1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020

133 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang năm 2020
Tác giả Lê Trần Thu Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Trần Văn Chiến
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế cộng đồng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 4,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (16)
    • 1.1. Một số khái niệm (16)
      • 1.1.1. Người cao tuổi (16)
      • 1.1.2. Già hoá dân số (16)
      • 1.1.3. Quá trình già hoá (16)
      • 1.1.4. Hành vi (16)
      • 1.1.5. Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe (16)
      • 1.1.6. Khám sức khỏe định kỳ là gì? (16)
      • 1.1.7. Nội dung khám sức khỏe định kỳ (17)
    • 1.2. Già hóa dân số và sự cần thiết phải chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (0)
      • 1.2.1. Đặc điểm già hóa dân số ở Việt Nam (17)
      • 1.2.2. Già hóa dân số ở Tiền Giang (18)
      • 1.2.3. Tính cần thiết của việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (19)
      • 1.2.4. Chính sách liên quan công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (0)
    • 1.3. Một số lý thuyết về hành vi sức khỏe (21)
    • 1.4. Một số nghiên cứu liên quan đến đề tài (22)
      • 1.4.1. Thực trạng sức khỏe của người cao tuổi (22)
      • 1.4.2. Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (23)
    • 1.5. Giới thiệu tóm tắt về địa bàn nghiên cứu (33)
      • 1.5.1. Vị trí địa lý, tự nhiên và xã hội (33)
      • 1.5.2. Số liệu Người cao tuổi tại thành phố Mỹ Tho (33)
      • 1.5.3. Thông tin về Y tế (34)
      • 1.5.4. Công tác Chăm sóc sức khỏe Người cao tuổi tại TP Mỹ Tho (0)
    • 1.6. Khung lý thuyết (35)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (38)
      • 2.1.1. Nghiên cứu định lượng (38)
      • 2.1.2. Nghiên cứu định tính (38)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (38)
      • 2.2.1. Thời gian nghiên cứu (38)
      • 2.2.2. Địa điểm nghiên cứu (38)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (39)
    • 2.4. Cỡ mẫu (39)
      • 2.4.1. Nghiên cứu định lượng (39)
      • 2.4.2. Nghiên cứu định tính (40)
    • 2.5. Phương pháp chọn mẫu (41)
      • 2.5.1 Nghiên cứu định lượng (41)
      • 2.5.2. Nghiên cứu định tính (41)
    • 2.6. Phương pháp thu thập số liệu (42)
      • 2.6.1. Nghiên cứu định lượng (42)
      • 2.6.2. Nghiên cứu định tính (43)
    • 2.7. Các biến số nghiên cứu (44)
      • 2.7.1. Nhóm biến số chính trong nghiên cứu định lượng (44)
      • 2.7.2. Chủ đề chính trong nghiên cứu định tính (45)
    • 2.8. Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá (0)
    • 2.9. Phương pháp phân tích số liệu (48)
      • 2.9.1. Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định lượng (48)
      • 2.9.2. Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định tính (48)
    • 2.10. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (49)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (50)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (50)
    • 3.2. Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Người cao tuổi (51)
      • 3.2.1. Các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến của người cao tuổi (51)
      • 3.2.2. Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi (53)
    • 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi (59)
      • 3.3.1 Các yếu tố thuộc về nhân cá nhân (yếu tố tiền đề) (59)
      • 3.3.2. Yếu tố thuộc về người thân, sự hỗ trợ của cộng đồng (67)
      • 3.3.3. Các yếu tố thuận lợi (70)
  • Chương 4 (74)
    • 4.1. Thông tin đối tượng nghiên cứu (74)
    • 4.2. Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi (75)
      • 4.2.1. Các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến của người cao tuổi (75)
      • 4.2.2. Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi (77)
    • 4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ Chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi (81)
      • 4.3.1 Yếu tố cá nhân (81)
      • 4.3.2. Yếu tố thuộc về người thân (83)
      • 4.3.3. Các yếu tố thuận lợi (83)
    • 4.4. Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu (85)
  • KẾT LUẬN (87)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Người cao tuổi được định nghĩa là những cá nhân từ 60 tuổi trở lên, tức là sinh từ ngày 01/01/1960 trở về trước, hiện đang sinh sống tại phường 4 và xã Trung An, thành phố Mỹ Tho.

- Người cao tuổi thuộc danh sách được quản lý tại Trạm Y tế phường 4, xã Trung An (địa bàn nghiên cứu)

Người cao tuổi mới chuyển đến sinh sống tại khu vực chưa đủ 6 tháng và những người không có khả năng nói, nghe hoặc không thể trả lời, bao gồm cả những người câm điếc hoặc mắc rối loạn tâm thần, cần được chú ý đặc biệt trong cộng đồng.

+ Người cao tuổi không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Lãnh đạo Trung tâm Y tế TP Mỹ Tho;

- Lãnh đạo Hội người cao tuổi TP Mỹ Tho;

- Viên chức Trung tâm Y tế huyện (phụ trách Đề án NCT);

- Viên chức Trạm Y tế xã (phụ trách Đề án NCT);

- Cộng tác viên dân số;

- Thành viên Tổ tình nguyện viên chăm sóc NCT tại cộng đồng;

- Người thân của người cao tuổi;

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Từ tháng 11/2019 đến tháng 7 năm 2020

Phường 4 và xã Trung An, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang với sự kết hợp giữa phương pháp định tính và định lượng Cả hai phương pháp được thực hiện đồng thời để bổ sung và đối chiếu thông tin từ nhiều góc độ khác nhau.

- Nghiên cứu định lượng trả lời cho câu hỏi:

Các vấn đề sức khỏe phổ biến của người cao tuổi (NCT) tại Tp Mỹ Tho bao gồm các bệnh mãn tính và tình trạng sức khỏe tâm lý Người cao tuổi ở Tp Mỹ Tho thường tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) tại các cơ sở y tế địa phương, bao gồm bệnh viện và phòng khám đa khoa.

Tỷ lệ đối với từng loại dịch vụ/cơ sở y tế?

Các yếu tố như tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp trước đây, kiến thức, thái độ, bảo hiểm y tế, tình hình kinh tế gia đình, sự quan tâm từ người thân và khoảng cách địa lý đều có ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi.

- Nghiên cứu định tính trả lời cho câu hỏi:

+ Lý do NCT sử dụng/không sử dụng dịch vụ CSSK (KSKĐK, KCB) tại y tế cơ sở?

+ Những yếu tố nào ảnh hưởng tới hành vi của NCT khi quyết định sử dụng/không sử dụng dịch vụ CSSK?

NCT mong muốn nhận được sự hỗ trợ từ người thân, cộng đồng và cơ sở y tế trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe của bản thân Họ cần một môi trường chính sách thuận lợi, giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và đảm bảo quyền lợi sức khỏe Sự quan tâm và chăm sóc từ gia đình, cùng với các dịch vụ y tế chất lượng, sẽ góp phần quan trọng vào việc duy trì sức khỏe và tinh thần cho NCT.

Cỡ mẫu

Số lượng NCT trong nghiên cứu được tính theo công thức: n = Z 1−a/2 2 d P(1−P) 2 X HSTK Trong đó:

- n: là cỡ mẫu nghiên cứu

- Z: hệ số tin cậy, trong nghiên cứu này , chọn mức tin cậy mong muốn là 95% (tra bảng ta được Z = 1,96)

- p: là tỷ lệ NCT có hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK Trong nghiên cứu này, hành vi tìm kiếm dịch vụ CSSK gồm hai hành vi:

Tỷ lệ người cao tuổi (NCT) tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) khi chưa mắc bệnh, tức là hành vi khám sức khỏe định kỳ, được nghiên cứu bởi tác giả Phạm Vũ Hoàng vào năm 2013 Kết quả cho thấy tỷ lệ NCT đến khám định kỳ là 27,7%, do đó giá trị p1 được xác định là 0,277.

Tỷ lệ người cao tuổi (NCT) tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe khi mắc bệnh là 60,9%, theo nghiên cứu của tác giả Phạm Vũ Hoàng Do đó, giá trị p được sử dụng trong phân tích là 0,6.

- d: Sai số cho phép so với tỷ lệ thật của quần thể, trong nghiên cứu này tôi chấp nhận d=0,05

Thay các thông số vào công thức, ta được: n1= 616 ; n2= 738 Để cỡ mẫu đủ lớn đánh giá cho cả 2 hành vi KSKĐK và KCB, chọn n2s8 làm cỡ mẫu nghiên cứu

Trong nghiên cứu cộng đồng tại hộ gia đình, tôi đã cộng thêm 10% vào tổng số đối tượng để dự phòng cho các trường hợp loại trừ hoặc phiếu không hợp lệ Do đó, tổng số đối tượng nghiên cứu là 810 người, được tính bằng 738 cộng với 10% của 738.

Sử dụng kỹ thuật phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với cỡ mẫu như sau:

- 02 Phỏng vấn sâu (PVS): Lãnh đạo Trung tâm Y tế và Lãnh đạo Hội Người cao tuổi thành phố Mỹ Tho

Nhóm thảo luận (TLN) gồm 10 người sẽ cung cấp dịch vụ chăm sóc người cao tuổi (NCT), bao gồm viên chức từ Trung tâm Y tế huyện, viên chức Trạm Y tế xã, tình nguyện viên và cộng tác viên Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại ấp/khu phố.

+ 01 nhóm người cao tuổi/người thân NCT

Tổng cộng: 02 cuộc PVS và 02 TLN với 20 người tham gia

Phương pháp chọn mẫu

Dùng phương pháp chọn theo 2 giai đoạn

Giai đoạn 1 của nghiên cứu bao gồm việc chọn ngẫu nhiên một phường và một xã, đại diện cho hai đơn vị hành chính với điều kiện kinh tế khác nhau Kết quả cho thấy phường 4 và xã Trung An đã được lựa chọn làm địa bàn nghiên cứu.

Giai đoạn 2 bao gồm việc chọn mẫu ngẫu nhiên từ danh sách người cao tuổi (NCT) đầu năm 2020, với 2.965 NCT ở phường 4 và 3.291 NCT ở xã Trung An, tổng cộng 6.256 NCT Danh sách này được lập và đánh số thứ tự từ 01 đến 6.256.

+ Tính khoảng cách mẫu ngẫu nhiên hệ thống k= 6.256/810 = 7,7 làm tròn xuống thành 7

Trong danh sách 6.256 NCT, chúng tôi đã chọn ngẫu nhiên NCT thứ 3 làm người phỏng vấn đầu tiên Người thứ 2 sẽ được chọn theo quy tắc 3 + 7 = 10, và người thứ 3 sẽ là 10 + 7 = 17 Quy trình này sẽ tiếp tục cho đến khi hoàn tất danh sách.

Sử dụng phương pháp chọn chủ đích để lựa chọn các đối tượng tham gia nghiên cứu, đảm bảo họ có khả năng cung cấp nhiều thông tin từ các nhóm khác nhau, đáp ứng các tiêu chí đã đề ra.

+ 01 Lãnh đạo Trung tâm Y tế: phụ trách việc triển khai và thực hiện các dịch vụ CSSK cho NCT ở địa phương

Lãnh đạo Hội Người cao tuổi thành phố chịu trách nhiệm hướng dẫn các Hội NCT tại xã/phường phối hợp với Trạm Y tế để tổ chức cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi trong cộng đồng.

Nhóm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi bao gồm 01 viên chức từ Trung tâm Y tế huyện, 02 viên chức của Trạm Y tế, 02 tình nguyện viên và 05 cộng tác viên Dân số - Kế hoạch hóa gia đình tại ấp/khu phố, tổng cộng có 10 người tham gia.

Nhóm NCT bao gồm 01 NCT không KSKĐK, 01 NCT đã thực hiện KSKĐK tại tuyến YTCS, và 02 NCT KSKĐK tại CSYT tuyến tỉnh/trung ương Ngoài ra, có 01 NCT không KCB khi mắc bệnh, 01 NCT có KCB tại tuyến YTCS, và 02 NCT KCB tại CSYT tuyến tỉnh/trung ương Đặc biệt, có 02 người thân đang chăm sóc cho NCT.

Phương pháp thu thập số liệu

Bộ câu hỏi thu thập số liệu được thiết kế dựa trên các biến số nghiên cứu từ tổng quan tài liệu, bao gồm thông tin cá nhân như tuổi, giới tính, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, và tình trạng sống cùng thành viên NCT, cũng như thông tin về bảo hiểm y tế và khoảng cách di chuyển Ngoài ra, bộ câu hỏi còn khảo sát tình trạng sức khỏe và hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT, bao gồm khám sức khỏe định kỳ và chữa bệnh Cuối cùng, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT cũng được xem xét, như yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ, sự quan tâm của người thân, và các hoạt động truyền thông.

Sau khi hoàn thiện Bộ câu hỏi, chúng tôi đã tiến hành điều tra thử nghiệm với 10 NCT, từ đó chỉnh sửa và hoàn thiện Bộ câu hỏi chính thức được trình bày trong Phụ lục 1.

Cán bộ thu thập dữ liệu bao gồm học viên (nghiên cứu viên chính) và 10 điều tra viên là viên chức phụ trách công tác dân số tại xã, phường, có kinh nghiệm trong các cuộc điều tra xã hội học Các điều tra viên được tập huấn bởi nghiên cứu viên chính về mục tiêu, nội dung bộ câu hỏi và kỹ năng phỏng vấn Nghiên cứu viên giải thích từng câu hỏi, nêu rõ các bước để đảm bảo tính logic, sau đó cho điều tra viên thực hành phỏng vấn, nhận xét và góp ý để cải thiện kỹ năng phỏng vấn.

Điều tra viên đến nhà NCT theo danh sách đã lập sẵn Nếu NCT thuộc diện loại trừ, điều tra viên sẽ không phỏng vấn mà chỉ phát tài liệu hướng dẫn kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe Trong trường hợp NCT không có mặt, điều tra viên sẽ chuyển sang NCT tiếp theo trong danh sách và sẽ quay lại sau Nếu sau ba lần không gặp NCT, điều tra viên sẽ chọn NCT khác.

HUPH tiếp theo trong danh sách đã lập) Thực hiện như thế cho đến khi đủ mẫu

Tiến hành phỏng vấn trực tiếp bằng cách đọc từng câu hỏi từ Phiếu thu thập thông tin, cho phép NCT tự trả lời mà không nhắc đến đáp án trong suốt quá trình hỏi.

Sau khi phỏng vấn, điều tra viên sẽ giải thích và tư vấn trực tiếp, đồng thời phát tài liệu hướng dẫn kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe cho người được phỏng vấn, dựa trên tài liệu của Chi cục Dân số-KHHGĐ Họ khuyến khích người dân dành thời gian đọc tài liệu và tuyên truyền về chăm sóc sức khỏe NCT Hoạt động này được coi là một lần truyền thông và cấp phát tài liệu tuyên truyền Để giảm sai số trong nghiên cứu, các điều tra viên sẽ được giám sát trong quá trình thu thập thông tin, bao gồm việc kiểm tra tính đầy đủ và logic của thông tin, cũng như phỏng vấn ngẫu nhiên một số NCT để nhận phản hồi và hoàn thiện quy trình.

- Công cụ thu thập: các hướng dẫn PVS/TLN cho từng nhóm đối tượng (Phụ lục 2)

- Mỗi cuộc PVS/TLN đều có 2 người thực hiện: học viên là người trực tiếp hỏi và 1 điều tra viên làm thư ký

Dịch vụ TLN cho người cao tuổi và người thân được thực hiện tại Trạm Y tế xã Trung An và phường 4, với sự tham gia của viên chức dân số tại Trạm.

Y tế mời người tham dự theo thành phần quy định và làm thư ký cho buổi họp Đối với PVS, học viên sẽ hẹn gặp vào thời gian và địa điểm do người được phỏng vấn chọn, với kết quả phỏng vấn lãnh đạo TTYT diễn ra tại phòng làm việc của TTYT và phỏng vấn lãnh đạo Hội người cao tuổi thành phố Mỹ Tho tại phòng họp UBND thành phố Mỹ Tho.

Các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) được thực hiện trong khoảng thời gian từ 30 đến 45 phút, trong khi thời gian cho thảo luận nhóm (TLN) kéo dài từ 60 đến 90 phút Thư ký có trách nhiệm ghi lại biên bản và thu âm toàn bộ cuộc PVS/TLN, sau khi đã nhận được sự đồng ý của đối tượng nghiên cứu.

Các biến số nghiên cứu

2.7.1 Nhóm biến số chính trong nghiên cứu định lượng

Yếu tố nhân khẩu học bao gồm tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình hình kinh tế, số lượng thành viên trong gia đình người cao tuổi sống cùng, và tình trạng bảo hiểm y tế Ngoài ra, khoảng cách và điều kiện di chuyển đến cơ sở y tế cũng là những yếu tố quan trọng cần xem xét.

Nhóm biến thuộc về các vấn đề sức khỏe phổ biến của NCT: Tình trạng sức khỏe hiện tại, tình trạng mắc bệnh trong 6 tháng qua

Nhóm biến thuộc về hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT:

Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK) có thể được chia thành hai loại chính Đầu tiên, khi chưa có bệnh, người dân thường thực hiện khám sức khỏe định kỳ để theo dõi tình trạng sức khỏe của mình Thứ hai, khi mắc bệnh, họ tìm kiếm dịch vụ khám chữa bệnh để được điều trị kịp thời và hiệu quả.

Nhóm biến về một số yếu tố liên quan đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT:

Nhóm biến kiến thức bao gồm: Kiến thức về sức khỏe người cao tuổi, các bệnh lý thường gặp ở người cao tuổi, kiến thức về khám sức khỏe định kỳ để dự phòng và điều trị bệnh sớm, cũng như khám và điều trị khi mắc bệnh.

Nhóm biến thuộc thái độ bao gồm những yếu tố quan trọng như tính cần thiết của việc kiểm tra sức khỏe định kỳ, khám chữa bệnh khi mắc bệnh, và đánh giá mức độ nhạy cảm của bản thân đối với bệnh Ngoài ra, cần xem xét mức độ trầm trọng của bệnh lý tuổi già, những trở ngại trong việc kiểm tra sức khỏe định kỳ và khám chữa bệnh, cũng như sự tự chủ của bản thân trong các vấn đề này Cuối cùng, sự cần thiết phải có hỗ trợ kinh phí từ phía nhà nước cũng là một yếu tố không thể thiếu.

Yếu tố gia đình và người thân đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi (NCT) Sự quan tâm và hỗ trợ từ các thành viên trong gia đình, cũng như sự tham gia của Hội NCT, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT Bên cạnh đó, hoạt động của các tình nguyện viên chăm sóc sức khỏe tại nhà cũng góp phần không nhỏ vào việc đảm bảo sức khỏe và sự an tâm cho người cao tuổi.

+ Yếu tố dịch vụ y tế: Hoạt động truyền thông cung cấp kiến thức cho NCT

Phụ lục 3 trình bày chi tiết tên, định nghĩa, phân loại và cách thu thập đối với từng biến số

2.7.2.Chủ đề chính trong nghiên cứu định tính

Phỏng vấn sâu Lãnh đạo TTYT:

- Nhân lực thực hiện dịch vụ CSSK NCT tại TYT, TTYT: số lượng đủ/thiếu; có được đào tạo chuyên môn lão khoa?

- Những trở ngại trong việc thực hiện KSKĐK cho NCT hàng năm?

- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc thiết yếu phục vụ công tác KCB NCT tại TYT; TTYT?

- Mức độ đáp ứng nhu cầu KCB người cao tuổi của TYT, TTYT?

- Các hoạt động truyền thông hướng dẫn CSSK NCT như thế nào? (hình thức, địa điểm tổ chức, số lượng )? Các nội dung truyền thông?

- Giải pháp nâng cao chất lượng KCB NCT TYT, TTYT

Phỏng vấn sâu Lãnh đạo Hội NCT:

- Việc phối hợp triển khai thực hiện dịch vụ CSSK NCT tại Tp Mỹ Tho, tại xã/phường/thị trấn? (Các công việc đã triển khai thực hiện?)

Thành viên câu lạc bộ NCT đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại cộng đồng Họ tham gia tích cực vào việc chăm sóc NCT tại nhà, thực hiện các công việc cụ thể như thăm hỏi, cung cấp thông tin về sức khỏe, và hỗ trợ trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày Sự hiện diện và nỗ lực của họ không chỉ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho NCT mà còn tạo ra một môi trường gắn kết và hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng.

- Giải pháp nâng cao chất lượng CSSK NCT tại cộng đồng?

Thảo luận nhóm cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi (Viên chức TTYT, Trạm Y tế xã) Cộng tác viên Dân số, tình nguyện viên:

- Việc tham gia thực hiện các hoạt động KSKĐK, KCB cho NCT

- Hoạt động truyền thông cung cấp kiến thức cho NCT tại cộng đồng;

- Các hoạt động CSSK NCT tại nhà

- Việc huy động NCT thực hiện KSKĐK

Thảo luận nhóm Người cao tuổi và người thân người cao tuổi:

- Lý do khám/không KSKĐK, KCB tại YTCS?

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi của NCT khi quyết định sử dụng/không sử dụng dịch vụ CSSK?

- Những mong muốn đối với người thân, cộng đồng, CSYT, trong việc bảo vệ và nâng cao sức khỏe của bản thân

2.8 Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá Đánh giá kiến thức khám sức khỏe định kỳ : Để đánh giá kiến thức về KSKĐK của người cao tuổi, sử dụng phương pháp cho điểm như trong Phụ lục 4 Tổng số điểm tối đa của cả thang đo kiến thức (gồm 8 câu hỏi) là 34 điểm, điểm đạt là 20 điểm (điểm đạt là tổng số điểm đạt của từng nội dung) Đối với từng nội dung, số điểm tùy thuộc vào tổng số câu trả lời và số câu trả lời đúng của nội dung đó Đánh giá kiến thức khám chữa bệnh : Để đánh giá kiến thức về KCB của người cao tuổi, sử dụng phương pháp cho điểm như trong Phụ lục 4 Tổng số điểm tối đa của cả thang đo kiến thức KCB (gồm 5 câu hỏi) là 26 điểm, điểm đạt là 15 điểm (điểm đạt là tổng số điểm đạt của từng nội dung) Đối với từng nội dung, số điểm tùy thuộc vào tổng số câu trả lời và số câu trả lời đúng của nội dung đó Đánh giá thái độ của người cao tuổi đối với khám sức khỏe định kỳ : Đánh giá thái độ KSKĐK dựa trên 15 câu hỏi theo thang đo 3 mức (Đồng ý, phân vân/bình thường, không đồng ý) Đối với các câu thái độ tích cực, nếu NCT đồng ý với phát biểu thì được xem là có thái độ tích cực, ngược lại đối với những câu phát biểu tiêu cực, nếu NCT không đồng ý thì xem là có thái độ tích cực

+ Thái độ chưa tích cực: 0 điểm/câu;

+ Thái độ không quyết đoán (phân vân/bình thường): 1 điểm/câu;

+ Thái độ tích cực (tốt, tích cực): 2 điểm/câu;

+ Đánh giá thái độ về sự cần thiết của KSKĐK: dựa trên 1 câu hỏi, điểm tối đa

2 điểm Thái độ tích cực khi đạt 2 điểm;

+ Đánh giá thái độ về sự nhạy cảm của bản thân với bệnh: gồm 3 câu hỏi, điểm tối đa 6 điểm, thái độ tích cực khi đạt 4 điểm;

Đánh giá thái độ đối với mức độ trầm trọng của bệnh lý tuổi già được thực hiện thông qua hai câu hỏi, trong đó điểm cao nhất là 4 điểm Thái độ được coi là tích cực khi đạt từ 3 điểm trở lên.

+ Đánh giá thái độ đối với những trở ngại của việc KSKĐK, gồm 5 câu hỏi, điểm tối đa 10 điểm, thái độ tích cực khi đạt 8 điểm;

+ Đánh giá thái độ đối với sự tự chủ của bản thân khi thực hiện KSKĐK, gồm

2 câu hỏi, điểm tối đa 4 điểm, thái độ tích cực khi đạt 3 điểm;

Đánh giá thái độ về sự cần thiết hỗ trợ kinh phí cho việc thực hiện KSKĐK được thực hiện qua 2 câu hỏi, với điểm tối đa là 4 điểm Thái độ tích cực được xác định khi đạt từ 3 điểm trở lên.

Thang đo đánh giá thái độ của người cao tuổi đối với khám chữa bệnh có tổng điểm tối đa là 30 và tối thiểu là 0 Điểm đạt được (thái độ tích cực) là từ 23 điểm (75%) trở lên Đánh giá thái độ được thực hiện qua 13 câu hỏi với ba mức độ: Đồng ý, phân vân/bình thường, và không đồng ý Đối với các câu hỏi có thái độ tích cực, nếu người cao tuổi đồng ý thì được xem là có thái độ tích cực; ngược lại, đối với các câu hỏi tiêu cực, nếu họ không đồng ý thì cũng được coi là có thái độ tích cực.

+Thái độ chưa tích cực: 0 điểm/câu;

+Thái độ không quyết đoán (phân vân/bình thường): 1 điểm/câu;

+ Thái độ tích cực (tốt, tích cực): 2 điểm/câu;

+ Đánh giá thái độ về sự cần thiết của KCB: dựa trên 1 câu hỏi, điểm tối đa 2 điểm Thái độ tích cực khi đạt 2 điểm;

+ Đánh giá thái độ về sự nhạy cảm của bản thân với bệnh: gồm 3 câu hỏi, điểm tối đa 6 điểm, thái độ tích cực khi đạt 4 điểm;

Đánh giá thái độ đối với mức độ trầm trọng của bệnh lý tuổi già được thực hiện thông qua hai câu hỏi, trong đó điểm cao nhất là 4 điểm Thái độ được coi là tích cực khi đạt từ 3 điểm trở lên.

+ Đánh giá thái độ đối với những trở ngại của việc KCB gồm 5câu hỏi, điểm tối đa 10 điểm, thái độ tích cực khi đạt 8 điểm;

Đánh giá thái độ đối với sự tự chủ của bản thân trong quá trình thực hiện KCB được thực hiện qua 2 câu hỏi, với điểm tối đa là 4 điểm Thái độ tích cực được xác định khi đạt từ 3 điểm trở lên.

Tổng số điểm số điểm của cả thang đo tối đa là 26 điểm, thấp nhất là 0 điểm, điểm đạt (thái độ tích cực) khi đạt từ 20 điểm (75%) trở lên

2.9 Phương pháp phân tích số liệu

2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định lượng:

Sử dụng phần mềm EpiData 3.1 để nhập liệu, sau đó kiểm tra lỗi logic và các điểm dị biệt (outliers) bằng SPSS 25.0, đồng thời thực hiện làm sạch dữ liệu trước khi tiến hành phân tích.

Biến độc lập: Các biến thuộc về yếu tố nhân khẩu học; kiến thức; thái độ; sự quan tâm của người thân; hoạt động truyền thông

Biến phụ thuộc: Có/không có khám sức khỏe định kỳ; Có/không có khám chữa bệnh

Phân tích số liệu bao gồm việc xác định các tỷ lệ với độ tin cậy 95% và ước lượng khoảng tin cậy Ngoài ra, cần tính toán các tỷ lệ liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng Sử dụng kiểm định thống kê khi bình phương (χ²) để so sánh sự khác biệt giữa hai tỷ lệ trong nghiên cứu.

Giá trị p-value được sử dụng để đánh giá sự khác biệt giữa hai tỷ lệ so sánh, với ngưỡng ý nghĩa thống kê là p < 0,05 Chỉ số Odds Ratio (OR) giúp xác định mức độ khác biệt giữa hai tỷ lệ này.

Phương pháp phân tích số liệu

2.9.1 Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định lượng:

Sử dụng phần mềm EpiData 3.1 để nhập liệu, sau đó kiểm tra lỗi logic và các điểm dị biệt (outliers) bằng SPSS 25.0 trước khi tiến hành phân tích số liệu.

Biến độc lập: Các biến thuộc về yếu tố nhân khẩu học; kiến thức; thái độ; sự quan tâm của người thân; hoạt động truyền thông

Biến phụ thuộc: Có/không có khám sức khỏe định kỳ; Có/không có khám chữa bệnh

Phân tích số liệu bao gồm việc xác định các tỷ lệ với độ tin cậy 95% và ước lượng khoảng tin cậy Ngoài ra, cần tính toán các tỷ lệ liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng Sử dụng kiểm định thống kê khi bình phương (χ²) để so sánh sự khác biệt giữa hai tỷ lệ trong nghiên cứu.

Giá trị p-value được sử dụng để đánh giá sự khác biệt giữa hai tỷ lệ so sánh, với ngưỡng ý nghĩa thống kê là p < 0,05 Chỉ số Odds Ratio (OR) giúp xác định mức độ khác biệt giữa hai tỷ lệ này.

Phân tích số liệu kết hợp với nghiên cứu định tính sẽ làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi.

2.9.2 Phương pháp phân tích số liệu trong nghiên cứu định tính:

- Sau khi thu thập thông tin, tiến hành gỡ băng, ghi chép trung thực và mã hóa các bản ghi

- Lập bảng dữ liệu, tổ chức dữ liệu theo hệ thống và thông tin đã mã hóa vào từng chủ đề

- Thu gọn thông tin, làm sạch dữ liệu

- Chọn lọc, trích dẫn phù hợp để làm rõ thêm kết quả nghiên cứu định tính

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng đạo đức trường đại học y tế công cộng phê duyệt (Quyết định số 48/2020/YTCC-HD3 ngày 20/02/2020), đảm bảo tính hợp pháp và đạo đức Đây là một nghiên cứu cộng đồng tự nguyện, không bắt buộc, và những người từ chối hoặc không hợp tác sẽ không được đưa vào nghiên cứu Sau khi phỏng vấn, điều tra viên sẽ giải thích và phát tài liệu truyền thông nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng tự chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi (NCT) Tài liệu này được biên soạn từ Tổng cục Dân số-KHHGĐ, khuyến khích NCT và người thân dành thời gian đọc và tuyên truyền để mọi người cùng biết và thực hiện.

Tất cả danh sách người nghiên cứu được bảo mật, khi cần công bố thì tên khách hàng được viết tắt

Nghiên cứu này được thực hiện với mục đích phục vụ lợi ích cộng đồng và không nhằm mục đích kinh doanh Đồng thời, nghiên cứu không gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân, vì vậy không có vi phạm về đạo đức.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: (n0)

Biết đọc/biết viết/cấp 1 290 35,8

Trung cấp/ Cao đẳng/Đại học 152 18,8

Không làm gì/nội trợ 58 7,2

Khác: Lâm nghiệp, uốn tóc, 206 25,4 Hiện tại còn làm việc để tạo thu nhập

Hoàn cảnh kinh tế Thuộc hộ nghèo/cận nghèo 51 6,3

Không phải hộ nghèo/cận nghèo 759 93,7

Hiện tại NCT sống cùng

Sống với vợ/chồng/ con 507 62,6

Sống với cháu và người khác 157 19,4

Người có trách nhiệm chi trả các dịch vụ CSSK cho

Bản thân NCT tự chi trả 322 39,8

Cháu và người khác (chị, em, ) 53 6,5

Khoảng cách từ nhà đến

TYT (nơi KCB gần nhất)

Khoảng cách từ nhà đến

TTYT (nơi đủ điều kiện

Kết quả từ Bảng 3.1 cho thấy rằng trong nhóm NCT, nữ chiếm ưu thế với tỷ lệ 63,7% Độ tuổi chủ yếu của NCT là từ 60-69 tuổi, chiếm 62,3% Về trình độ học vấn, 41,4% NCT có trình độ cấp 2,3, trong khi 36,4% biết đọc biết viết Chỉ có 18,8% NCT có học vấn từ trung cấp trở lên, và đáng chú ý là có 4,7% NCT mù chữ.

Trước đây, nghề nghiệp của người cao tuổi (NCT) chủ yếu là buôn bán (31,1%), công chức/viên chức (19,0%) và làm nông (17,3%) Hiện tại, 64,7% NCT đã mất sức hoặc nghỉ hưu, trong khi 35,3% vẫn tiếp tục làm việc để tạo thu nhập Đáng chú ý, có 6,3% NCT tham gia nghiên cứu thuộc hộ nghèo và cận nghèo.

Tỷ lệ người cao tuổi (NCT) có bảo hiểm y tế (BHYT) đạt 97,5% Trong số đó, 62,6% NCT sống cùng vợ/chồng và con cái, 12,5% sống với vợ/chồng, 19,4% sống với cháu và người khác như chị, em, bạn bè, trong khi 5,6% NCT sống một mình.

Nghiên cứu cho thấy rằng người cao tuổi chủ yếu tự chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khỏe của mình, với tỷ lệ 39,8%, trong khi đó, con cái đóng góp 33,8%.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, 93% người cao tuổi (NCT) sống trong khoảng cách dưới 5km đến Trạm Y tế gần nhất, trong khi 65% NCT cũng có khoảng cách tương tự đến Trung tâm Y tế.

Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của Người cao tuổi

3.2.1 Các vấn đề liên quan đến sức khỏe phổ biến của người cao tuổi

3.2.1.1 Tình trạng sức khỏe hiện tại:

Biểu đồ 3 1 Tình trạng sức khỏe hiện tại của người cao tuổi

Biểu đồ 3.1 cho thấy 26% người cao tuổi (NCT) tự nhận mình hoàn toàn khỏe mạnh, không mắc bệnh lý nào Trong khi đó, 73,4% còn lại có ít nhất một bệnh, với 37,2% mắc một bệnh, 22,8% mắc hai bệnh, 11,6% mắc ba bệnh, và 2,3% mắc bốn bệnh trở lên.

3.2.1.2 Tình trạng mắc bệnh trong vòng 6 tháng qua:

Biểu đồ 3 2 Tình trạng mắc bệnh trong 6 tháng gần đây của người cao tuổi

Nghiên cứu cho thấy trong số 810 người cao tuổi tham gia, có 655 người (80,86%) mắc bệnh trong 6 tháng qua Cụ thể, 47,2% mắc bệnh một lần, 13,8% mắc bệnh hai lần, và 19,9% mắc bệnh từ ba lần trở lên.

Biểu đồ 3.3 Bệnh lý mà NCT mắc phải trong vòng 6 tháng qua

Tỷ lệ từng bệnh lý NCT mắc phải (%)

Biểu đồ 3.3 cho thấy, trong 655 NCT (chiếm 80,86%) có mắc bệnh trong vòng

Trong 6 tháng qua, tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh tăng huyết áp cao nhất, đạt 39,4% Tiếp theo là các bệnh về xương khớp với 23,5%, và đái tháo đường chiếm 9,6% Các bệnh lý khác như bệnh gan, thận, dạ dày và tim cũng chiếm 9,6%.

3.2.2 Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi

3.2.2.1 Hành vi khám sức khỏe định kỳ:

Bảng 3.2 Hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi trong 1 năm qua

Sử dụng dịch vụ KSKĐK

Lý do chính không KSKĐK

Không có khả năng chi trả 204 37,4 Không có người thân đưa đi 115 21,1 Không biết KSKĐK nhằm mục đích gì 102 18,7

Nơi khám sức khỏe xa 23 4,2

TYT xã phường (Đoàn khám TTYT) 77 29,1 Các BV tuyến TW – tại TP.HCM 71 26,8 Bệnh viện ĐKTT tỉnhTiền Giang 53 20,0

Trung tâm Y tế Tp Mỹ Tho 50 18,9

Nơi khác: Phòng khám tư nhân, 3 1,1

Sự hài lòng đối với dịch vụ

Không hài lòng 0 0 Đánh giá chi phí của dịch vụ KSKĐK tại YTCS (n7)

Miễn phí, không phải trả tiền 77 60,3

Lý do không chọn TTYT và

Không có đầy đủ trang thiết bị y tế 59 42,4

Lý do khác: Chờ lâu, chật hẹp,… 5 3,6

Thái độ phục vụ không tốt 4 2,9

Trong nghiên cứu với 810 người cao tuổi, kết quả cho thấy 67,3% không tham gia khám sức khỏe định kỳ trong năm qua Nguyên nhân chủ yếu là do 52,3% cho rằng không cần thiết, 37,4% không có khả năng chi trả, 21,1% không có người thân đưa đi, và 17,5% không biết mục đích của việc khám sức khỏe định kỳ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy người cao tuổi thường không cảm thấy cần thiết phải khám sức khỏe định kỳ vì họ cho rằng mình khỏe mạnh Họ lo ngại việc kiểm tra sức khỏe sẽ tốn thời gian và tiền bạc, đồng thời cũng chưa hiểu rõ mục đích của khám sức khỏe định kỳ Ngoài ra, nhiều người cao tuổi còn ngại làm phiền con cháu, dẫn đến việc không tham gia vào các chương trình khám sức khỏe định kỳ.

Nhiều người cho rằng khi sức khỏe tốt, ăn uống và ngủ nghỉ bình thường thì việc đi khám sức khỏe là không cần thiết, chỉ tốn kém và mất thời gian Hơn nữa, con cái thường bận rộn với công việc, không có thời gian đưa cha mẹ đi khám.

Ông Tư hàng xóm của tôi thường xuyên đến bệnh viện Đại học Y Dược để khám sức khỏe tổng quát mỗi năm Ông đã mời tôi đi cùng, nhưng khi biết chi phí từ 3-5 triệu đồng, tôi cảm thấy không đủ khả năng tài chính để tham gia.

"Khám sức khỏe định kỳ là việc kiểm tra sức khỏe tổng quát của cơ thể, bao gồm cả việc kiểm tra các chỉ số sức khỏe cơ bản như huyết áp, xét nghiệm máu, siêu âm, và các xét nghiệm khác để phát hiện sớm các vấn đề sức khỏe tiềm ẩn Việc khám sức khỏe định kỳ hàng tháng tại bệnh viện chỉ là một phần của quá trình chăm sóc sức khỏe, nhưng chưa phải là khám sức khỏe định kỳ đầy đủ Để có được cái nhìn tổng quan về sức khỏe của mình, bạn nên thực hiện khám sức khỏe định kỳ toàn diện tại các cơ sở y tế uy tín."

Nhiều người cao tuổi (NCT) lo ngại việc đi khám sức khỏe định kỳ do sợ phát hiện bệnh mà không đủ khả năng chi trả cho điều trị, gây phiền phức cho con cháu Trong số 265 NCT đã sử dụng dịch vụ khám sức khỏe định kỳ trong năm qua, 47,92% chọn y tế cơ sở, trong đó 29,1% khám tại trạm y tế Ngoài y tế cơ sở, các bệnh viện tuyến Trung Ương tại TP Hồ Chí Minh là lựa chọn phổ biến nhất với 26,8%, tiếp theo là Bệnh viện Đa khoa trung tâm tỉnh Tiền Giang với 21,1%.

Tại YTCS, trong số 127 NCT KSKĐK, có 60,3% được khám miễn phí 33,5% NCT cho rằng chi phí dịch vụ KSKĐK là hợp lý so với thu nhập của họ Đáng chú ý, 45,7% cảm thấy hài lòng với dịch vụ KSKĐK, trong khi 54,8% cho rằng chất lượng dịch vụ ở mức bình thường.

Người cao tuổi cho biết thêm (từ TLN):

Tôi được mời khám sức khỏe hàng năm miễn phí và cảm thấy các bác sĩ rất nhiệt tình Nếu không có lời mời, tôi sẽ không đi khám tại bệnh viện.

“Khám ở ngoài TTYT thành phố cũng đâu phải tốn nhiều tiền đâu, nên lâu lâu tôi ra đó khám” (TLN, NCT)

Trong số 138 người cao tuổi (NCT) không chọn y tế cộng đồng (YTCS) để khám sức khỏe định kỳ (KSKĐK), lý do chủ yếu là do YTCS thiếu trang thiết bị y tế (42,7%), không có bác sĩ giỏi (37,7%), và thiếu thuốc (9,4%) Các lý do khác như khoảng cách nhà xa, thái độ phục vụ không tốt, cơ sở chật hẹp, và thời gian chờ lâu chỉ chiếm tỷ lệ thấp, khoảng 10%.

Kết quả thảo luận nhóm với người cao tuổi cho thấy lý do họ không chọn YTCS để khám sức khỏe định kỳ là do chi phí không được bảo hiểm y tế chi trả, buộc họ phải tự trả tiền Họ ưu tiên lựa chọn những cơ sở có chất lượng dịch vụ tốt hơn, như bệnh viện tuyến tỉnh và tuyến Trung ương, nơi có trang thiết bị hiện đại, bác sĩ giỏi và thái độ phục vụ chuyên nghiệp.

Khám tại TTYT không được thanh toán BHYT ngay, chỉ khi nào có bệnh mới được chi trả Trong khi đó, Bệnh viện Đa khoa trung tâm gần hơn và trang bị đầy đủ máy móc hơn.

Bệnh viện Đại học Y dược có lượng bệnh nhân đông, nhưng quy trình khám bệnh diễn ra nhanh chóng, không phải chờ đợi lâu Các nhân viên hướng dẫn rất nhiệt tình, và phòng khám được trang bị hiện đại với máy móc mới Đặc biệt, bệnh nhân được khám bởi các giáo sư và tiến sĩ có chuyên môn cao.

Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cao tuổi

3.3.1 Các yếu tố thuộc về nhân cá nhân (yếu tố tiền đề)

3.3.1.1 Đặc điểm nhân khấu học

Bảng 3.4 Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về nhân khẩu học với hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi:

Khám sức khỏe định kỳ

Từ trung cấp trở lên

Hiện tại còn làm việc tạo thu nhập

Mất sức/không còn lao động

Kinh tế hiện tại của gia đình

Không phải hộ nghèo/cận nghèo

Nghiên cứu chỉ ra rằng có sự khác biệt thống kê đáng kể về hành vi KSKĐK giữa các nhóm tuổi (p

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:06

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.2. Tỷ lệ người cao tuổi 60 tuổi trở 2015-2019 trở lên phân theo nam, nữ - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Hình 1.2. Tỷ lệ người cao tuổi 60 tuổi trở 2015-2019 trở lên phân theo nam, nữ (Trang 18)
Hình 1.3. Mô hình niềm tin sức khỏe (25) - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Hình 1.3. Mô hình niềm tin sức khỏe (25) (Trang 21)
Hình 1.8 .  Khung lý thuyết của nghiên cứu - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Hình 1.8 Khung lý thuyết của nghiên cứu (Trang 37)
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: (n=810) - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: (n=810) (Trang 50)
Bảng 3.2. Hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi trong 1 năm qua - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.2. Hành vi khám sức khỏe định kỳ của người cao tuổi trong 1 năm qua (Trang 53)
Bảng 3.3. Hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi trong 6 tháng gần nhất: - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.3. Hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi trong 6 tháng gần nhất: (Trang 56)
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa khỏang cách địa lý và khám sức khỏe định kỳ của người - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa khỏang cách địa lý và khám sức khỏe định kỳ của người (Trang 60)
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với hành vi khám chữa bệnh - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học với hành vi khám chữa bệnh (Trang 61)
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa  khoảng cách địa lý và hành vi khám  chữa bệnh của - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.7. Mối liên quan giữa khoảng cách địa lý và hành vi khám chữa bệnh của (Trang 62)
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi khám sức khỏe định kỳ của người - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.8. Mối liên quan giữa kiến thức và hành vi khám sức khỏe định kỳ của người (Trang 63)
Bảng 3.9. Liên quan giữa kiến thức và hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.9. Liên quan giữa kiến thức và hành vi khám chữa bệnh của người cao tuổi (Trang 64)
Bảng 3.11. Liên quan giữa thái độ với hành vi Khám chữa bệnh của người cao tuổi: - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.11. Liên quan giữa thái độ với hành vi Khám chữa bệnh của người cao tuổi: (Trang 66)
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về người thân với hành vi khám sức khỏe - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
Bảng 3.12. Mối liên quan giữa yếu tố thuộc về người thân với hành vi khám sức khỏe (Trang 67)
NX1  Bảng 3.1, 3.2 hiện nay đang ở nhiều trang - Hành vi tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe và một số yếu tố ảnh hưởng của người cao tuổi tại thành phố mỹ tho, tỉnh tiền giang năm 2020
1 Bảng 3.1, 3.2 hiện nay đang ở nhiều trang (Trang 121)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm