Việt Đức năm 2018”.

Thay vào công thức ta có 196 đối tượng d: sai số tối đa có thể chấp nhận (d = 0,07)

Dự phòng 10% cho trường hợp người tham gia nghiên cứu muốn dừng tham gia hoặc không hoàn thành bộ câu hỏi, cỡ mẫu cần có là 216 người

Trong 9 tháng đầu năm 2020, các khoa nội trú đã đạt được chỉ tiêu phấn đấu với số lượng bệnh nhân điều trị nội trú trung bình mỗi tháng dao động ổn định.

Trong nghiên cứu, chúng tôi đã chọn tất cả 226 - 250 bệnh nhân đang điều trị nội trú tại Viện, hầu hết trong số họ đều trải qua quá trình điều trị dài ngày Cỡ mẫu này được xác định dựa trên tổng số bệnh nhân nội trú, cho thấy sự chênh lệch không đáng kể.

Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện

Tại Viện Y dược học dân tộc, có 8 khoa nội trú với số lượng bệnh nhân tương đối đồng đều Bốn điều tra viên sẽ thu thập số liệu tại hai khoa mỗi người Mỗi ngày, hai bệnh nhân sẽ được phỏng vấn theo thứ tự giường bệnh từ nhỏ đến lớn Quá trình thu thập dữ liệu diễn ra trong 15 ngày, với tổng cộng 221 đối tượng tham gia.

Chọn mẫu có chủ đích là cần thiết để cung cấp thông tin quan trọng cho nghiên cứu Phương pháp PVS và TLN được áp dụng cho các đối tượng nghiên cứu.

- 01 cuộc PVS với Phó Viện Trưởng phụ trách phòng CTXH

- 01 cuộc PVS với Trưởng phòng CTXH

Trong 08 cuộc phỏng vấn sâu (PVS) với 08 người bệnh nội trú (NBNT) đại diện cho từng khoa, mỗi khoa đã chọn ngẫu nhiên 01 người bệnh thông qua bốc thăm Mục tiêu là khai thác nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội (CTXH) của người bệnh với nhiều dạng bệnh khác nhau Do khó khăn trong việc tập hợp tất cả 8 người bệnh cùng một lúc trong thời gian dài (hơn 45 phút) do lịch trình điều trị khác nhau và yếu tố sức khỏe, học viên đã quyết định sử dụng phương pháp PVS thay vì phương pháp thu thập dữ liệu truyền thống (TLN).

01 cuộc TLN: Toàn bộ nhân viên phòng CTXH.

Biến số/ chủ đề chính trong nghiên cứu

- Nhóm biến về thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

- Nhóm biến về thông tin điều trị của đối tượng nghiên cứu

- Nhóm biến về nhu cầu hỗ trợ CTXH của NBNT:

+ Nhu cầu hỗ trợ về thông tin, tư vấn, hướng dẫn về các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

+ Nhu cầu tiếp cận với các dịch vụ truyền thông và nâng cao nhận thức

+ Nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội

+ Nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ viện phí

Bài viết này nhấn mạnh bốn nhóm nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú, bao gồm: nhu cầu thông tin, tư vấn và hướng dẫn về dịch vụ khám chữa bệnh; nhu cầu tiếp cận dịch vụ truyền thông và nâng cao nhận thức; nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội; và nhu cầu kết nối nguồn lực cùng hỗ trợ viện phí.

- Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về CTXH cho NBNT của Viện Y dược học dân tộc:

Khả năng về chính sách và hệ thống thông tin

- Chủ trương, chính sách của Bộ Y tế và của Viện về việc thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội trong bệnh viện

- Hệ thống biển báo, chỉ dẫn

- Số điện thoại đường dây nóng, đường dây chăm sóc khách hàng

- Ứng dụng các phương tiện truyền thông: trang điện tử, trang mạng xã hội, báo chí, truyền hình, góc truyền thông,

Khả năng về nhân lực

- Nhân viên phòng CTXH: số lượng, thâm niên, đào tạo đúng chuyên ngành CTXH

Thành viên trong mạng lưới CTXH tại các khoa cần có trình độ chuyên môn cao, sự phân bổ hợp lý và vị trí công tác rõ ràng Họ cũng phải thể hiện tính chủ động và sẵn sàng hỗ trợ đồng nghiệp trong công việc.

Khả năng về cơ sở vật chất

- Văn phòng tư vấn, chăm sóc và hỗ trợ người bệnh

- Máy móc, trang thiết bị

- Tài liệu tư vấn, truyền thông

Khả năng về tài chính và kết nối nguồn lực

- Kinh phí tổ chức các hoạt động hỗ trợ cho người bệnh nội trú

- Kinh phí vận động từ bên ngoài

- Kết nối giữa người bệnh với các mạnh thường quân.

Phương pháp thu thập số liệu

Số liệu thứ cấp: Số liệu được lấy từ các báo cáo của Phòng Kế hoạch tổng hợp,

Phòng CTXH, Công đoàn, Đoàn thanh niên

Công cụ thu thập số liệu

Sử dụng bảng kiểm trong phụ lục 2 để thu thập số liệu, bộ câu hỏi được chuẩn hóa bởi tác giả Phạm Tiến Nam trong nghiên cứu “Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại Bệnh viện K năm 2017” đã được điều chỉnh cho phù hợp với thực tế địa bàn nghiên cứu Bộ công cụ này nhằm thu thập thông tin chung về đối tượng nghiên cứu và nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của bệnh nhân, bao gồm bốn nhóm nhu cầu: hỗ trợ thông tin, tư vấn và hướng dẫn dịch vụ khám chữa bệnh; tiếp cận dịch vụ truyền thông và nâng cao nhận thức; hỗ trợ tâm lý – xã hội; và kết nối nguồn lực cũng như hỗ trợ viện phí.

Kỹ thuật thu thập thông tin

Học viên đã thử nghiệm bộ câu hỏi trên 10 NBNT trước khi tiến hành điều tra trên quần thể nghiên cứu Nhóm điều tra viên gồm 04 nhân viên phòng CTXH đã được tập huấn về bộ công cụ trước khi thực hiện điều tra.

Quy trình thu thập số liệu

Học viên đã xin ý kiến từ Ban Giám đốc Viện Y dược học dân tộc để thu thập số liệu từ tháng 04/2021 đến tháng 06/2021 Tại khoa, học viên đã trực tiếp gặp lãnh đạo khoa để thông báo về thời gian và mục đích của nghiên cứu.

Vào buổi sáng, bác sĩ sẽ thăm khám người bệnh tại các khoa nội trú, sau đó người bệnh thực hiện các kỹ thuật theo chỉ định Do đó, nhóm điều tra viên chọn buổi chiều để phỏng vấn đối tượng nghiên cứu Mỗi chiều, các điều tra viên sẽ đến hai khoa phụ trách để thu thập số liệu, tiếp cận người bệnh và giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của nghiên cứu Những người bệnh đồng ý tham gia sẽ ký vào giấy đồng ý tham gia nghiên cứu (phụ lục 1).

Bộ công cụ được phát triển dựa trên nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Nam và cộng sự (2017), với các chỉnh sửa nhằm cải thiện cách sử dụng từ ngữ và loại bỏ một số câu hỏi liên quan đến đánh giá chuyên môn.

Kỹ thuật thu thập số liệu

Sử dụng máy ghi âm kỹ thuật số

Quy trình thu thập số liệu

Học viên sẽ trực tiếp thực hiện các cuộc phỏng vấn PVS theo hướng dẫn trong phiếu PVS (Phụ lục 3 và 4) Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 45 phút và được tổ chức tại các địa điểm phù hợp: phòng làm việc của nhóm quản lý, phòng CTXH cho nhân viên phòng CTXH, và phòng tiếp công dân cho người bệnh, đảm bảo tính riêng tư và yên tĩnh trong quá trình phỏng vấn.

Sử dụng phiếu hướng dẫn TLN (Phụ lục 5) để hướng dẫn TLN tại hội trường A04.02 của Viện Y dược học dân tộc trong vòng 60 - 90 phút

Nếu đối tượng nghiên cứu đồng ý các cuộc PVS và TLN sé được ghi âm Nếu không, nghiên cứu viên sẽ viết tốc ký vào sổ tay.

Thước đo, tiêu chuẩn đánh giá

Để đánh giá nhu cầu hỗ trợ về CTXH của người bệnh nội trú, với mỗi câu hỏi đánh giá, chúng tôi sử dụng thang đo với 5 mức độ

- Mức độ: 1: Hoàn toàn không cần thiết

- Mức độ 2: Không cần thiết

- Mức độ 5: Rất cần thiết

Nhu cầu hỗ trợ về CTXH được phân loại thành hai mức: “không có nhu cầu” cho đối tượng có mức độ nhu cầu từ 1 đến 3, và “có nhu cầu” cho đối tượng có mức độ nhu cầu từ 4 đến 5.

Bộ câu hỏi được tác giả Phạm Tiến Nam chuẩn hóa trong đề tài nghiên cứu

“Nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho bệnh nhân ung thư tại

Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội (CTXH) của nhóm người cần hỗ trợ (NBNT) được đánh giá dựa trên kết quả và tiềm năng của các hoạt động đã và đang được tổ chức Điều này bao gồm việc cung cấp dịch vụ CTXH nhằm giúp đỡ NBNT, đồng thời xem xét những thuận lợi và khó khăn hiện tại cũng như trong tương lai khi thực hiện các hoạt động hỗ trợ này.

Phương pháp phân tích số liệu

Kiểm tra lại toàn bộ và loại trừ các phiếu điều tra không hợp lệ

Sử dụng phần mềm Epidata 3.1 để nhập toàn bộ số liệu thu thập được Trong quá trình nhập liệu, để tránh sai sót số liệu được nhập 2 lần

Làm sạch số liệu: Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch và hiệu chỉnh các sai sót

Xử lý và phân tích số liệu: Các số liệu khi thu thập được tổng hợp và phân tích bằng phần mềm Stata 14

Nội dung các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được ghi âm, sau đó được chuyển đổi thành văn bản và xử lý bằng phương pháp mã hóa theo chủ đề nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu.

Vấn đề đạo đức nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm mô tả nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội (CTXH) của người bệnh nội trú (NBNT) và khả năng đáp ứng của Viện, từ đó đưa ra các đề xuất cho ban lãnh đạo Viện nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động CTXH Nghiên cứu đã được Ban Giám đốc Viện chấp thuận và ủng hộ thực hiện, đồng thời đề cương đã được Hội đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng Hà Nội thông qua trước khi tiến hành thu thập số liệu theo Quyết định số 170/2021/YTCC-HĐ3 ngày 16 tháng 4 năm 2021.

Thông tin và trao đổi với“đối tượng nghiên cứu về mục đích nghiên cứu trước khi thực hiện.”

Chỉ tiến hành khi đối tượng đồng ý ký vào giấy đồng thuận tham gia nghiên cứu trước khi phỏng vấn hoặc ghi âm

Mọi thông tin cá nhân của đối tượng được giữ bảo mật và chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu

Báo cáo cho Ban Giám đốc Viện về kết quả nghiên cứu khi nghiên cứu kết thúc

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin về người bệnh

Bảng 3.1 Đặc điểm nhóm tuổi, giới tính của đối tượng nghiên cứu

STT THÔNG TIN CHUNG Tần số

Trong nghiên cứu với 216 đối tượng, tỷ lệ nữ chiếm 40,7% và nam chiếm 59,3% Phân bố độ tuổi không đồng đều, với nhóm trên 56 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là 67,15%, tiếp theo là nhóm từ 41 đến 55 tuổi với 20,8%, trong khi nhóm từ 18 đến 26 tuổi chỉ chiếm 1,85%.

Bảng 3.2 Đặc điểm nơi ở, trình độ học vấn, nghề nghiệp, mức sống gia đình của đối tượng nghiên cứu

STT THÔNG TIN CHUNG Tần số (N) Tỷ lệ (%)

STT THÔNG TIN CHUNG Tần số (N) Tỷ lệ (%)

Trung cấp/ Cao đẳng 22 10,2 Đại học/ sau đại học 15 6,87

“Chủ cơ sở sản xuất kinh doanh” 33 15,3

“Tự làm (buôn bản nhỏ, làm nông/ lâm/ ngư nghiệp)”

“Lao động gia đình (nội trợ)” 42 19,4

Bảng 3.2 cho thấy 70,3% đối tượng nghiên cứu sống tại thành phố, chủ yếu là tại Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi 29,7% sống ở vùng nông thôn Về trình độ học vấn, 32,9% có cấp 1 và 29,2% có cấp 2, trong khi tỷ lệ không đi học chỉ chiếm 0,93% Đối tượng chủ yếu làm công ăn lương (31,5%), tiếp theo là nghề tự do (21,3%), và các ngành nghề khác như lao động gia đình (19,4%), chủ cơ sở sản xuất kinh doanh (15,3%), và các lĩnh vực khác (12,5%).

Bảng 3.3 Đặc điểm tình trạng hôn nhân, trụ cột gia đình, người chăm sóc chính của đối tượng nghiên cứu

STT THÔNG TIN CHUNG Tần số (N) Tỷ lệ (%)

STT THÔNG TIN CHUNG Tần số (N) Tỷ lệ (%)

Chưa kết hôn 12 5,56 Đã kết hôn 184 85,2

Góa/ly hôn/ly thân 28 9,24

Vợ chồng như nhau 102 47,2 Được trợ cấp 12 5,56

Bảng 3.3 chỉ ra rằng mức sống của người bệnh nội trú chủ yếu ở mức trung bình (50,0%), tiếp theo là mức sống khá (31,5%), trong khi tỷ lệ người nghèo và cận nghèo lần lượt chỉ đạt 5,56% và 2,74% Đáng chú ý, 80,6% người bệnh đã kết hôn, trong khi tỷ lệ người đã ly hôn, ly thân hoặc góa chiếm 9,24%, và những người chưa kết hôn chỉ chiếm 5,56% Hơn một nửa số cặp vợ chồng đều là trụ cột gia đình (47,2%), trong khi tỷ lệ trụ cột trong nhóm nghiên cứu là 19,4% Nghiên cứu cũng cho thấy vợ/chồng là người chăm sóc chính cho người bệnh nội trú với tỷ lệ cao nhất (42,6%), trong khi 15,3% không có người chăm sóc.

Bảng 3.4 Thông tin điều trị của đối tượng nghiên cứu

STT THÔNG TIN CHUNG Tần số (N) Tỷ lệ (%)

1 Khả năng chi trả kinh phí điều trị

Cá nhân/gia đình trang trải được 167 77,3

STT THÔNG TIN CHUNG Tần số (N) Tỷ lệ (%)

Bảng 3.4 trình bày thông tin về điều trị của 216 đối tượng nghiên cứu, trong đó 94,4% có thẻ BHYT, trong khi 5,6% không có Tỷ lệ hưởng BHYT 80% là 57,9%, mức 95% chiếm 20,8%, và mức 100% là 21,3% Khi được hỏi về khả năng chi trả viện phí, 86,6% cho biết gia đình có thể trang trải, trong khi 13,4% phải vay mượn thêm để chi trả.

Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú tại Viện Y dược học dân tộc

3.2.1 Nhu cầu hỗ trợ chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh

Bảng 3.5 Nhu cầu chỉ dẫn, tư vấn thông tin chung về khám chữa bệnh của người bệnh nội trú

STT Nội dung Có nhu cầu Không có nhu cầu

1 Hướng dẫn, hỗ trợ thủ tục/qui trình khám bệnh 189 87,5 27 12,5

2 Tư vấn chi phí điều trị 188 87,0 28 13

3 Tư vấn chính sách BHYT 178 82,4 38 17,6

4 Tư vấn trợ cấp xã hội cho người bệnh nội trú thuộc hộ nghèo 126 58,3 90 41,7

5 Hỗ trợ thủ tục chuyển cơ sở điều trị/xuất viện 177 81,9 39 18,1

Nhu cầu chỉ dẫn và tư vấn thông tin khám chữa bệnh của người bệnh nội trú rất cao, với 87,5% mong muốn được hỗ trợ thủ tục khám bệnh, 87,0% cần tư vấn chi phí điều trị, và 82,4% yêu cầu tư vấn về chính sách bảo hiểm y tế Ngoài ra, 81,9% người bệnh cần hỗ trợ thủ tục chuyển cơ sở điều trị hoặc xuất viện, trong khi nhu cầu tư vấn trợ cấp xã hội cho người bệnh thuộc hộ nghèo thấp nhất, chỉ đạt 58,3%.

Việc cung cấp thông tin và tư vấn về khám chữa bệnh cho bệnh nhân không chỉ tăng cường sự tương tác mà còn tạo dựng lòng tin và thiện cảm từ bệnh nhân và người nhà đối với nhân viên y tế Nghiên cứu định tính cũng đã khẳng định điều này.

Nhiều người, đặc biệt là người lớn tuổi, thường cảm thấy lo lắng khi vào bệnh viện vì không biết phải làm gì và đi đâu Việc có người hướng dẫn là rất quan trọng, giúp họ cảm thấy an tâm hơn Thường thì bác sĩ chỉ đưa giấy tờ mà không chỉ rõ địa điểm cần đến, khiến bệnh nhân bối rối Do đó, việc đặt các bàn hướng dẫn ở những vị trí dễ thấy là cần thiết, để ai không biết có thể đến hỏi và nhận được sự trợ giúp kịp thời.

Người bệnh rất quan tâm đến chi phí điều trị và chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) Họ thường hỏi về kinh phí cần chuẩn bị cho thời gian nằm viện dài, cũng như việc sử dụng thẻ BHYT, tỷ lệ hưởng quyền lợi và cách để nhận được mức hỗ trợ cao nhất Điều này phản ánh tâm lý chung của bệnh nhân, khi quyền lợi trực tiếp của họ là vấn đề hàng đầu cần được quan tâm.

3.2.2 Nhu cầu tiếp cận với các dịch vụ truyền thông, nâng cao nhận thức Bảng 3.3 Nhu cầu tiếp cận với các dịch vụ truyền thông, nâng cao nhận thức của người bệnh nội trú

STT Nội dung Có nhu cầu Không có nhu cầu

1 Nội dung phòng, chống bệnh 156 72,2 60 27,8

2 Hòm thư góp ý trong bệnh viện 98 45,4 118 54,6

3 Qui tắc ứng xử trong bệnh viện 155 71,8 61 28,2

4 Các qui định về khám chữa bệnh tại

Nghiên cứu cho thấy nhu cầu tiếp cận dịch vụ truyền thông của bệnh nhân nội trú được phân tích như sau: nội dung phòng, chống bệnh đạt 72,2%, quy tắc ứng xử trong bệnh viện là 71,8%, quy định về khám chữa bệnh tại viện chiếm 51,4%, trong khi hòm thư góp ý chỉ đạt 45,4%, cho thấy cần cải thiện kênh phản hồi này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong nhóm nhu cầu này, người bệnh đặc biệt quan tâm đến nội dung quy tắc ứng xử.

Bệnh nhân thường đánh giá cao những bác sĩ và nhân viên y tế có cách ứng xử vui vẻ, thân thiện, như bác sĩ nói chuyện dễ thương hay cô hộ lý nhiệt tình, nhẹ nhàng Ngược lại, những nhân viên ít nói và có thái độ nghiêm khắc có thể tạo ấn tượng xấu Điều này cho thấy tầm quan trọng của qui tắc ứng xử trong bệnh viện, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý và sự thoải mái của bệnh nhân Khi nhân viên y tế có cách ứng xử không tốt, bệnh nhân có thể cảm thấy khó chịu, không vui vẻ và thiếu niềm tin vào bác sĩ, từ đó ảnh hưởng đến quá trình điều trị.

Bệnh nhân mắc bệnh thần kinh thường không có nhu cầu cao về các dịch vụ truyền thông và nâng cao nhận thức Mặc dù phòng điều dưỡng tổ chức sinh hoạt hội đồng người bệnh mỗi 2 tháng, nhưng nhiều bệnh nhân, đặc biệt là những người nằm lâu dài, không mấy hứng thú tham dự Những bệnh nhân mới có thể tham gia, nhưng thường chỉ tham gia một chút rồi lại trở về phòng Họ chỉ quan tâm đến những nội dung liên quan trực tiếp đến bệnh của mình, trong khi các quy định chung về khám chữa bệnh hay quy tắc ứng xử lại ít được chú ý.

HUPH không chú trọng nhiều đến hòm thư góp ý từ bệnh nhân, đặc biệt là do đối tượng bệnh nhân chủ yếu là người lớn tuổi, hạn chế trong việc ghi chép Họ thường trao đổi trực tiếp tại văn phòng khoa thay vì viết thư, và số lượng ý kiến đóng góp qua thư là rất ít Mặc dù nhiều bệnh nhân có mong muốn góp ý, nhưng khi nhân viên đề nghị họ ghi lại, ít người sẵn lòng thực hiện Bệnh nhân thường ưa thích việc trao đổi trực tiếp hơn.

Nhân viên phòng Công tác xã hội 2)

3.2.3 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý - xã hội

Bảng 3.4 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý - xã hội

STT Nội dung Có nhu cầu Không có nhu cầu

1 Hỏi thăm về hoàn cảnh gia đình và tình hình tiến triển phục hồi sức khỏe 142 65,7 74 34,3

2 Tư vấn – tham vấn tâm lý 81 37% 135 63%

4 Tư vấn giao tiếp xã hội 132 61,1 93 38,9

5 Cung cấp thông tin mạng lưới hỗ trợ bệnh nhân 138 63,4 78 36,6

Khi bị bệnh, người bệnh thường lo âu và mong muốn nhanh chóng hồi phục để trở lại cuộc sống bình thường, đặc biệt là những người nội trú phải điều trị lâu dài Hỗ trợ tâm lý – xã hội cho người bệnh là cần thiết để giúp họ giải tỏa cảm xúc và duy trì tinh thần lạc quan, từ đó góp phần vào quá trình điều trị Nghiên cứu cho thấy 65,7% người bệnh cần được hỏi thăm về hoàn cảnh gia đình và tình hình phục hồi sức khỏe, 63,4% mong muốn có thông tin về mạng lưới hỗ trợ bệnh nhân, và 61,1% cần tư vấn giao tiếp xã hội Tuy nhiên, nhu cầu về tư vấn tâm lý và trị liệu tâm lý lại thấp, chỉ chiếm 37% và 20,8%.

Khi mắc bệnh nặng, bệnh nhân thường lo lắng về biến chứng, cái chết và tàn phế Họ rất trân trọng sự quan tâm của nhân viên y tế về tình hình sức khỏe của mình Sự thăm hỏi và động viên từ bác sĩ hay điều dưỡng giúp họ cảm thấy an tâm hơn rất nhiều.

Một số bệnh nhân trong phòng Công tác xã hội cảm thấy e ngại khi chia sẻ về hoàn cảnh gia đình, bệnh tình hay cảm xúc với người lạ Nhân viên CTXH cho biết rằng, mặc dù có tổ chức các hoạt động thăm hỏi bệnh nhân, không phải ai cũng sẵn sàng mở lòng Một số bệnh nhân cởi mở, nhưng cũng có những người cảm thấy khó chịu khi được hỏi về hoàn cảnh của họ Nhiều bệnh nhân cần hỗ trợ để giải tỏa cảm xúc và căng thẳng, nhưng họ thường không nhận thức được điều này Nếu tiếp cận không khéo, nhân viên có thể khiến bệnh nhân cảm thấy phiền phức và không muốn chia sẻ.

3.2.4 Nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ viện phí

Bảng 3.5 Nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ viện phí

STT Nội dung Có nhu cầu Không có nhu cầu

1 Hỗ trợ tiền mặt thanh toán một phần viện phí 66 30,6 150 69,4

2 Hỗ trợ tiền mặt dùng cho sinh hoạt phí 51 23,6 165 76,4

3 Được tặng đồ dùng cá nhân 99 45,8 117 54,2

4 Được cung cấp bữa ăn miễn phí 102 47,2 94 43,5

5 Hỗ trợ chỗ ở cho người chăm sóc trong suốt thời gian điều trị 122 56,5 94 43,5

Hỗ trợ kết nối về con người (kết nối giữa người bệnh với bác sĩ, điều dưỡng, nhà tam vấn tâm lý…)

Trong nhóm nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ viện phí, nhu cầu hỗ trợ chỗ ở cho người chăm sóc chiếm tỷ lệ cao nhất trong suốt thời gian điều trị.

Theo khảo sát, nhu cầu điều trị tại HUPH chiếm 56,5%, tiếp theo là nhu cầu nhận bữa ăn miễn phí (47,2%) và tặng đồ dùng cá nhân (45,8%) Ngoài ra, 34,5% người tham gia mong muốn được kết nối với bác sĩ, điều dưỡng và nhà tâm vấn tâm lý Hỗ trợ tài chính cho việc thanh toán viện phí được 30,6% người bệnh quan tâm, trong khi 23,6% cần hỗ trợ tiền mặt cho sinh hoạt phí.

Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về CTXH của Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh

3.3.1 Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về thông tin, tư vấn, hướng dẫn về các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

Khả năng về chính sách và hệ thống thông tin

Nhằm đáp ứng nhu cầu cao về thông tin và hướng dẫn dịch vụ khám chữa bệnh, Viện đã triển khai nhiều hình thức hỗ trợ cho người bệnh Cụ thể, Viện cung cấp tư vấn trực tiếp tại văn phòng khoa và văn phòng tư vấn, chăm sóc người bệnh Ngoài ra, đường dây tư vấn và hỗ trợ hoạt động 24/7, cùng với số điện thoại đường dây nóng, cũng được thiết lập để phục vụ người bệnh một cách tốt nhất.

HUPH tiếp nhận các trường hợp khẩn cấp và trả lời thắc mắc trên mạng xã hội, đặc biệt là Facebook Để đáp ứng nhu cầu tư vấn và đóng góp ý kiến của người bệnh, Viện đã ban hành Kế hoạch số 163/KH-VYDHDT về việc tiếp nhận ý kiến đóng góp tại giường bệnh Một bệnh nhân nam tại khoa Nội tim mạch, thần kinh chia sẻ: “Tôi được cô y tá hướng dẫn về chính sách BHYT, chi phí điều trị và giá giường Phòng tôi nằm gần văn phòng khoa, nếu có thắc mắc, tôi có thể hỏi các cô, các bác sẵn sàng cung cấp thông tin Nếu có vấn đề không giải quyết được, họ cũng hướng dẫn tôi liên hệ với phòng Công tác xã hội.”

Trong năm 2021, Viện đã tiến hành rà soát và đồng bộ tất cả các biển báo, chỉ dẫn, cập nhật bảng tên khoa, phòng bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh theo thông báo số 92/TB-VYDHDT ngày 18/02/2021 Các biển chỉ dẫn và biển cảnh báo đã được bổ sung tại các ngả rẽ, ngã ba, và những khu vực nguy hiểm Mỗi lầu đều có sơ đồ chi tiết được đặt tại cửa ngõ, cùng với việc bổ sung cửa kính ngăn cách giữa các khoa nội trú nằm liền kề trên cùng một lầu.

Hệ thống biển báo và chỉ dẫn đã được thiết lập một cách đầy đủ và chính xác, không có tình trạng biển hướng dẫn sai lệch hoặc không phù hợp với thực tế.

Khả năng về nhân lực

Khả năng về cơ sở vật chất

Khả năng về tài chình và kết nối nguồn lực

3.3.2 Khả năng đáp ứng nhu cầu tiếp cận với các dịch vụ truyền thông và nâng cao nhận thức

Khả năng về chính sách và hệ thống thông tin

Trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, hệ thống thông tin của Viện đã hoạt động hiệu quả, cung cấp cho người bệnh nhiều thông tin cần thiết Người bệnh đánh giá cao hoạt động này vì nó mang lại ý nghĩa quan trọng cho họ.

“Chị nhập viện ngay lúc dịch bùng lại thấy cũng lo lắng lắm, ngày nào cũng phải

Viện HUPH thường xuyên cập nhật tình hình dịch bệnh trên trang Facebook, cung cấp thông tin đáng tin cậy từ đội ngũ y tế về cách tự bảo vệ bản thân và phòng chống lây nhiễm Người bệnh tại khoa Ngoại tổng hợp cho biết họ rất tin tưởng vào các thông tin này, vì chúng rất cần thiết Ngoài ra, Viện còn phối hợp với Trung tâm kiểm soát bệnh tật Thành phố Hồ Chí Minh để in ấn và phân phát tài liệu truyền thông, cũng như dán poster và banner nhằm tuyên truyền về các biện pháp phòng, chống và hỗ trợ điều trị các bệnh thường gặp.

Phòng Công tác xã hội (CTXH) chú trọng đến việc cải thiện góc truyền thông tại mỗi khoa, nơi người bệnh thường xuyên đi qua, nhằm tạo kênh truyền thông hiệu quả Để nâng cao nội dung này, phòng CTXH đã ban hành kế hoạch số 144/KH-VYDHDT ngày 15/12/2020 tổ chức Hội thi góc truyền thông giáo dục sức khỏe định kỳ Theo Trưởng phòng CTXH, việc bố trí góc truyền thông hấp dẫn và cập nhật thông tin mới là rất quan trọng, vì nếu không, người bệnh sẽ không quan tâm Hội thi không chỉ tạo cơ hội giao lưu giữa các khoa mà còn đáp ứng nhu cầu cập nhật kiến thức cho người bệnh.

Việc áp dụng đa dạng các phương tiện truyền thông, bao gồm cả truyền thống và công nghệ thông tin, đã góp phần quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin, tư vấn và hướng dẫn về dịch vụ khám chữa bệnh, đồng thời nâng cao nhận thức và khả năng tiếp cận các dịch vụ truyền thông.

Vào năm 2020, Viện đã cử 03 nhân viên phòng CTXH tham gia khóa học ngắn hạn “Công tác xã hội trong bệnh viện” Khóa học này giúp học viên nâng cao kiến thức và kỹ năng về các phương pháp can thiệp CTXH trong bệnh viện, bao gồm quản lý trường hợp, quản lý nhóm và tham vấn tâm lý.

Đến nay, những người tham gia lớp học HUPH vẫn chưa tiến hành tập huấn lại cho các nhân viên CTXH khác trong mạng lưới CTXH về kiến thức đã được lĩnh hội.

Lớp học này rất hữu ích cho những người làm Công tác xã hội, nhưng tiếc rằng số lượng người tham gia còn hạn chế Nếu tất cả các thành viên đều được học, họ sẽ hiểu rõ hơn về công việc của mình và áp dụng nhiều kiến thức vào việc hỗ trợ người bệnh Tất cả nhân viên phòng Công tác xã hội cũng được đào tạo để trở thành đại lý thu BHYT, giúp họ tư vấn chính xác về chính sách BHYT, thủ tục mua mới, gia hạn, đổi nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu và cấp lại thẻ.

Các thành viên trong mạng lưới CTXH và 2 Tổ có chuyên môn đa dạng, trong đó các khoa nội trú có sự tham gia của cử nhân điều dưỡng.

Năm 2021, các thành viên mạng lưới CTXH đã tham gia tập huấn “giảng viên kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp” do Trung tâm Truyền thông Giáo dục Sức khỏe Trung ương tổ chức, góp phần nâng cao kỹ năng truyền thông và giáo dục sức khỏe cho nhân viên y tế và nhân viên CTXH.

Các thành viên của 2 Tổ tư vấn và chăm sóc người bệnh, cùng với tổ hỗ trợ người bệnh và mạng lưới CTXH, được tập hợp từ các khoa, phòng khác nhau Đối với các khoa nội trú, thành viên mạng lưới CTXH là các điều dưỡng Trưởng Nhiệm vụ của các thành viên là điều phối các hoạt động liên quan đến CTXH tại khoa/phòng dưới sự điều hành của Trưởng phòng CTXH.

Trưởng phòng CTXH hiện là tổ trưởng tổ T3G, với một nhân viên trong phòng CTXH là thành viên thường trực Hàng tháng, Tổ T3G phát hành thông báo về định hướng truyền thông giáo dục sức khỏe, giúp nhân viên y tế tại khoa và nhân viên CTXH chủ động hơn trong công tác truyền thông Điều này không chỉ nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ truyền thông mà còn nâng cao nhận thức của bệnh nhân và người thân.

Khả năng về cơ sở vật chất

Khả năng về tài chình và kết nối nguồn lực

3.3.3 Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội

BÀN LUẬN

Thông tin chung và thông tin điều trị của người bệnh nội trú

Nghiên cứu tại Viện Y dược học dân tộc đã tổng hợp thông tin chung và thông tin điều trị của bệnh nhân NBNT Kết quả cho thấy trong số 216 người bệnh tham gia, tỷ lệ nam giới chiếm 59,3% và nữ giới 40,7%, cho thấy sự chênh lệch không đáng kể Đặc biệt, độ tuổi chủ yếu của bệnh nhân là trên 56 tuổi, chiếm 67,15%.

Tại Viện y học cổ truyền, nhóm bệnh nhân 26 tuổi chỉ chiếm 1,85%, chủ yếu là những người mắc bệnh mạn tính như cơ xương khớp và tai biến mạch máu não, với độ tuổi trung niên từ 50 trở lên chiếm đa số Hầu hết bệnh nhân sống tại Thành phố Hồ Chí Minh (70,3%), trong khi tỷ lệ sống tại nông thôn chỉ là 29,7% Trình độ học vấn của họ chủ yếu ở bậc tiểu học (32,9%) và trung học cơ sở (29,2%), do điều kiện học tập khó khăn trong quá khứ Mức sống của bệnh nhân chủ yếu ở mức trung bình (59,3%), với tỷ lệ nghèo (3,70%) và cận nghèo (1,80%) rất thấp Đặc biệt, 85,2% bệnh nhân đã có gia đình, trong đó 47,2% cho biết cả hai vợ chồng là trụ cột gia đình Đáng chú ý, 94,4% bệnh nhân có bảo hiểm y tế, với 57,9% hưởng mức tối thiểu 80% Khi được hỏi về khả năng chi trả chi phí điều trị, 77,3% cho biết gia đình có thể trang trải, chỉ 22,7% phải vay mượn thêm.

Nhóm tuổi, mức sống, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, và bảo hiểm y tế (BHYT) của đối tượng nghiên cứu có sự tương đồng với các nghiên cứu của Lưu Thị Thắm và Trần Ngọc Yến Cả hai nghiên cứu đều chỉ ra rằng đối tượng chủ yếu là người trên 55 tuổi, đã kết hôn, với trình độ học vấn chủ yếu ở cấp 1 hoặc cấp 2, và mức sống trung bình Hầu hết đều có BHYT và hưởng mức 80%, cho thấy khả năng chi trả viện phí cao Tuy nhiên, nơi sinh sống của đối tượng nghiên cứu này chủ yếu ở TP Hồ Chí Minh, khác với hai nghiên cứu trước đó chủ yếu ở nông thôn, điều này phản ánh sự khác biệt do địa bàn nghiên cứu.

Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh

4.2.1 Nhu cầu hỗ trợ về thông tin, tư vấn, hướng dẫn về các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

Nhu cầu được hướng dẫn và hỗ trợ thủ tục khám bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất, lên tới 87,5% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của tác giả Lưu Thị Thắm tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức.

Nghiên cứu của tác giả Phạm Tiến Nam và Trần Thị Ngọc Vân tại Bệnh viện Nhi Trung Ương cho thấy 85,9% người bệnh cần được hướng dẫn thủ tục hành chính Điều này xuất phát từ tâm lý sợ chờ lâu và lo ngại về việc thực hiện sai thủ tục, dẫn đến trì hoãn Người bệnh, đặc biệt là người lớn tuổi, gặp khó khăn trong việc di chuyển và mong muốn được hướng dẫn để tiết kiệm thời gian và công sức Khi điều trị bằng y học cổ truyền, với nhiều phương pháp kết hợp như châm cứu, xoa bóp, và vật lý trị liệu, nhu cầu được hướng dẫn quy trình càng trở nên cấp thiết để hoàn tất điều trị nhanh chóng.

Người bệnh có nhu cầu cao về tư vấn chi phí điều trị, với tỷ lệ lên đến 87,0% Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Nguyễn Văn Bằng, trong đó chỉ 54% người bệnh thể hiện nhu cầu tương tự Sự khác biệt này có thể được giải thích bởi đặc thù của người bệnh nội trú tại Viện, chủ yếu là những người mắc bệnh mãn tính và có thời gian điều trị kéo dài, có thể lên đến hàng năm Do đó, việc nắm rõ chi phí điều trị là cần thiết để họ có thể sắp xếp và chuẩn bị tài chính một cách hợp lý.

Nhu cầu tư vấn chính sách bảo hiểm y tế (BHYT) rất cao, đạt 82,4%, với tỷ lệ người bệnh tại các bệnh viện như Bệnh viện Đa khoa Trung tâm Tiền Giang lên tới 95,4% và Bệnh viện Hữu Nghị Việt Đức là 90% Sự quan tâm này xuất phát từ việc chính sách BHYT thường xuyên thay đổi và cập nhật.

Có nhiều chính sách khác nhau cho từng loại mã thẻ BHYT, khiến người bệnh thường thắc mắc và so sánh quyền lợi của mình với những người khác Họ nhận thức rằng thẻ BHYT ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của mình, vì vậy luôn mong muốn được tư vấn và hướng dẫn để tận dụng tối đa chính sách BHYT Do đó, vấn đề này luôn được người bệnh đặc biệt quan tâm.

Kết quả nghiên cứu cho thấy người bệnh nội trú thuộc hộ nghèo có nhu cầu tư vấn trợ cấp xã hội thấp, với tỷ lệ chỉ 5,56% cho hộ nghèo và 2,74% cho hộ cận nghèo Điều này phù hợp với đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu, chủ yếu là cư dân thành thị với mức sống trung bình, dẫn đến nhu cầu tư vấn trợ cấp xã hội không cao.

4.2.2 Nhu cầu tiếp cận với các dịch vụ truyền thông, nâng cao nhận thức Ở nhóm nhu cầu này nội dung phòng, chống bệnh (72,2%) và nội dung qui tắc ứng xử trong bệnh viện (71,8%) chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với 2 nội dung còn lại

Nội dung phòng, chống bệnh liên quan trực tiếp đến những vấn đề mà người bệnh đang phải đối mặt Mối quan tâm hàng đầu của người bệnh và người nhà là tình trạng sức khỏe của họ.

HUPH mong muốn nâng cao sức khỏe và áp dụng các biện pháp phòng ngừa bệnh tật Đồng thời, họ cũng tìm hiểu cách phòng tránh các căn bệnh khác để chia sẻ thông tin hữu ích với bạn bè và người thân Theo báo cáo trong 6 tháng đầu năm 2021,

Trong lĩnh vực truyền thông giáo dục sức khỏe, tài liệu được NBNT chú trọng bao gồm bài tập cho người đau lưng, cẩm nang sử dụng cây thuốc nam, và phiếu tóm tắt quy trình khám chữa bệnh liệt mặt nguyên phát Trong 6 tháng qua, hơn 500 tờ rơi cho mỗi loại đã được phân phát đến NBNT Những tờ rơi này chứa đựng thông tin chuyên sâu về y học cổ truyền, thu hút sự quan tâm của bệnh nhân đang điều trị theo phương pháp này.

Nhu cầu về nội dung quy tắc ứng xử trong bệnh viện đạt tỷ lệ cao (71,8%), cho thấy tầm quan trọng của giao tiếp giữa nhân viên y tế và người bệnh Cách trò chuyện và ứng xử của nhân viên y tế không chỉ ảnh hưởng đến tinh thần người bệnh mà còn tác động trực tiếp đến quá trình điều trị Đặc biệt, đối với những bệnh nhân cần điều trị lâu dài, việc tiếp xúc hàng ngày với nhân viên y tế càng làm nổi bật vai trò của ứng xử tốt Nếu không có cách ứng xử phù hợp, người bệnh có thể cảm thấy ức chế và chán nản, từ đó ảnh hưởng xấu đến kết quả điều trị.

Tỷ lệ người bệnh tiếp cận hòm thư góp ý chỉ đạt 45,4%, tương tự như nghiên cứu của Phạm Tiến Nam (50) Cả nhân viên y tế và người bệnh đều nhận thấy rằng người bệnh thường chỉ quan tâm đến các vấn đề liên quan đến bệnh của họ Đặc biệt, người bệnh lớn tuổi gặp khó khăn trong việc ghi chép và thường muốn nhận phản hồi nhanh chóng, nên họ thường góp ý trực tiếp tại văn phòng khoa hoặc qua số điện thoại đường dây nóng Do đó, hòm thư góp ý ít được quan tâm tại Viện Y dược học Theo báo cáo hàng tháng của phòng CTXH, trung bình mỗi tháng chỉ nhận được 6-8 thư, trong đó thư từ hòm thư góp ý chỉ chiếm 1-2 thư.

Nhu cầu tiếp cận các quy định về khám chữa bệnh tại Viện chỉ đạt 51,4% Nguyên nhân là do người bệnh đã được tư vấn ngay tại văn phòng hành chính của khoa khi nhập viện, dẫn đến sự thiếu quan tâm về vấn đề này.

HUPH cung cấp đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ, giải thích rõ nội quy và yêu cầu ký cam kết Nghiên cứu định tính cho thấy người bệnh chủ yếu quan tâm đến thông tin về điều trị và phòng ngừa bệnh, trong khi nhu cầu tiếp cận quy định về khám và chữa bệnh lại không cao.

4.2.3 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý - xã hội

Trong nhóm nhu cầu hỗ trợ tâm lý – xã hội, bệnh nhân có nhu cầu cao nhất về việc được hỏi thăm về hoàn cảnh gia đình và tình hình phục hồi sức khỏe (65,7%) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Văn Thị Hồng Phượng, cho thấy bệnh nhân tại Viện Y dược học dân tộc cần được nâng đỡ về tâm lý và giải tỏa cảm xúc Nghiên cứu của tác giả cũng chỉ ra rằng nhu cầu hỗ trợ tâm lý khi cảm thấy buồn rầu, chán nản đạt tỷ lệ cao (85,6%) Nhiều bệnh nhân điều trị tại viện có thời gian kéo dài, dẫn đến cảm giác chán nản và bi quan Một cuộc phỏng vấn với bệnh nhân tại khoa Nội ung bướu cho thấy việc xa nhà lâu ngày làm tinh thần họ suy giảm, thường xuyên cảm thấy bất an và lo âu, do đó họ rất cần hỗ trợ để duy trì tinh thần tích cực.

Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 phức tạp, dẫn đến việc thu thập số liệu định tính (phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm) bị hạn chế Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của nhân viên y tế chủ yếu dựa trên ý kiến của họ, mà chưa được đánh giá từ phía bệnh nhân và người nhà, làm cho kết quả nghiên cứu chưa thật sự sâu sắc.

1 Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của người bệnh nội trú tại Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh

Nhu cầu hỗ trợ về công tác xã hội của NBNT tại Viện Y dược học dân tộc chiếm tỷ lệ ở các mức khác nhau:

Nhóm nhu cầu hỗ trợ thông tin và tư vấn về dịch vụ khám chữa bệnh bao gồm: hướng dẫn và hỗ trợ thủ tục khám bệnh (87,5%); tư vấn chi phí điều trị (87,0%); tư vấn chính sách bảo hiểm y tế (82,4%); hỗ trợ thủ tục chuyển cơ sở điều trị và xuất viện (81,9%); và tư vấn trợ cấp xã hội cho bệnh nhân nội trú thuộc hộ nghèo (58,3%).

Nhóm nhu cầu tiếp cận dịch vụ truyền thông và nâng cao nhận thức bao gồm: nội dung phòng, chống bệnh đạt 72,2%; hòm thư góp ý trong bệnh viện chiếm 45,4%; qui tắc ứng xử trong bệnh viện là 71,8%; và các qui định về khám chữa bệnh tại viện là 51,4%.

Nhóm nhu cầu hỗ trợ tâm lý - xã hội bao gồm các yếu tố quan trọng như hỏi thăm về hoàn cảnh gia đình và tình hình tiến triển phục hồi sức khỏe (65,7%), tư vấn – tham vấn tâm lý (37,0%), trị liệu tâm lý (20,8%), tư vấn giao tiếp xã hội (61,1%) và cung cấp thông tin về mạng lưới hỗ trợ bệnh nhân (63,4%).

Nhóm nhu cầu kết nối nguồn lực và hỗ trợ viện phí bao gồm các hình thức hỗ trợ như: 30,6% người bệnh nhận được tiền mặt để thanh toán một phần viện phí, 23,6% được hỗ trợ tiền mặt cho sinh hoạt phí, 45,8% được tặng đồ dùng cá nhân, và 47,2% được cung cấp bữa ăn miễn phí Ngoài ra, 56,5% người bệnh nhận được hỗ trợ chỗ ở cho người chăm sóc trong suốt quá trình điều trị, cùng với 34,5% được kết nối với bác sĩ, điều dưỡng và nhà tâm vấn tâm lý.

2 Khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ về CTXH của Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh

Chính sách và hệ thống thông tin về hỗ trợ người bệnh không có thẻ bảo hiểm y tế (NBNT) được thực hiện theo Thông tư 43/2015/TT-BYT của Bộ Y tế, nhờ sự quan tâm của các cấp lãnh đạo Viện đã ban hành nhiều văn bản nhằm thực hiện nhiệm vụ của phòng công tác xã hội (CTXH) và đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của người sử dụng bảo hiểm y tế (BHYT), tạo điều kiện thuận lợi cho người bệnh trong việc hưởng quyền lợi của mình.

BHYT được áp dụng theo quy định cao nhất, nhưng hiện tại, văn bản tại Viện chưa đáp ứng đủ nhu cầu hỗ trợ tâm lý cho người bệnh Hệ thống thông tin đã được phát triển mạnh mẽ, với việc ứng dụng nhiều hình thức truyền thông hiệu quả để cung cấp thông tin cần thiết cho bệnh nhân Mặc dù hệ thống biển báo chỉ dẫn được thiết kế đồng bộ và phù hợp, nhưng do đặc thù người bệnh chủ yếu là người lớn tuổi và có thị lực kém, họ gặp khó khăn trong việc sử dụng Đường dây chăm sóc khách hàng luôn sẵn sàng tư vấn và hỗ trợ từ xa cho người bệnh.

Đội ngũ nhân viên phòng CTXH có đủ số lượng và chuyên môn, với nhân viên trẻ tuổi, năng động, phù hợp với tính chất công việc Mạng lưới CTXH bao phủ tất cả các khoa, phòng, giúp phân bổ công việc và thành viên một cách hợp lý, thuận lợi cho việc thực hiện CTXH Sự phối hợp linh hoạt và tính chủ động trong hỗ trợ đồng nghiệp nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ CTXH cho người bệnh và người thân Tuy nhiên, hạn chế là nhân viên CTXH thiếu kiến thức y khoa lâm sàng và không có nhân sự giao tiếp lưu loát bằng tiếng Anh.

Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác hỗ trợ người bệnh nội trú tại các lầu 1, 2 và 3 chưa được đồng bộ, thiếu các bàn và quầy hướng dẫn Ngoài ra, chưa có phòng tham vấn và trị liệu tâm lý được bố trí hợp lý.

Tài liệu truyền thông đa dạng và phong phú, với hình thức rõ ràng và nội dung chính xác, đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong việc nâng cao nhận thức về các dịch vụ truyền thông Sản phẩm này hữu ích và dễ tiếp cận, giúp người dân tìm hiểu thông tin, tư vấn và hướng dẫn về các dịch vụ khám bệnh và chữa bệnh.

Tổ chức đã triển khai nhiều hoạt động và chương trình hỗ trợ người bệnh nặng (NBNT) với tổng số tiền lên tới 60.150.000 đồng Hình thức hỗ trợ rất đa dạng và phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại hạn chế trong việc vận động nguồn tài trợ cho trang thiết bị y tế phục vụ cho NBNT.

Dựa trên kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động công tác xã hội tại Viện Y dược học dân tộc.

Bố trí thêm bàn và quầy hướng dẫn tại các lầu 1, lầu 2, lầu 3 nhằm tư vấn và cung cấp thông tin liên quan đến bảo hiểm y tế (BHYT) và quy trình khám chữa bệnh, đáp ứng nhu cầu của người bệnh và người nhà bệnh nhân.

- Đào tạo, tập huấn, nâng cao kiến thức, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, xử lý tình huống cho nhân viên CTXH Đối với phòng Công tác xã hội

Duy trì và phát triển các hoạt động hiện có nhằm hỗ trợ người bệnh có hoàn cảnh khó khăn, tổ chức các buổi giao lưu giữa người bệnh và nhân viên y tế, cung cấp suất ăn miễn phí, cũng như tổ chức các dịch vụ cắt tóc và gội đầu miễn phí.

Chúng tôi sẽ tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa các hình thức tư vấn và chăm sóc khách hàng thông qua nhiều kênh như phòng tư vấn, trang điện tử, mạng xã hội và đường dây điện thoại hỗ trợ khách hàng.

- Thường xuyên tự đào tạo, cập nhật các quy định, văn bản mới về bảo hiểm, khám chữa bệnh, để sẵn sàng tư vấn cho người bệnh

1 Bộ Y tế Thông tư 43/2015/TT-BYT quy định về nhiệm vụ và hình thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ công tác xã hội của bệnh viện, 2018

2 Trần Văn Kham, (2009), "Hiểu về quan niệm công tác xã hội", Tạp chí khoa học Đại học quốc gia Hà Nội, pp 1-7

3 WhitakerT, Weismiller and Clark & Wilson, (2006), "Assuring the sufficiency of a Front Line Workforce: A National Study of Lincensed, National Assdciation of Social Workers", Washington DC

4 Inken Padberg, (2016), "Social work after stroke: identifying demand for support by recording stroke patients’ and carers’ needs in different phases after stroke", BMC Neurology

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:06

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm