Nghiên cứu còn hạn chế rất lớn chưa chỉ ra được tỷ lệ NVYT: Thực hiện VSTTQ theo đúng 6 bước, tuân thủ VSTTQ trong các cơ hội cần phải VSTTQ và tuân thủ VSTTQ chung là bao nhiêu, yếu tố
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM THỊ THỦY
TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TỈNH ĐẮK LẮK NĂM 2019
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ : 8720701
HÀ NỘI – 2019 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
PHẠM THỊ THỦY
TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY
CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI BỆNH VIỆN Y HỌC CỔ TRUYỀN TỈNH ĐẮK LẮK
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được
sự quan tâm, giúp đỡ của quý thầy cô giáo, bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn luận văn của tôi với những hướng dẫn, góp ý vô cùng quan trọng kể
từ khi bắt đầu cho đến khi hoàn thành luận văn Trong suốt quá trình thực hiện luận văn, cô đã giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức và kinh nghiệm quý báu, cùng với sự quan tâm, hỗ trợ để tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu cùng các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Y tế Công Cộng đã trang bị kiến thức cho tôi trong quá trình học tập để tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của ban lãnh đạo cũng như toàn thể các đồng nghiệp tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, tận tình giúp đỡ và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thu thập số liệu
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình và những người thân đã ủng hộ, dành cho tôi những điều kiện tốt nhất, giúp tôi yên tâm học tập
và hoàn thành luận văn này
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Đắk Lắk, ngày 29 tháng 9 năm 2019
Học viên
Phạm Thị ThủyHUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ v
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu 4
1.2 Tầm quan trọng của vệ sinh tay 6
1.3 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế 8
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế 11
1.5 Vài nét về bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk 15
KHUNG LÝ THUYẾT 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Cỡ mẫu và pương pháp chọn mẫu 19
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu 20
2.6 Cách đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy25 2.7 Các biến số nghiên cứu, các chủ đề nghiên cứu 26
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 27
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 27
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 29
3.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 29
3.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lăk 31
HUPH
Trang 53.3 Một số yếu tố ảnh hưởng và liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y
tế 37
3.3.1 Kiến thức, thái độ của nhân viên y tế về vệ sinh tay thường quy 37
3.3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ của NVYT 41
3.3.3 Các yếu tố trang thiết bị, phương tiện vệ sinh tay thường quy 44
Chương 4 BÀN LUẬN 48
4.1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk năm 2019 48
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ của NVYT bệnh viện YHCT Đắk Lắk 53
4.2.1 Yếu tố liên quan đến đến tuân thủ VSTTQ của NVYT bệnh viện YHCT Đắk Lắk 53
4.2.2 Các yếu ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đăk Lăk 55
4.3 Hạn chế nghiên cứu 60
KẾT LUẬN 61
KHUYẾN NGHỊ 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 624
PHỤ LỤC 1 68
PHỤ LỤC 2 70
PHỤ LỤC 3 77
PHỤ LỤC 4 80
PHỤ LỤC 5 81
PHỤ LỤC 6 82
PHỤ LỤC 7 84
PHỤ LỤC 8 85
PHỤ LỤC 9 86
HUPH
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7Bảng Tên bảng Trang
3.1 Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu 29 3.2 Tiếp cận thông tin về VST của NVYT 30 3.3 Công tác kiểm tra, giám sát tại bệnh viện về VSTTQ 31 3.4 Tỷ lệ VSTTQ theo cơ hội/thời điểm cần quan sát của NVYT 32 3.5 Tuân thủ VSTTQ theo số cơ hội quan sát tại các khoa … … 33 3.6 Phương pháp VSTTQ trong số cơ hội tuân thủ VSTTQ … 34
3.7 Tỷ lệ tuân thủ quy trình 6 bước VSTTQ trong các cơ hội
3.8 Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của các khoa 35 3.9 Tỷ lệ NVYT tuân thủ VSTTQ theo chức danh …… … … 36
3.10 Kiến thức của NVYT về vệ sinh bàn tay và sắp xếp thứ tự các
bước trong quy trình VSTTQ ……….…… 37 3.11 Thái độ của NVYT về vai trò VSTTQ trong KSNK ….…… 38 3.12 Mối liên quan giữa yếu tố cá nhân với tuân thủ VSTTQ … 40
3.13 Mối liên quan giữa kiến thức với tuân thủ VSTTQ của
3.14 Mối liên quan giữa thái độ với tuân thủ VSTTQ của NVYT HUPH 41
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
Hình,
1.1 Năm thời điểm VST…… … 4 1.2 Sáu bước quy trình VST…… 5
3.1 Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo cơ hội/thời điểm cần quan sát của
3.2 Tỷ lệ nhân viên y tế tuân thủ VST thường quy…….………… 35 3.3 Tỷ lệ kiến thức chung về VSTTQ của NVYT……… ……… 38 3.4 Thái độ chung về VSTTQ của NVYT……… ……… 40
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) đang là vấn đề y tế toàn cầu do làm tăng tỷ
lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài ngày nằm viện và tăng chi phí điều trị Nguyên nhân chính gây NKBV là phổ vi khuẩn vãng lai, tuy nhiên chúng bị loại bỏ dễ dàng bằng vệ sinh tay thường quy (VSTTQ)
Bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT) tỉnh Đắk Lắk là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hạng II có 220 giường bệnh nội trú Người bệnh nhập viện YHCT chủ yếu là người lớn tuổi và nằm dài ngày, thể trạng yếu nên càng dễ bị lây chéo các bệnh truyền nhiễm về hô hấp, đường ruột Nghiên cứu được thực hiện với 2 mục tiêu: (1) Mô tả tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy của NVYT (2) Phân tích một
số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của NVYT tại bệnh viện YHCT tỉnh Đắk Lắk năm 2019
Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang định lượng kết hợp định tính Thời gian nghiên cứu từ 02/2019 đến tháng 7/2019 Đối tượng nghiên cứu là NVYT tại 6 khoa lâm sàng; lãnh đạo bệnh viện; điều dưỡng trưởng và trưởng khoa kiểm soát nhiễm khuẩn Mẫu nghiên cứu toàn bộ 99 NVYT để điều tra kiến thức và thái độ về vệ sinh tay Quan sát thực hành VST: mỗi NVYT quan sát 4 cơ hội VSTTQ số cơ hội VST quan sát là 396 cơ hội Phỏng vấn sâu PGĐ bệnh viện; trưởng khoa KSNK và thảo luận 2 nhóm điều dưỡng trưởng và NVYT, mỗi nhóm 6 người Nghiên cứu sử dụng dụng thống kê mô tả và thống kê phân tích (tính khi bình phương, OR, 95% CI) để xác định mối liên quan Sử dụng phần mềm Epidata 3.1
và stata 10.0 để nhập liệu và phân tích số liệu định lượng Phân tích kết quả định tính để tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ
Kết quả: Tỷ lệ NVYT tuân thủ VSTTQ là 12,12% cao nhất nhóm kỹ thuật viên chiếm tỷ lệ (50%), thấp nhất nhóm điều dưỡng (12,5%) Tỷ lệ tuân thủ VSTTQ theo cơ hội quan sát là 63,63% và tỷ lệ tuân thủ VSTTQ đủ 6 bước đúng quy trình là 21,82% Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành tuân thủ VSTTQ: Công tác đào tạo tập huấn, kiểm tra giám sát, quy chế thi đua, khen thưởng và tính
dễ tiếp cận của các phương tiện phục vụ của dung dịch VST, quá tải công việc
Khuyến nghị: Tăng cường công tác đào tạo, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ VSTTQ của NVYT và cung cấp đầy đủ phương tiện để thực hành vệ sinh tay
Từ khoá: Vệ sinh tay, tuân thủ rửa tay, nhân viên y tế
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhiễm khuẩn bệnh viện đang là vấn đề y tế toàn cầu do làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài ngày nằm viện và tăng chi phí điều trị [9] Thủ phạm chính gây NKBV là phổ vi khuẩn vãng lai, tuy nhiên chúng bị loại bỏ dễ dàng bằng VSTTQ, VSTTQ là vệ sinh tay(VST) với nước và xà phòng hoặc VST bằng dung dịch chứa cồn [5] Kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) là việc áp dụng các biện pháp nhằm ngăn chặn sự lan truyền tác nhân gây bệnh trong cơ sở y tế Trong các biện pháp KSNK, VSTTQ luôn được coi là biện pháp đơn giản, hiệu quả và ít tốn kém nhất [5]
Nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT vẫn chưa đồng nhất và thấp Trung bình chỉ có 37.8% NVYT là tuân thủ VSTTQ (trong khoảng từ 5-89%) [40] Một nghiên cứu của Farinaz Farhuodi và cộng sự năm 2016 nghiên cứu tại 14 khoa của bệnh viện thuộc Shiraz, Iran kết quả nghiên cứu (KQNC) có 29,8% NVYT tuân thủ VSTTQ [27]
Tại Việt Nam năm 2005 với KQNC của PGS.TS Nguyễn Việt Hùng năm
2005 tại một số bệnh viện phía Bắc cho thấy 13,4% NVYT tuân thủ VSTTQ [8], 12] Đến năm 2008 thì ông cùng cộng sự đã nghiên cứu một số các bệnh viện tại Việt Nam cho KQNC 12% NVYT tuân thủ VSTTQ [11] Tổng quan tài liệu cho thấy đã có nhiều nghiên cứu đánh giá tuân thủ VSTTQ tại nhiều bệnh viện trong nước nhưng rất ít nghiên cứu tại bệnh viện chuyên khoa như YHCT trong khi các dịch vụ kỹ thuật YHCT phải có bàn tay vô khuẩn không thể mang găng thay thế Bệnh viện Y học cổ truyền (YHCT) tỉnh Đắk Lắk là bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hạng II có 220 giường bệnh nội trú Người bệnh vào nhập viện YHCT chủ yếu là các bệnh di chứng sau tai biến mạch máu não, tai nạn giao thông hoặc xương khớp mặt bệnh này thường gặp ở những người lớn tuổi và nằm điều trị phục hồi dài ngày, hầu hết phải áp dụng các dịch vụ kỹ thuật YHCT và y học hiện đại Theo báo cáo năm 2018 của bệnh viện tổng số lượt khám bệnh 20213 lượt, nội trú
6237 ca, ngoại trú 2435 ca trong đó thực hiện tổng thủ thuật các dịch vụ lên đến
410971 lượt bao gồm: Điện châm, thủy châm, Cứu, laser nội mạch, điện xung, bó paraphin, tập phục hồi chức năng… [3] Việc thực hiện các dịch vụ này đều đòi hỏi
HUPH
Trang 11NVYT phải thực hiện VSTTQ đúng quy trình từ khâu chuẩn bị cho tới khâu kết thúc
Với đánh giá ban đầu năm 2017 của Nguyễn Thị Thanh tại bệnh viện thì tỉ lệ tuân thủ VSTTQ rất thấp như nhóm kỹ thuật viên đạt tuân thủ VSTTQ có 1,7% tại
cơ hội sau khi động chạm bề mặt xung quanh người bệnh và đặc biệt chọn phương pháp VSTTQ bằng cồn có 18,35% [2] Nghiên cứu còn hạn chế rất lớn chưa chỉ ra được tỷ lệ NVYT: Thực hiện VSTTQ theo đúng 6 bước, tuân thủ VSTTQ trong các
cơ hội cần phải VSTTQ và tuân thủ VSTTQ chung là bao nhiêu, yếu tố nào ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ của NVYT cũng như sau khi Quyết Định 3916/QĐ-BYT ban hành ngày 28/8/2017 của Bộ Y tế trong đó có nội dung hướng dẫn rất chi tiết về VSTTQ trong cơ sở khám chữa bệnh thì việc thực hiện đúng VSTTQ của NVYT trong bệnh viện là như thế nào Để xây dựng kế hoạch hành động cụ thể phù hợp với bệnh viện về công tác KSNK nói chung và VSTTQ nói riêng Xuất phát từ
thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk năm 2019”
HUPH
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại bệnh viện
Y học cổ truyền tỉnh Đăk Lăk năm 2019
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của
nhân viên y tế tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk năm 2019
HUPH
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Một số khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu
Nhiễm khuẩn bệnh viện: Là xảy ra trong quá trình nằm viện của người bệnh
và trước đó không có mắc các nhiễm khuẩn nào khác, thường xảy ra sau 24 giờ nhập viện [34]
Vệ sinh tay thường quy: Là vệ sinh tay với nước và xà phòng có hay không
có chất khử khuẩn hoặc vệ sinh tay bằng dung dịch chứa cồn [5]
Tuân thủ cơ hội VSTTQ của NVYT: Là việc NVYT phải thực hiện
VSTTQ khi có cơ hội- thời điểm cần phải vệ sinh tay [40]
Năm thời điểm bắt buộc VSTTQ hình 1.1 [5]
Thời điểm 1: Trước khi tiếp xúc với người bệnh
Thời điểm 2: Trước khi làm thủ thuật vô khuẩn
Thời điểm 3: Sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể
Thời điểm 4: Sau khi tiếp xúc với người bệnh
Thời điểm 5: Sau khi tiếp xúc vùng xung quanh người bệnh
Hình 1.1 Năm thời điểm phải vệ sinh tay HUPH
Trang 14Quy trình VSTTQ được mô tả (hình 1.2) bao gồm 6 bước cụ thể:
- Bước 1: làm ướt tay dưới vòi nước, lấy dung dịch sát khuẩn và chà 2 lòng bàn tay vào nhau
- Bước 2: đặt lòng bàn tay này lên mu bàn tay kia, chà sạch mu bàn tay (chú ý các kẽ ngón tay) và ngược lại
- Bước 3: đặt hai lòng bàn tay vào nhau, chà sạch lòng bàn tay và kẽ các ngón tay
- Bước 4: móc hai bàn tay vào nhau (như móc khóa) và chà sạch mặt mu các ngón tay
- Bước 5: dùng lòng bàn tay này xoay và chà sạch ngón cái bàn tay kia và ngược lại
- Bước 6: chụm đầu các ngón tay của bàn tay này xoay vào lòng bàn tay kia và ngược lại, làm sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay
Hình 1.2 Sáu bước trong quy trình VSTTQ [5]
HUPH
Trang 15- Khi thực hiện quy trình VSTTQ phải thực hiện đúng:
+ Lựa chọn đúng phương pháp VSTTQ: Nếu bàn tay nhìn rõ vết bẩn hoặc dính các dịch tiết của cơ thể phải VST bằng nước và xà phòng thường Chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn khi tay không trông rõ vết bẩn, sau tháo bỏ găng hoặc khi thăm khám giữa các người bệnh
+ Lấy đủ 3ml-5 ml dung dịch VST cho mỗi lần VSTTQ
+ Tuân thủ đúng kỹ thuật VSTTQ Chà tay cùng hóa chất VST theo đúng trình
tự từ bước 1 tới bước 6, mỗi bước chà 5 lần để bảo đảm hóa chất tiếp xúc đều trên toàn bộ bề mặt bàn tay Trường hợp chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn, nếu chà
đủ 6 bước mà tay chưa khô thì lặp lại các bước cho tới khi tay khô Trường hợp VSTTQ bằng nước và xà phòng thì trước khi lấy dung dịch xà phòng cần mở vòi nước và làm ướt bàn tay; sau khi kết thúc 6 bước chà tay cần rửa lại tay dưới vòi nước để loại bỏ hoàn toàn hóa chất trên tay, lau khô tay bằng khăn sạch, khóa vòi nước bằng khăn vừa sử dụng, thải bỏ khăn vào thùng thu gom khăn
+ Tuân thủ đúng thời gian VSTTQ: Thời gian chà tay với hóa chất VSTTQ theo quy trình 6 bước phải đạt từ 20 giây-30 giây
+ Không rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đã chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn
+ Tránh làm ô nhiễm lại bàn tay sau VSTTQ: Sử dụng nước sạch để VSTTQ,
sử dụng khăn sợi bông/khăn giấy sạch dùng 1 lần để lau khô tay, sử dụng khăn đã dùng lau khô tay để đóng vòi nước Không dùng một khăn lau tay chung cho nhiều lần VSTTQ
+ Không sử dụng máy sấy tay để làm khô tay Xem xét lựa chọn loại găng tay không có bột tal để thuận lợi cho việc khử khuẩn tay bằng dung dịch VST chứa cồn [5]
Nhân viên y tế tuân thủ VSTTQ: Khi NVYT tuân thủ đúng ở tất cả các cơ hội
cần VSTTQ và tuân thủ đúng quy trình 6 bước VSTTQ
1.2 Tầm quan trọng của vệ sinh tay
1.2.1 Bàn tay là vật trung gian truyền bệnh
Nhiễm khuẩn bệnh viện lây truyền qua một số con đường, trong đó lây truyền thông qua bàn tay của NVYT là phổ biến nhất NVYT hàng ngày dùng bàn tay là
HUPH
Trang 16công cụ để khám chữa bệnh và chăm sóc người bệnh, do đó bàn tay của NVYT thường xuyên tiếp xúc với da, máu, dịch tiết sinh học của người bệnh Các vi khuẩn
từ người bệnh truyền qua tay của NVYT, làm cho bàn tay của NVYT là nguồn chứa các vi khuẩn gây bệnh [15]
5 bước bàn tay phát tán mầm bệnh:
- Mầm bệnh định cư trên da người bệnh và bề mặt các đồ vật
- Mầm bệnh bám vào da tay của NVYT
- Mầm bệnh sống trên da tay
- VST ít dẫn đến da tay nhiễm khuẩn
- Da tay nhiễm khuẩn phát tán mầm bệnh sang người bệnh, đồ vật
Các chủng vi khuẩn thường có trên bàn tay NVYT [29]
- Vi khuẩn định cư: Ít có khả năng gây nhiễm khuẩn trừ khi chúng xâm nhập vào cơ thể qua các thủ thuật xâm lấn như phẫu thuật, đặt ống xông, Cần VSTTQ bằng hóa chất khử khuẩn như cồn hoặc dung dịch sát khuẩn chứa cồn với thời gian
đù dài nhằm loại bỏ các vi khuẩn này
- Vi khuẩn vãng lai: Loại vi khuẩn này xuất hiện ở bàn tay NVYT khi bàn tay
bị nhiễm bẩn từ người bệnh hoặc các đồ vật bẩn trong môi trường bệnh viện khi chăm sóc và điều trị Vi khuẩn vãng lai gồm mọi sinh vật có mặt trong môi trường bệnh viện (vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng) và là nguyên nhân chính gây NKBV Có thể loại bỏ hầu hết các vi khuẩn này bằng biện pháp VSTTQ với nước và xà phòng thường hoặc dung dịch VST có chứa cồn [5]
1.2.2 Hiệu quả của tuân thủ VSTTQ và mối liên quan với NKBV
Sự tuân thủ VSTTQ của NVYT (như VST với nước và xà phòng, VST với dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn) được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất
để phòng ngừa NKBV [29] Sát trùng tay giúp giảm tỷ lệ mắc các bệnh nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế [25]
Trong những năm gần đây, vấn đề VSTTQ ngày càng được chú ý nhiều hơn Đây là biện pháp hàng đầu để ngăn chặn sự lây lan của kháng kháng sinh và giảm các nhiễm trùng liên quan đến NKBV [23] Lần đầu tại Hoa Kỳ, biện pháp khử khuẩn bằng dung dịch chứa cồn được khuyến khích áp dụng tại tất cả các cơ sở y tế
HUPH
Trang 17Nhiều nghiên cứu cũng đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng việc cải thiện VSTTQ giúp dự phòng NKBV và giảm sự lây truyền tác nhân gây bệnh truyền nhiễm trong các cơ sở y tế [41] Sự tuân thủ quy trình VSTTQ có thể làm giảm ít nhất 20% nguy cơ gia tăng NKBV [37] Năm 2002, CDC yêu cầu các bệnh viện khuyến khích NVYT khử khuẩn tay bằng cồn trong mọi thao tác chăm sóc, điều trị người bệnh [38] Năm 2004, Tổ chức y tế thế giới (WHO) bắt đầu xây dựng hướng dẫn thực hành VST trong các cơ sở y tế Với sự tham gia của nhiều chuyên gia quốc
tế hàng đầu trong lĩnh vực này, qua nhiều lần sửa đổi, bản hướng dẫn chính thức được ban hành năm 2009 Cùng với bản hướng dẫn này, WHO kêu gọi các quốc gia cam kết tham gia chiến dịch VST và lấy ngày 05/05 hàng năm là “Ngày rửa tay toàn cầu” Với những hiểu biết về vai trò VST và NKBV trong các cơ sở y tế, ngày 05/05/2009, WHO đã ra lời kêu gọi toàn thế giới với khẩu hiệu: “Vì sự sống hãy rửa tay”mong muốn đến 05/05/2010 sẽ có 10.000 bệnh viện toàn thế giới ủng hộ [40] Tại Việt Nam, Bộ Y tế đã ban hành Thông tư số 16/2018/TT-BYT ngày 20/7/2018 về việc quy định về KSNK trong các cơ sở KBCB trong đó đề cập đến việc kiểm tra giám sát đảm bảo việc tuân thủ các quy định về VST của NVYT, trang bị sẵn có các phương tiện, hóa chất cho việc VSTTQ [6] và Quyết định số 7517/BYT-ĐTr ngày 12/10/2007 về việc hướng dẫn thực hiện quy trình VSTTQ và sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn [4] Với sự cam kết của Bộ Y tế thông qua chương trình VST toàn cầu do WHO phát động, hiện nay chương trình tăng cường VST đã được triển khai ở hầu hết các bệnh viện Các can thiệp làm tăng
sự tuân thủ VSTTQ của NVYT đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc làm giảm
tỷ lệ NKBV từ 17,1% trước can thiệp xuống còn 6,9% sau can thiệp [17]
1.3 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế
1.3.1 Trên thế giới
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng tỉ lệ NKBV giảm hẳn khi NVYT chấp hành đúng việc thực hiện VSTTQ, nhưng trên thực tế thì tỉ lệ tuân thủ VSTTQ vẫn còn thấp Trung bình chỉ có 37.8% NVYT là tuân thủ VSTTQ (trong khoảng từ 5-89%)
[40]
Một nghiên cứu của Musu M và các cộng sự (2017) tại Italia trong sáu đơn vị
HUPH
Trang 18chăm sóc chuyên sâu, kết quả chỉ ra tỷ lệ VSTTQ sau khi tiếp xúc với các vật vô tri trong đó có thiết bị y tế là thời điểm được nghiên cứu nhiều nhất cho thấy phạm vi tuân thủ từ 28% (bác sĩ) đến 86% (trợ lý y tá) (χ2 = 17,56, p<0,001) [35]
Năm 2009, WHO đã phát động chiến dịch Bảo vệ sự sống: Hãy rửa tay [24, 40] Tại Việt Nam, ngay năm đầu tiên cũng đã ký cam kết tham gia phát động này nhằm phát động toàn bộ chăm sóc y tế trong cả nước tham gia và thực hiện KSNK
Một KQNC khác tại Thụy Sỹ của DidierPittet (2000) thực hiện từ 1995 đến
1997, nghiên cứu quan sát hơn 20000 thời điểm VST cho thấy việc tuân thủ cải thiện dần dần từ 48% trong 1994, đến 66% vào năm 1997 (p <0,001) [32]
Một nghiên cứu Farinaz Farhuodi và cộng sự (2016) nghiên cứu tại 14 khoa của bệnh viện thuộc Shiraz, Iran, KQNC có 29,8% số NVYT trước khi can thiệp tuân thủ VSTTQ [27]
1.3.2 Tại Việt Nam
Sau khi phát động của WHO về Bảo vệ sự sống: hãy rửa tay, đến năm 2013 chương trình phát động này đã triển khai hầu hết tất cả các bệnh viện trên cả nước,
và đạt được những kết quả như mong muốn trong việc đào tạo và cung cấp các phương tiện VST Tuy nhiên, tỉ lệ tuân thủ VSTTQ tại các bệnh viện còn khá thấp nguyên nhân là do việc thực hiện kiểm tra, giám sát còn lỏng lẻo, chưa chặt chẽ, gặp bất lợi khi triển khai điều kiện khó khăn về: nhân lực, vật lực và sự chú trọng của ban giám đốc bệnh viện [11]
Thông tư 16 của Bộ y tế năm 2018 Quy định về KSNK trong các cơ sở KBCB [6] Và đặc biệt là Quyết định 3916 của Bộ y tế năm 2017 có hướng dẫn rất
cụ thể về thực hành VST tại các cơ sở KBCB [5] Các văn bản ra đời nhằm nâng
HUPH
Trang 19cao kiến thức và cải thiện tỉ lệ tuân thủ VSTTQ
Trên thực tế, việc tuân thủ VSTTQ của NVYT tại các bệnh viện ở nước ta không được cao, theo khảo sát của PGS.TS Nguyễn Việt Hùng năm 2005 ở một số bệnh viện phía Bắc thì mức độ tuân thủ VSTTQ ở NVYT chiếm tỉ lệ thấp chỉ có 13,4% (nằm trong khoảng 0% - 32,1%) Năm 2006 tại bệnh viện Bạch Mai chỉ có 4,2% NVYT là tuân thủ VSTTQ khi thực hiện thao tác bẩn sang sạch trên một người bệnh và 26% NVYT là tuân thủ VSTTQ trước khi tiếp xúc người bệnh [8, 10] Đến năm 2008 thì ông cùng cộng sự đã nghiên cứu một số các bệnh viện tại Việt Nam cho KQNC 12% NVYT là tuân thủ VSTTQ [11]
Trong thời gian gần đây, việc tuân thủ VSTTQ của NVYT được cải thiện và quan tâm nhiều hơn
Một số bệnh viện áp dụng các biện pháp can thiệp và tỉ lệ tuân thủ VSTTQ tăng lên rõ rệt như KQNC của Hoàng Thị Xuân Hương bệnh viện Đống Đa - Hà Nội năm 2011 thì kiến thức từ 59,5% sau can thiệp tăng lên 82,5%, tỉ lệ tuân thủ VSTQ từ 51,3% tăng lên 60,4% với P< 0,05 [12]
Kết quả nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang (năm 2010) tại bệnh viện Chợ Rẫy tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT 25,7%, trong đó tỉ lệ tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng 65,5% và Bác sỹ 24,6% và cũng chỉ ra tỉ lệ tuân thủ không đều trong năm thời điểm cần VST, cao nhất ở thời điểm sau khi tiếp xúc với máu và dịch tiết
là 56,75%, tiếp theo là trước trước thao tác vô khuẩn(31,8%), sau tiếp xúc người bệnh (29,2%), trước khi tiếp xúc người bệnh (17,0%) chiếm tỉ lệ thấp nhất sau khi chạm vào môi trường xung quanh người bệnh (12,3%) [18]
Tại bệnh viện tỉnh Vĩnh Phúc với nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014) thì KQNC là trong 244 NVYT chỉ có 29,2 % NVYT hiểu đúng mục đích của việc VSTTQ, chỉ có 40,1% số NVYT sắp xếp đúng 6 bước VSTTQ, 65,8% NVYT đạt về kiến thức chung VST, 78,9% có thái độ tích cực, nhưng tỉ lệ tuân thủ VSTTQ đạt chỉ được 14,8% [19]
Với KQNC Nguyễn Quang Toàn và cộng sự (2017) tại bệnh viện Trung ương Quân đội 108, chỉ ra có tới 81,57% NVYT kiến thức đạt nhưng chỉ có 58,71% “đạt“ tuân thủ VSTTQ [20]
HUPH
Trang 20Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018 cho ra kết quả chung của điều dưỡng là tuân thủ VSTTQ 46% trong đó thời điểm trước thao tác vô khuẩn đạt cao nhất 94,4%, thấp nhất tại thời điểm sau khi chạm vào môi trường xung quanh người bệnh 63,4% và tuân thủ VSTTQ theo 6 bước đạt 68,4% [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương (2018) tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh thì có 43% điều dưỡng là tuân thủ VSTTQ [7]
Nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Huyền (2012) tại bệnh viện tỉnh Hòa Bình, vẫn còn 28% NVYT còn chủ quan và chưa hiểu hết về vai trò của VSTTQ [13]
Tại bệnh viện tỉnh Khánh Hòa năm 2014 của Dương Nữ Tường Vy với KQNC trước và sau can thiệp thì tỷ lệ tuân thủ VSTTQ được cải thiện đáng kể, cụ thể tỷ lệ tuân thủ VSTTQ chung tăng từ 14,8% lên 43,9%, đúng 6 bước quy trình VSTTQ tăng từ 62,1% lên 82,3% [22]
1.4 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế
Với nghiên cứu của Bùi Thị Thanh Huyền thực hiện tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Hòa Bình năm 2010 cho thấy 72% NVYT có nhận thức tốt về vai trò của vệ sinh bàn tay Tỷ lệ này ở nữ là 76,1% cao hơn so với nam (62,5%) một cách có ý nghĩa thống kê Tuy tỷ lệ có kiến thức tốt về vai trò của vệ sinh bàn tay khá cao nhưng tỷ lệ tuân thủ rửa tay chỉ đạt 34%, trong đó điều dưỡng tuân thủ VSTTQ tốt hơn bác sĩ (34.9% so với 27%) [13]
Những NVYT có trình độ học vấn cao hơn thì sẽ tuân thủ VSTTQ cao hơn
HUPH
Trang 21Đó là kết quả nghiên cứu của Phùng Văn Thủy năm 2014 tại bệnh viện đa khoa tỉnh vĩnh phúc và kết quả này có ỹ nghĩa thống kê với (p<0,05) [16, 19]
Yếu tố kiến thức, thái độ về tuân thủ VSTTQ của NVYT:
Qua đánh giá ngẫu nhiên tại Campania và Calabria (Italy) năm 2000 bằng bộ câu hỏi đóng, có tới 46,8% NVYT trả lời sai các câu hỏi, 60% NVYT nói có VSTTQ trước khi bắt đầu ca làm việc, 72% NVYT có VSTTQ trong cơ hội trước khi tiếp xúc với người bệnh và sau khi tiếp xúc với người bệnh
Hầu như các kết quả nghiên cứu về VSTTQ đều tìm thấy kiến thức và thái độ
có mối liên quan chặt chẽ với tuân thủ VSVTQ, nắm tốt các nội dung cũng như ý thức được tầm quan trọng của VSTTQ thì chắc chắn tuân thủ VSTTQ cao
Như nghiên cứu của Lã Ngọc Quang, Trần Quang Huy và cộng sự (2016) tại bệnh viện Hoè Nhai, Hà Nội thì những NVYT có kiến thức đạt thì tuân thủ VSTTQ cao gấp 2,7 lần so với những NVYT kiến thức không đạt với OR=2.7, 95%CI: 1,1-6,6, p<0,05 [16]
Với nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền năm 2018 khảo sát trên tổng số
97 điều dưỡng thì kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng trong 45 điều dưỡng tuân thủ VSTTQ thì chỉ có 1 điều dưỡng không đạt về kiến thức và thái độ còn lại 44 điều dưỡng đạt Số liệu có ý nghĩa thống kê CI 95%, P< 0,001 [7, 14]
Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương tại bệnh viên Sản Nhi năm 2018 cũng
có kết quả nhóm điều dưỡng có kiến thức, thái độ đạt về VST thì sẽ tuân thủ VSTTQ cao hơn (nhóm đạt kiến thức và thái độ lần lượt cao gấp 2,3 và 2,5 lần về tuân thủ VSTTQ so với nhóm không đạt) [7]
Yếu tố khối lượng công việc và khoa làm việc:
Theo giáo trình Quản trị nhân lực (nhà xuất bản Lao động xã hội năm 2004) thì khối lượng công việc là việc ấn định một con số hay một thứ hạng để phản ánh mức độ thực hiện công việc của người lao động theo các đặc trưng hoặc theo các khía cạnh đã được xác định trước của công việc
Với kết quả nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014) và Lã Ngọc Quang (2015) cho thấy khi xảy ra tình trạng quá tải bệnh viện, lượng người bệnh tăng cao,
số cơ hội VST tăng lên gấp nhiều lần, khi đó NVYT không có thời gian để tuân thủ
HUPH
Trang 22VSTTQ khi đến thời điểm phải VST [16, 19]
Khi lượng người bệnh quá tải có thể làm tăng tỉ lệ NKBV do NVYT không có
đủ thời gian cho việc tuân thủ VSTTQ khi có nhiều cơ hội VST [28]
Yếu tố khoa làm việc: Theo nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương năm 2018 tại bệnh viện Sản Nhi Bắc Ninh thì cho thấy có mối liên quan giữa các khoa làm việc của ĐTNC và tuân thủ VSTTQ (p=0,04) Cụ thể: Khoa thuộc khối Nội tuân thủ VSTTQ cao nhất 56,6%, tiếp đến khoa gây mê 47,4% và các khoa Sản, khoa khám bệnh cấp cứu ban đầu, khoa ngoại nhi – liên chuyên khoa có tỉ lệ tuân thủ VSTTQ lần lượt là 41,7%; 36,4%; 30%, thấp nhất là khoa phụ chỉ có 8,3% [7]
Như vậy các KQNC đều chỉ ra khối lượng công việc của NVYT càng nhiều thì lỷ lệ tuân thủ VSTTQ lại càng thấp và ở mỗi khoa khác nhau thì tỷ lệ tuân thủ VSTTQ sẽ khác nhau
1.4.2 Yếu tố tổ chức, quản lý vệ sinh tay thường quy
Yếu tố quy định bệnh viện, kiểm tra giám sát:
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại bệnh viện Tim Hà Nội (2018) cho thấy treo và dán đầy đủ các panel, áp phích đầy đủ về các bảng hướng dẫn 5 thời điểm VST, 6 bước của quy trình VST tại các trí quan trọng để nhắc nhở thường xuyên và nâng cao ý thức và cải thiện hành vi tuân thủ thực hiện VST của NVYT
và cả người bệnh Đây cũng là yếu tố thúc đẩy tăng cường tuân thủ VSTTQ [14] Nghiên cứu của GS.TS.Didier Pittet ở Thụy Sỹ đã sử dụng phương pháp giám sát và phản hồi kết quả giám sát trên bảng tin của bệnh viện về việc tuân thủ VSTTQ của NVYT Các giám sát viên không phô trương khi giám sát và không để NVYT biết lịch trình giám sát KQNC cho thấy: việc tuân thủ VSTTQ cải thiện dần
từ 48% trong năm 1994 đến 66% vào năm 1997 (p <0 001) Trong cùng thời gian, nhiễm khuẩn bệnh viện chung giảm từ 16,9% trong năm 1994 xuống 9,9% vào năm 1998; p = 0,04 [26]
Yếu tố đào tạo, tập huấn, thi đua thưởng phạt
Theo KQNC của Lã Ngọc Quang (2015) tại bệnh viện Hòe Nhai, Hà Nội thì tập huấn các nội dung nâng cao kiến thức VST cho NVYT làm tăng tỉ lệ tuân thủ VSTTQ Tăng cường kiểm tra, tiến hành nhắc nhở hoặc dùng biện pháp phạt thích
HUPH
Trang 23đáng nếu không tuân thủ VSTTQ, có biện pháp thưởng và phạt khi thực hiện tốt và không tốt VSTTQ để làm tăng tỉ lệ tuân thủ VSTTQ [16]
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương (2018) tại bệnh viện Bắc Ninh cho thấy đưa yếu tố thi đua như thưởng khi tuân thủ VSTTQ tốt, phạt khi không tuân thủ VSTTQ vào quy chế làm việc cũng thúc đẩy việc tuân thủ VSTTQ của
NVYT [7]
Yếu tố nhân lực cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn
Các KQNC đều chỉ ra rằng nhân lực bộ phận giám sát của khoa KSNK chưa được chú trọng còn thiếu rất nhiều về nhân lực Trong khi Thông Tư 16/BYT đã quy định cứ 150 giường bệnh phải có 1 giám sát, trên thực tế số nhân lực giám sát này của các bệnh viện đạt chỉ 1 nửa
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại bệnh viện Tim Hà Nội năm (2018) cho thấy bộ phận giám sát của khoa KSNK còn thiếu, hiện tại bệnh viện chỉ chú trọng vào công tác hấp sấy các dụng cụ, giặt là đồ người bệnh, công tác thu gom phân loại chất thải, nước thải mà chưa quan trọng việc giám sát thực hành VST trong khi đây mới là nhiệm vụ quan trọng của KSNK [14]
Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dương năm 2018 tại bệnh viện Sản nhi Bắc Ninh cũng chỉ ra công tác giám sát còn “lỏng lẻo” khi chỉ thực hiện hàng tháng (01 tháng/lần), việc giám sát chưa đưa vào quy chế xếp loại cán bộ viên chức/khoa, phòng chưa kiên quyết xử phạt các trường hợp vi phạm Đặc biệt vẫn còn tình trạng
“cả nể” mà chỉ là nhắc nhở [7]
1.4.3.Yếu tố trang thiết bị, phương tiện vệ sinh tay thường quy
Tính sẵn có của trang thiết bị phục vụ VSTTQ và khả năng tiệp cận phương tiện
Để tiết kiệm thời gian khi VSTTQ của NVYT thì cần trang bị các chai cồn tại các buồng bệnh, các vị trí cần thiết để giúp NVYT thuận tiện trong việc VST, và tuân thủ VSTTQ tốt hơn [8] Kết quả này cũng cùng KQNC của Voss và Widmer khi NVYT thực hiện VSTTQ bằng dung dịch chứa cồn/cồn ngay tại buồng bệnh thì thời gian
sẽ giảm xuống bằng 1/4 so với việc VSTTQ tại các bồn có vòi nước VST [31] Tại Việt Nam, số bồn VST đạt chuẩn chỉ có 37,6% (bồn VST đạt chuẩn phải
có đủ nước sạch, xà phòng, bảng hướng dẫn, khăn hoặc giấy lau tay một lần) số
HUPH
Trang 24lượng bồn VST hạn chế dẫn đến việc tuân thủ VSTTQ thấp của NVYT [9]
Theo PGS.TS Nguyễn Việt Hùng và cộng sự năm 2005, nghiên cứu tại các bệnh viện phía Bắc thì trung bình có 10,3 vị trí VST/100 giường [8] Trong một nghiên cứu thực nghiệm, Khi thực hiện VST với nước và xà phòng sẽ khử khuẩn được 83% trực khuẩn Gram âm trên da người bệnh tỉ lệ này cao hơn khi thực hiện VST với cồn khử khuẩn được có 8% Kết quả trên cho thấy VST bằng dung dịch cồn có tác dụng diệt khuẩn tốt hơn là VST với nước và xà phòng [36]
Trong các KQNC, khi sử dụng các hóa chất VST trong đó có chất dưỡng sẽ làm giảm kích ứng da tay từ đó có thể cải thiện tuân thủ VSTTQ của NVYT [9] Hầu như các KQNC qua buổi phỏng vấn sâu hoặc thảo luận nhóm đều cho thấy nguyên nhân của việc NVYT không tuân thủ VSTTQ bằng phương pháp sát khuẩn tay nhanh bằng dung dịch chứa cồn là sợ khô và kích ứng da tay [1, 16, 19]
Yếu tố găng tay y tế
Trên thực tế, găng tay y tế được sử dụng một cách thoải mái và phổ biến trong các CSYT, nhờ có găng tay y tế mà người bệnh có thể tránh được những vi khuẩn khi NVYT là các thủ thuật, phẫu thuật, giúp bảo vệ cho NVYT tránh được các dịch tiết và máu từ người bệnh Vì thế, đã có nhiều NVYT xem việc mang găng có thể thay thế việc VST và dùng một đôi găng có thể tiêm thuốc, làm lasse nội mạch cho nhiều người bệnh Không hiểu hết được là phải thực hiện đúng cách và không sử dụng găng thay thế cho việc VST Đây chính là yếu tố làm giảm tỷ lệ tuân thủ VSTTQ
Theo WHO, có khoảng 30% NVYT mang găng khi chăm sóc người bệnh có
sự hiện diện của vi khuẩn lây bệnh [39]
1.5 Vài nét về bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lắk
Bệnh viện YHCT tỉnh Đắk Lắk là bệnh viện chuyên khoa hạng II, trực thuộc Sởi Y tế Đắk Lắk và được thành lập năm 1982 Năm 2002 bệnh viện được nâng cấp xây dựng quy mô 100 giường bệnh Đến nay bệnh viện ngày càng phát triển
cả về số lượng và chất lượng với tổng cán bộ NVYT là 171 người, 220 giường bệnh kế hoạch/242 giường thực kê bệnh viện có 13 khoa phòng, trong đó có 04 phòng chức năng, 09 khoa lâm sàng cận lâm sàng và 2 Tổ công tác Theo báo cáo
HUPH
Trang 25năm 2018 của bệnh viện công suất sử dụng giường bệnh 99% trong đó có 6.237 lượt người bệnh nhập nội trú, tổng thủ thuật các dịch vụ lên đến 410971 lượt bao gồm: Điện châm, thủy châm, Cứu, laser nội mạch, điện xung, bó parapin, tập phục hồi chức năng (PHCN) [2]
Mô hình tổ chức KSNK tại bệnh viện YHCT tỉnh Đắk Lắk được thực hiện theo Thông tư số 16/2018 TT-BYT ngày 20/7/2018 của Bộ Y tế [6]
Hệ thống KSNK trong bệnh viện đã được thành lập theo đúng thông tư, gồm:
Hội đồng KSNK: Hội đồng gồm 15 thành viên Trong đó Chủ tịch Hội đồng
KSNK là Giám đốc bệnh viện; Phó chủ tịch hội đồng kiêm ủy viên thường trực là trưởng khoa KSNK; ủy viên của hội đồng là trưởng các khoa lâm sàng, cận lâm sàng, phòng kế hoạch tổng hợp, phòng điều dưỡng, phòng tổ chức cán bộ…
Nhiệm vụ:
- Tư vấn cho giám đốc về KSNK trong cơ sở KBCB và tư vấn về việc sửa chữa thiết kế, xây dựng mới các công trình y tế trong bệnh viện phù hợp với KSNK
- Tham gia giám sát, đào tạo, nghiên cứu khoa học về KSNK
- Xem xét đánh giá và định hướng việc thực hiện KSNK của bệnh viện
Khoa KSNK có các bộ phận sau: Tổ giám sát, tiệt khuẩn, giặt là, xử lý chất
thải, xử lý nước thải
Nhiệm vụ khoa KSNK:
- Tham mưu cho Giám đốc về các biện pháp phòng ngừa
- Tổ chức hoặc phối hợp với các khoa, phòng liên quan triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa và Kiểm soát nhiễm khuẩn trong bệnh viện
- Xây dựng định mức, tiêu chuẩn kỹ thuật và đề xuất mua sắm trang thiết bị, phương tiện, vật tư, hóa chất liên quan đến hoạt động KSNK và kiểm tra giám sát việc sử dụng
- Hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các hoạt động KSNK của thành viên mạng lưới KSNK
- Tổ chức đào tạo, tập huấn về KSNK cho NVYT, học viên
HUPH
Trang 26- Tổ chức truyền thông về KSNK cho NVYT, học viên, người nhà người bệnh
và khách thăm
- Thực hiện nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế và chỉ đạo tuyến về KSNK
- Thực hiện các nhiệm vụ khác khi được phân công
Ngoài ra, bộ phận giám sát thực hiện kiểm tra, giám sát: NKBV và VST của NVYT nhưng vì nhân lực và trình độ của nhân viên bộ phận giám sát còn hạn chế nên rất khó khăn trong công tác giám sát KSNK bệnh viện
Mạng lưới KSNK: Gồm đại diện các khoa lâm sàng và cận lâm sàng, mỗi
khoa, đơn nguyên gồm 1 bác sỹ và 1 điều dưỡng trưởng, tham gia mạng lưới KSNK hoạt động dưới sự chỉ đạo chuyên môn của khoa KSNK Các thành viên mỗi năm 1 lần được huấn luyện cập nhật chuyên môn về công tác KSNK nhưng về nội dung VST vẫn chưa được tập huấn thường xuyên
Nhiệm vụ:
- Tham gia tổ chức thực hiện KSNK tại khoa theo phân công của Giám đốc và hướng dẫn kỹ thuật của trưởng khoa KSNK hoặc của người phụ trách KSNK
- Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát NVYT, học viên, người bệnh, người nhà NB
và khách thăm tại khoa thực hiện các quy định về KSNK
- Định kỳ và đột xuất báo cáo lãnh đạo khoa và trưởng khoa KSNK về tình hình nhiễm khuẩn bệnh viện, tuân thủ thực hành KSNK của nhân viên y tế, học viên, người bệnh, người nhà và khách thăm tại khoa [3]
Công tác phòng ngừa và KSNK tại bệnh viện luôn được quan tâm và ưu tiên hàng đầu trong đó có VST của NVYT Qua khảo sát ban đầu, trong các khoa lâm sàng tại bệnh viện có được trang bị dung dịch VST nhưng chỉ ở các hành lang, phòng hành chính của các khoa, trên các xe tiêm và bàn khám bệnh chứ chưa có trang bị vào trong các buồng bệnh, đầu giường bệnh nặng để thuận lợi cho NVYT vệ sinh tay khi cần Việc sử dụng dung dịch VST của các khoa phòng không được định mức hay kiểm tra giám sát thường xuyên (khi nào chai dung dịch hết là cầm xuống khoa KSNK đổi chai mới) nên có khi có khoa, vị trí sử dụng nhiều hoặc không sử dụng cũng không bị nhắc nhở
HUPH
Trang 27KHUNG LÝ THUYẾT
Khung lý thuyết được xây dựng dựa vào Quyết định số 3916/QĐ-BYT của
Bộ Y tế ngày 28/08/2017 về việc phê duyệt các Hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [5] và dựa trên cơ sở tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế về vấn đề tuân thủ VST của NVYT
Chương 2
Tuân thủ VSTTQ trong các cơ hội phải VSTTQ Tuân thủ VSTTQ theo 6 bước quy trình VSTTQ Tuân thủ VSTTQ
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Nhân viên y tế: Bác sỹ, diều dưỡng, y sỹ, kỹ thuật viên, hộ lý trực tiếp điều
trị và chăm sóc người bệnh đang làm việc tại 6 khoa: Nội tổng hợp, Ngoại tổng hợp,
Châm cứu dưỡng sinh (CCDS), Lão khoa, PHCN, Khám bệnh thuộc bệnh viện YHCT tỉnh Đắk Lắk
Lãnh đạo bệnh viện và lãnh đạo khoa KSNK
- Tiêu chuẩn loại trừ: Những NVYT không muốn tham gia nghiên cứu, nghỉ sinh hoặc đi học
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ 02/2019 đến 07/2019
Địa điểm: bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đăk Lăk
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính
2.4 Cỡ mẫu và pương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
- Nhân viên y tế: Chọn cỡ mẫu toàn bộ
- Cơ hội vệ sinh tay thường quy: Áp dụng công thức
- p = 0,44 (theo KQNC của Tường Vy 43,9%) [22]
- d=0,05: sai số tuyệt đối chấp nhận
Áp dụng vào công thức: n= 379
Trên thực tế có 99 NVYT tham gia nghiên cứu Vì vậy cần phải quan sát mỗi NVYT 4 cơ hội VSTTQ để đủ theo cỡ mẫu trên Vậy số cơ hộ quan sát là: 396 cơ hội
HUPH
Trang 29Nhóm 1: 06 điều dưỡng trưởng 6 khoa
Nhóm 2: Chọn chọn mỗi khoa 1 NVYT trong các NVYT được chọn vào nghiên cứu Tổng số là 6 NVYT
2.5 Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
- Bộ công cụ được xây dựng dựa trên bộ công cụ cuả WHO và Bộ Y tế bao gồm 2 phiếu (Phiếu đánh giá thực hành tuân thủ VSTTQ- Phụ lục 1 và phiếu điều tra kiến thức thái độ - Phụ lục 2)
- Bảng kiểm tuân thủ VSTTQ qua quan sát VSTTQ bao gồm các nội dung (thời điểm quan sát, chức danh người được quan sát, các cơ hội, quan sát 5 thời điểm VST, thực hành VST với dung dịch sát khuẩn, xà phòng hay không; quan sát
việc tuân thủ 6 bước của quy trình VSTTQ) (Phụ lục 1)
- Bộ câu hỏi đánh giá kiến thức, thái độ của NVYT về VSTTQ bao gồm : + Các thông tin chung của ĐTNC: tuổi, giới, chức danh nghề nghiệp, trình độ
học vấn, số năm công tác, khoa phòng đang công tác) (Phụ lục 2)
+ Kiến thức thực hành VSTTQ bao gồm 20 câu, từ câu B1 đến câu B20 (tác nhân gây bệnh truyền nhiễm do bàn tay, lợi ích tuân thủ VSTTQ, dùng găng tay thay thế VST, VST sẽ loại bỏ hết vi khuẩn gây bệnh, thời điểm cần VST, NKBV liên quan đến chăm sóc y tế, hình thức diệt khuẩn tốt nhất trên bàn tay, các phương pháp phù hợp để VST trong các trường hợp cụ thể, hóa chất phù hợp để VST, nếu các bước của quy trình VST)
+ Thái độ của NVYT về VSTTQ bao gồm 8 câu từ câu C1 đến C8: VST là biện pháp giảm tác nhân lây nhiễm tại CSYT, mang găng tay thì không cần VST, VST nhiều gây tổn thương da,…
- Hướng dẫn thảo luận nhóm bao gồm các nội dung: tầm quan trọng của VST
HUPH
Trang 30trong chăm sóc và điều trị, lý do khiến NVYT không tuân thủ VSTTQ, trang thiết
bị, phương tiện phục vụ cho VSTTQ, khó khăn, rào cản trong việc VSTTQ tại bệnh
viện, cơ chế thưởng phạt như thế nào, công tác giám sát, kiểm tra ra sao Phụ lục 6
- Hướng dẫn Phỏng vấn sâu bao gồm các nội dung: lý do khiến CBYT không tuân thủ VSTTQ, trang thiết bị cho công tác chống nhiễm khuẩn và VSTTQ, cơ chế thưởng phạt, đào tạo tập huấn, kiểm tra, giám sát như thế nào ; khó khăn vướng mắc
trong quá trình thực hiện tuân thủ VSTTQ Phụ lục 7
Cả 2 hướng dẫn đều dùng các câu hỏi mở được xây dựng trên chức năng nhiệm vụ của từng đối tượng nghiên cứu với mục đích thu thập các ý kiến của các
ĐTNC về thực trạng tuân thủ VSTTQ như thế nào như những thuận lợi, khó khăn,
những mong muốn gì trong vấn đề VST, tìm ra nguyên nhân nào ảnh hưởng tuân
thủ VSTTQ để bệnh viện có những giải pháp khắc phục nâng cao việc tuân thủ
VSTTQ của NVYT
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.2.1 Thu thập số liệu định lượng
Nghiên cứu viên (NCV) trực tiếp đến 06 khoa có NVYT chọn nghiên cứu xin phép và thông báo việc sắp làm về kế hoạch thu thập số liệu của nghiên cứu, thời gian và địa điểm tiến hành thu thập Chọn điều tra viên (ĐTV): Chọn 03 ĐTV là thành viên trong hội đồng KSNK có kinh nghiệm trong việc giám sát, đánh giá tuân thủ VSTTQ
Tập huấn điều tra viên :
+ Nghiên cứu viên tổ chức 01 buổi tập huấn cho ĐTV biết về mục đích của nghiên cứu là xác định thực trạng thực hành tuân thủ VSTTQ tại các khoa trong bệnh viện; từ đó tìm hiểu và xác định nguyên nhân, yếu tố liên quan, ảnh hưởng đến việc tuân thủ VSTTQ và có giải pháp can thiệp
Lập danh sách ĐTNC bao gồm các thông tin như: họ tên, tuổi và khoa ĐTNC làm việc Mã hóa số nghiên cứu của từng ĐTNC để sau khi thu thập thì 2 phiếu phụ lục 1 (giám sát thực hành) và phụ lục 2 (đánh giá kiến thức, thái độ của NVYT) của cùng một ĐTNC phải trùng nhau để tránh sự nhầm lẫn
Danh sách của ĐTNC sẽ được nghiên cứu viên gửi tới từng ĐTV; trong
HUPH
Trang 31nghiên cứu có tổng số 99 ĐTNC, được chia đều cho 3 ĐTV để có sự khách quan và tránh sự chú ý của ĐTNC (trong danh sách có đầy đủ thông tin cần thiết như tên, địa chỉ khoa) để ĐTV chủ động thực hiện việc thu thập thông tin theo như kế hoạch
và thời gian được xây dựng sẵn cụ thể như sau:
Số lượng ĐTNC tại các khoa
Số ĐTNC Điều tra viên tiến hành thu thập
Mỗi ĐTV sẽ thực hiện điều tra thu thập thông tin của 33 ĐTNC, mỗi ĐTNC
sẽ có 4 cơ hội quan sát, như vậy mỗi ĐTV sẽ có tổng 132 lần giám sát Thời gian thực hiện từ ngày 6/5/2019 đến 31/5/2019
* Công cụ thu thập số liệu : Đánh giá thực hành tuân thủ VSTTQ (Bảng kiểm PL1)
Bảng kiểm quan sát bao gồm 2 phần: (1) Phần thông tin hành chính; (2) Quan sát thực hành tuân thủ VSTTQ
Nội dung điền vào phiếu giam sát thực hiện cụ thể như sau :
- Phần thông tin hành chính
+ Mã số nghiên cứu: là mã số của NVYT trong danh sách nghiên cứu
+ Khoa: là khoa mà NVYT đó công tác
+ Thời điểm quan sát: Tích vào ô "Sáng" nếu thời gian quan sát là buổi sáng,
"Chiều" nếu thời gian quan sát là buổi chiều
+ Chức danh: Chọn và khoanh tròn vào chức danh của NVYT đang quan sát
- Quan sát thực hành cơ hội VSTTQ:
HUPH
Trang 32Trên bảng kiểm có sẵn 4 ô tương đương 4 cơ hội VSTTQ cần quan sát đối với
1 NVYT ĐTV quan sát xem NVYT có thực hiện VSTTQ khi có cơ hội VSTTQ hay không và điền vào phiếu, mỗi lần VSTTQ thì có đúng 6 bước quy trình không
và điền vào bảng kiểm
Hàng ngày ĐTV đến các khoa quan sát vào khung giờ hành chính, buổi sáng bắt đầu từ 7h30 đến 11h sáng, buối chiều từ 13h30 đến 16h30 được tiến hành quan sát từ thứ 2 đến thứ 6, thực hiện quan sát không tham gia và điền vào bảng như hướng dẫn phía trên, bảo đảm số liệu thu thập phải có chất lượng và tránh được các sai số Thời gian thu thập đủ số liệu định lượng trong khoảng 2 tháng
HUPH
Trang 33Mục đích quan sát để đánh giá các tỉ lệ: tuân thủ VSTTQ trong các cơ hội phải VSTTQ; phương pháp VSTTQ và tuân thủ VSTTQ đầy đủ 6 bước quy trình VSTTQ
Khi thực hiện quan sát ĐTV chọn góc khuất, không để cho NVYT phát hiện ra mình đang bị quan sát, nhưng vẫn đảm bảo quan sát được NVYT tuân thủ VSTTQ như thế nào Vì nhóm ĐTV là thành viên thuộc mạng lưới, hội đồng KSNK, công việc chính là giám sát hoạt động KSNK chung nên sẽ lồng ghép việc giám sát tuân thủ VSTTQ vào cùng với các hoạt động giám sát KSNK khác
+ Đánh giá kiến thức, thái độ của NVYT về VSTTQ (Phụ lục 2)
Sau khi kết thúc quan sát thực hành tuân thủ VSTTQ thì NCV là người trực tiếp cùng ĐTV đi phát vấn cho ĐTNC vào sau các buổi giao ban của từng khoa NCV và ĐTV cầm theo bảng danh sách ĐTNC và phiếu khảo sát (phụ lục 2) tới khoa phát cho ĐTNC để thu thập thông tin Phiếu khảo sát kiến thức – thái độ được học viên mã hóa trùng với số thứ tự của ĐTNC trong bảng danh sách để tránh sự nhầm lẫn trong quá trình thu thập và khi nhập liệu, phân tích số liệu
Trước khi ĐTNC điền vào phiếu, NCV giải thích rõ mục đích nghiên cứu và cách trả lời câu hỏi Nếu ĐTNC đồng ý tham gia, đánh dấu tích vào ô “đồng ý” và tiếp tục điền vào phiếu để trả lời câu hỏi Và ngược lại nếu ĐTNC đánh dấu tích vào ô “Không đồng ý” và không thực hiện phát đối với ĐTNC đó Thời gian phát vấn tối đa là 20 phút
Trong quá trình phát vấn, không để ĐTNC trao đổi các thông tin về câu trả lời với nhau để tránh nhiễu thông tin và kết quả thu thập không chính xác với tình hình thực tế
ĐTNC trả lời xong các câu hỏi thì gửi phiếu cho ĐTV để kiểm tra tránh bỏ sót câu hỏi trong phiếu
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
Nghiên cứu định tính được thực hiện sau khi thu thập xong số liệu nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ của nhân viên y tế; kết quả nghiên cứu định tính phục vụ cho mục tiêu 2 của đề tài
HUPH
Trang 34Phỏng vấn sâu (PVS):
Phỏng vấn sâu 2 cuộc gồm giám đốc bệnh viện và trưởng khoa KSNK do NCV trực tiếp phỏng vấn và có một thư ký hỗ trợ ghi âm và ghi chép
- Thời gian PVS: 25-40 phút, không nằm trong giờ hành chính
- Địa điểm: Phòng giao ban của bệnh viện
Thảo luận nhóm (TLN):
Dựa vào bản hướng dẫn TLN (Phụ lục 6) để thảo luận có 2 nhóm gồm nhóm điều dưỡng trưởng và nhóm điều dưỡng viên của 6 khoa lâm sàng Các buổi thảo luận nhóm này được NCV điều hành thư ký ghi âm, trích biên bản
- Thời gian TLN: 40-60 phút/ cuộc TLN, ngoài giờ hành chính
- Địa điểm: Phòng giao ban của bệnh viện
2.6 Cách đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành tuân thủ vệ sinh tay thường quy
2.6.1 Đánh giá tuân thủ vệ sinh tay thường quy
Cách tính: Theo WHO và Bộ Y tế, để đánh giá tuân thủ VST dùng các chỉ số:
* Số NVYT tuân thủ VSTTQ theo cơ hội
* Số NVYT tuân thủ VSTTQ theo quy trình 6 bước VST
- Một cơ hội VST được xem là tuân thủ khi đạt đủ 2 yêu cầu (*): (1) Có thực hiện VST khi xảy ra cơ hội cần VST; (2) Thực hiện VST với nước và xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn chứa cồn
Tỷ lệ % cơ hội tuân thủ VSTTQ của NVYT = (Tổng cơ hội có thực hiện
VSTTQ/Tổng số cơ hội cần phải VST được quan sát) × 100%
- Một NVYT được coi là tuân thủ quy trình 6 bước VSTTQ đúng, đủ bao gồm:
+ Tuân thủ VSTTQ như (*) ở trên
+ Thực hiện VSTTQ đầy đủ 6 bước VSTTQ không làm đảo lộn các bước và mỗi bước phải thực hiện đủ 5 lần [4]
Tỷ lệ % NVYT tuân thủ quy trình VSTTQ = (Số NVYT tuân thủ quy trình
VSTTQ/ Tổng số NVYT tham gia nghiên cứu) × 100%
- Một NVYT được coi là tuân thủ VSTTQ khi đảm bảo 2 yêu cầu:
HUPH
Trang 35+ (1) Tuân thủ tất cả 4 cơ hội VST mà NVYT được quan sát (tuân thủ tất cả 4
cơ hội VST);
+ (2) Tuân thủ đúng 6 bước trong tất cả các quy trình VST được quan sát
Tỷ lệ % NVYT tuân thủ VSTTQ = (Số NVYT tuân thủ VSTTQ/Tổng số
NVYT tham gia nghiên cứu) × 100%
2.6.2 Đánh giá kiến thức, thái độ về VSTTQ
Phần đánh giá kiến thức gồm 20 câu, tối đa cho là 20 điểm, kiến thức “Đạt” khi tổng số điểm đạt ≥15 điểm, đánh giá “Chưa đạt” khi điểm số < 15 điểm Phần đánh giá thái độ về VSTTQ có 8, điểm tối đa phần này là 8 điểm Phần này đánh giá “có thái độ tích cực” khi số điểm ≥ 6 điểm; “Chưa tích cực” khi số điểm <6 điểm
Đánh giá kiến thức thái độ tính điểm dựa trên nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Huyền tại bệnh viện Tim Hà Nội năm 2018 [14]
2.6.3 Xác định các yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy bằng phương pháp
Phương pháp định lượng: Xác định mối liên quan giữa đặc điểm chung, kiến
thức, thái độ của ĐTNC với tuân thủ VSTTQ
2.7 Các biến số nghiên cứu, các chủ đề nghiên cứu
2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng (phụ lục 10)
Các biến số định lượng được xác định theo mục tiêu:
Theo mục tiêu 1: Các biến số của mục tiêu 1 được thu thập qua bảng kiểm bao
gồm điánh giá tỷ lệ % tuân thủ cơ hội VSTTQ; tỷ lệ % tuân thủ quy trình 6 bước VSTTQ và tỷ lệ NVYT đạt tuân thủ VSTTQ
- Theo mục tiêu 2: Các biến của mục tiêu 2 gồm biến định lượng một số đặc
điểm của ĐTNC (Tuổi, giới, trình độ học vấn, thâm niên, chức danh nghề nghiệp),
HUPH
Trang 36kiến thức, thái độ tuân thủ VSTTQ; Định tính: yếu tố tổ chức, quản lý, trang thiết bị VST
2.7.2 Chủ đề nghiên cứu định tính
Công tác đào tạo; Công tác kiểm tra giám sát; Công tác thi đua và chế độ khen thưởng; Yếu tố trang thiết bị, phương tiện VST: tính sẵn có và khả năng tiếp cận phương tiện VST, găng tay, hóa chất VST, cơ chế thưởng phạt, khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện tuân thủ VSTTQ
2.8 Phương pháp phân tích số liệu
Phân tích đơn biến để đo lường mối liên quan giữa tuân thủ VSTTQ với một
số yếu tố liên quan, bao gồm: Tuổi, trình độ học vấn, thâm niên công tác, kiến thức
và thái độ về VST Áp dụng test X2 hoặc fisher’s exact test, tính OR, 95%CI và p Mức ý nghĩa thống kê khi p<0,05
2.8.2 Số liệu định tính
Tất cả các bản ghi âm của các cuộc TLN và PVS tiến hành gỡ băng, tổng hợp các thông tin vài mã hóa theo các chủ đề
Các ý kiến đặc sắc sẽ được trích dẫn ở phần KQNC và bàn luận
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện sau khi Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua Quyết định số: 30/2019/YTCC- HD3 ngày 06/3/2019 Trong quá trình thực hiện nghiên cứu tuân thủ theo các quy định của hồ sơ hội đồng đạo đức đã phê duyệt.”
Việc ĐTNC tham gia nghiên cứu là hoàn toàn tự nguyện, có quyền từ chối tham
HUPH
Trang 37gia nghiên cứu hoặc từ chối trả lời bất cứ câu hỏi nào và kết thúc cuộc phỏng vấn hoặc điền phiếu điều tra khi họ muốn, được giải thích về mục đích, nội dung nghiên cứu
Số liệu nghiên cứu chỉ phục vụ mục đích nghiên cứu khoa học, không phục vụ cho mục đích nào khác Tất cả thông tin của ĐTNC, số liệu điều tra được bảo đảm
bí mật và không ảnh hưởng đến ĐTNC
Nội dung nghiên cứu phù hợp, được lãnh đạo bệnh viện YHCT tỉnh Đắk Lắk quan tâm và ủng hộ Sau khi hoàn thành nghiên cứu sẽ báo cáo và khuyến nghị cho Lãnh đạo bệnh viện để việc tuân thủ VSTTQ tại bệnh viện được thực hiện tốt hơn
HUPH
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1.Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Đặc điểm chung của nhóm đối tượng nghiên cứu
( n ) Tỷ lệ % Tuổi
Cao đẳng,Trung học chuyên
Bảng 3.1 cho thấy tuổi trung bình của ĐTNC là 38,37±8,63 tuổi; nhóm tuổi 30-39 chiếm chủ yếu 72,73% ĐTNC hầu hết là nữ chiếm 74,75% Nhân lực chia
HUPH
Trang 39đều giữa các khoa Trong số các ĐTNC thì chức danh y sỹ chiếm tỷ lệ nhiều nhất 35,35%; thứ hai là điều dưỡng 31,31%; thứ ba là bác sĩ là 19,19%; hộ lý 8,09%; ít nhất là KTV 6,06% Hầu hết NVYT tham gia nghiên cứu có thâm niên công tác từ 5 năm trở lên (87,88%) Hơn 1/3 (34,34%) NVYT có trình độ từ đại học trở lên
Bảng 3.2 Tiếp cận thông tin về VST của NVYT (n=99)
Số lần được đào tạo trong 2 năm qua
Hình thức tổ chức đào tạo
Kênh cung cấp thông tin VSTTQ phù hợp
HUPH
Trang 40Bảng 3.2 cho thấy đa số NVYT đã được tham gia lớp tập huấn về VSTTQ (97,98%), chỉ có 2,02% NVYT chưa từng tham gia các lớp tập huấn về VSTTQ Nơi tập huấn chủ yếu là bệnh viện 87,88% Đa số (87,88%) NVYT được tập huấn
từ 2 lần trở lên trong 2 năm Hình thức đào tạo phần lớn (90,91%) là tập trung tại hội trường lớn tại bệnh viện và đào tạo bao gồm cả thực hành là chủ yếu 89,90%
Tỷ lệ cán bộ y tế có nhu cầu đào tạo, tập huấn chiếm 92,93%, chỉ có 7,07% không
có nhu cầu đào tạo tập huấn Kênh thông tin VSTTQ phần lớn (71,72%) tại các lớp tập huấn của bệnh viện
Bảng 3.3: Công tác kiểm tra, giám sát tại bệnh viện về VSTTQ
3.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tại bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Đắk Lăk
HUPH