ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Khảo sát được tiến hành qua 2 giai đoạn: 1) Rà soát tài liệu/ số liệu thứ cấp và 2) nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm)
Việc rà soát tài liệu thứ cấp, bao gồm chương trình đào tạo của các chuyên ngành phổ biến, được thực hiện để hiểu rõ hơn về quản lý và triển khai chương trình theo hai hệ chuyên khoa thực hành và hàn lâm Qua đó, nhóm nghiên cứu có thể nhận diện những điểm tương đồng và khác biệt trong quản lý và triển khai giữa hai hệ thống này, từ đó tạo cơ sở cho việc xây dựng các công cụ nghiên cứu định tính ở giai đoạn tiếp theo.
Nghiên cứu định tính được tiến hành sau khi có kết quả sơ bộ về sự đối chiếu giữa hai hệ đào tạo chuyên khoa thực hành và hàn lâm Các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu thực trạng và lý do cho sự tương đồng và khác biệt giữa hai hệ đào tạo từ quan điểm của các bên liên quan, bao gồm cấp ra chính sách, cấp quản lý và cấp thực hiện chương trình.
Đối tượng nghiên cứu
Tại Việt Nam, có nhiều chương trình đào tạo chuyên khoa sau đại học trong lĩnh vực y tế, bao gồm các bậc học như Tiến sĩ (TS), Thạc sĩ (ThS), Chuyên khoa I (CKI) và các chuyên khoa khác Những chương trình này nhằm nâng cao trình độ chuyên môn và đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành y tế.
Hệ lâm sàng: chương trình đào tạo Nội khoa và Nhi Khoa
Hệ cận lâm sàng: chương trình đào tạo Chẩn đoán hình ảnh
Hệ dự phòng: Chương trình đào tạo Y tế công cộng
Cơ sở đào tạo chuyên khoa cấp 1 và cấp 2, thạc sỹ, tiến sỹ tại Việt Nam cần ưu tiên lựa chọn những cơ sở có khả năng thực hiện đồng thời chương trình đào tạo chuyên khoa I.
Trường ĐH Y Dược, các Viện nghiên cứu
- Cán bộ hoạch định chính sách đào tạo cán bộ: Cục Khoa học Công nghệ và đào tạo (Bộ Y tế), Bộ Giáo dục đào tạo
- Cán bộ quản lý chương trình đào tạo các cấp:
Bộ Y tế (Lãnh đạo hoặc chuyên viên phụ trách chương trình đào tạo CKI, CKII của Phòng ĐT SĐH- Cục KHCN và ĐT Bộ Y tế)
Cán bộ quản lý đào tạo của Trường Đại học Y, các bệnh viện: Phó hiệu trưởng/PGĐ BV phụ trách đào tạo, Lãnh đạo Phòng ĐT SĐH
- Giảng viên của các Khoa/BM tham gia giảng dạy chương trình CKI, II và ThS, TS thuộc 4 chuyên ngành nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm thực hiện
Khảo sát được tiến hành từ tháng 10/2014- 3/2015 tại các các cơ sở tham gia đào tạo CKI, 2 và ThS, TS chuyên ngành Y ở Việt Nam.
Cỡ mẫu và chọn mẫu
Bảng 2.1 Bảng tóm tắt đối tượng phỏng vấn, cỡ mẫu và chọn mẫu
TT Đối tượng Cỡ mẫu Chọn mẫu
Chương trình đào tạo chuyên khoa Y tại
Thống kê toàn bộ các chương trình đào tạo CKI, CKIIchuyên ngành Y tại VN
Tìm hiểu sâu 1 số chương trình đào tạo theo lĩnh vực phổ biến
Theo lĩnh vực đào tạo
- Cận lâm sàng: chẩn đoán hình ảnh
- Dự phòng: Y tế công cộng
2 Cán bộ hoạch định chính sách về đào tạo cán bộ
- 02 người - 01 Lãnh đạo Cục KHCN và Đào tạo (Bộ Y tế)
- 01 chuyên viên Vụ GD ĐH (Bộ GD ĐT)
3 Cán bộ quản lý chương trình đào tạo
3.1 Bộ Y tế - 01 người Trưởng phòng/chuyên viên phụ trách chương trình đào tạo CKI,CKII của Phòng ĐT SĐH
TT Đối tượng Cỡ mẫu Chọn mẫu
8 người (1người/trường x 8 trường/viện)
- Phó hiệu trưởng/LĐ BV phụ trách ĐT: 1 người/trường
- Lãnh đạo phòng ĐT SĐH phụ trách chương trình đào tạo CKI và CKII : 01 người/trường
Các trường ĐH và bệnh viện đại diện 3 vùng: Bắc, Trung và Nam:
- Miền Bắc: Trường ĐH YHN, ĐH Y Thái Nguyên,
BV Bạch Mai, BV Nhi Trung ương
- Miền Trung: ĐH Y Huế, Khoa Y (ĐH Tây Nguyên)
- Miền Nam: ĐH YDTP HCM, ĐH Y Dược Cần Thơ, BV Chợ Rẫy và BV Nhi đồng I
4 Đại diên LĐ Khoa/BM tham gia giảng dạy
4.1 Lãnh đạo hoặc giảng viên Khoa/BM Nội,
Nhi, Chẩn đoán hình ảnh của các cơ sở đào tạo được chọn
18 người (trung bình 2-3 người/trường x 8 trường)
Lãnh đạo Khoa/BM phụ trách chương trình CKI, CKII: 01 người/1 BM
Giảng viên cần có 01 người cho mỗi bộ môn, đã tham gia giảng dạy chương trình CKI và có tối thiểu 3 năm kinh nghiệm giảng dạy CKII Ưu tiên những giảng viên có khả năng giảng dạy đồng thời cả chương trình chuyên khoa.
TT Đối tượng Cỡ mẫu Chọn mẫu
5 Cán bộ hoạch định chính sách về sử dụng cán bộ
Lãnh đạo/chuyên viên của phòng
TCCB- Sở Y tế phụ trách công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ cho ngành
1 người/tỉnh x 3 tỉnh Sở Y tế Hà Nội, Sở Y tế Lâm Đồng, Sở Y tế TP Hồ Chí Minh
Trên thực tế, nhóm nghiên cứu đã thực hiện được Tổng cộng 19 cuộc phỏng vấn sâu và 10 cuộc thảo luận nhóm.
Các nội dung nghiên cứu
Bảng 2.2 Tóm tắt các nôi dung nghiên cứu chính
TT Nhóm biến số Nội dung Nguồn số liệu/cung cấp thông tin
Các loại hình đào tạo SĐH theo chuyên ngành đào tạo
Số liệu thứ cấp (Cục KHCNvà ĐT, các cơ sở tham gia đào tạo)
Thống kê toàn bộ các chuyên ngành đào tạo CKICKII, ThS, TS chuyên ngành Y tại VN
Số liệu thứ cấp (Cục KHCNvà ĐT, các cơ sở tham gia đào tạo)
Thống kê các cơ sở tham gia đào tạo chuyên khoa
Số liệu thứ cấp (Cục KHCNvà ĐT)
Sự giống và khác nhau giữa hệ thống quản lý đào tạo CK
- Rà soát các văn bản, qui định liên quan của BYT,
Sự giống và khác nhau giữa qui trình mở mã ngành, đăng ký đào tạo, đối tượng tuyển
- PVS LĐ Trường, Viện và Phòng ĐT SĐH
HUPH cung cấp thông tin về chỉ tiêu tuyển sinh, quy trình tuyển sinh và cấp bằng, cũng như khả năng liên thông và quy trình liên thông cho các hệ đào tạo Cử nhân, Thạc sĩ và Tiến sĩ.
Qui trình đảm bảo chất lượng, báo cáo, thống kê, kiểm tra và giám sát thực hiện chương trình đào tạo CK, ThS và TS có những điểm giống và khác nhau quan trọng Các quy trình này đều nhằm mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, nhưng cách thức thực hiện và tiêu chí đánh giá có thể khác biệt Việc hiểu rõ sự tương đồng và khác biệt này giúp cải thiện hiệu quả quản lý và phát triển chương trình đào tạo.
- PVS Phòng ĐT SĐH của các trường và viện
- Số liệu thứ cấp về quản lý chương trình đào tạo tại 1 số nước trên thế giới
2 Triển khai chương trình đào tạo 1 số chuyên ngành được đào tạo phổ biến ở VN
- Cận lâm sàng: chẩn đoán hình ảnh
- Dự phòng: Y tế công cộng
So sánh sự giống và khác nhau một số chương trình đào tạo phổ biến cùng chuyên ngành CKI-ThS;
CKII- TS theo các nội dung sau:
Mục tiêu Chuẩn đầu ra Cấu trúc chương trình đào tạo
Thời gian đào tạo Phương pháp giảng dạy Giảng viên
Cơ sở thực hành thực địa Lượng giá sinh viên
Rà soát chương trình đào tạo CKI-ThS; CKII- TS Nội, Nhi và chẩn đoán hình tại Việt Nam
PVS LĐ Trường ĐH/BV, Phòng ĐT SĐH
TLN LĐ và giảng viên
BM lâm sàng, cận lâm sàng, dự phòng
4 Định hướng và khuyến nghị về công tác đào tạo và sử dụng cán bộ
- Cơ sở đào tạo phù hợp
- Sử dụng cán bộ: Sự khác biệt giữa CB tốt nghiệp
- PVS LĐ Cục KHCN và ĐT
- PVS LĐ Trường ĐH/BV, Phòng ĐT SĐH
HUPH theo hệ thống chuyên khoa
CKI với Ths, CKII với
- Xu hướng đào tạo/ học tập sau SĐH trong thời gian qua
- TLN LĐ và giảng viên
BM lâm sàng, cận lâm sàng, dự phòng
Phương pháp thu thập số liệu
Khảo sát sử dụng phương pháp thu thập số liệu thứ cấp kết hợp với phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm Cụ thể:
Thu thập số liệu thứ cấp về các chương trình đào tạo CKI và CKII, Ths, TS tại Việt Nam, với sự chú trọng vào các lĩnh vực lâm sàng như nội khoa và nhi khoa, cận lâm sàng với chuyên ngành chẩn đoán hình ảnh, cùng với các chương trình dự phòng trong y tế công cộng.
Các số liệu thứ cấp được thu thập theo khung rà soát số liệu thứ cấp (Phụ lục 5)
Phỏng vấn sâu các nhà hoạch định chính sách và quản lý chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành y tại Bộ Y tế (Cục Khoa học và Đào tạo) và Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm tìm hiểu về chỉ đạo, định hướng và quản lý các chương trình chuyên khoa, thạc sĩ và tiến sĩ ở Việt Nam.
Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các nhà quản lý, bao gồm lãnh đạo Trường và Phòng Đào tạo, nhằm triển khai chương trình đào tạo chuyên khoa tại các Trường và Viện có tham gia đào tạo chuyên khoa.
- Thảo luận nhóm đại diện Lãnh đạovà giảng viên tham gia giảng dạy chuyên khoa, ThS, TS
Tất cả các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được ghi âm và ghi biên bản các nội dung chính.
Phương pháp phân tích số liệu
- Số liệu thứ cấp, thông tin từ rà soát văn bản được tổng hợp, phân tích và trình bày theo chủ đề phù hợp
- Số liệu định tính được gỡ băng mã hóa và phân tích theo chủ đề và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu
Một số khái niệm, phạm vi và tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào phân tích một số chương trình chuyên khoa y tế phổ biến tại Việt Nam, bao gồm: chương trình đào tạo Nội khoa và Nhi khoa trong hệ lâm sàng, chương trình đào tạo Chẩn đoán hình ảnh trong hệ cận lâm sàng, và chương trình đào tạo Y tế công cộng trong hệ dự phòng Việc lựa chọn này nhằm tối ưu hóa nguồn lực và tránh chồng chéo với các nghiên cứu khác.
- Đào tạo chuyên khoa sau đại học trong ngành y tế trong nghiên cứu này được hiểu là đào tạo chuyên khoa cấp 1 và cấp 2
Việc rà soát quản lý và triển khai chương trình đào tạo chuyên khoa cấp 1 được thực hiện dựa trên quy chế đào tạo chuyên khoa 1 do Bộ Y tế ban hành theo quyết định số 1636/2001/QĐ-BYT ngày 25/5/2001.
Việc rà soát quản lý và triển khai chương trình đào tạo chuyên khoa cấp 2 được thực hiện theo qui chế đào tạo do Bộ Y tế ban hành, theo quyết định số 1637/2001/QĐ-BYT ngày 25/5/2001 của Bộ trưởng Bộ Y tế.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Công tác quản lý đào tạo theo hệ thống chuyên khoa và thạc sỹ, tiến sỹ
4.1.1 Hệ thống văn bản liên quan đến quản lý đào tạo chuyên khoa còn chậm được cập nhật
Rà soát các văn bản liên quan đến qui chế đào tạo hệ chuyên khoa, thạc sĩ và tiến sĩ từ năm 2000 đến 2014 cho thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ Y tế đã ban hành các qui chế đào tạo hành lâm và chuyên khoa Các quy chế đào tạo sau đại học xác định năng lực của cơ sở thông qua các tiêu chí như nhân lực, cơ sở vật chất và chương trình đào tạo Tuy nhiên, văn bản liên quan đến đào tạo chuyên khoa ít thay đổi và chưa được cập nhật để phù hợp với tình hình thực tế.
Bảng 4.1 Tóm tắt hệ thống các văn bản liên quan đến quản lý đào tạo CKI, CKII và ThS/TS từ 2000 đến 2014 Năm ban hành
CKI và CKII ThS và TS
2000 Quy chế đào tạo sau đại học(QĐ18/2000/QĐ-BGDĐT)
2001 Qui chế đào tạo CKI,
Qui chế đào tạo CKII (QĐ1637/2001/QĐ-BYT)
Qui chế tuyển sinh sau đại học QĐ02/2001/QĐ-BGD&ĐT
2002 Sửa đổi, bổ sung một số một số điều trong Quy chế tuyển sinh sau đại học QĐ 19/2002/QĐ-
2003 Thông tư liên tịch về việc chuyển đổi các văn bản và trình độ đào tạo sau đại học trong lĩnh vực y tế
Sửa đổi, bổ sung một số một số điều trong Quy chế tuyển sinh sau đại học QĐ16/2003/QĐ-BGD&ĐT
CKI và CKII ThS và TS
Quyết định số 4306/2003/QĐ-BYT ngày 14/8/2003 của Bộ Y tế quy định về việc cấp bằng tốt nghiệp chuyên khoa cấp 1, chuyên khoa cấp 2 và bằng tốt nghiệp Bác sĩ Nội trú bệnh viện trong lĩnh vực y tế Quy chế này nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo và cấp chứng chỉ cho các chuyên gia y tế, góp phần nâng cao trình độ chuyên môn trong ngành y.
2004 Sửa đổi, bổ sung một số một số điều trong Quy chế tuyển sinh sau đại học QĐ 11/2004/QĐ-
2008 Qui chế đào tạo trình độ ThS
2009 Qui chế đào tạo trình độ tiến sĩ
Thông tư điều chỉnh qui chế đào tạo trình độ ThS
2010 QĐ về việc giao nhiệm vụ đào tạo thí điểm CKI, CKII cho các bệnh viện (QĐ 209/QĐ-BYT)
Thông tư điều chỉnh qui chế đào tạo trình độ Tiến sĩ TT10/2009/TT-BGDĐT (TT38/2010/TT-BGDĐT)
Quy định điều kiện, hồ sơ, quy trình cho phép đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ (TT38/2010/TT- BGDĐT)
2011 Quy chế đào tạo trình độ thạc sĩ
2012 Sửa đổi bổ sung một số điều của qui chế đào tạo tiến sĩ tại TT10/2009/TT-BGDĐT (TT 05/2012/TT-BGDĐT)
CKI và CKII ThS và TS
2014 Qui chế đào tạo Thạc sĩ
Trong 15 năm qua, Bộ GD và ĐT đã ban hành và nhiều lần sửa đổi quy chế đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ Từ năm 2000 đến 2008, hai quy chế này được gộp chung thành quy chế đào tạo sau đại học và đã được điều chỉnh 5 lần Từ năm 2008 đến 2014, quy chế đào tạo thạc sĩ được ban hành riêng và đã trải qua 4 lần điều chỉnh, trong khi quy chế đào tạo tiến sĩ được điều chỉnh 3 lần thông qua các thông tư của Bộ.
Từ năm 2001 đến 2014, Bộ Y tế chỉ ban hành một quy chế đào tạo cho chuyên khoa I và II, với hai lần điều chỉnh liên quan đến đối tượng tuyển sinh, thâm niên công tác và điều kiện ngoại ngữ Mặc dù sự ổn định trong quy chế đào tạo là tích cực cho các đơn vị thực hiện, nhưng cũng bộc lộ hạn chế do quy định đã cũ và thiếu cụ thể, như điều kiện giáo viên hướng dẫn luận văn CKII và số lượng học viên mà một giáo viên có thể hướng dẫn.
(2) qui chế cũng không còn phù hợp với tình hình thực tế (đào tạo theo niên chế) và
Bộ Y tế vẫn giữ vai trò quyết định trong việc thành lập hội đồng tuyển sinh và công nhận tốt nghiệp, điều này cho thấy sự thiếu phân cấp và tự chủ cho các cơ sở đào tạo Do đó, đã đến lúc cần thiết phải thay đổi để nâng cao tính tự chủ trong giáo dục.
Bộ Y tế cần rà soát, cập nhật và sửa đổi bổ sung qui chế đào tạo cũng như mã ngành được đào tạo theo hệ thống chuyên khoa
4.1.2 Chưa thống nhất quan điểm bệnh viện có nên tham gia đào tạo chuyên khoa hay không?
Các cơ sở đào tạo sau đại học chuyên ngành Y ở Việt Nam
Hệ thống đào tạo sau đại học ngành y tế ra đời trước hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm các chương trình bác sĩ nội trú và chuyên khoa cấp I, II Để đạt được chuyên khoa cấp I, bác sĩ cần có kinh nghiệm làm việc trong lĩnh vực đã được đào tạo, sau đó tiếp tục học tập và công tác trong chuyên môn để nâng cao trình độ.
Cả hai chương trình bác sĩ nội trú và chuyên khoa cấp I đều có thể tiếp tục học lên chuyên khoa cấp II, nơi học viên được đào tạo chuyên sâu hơn trong một lĩnh vực hẹp Tại Việt Nam, đào tạo sau đại học ngành y là chương trình cấp bằng quốc gia, chỉ được thực hiện bởi các trường đại học, trong khi bệnh viện chỉ đóng vai trò phối hợp, ngoại trừ các chương trình đào tạo bồi dưỡng không cấp bằng.
Bộ Y tế đã thí điểm cho phép 2 bệnh viện đầu tiên tham gia đào tạo (BV Bạch Mai và
Hiện nay, tại Việt Nam có hai hệ thống đào tạo sau đại học trong lĩnh vực y tế: hệ thống giáo dục quốc dân đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ ngành y, và hệ thống của ngành y tế đào tạo chuyên khoa cấp I, cấp II và bác sĩ nội trú Bảng dưới đây tóm tắt các cơ sở tham gia đào tạo sau đại học chuyên ngành y theo các vùng trên cả nước.
Bảng 4.2 Các cơ sở tham gia đào tạo sau đại học chuyên ngành Y theo khu vực ở
Vùng Tên cơ sở đào tạo
ThS và TS Đông Bắc Đại học Y Dược Thái Nguyên x x
Tây Bắc Chưa có 0 0 Đồng bằng sông Hồng
Trường Đại học Y khoa Hà Nội x x
Trường Đại học Y tế công cộng x x
Học viện Y Dược học cổ truyền Việt Nam x x
Khoa Khoa học sức khỏe, Đại học Thăng Long
Trường Đại học Răng – Hàm – Mặt x x
Trường Đại học Y Hải Phòng x x
Trường Đại học Y Thái Bình x x
Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định x x
Bệnh viện Nhi Trung ương x
Vùng Tên cơ sở đào tạo
Bệnh viện Phụ Sản Trung ương x Bệnh viện Răng Hàm mặt Trung Ương x
Bộ Đại học Y Dược Huế x x
Bệnh Viện Trung ương Huế x Nam Trung
Tây Nguyên Khoa Y, Đại học Tây Nguyên x Đông Nam
Bộ Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh x x ĐH Y Dược Phạm Ngọc Thạch x
Bệnh viện Từ Dũ x Đồng bằng sông Cửu
Trường Đại học Y Dược Cần Thơ x x
Bảng 3.2 cho thấy sự phân bổ không đồng đều của các cơ sở đào tạo sau đại học chuyên ngành Y ở Việt Nam, với hai vùng Tây Bắc và Nam Trung Bộ không có cơ sở nào Vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 1-2 cơ sở, trong đó Tây Nguyên chỉ có Khoa Y của Trường Đại học Tây Nguyên đào tạo 02 chuyên ngành chuyên khoa I Ngược lại, khu vực Đồng Bằng sông Hồng có 10 trường Đại học và 5 bệnh viện tham gia đào tạo, với nhiều cơ sở cung cấp cả hai loại hình chuyên khoa và thạc sĩ, tiến sĩ, nhưng cũng có những cơ sở chỉ đào tạo một trong hai loại hình này.
Vai trò của bệnh viện trong đào tạo chuyên khoa
Trước năm 2010, chỉ có các Trường Đại học Y Dược mới được phép đào tạo chuyên khoa, nhưng từ năm 2010 đến 2014, Bộ Y tế đã cho phép các Bệnh viện hạng đặc biệt và hạng I đào tạo chuyên khoa I và II Bệnh viện Bạch Mai và Bệnh viện Chợ Rẫy là hai cơ sở đầu tiên thực hiện đào tạo thí điểm, sau đó mở rộng ra 14 bệnh viện/viện với 21 chuyên ngành CKI và 25 chuyên ngành CKII Các bệnh viện lớn như Bạch Mai, Bệnh viện Nhi Trung ương và Chợ Rẫy có nhiều lợi thế trong tổ chức đào tạo nhờ đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất tốt Tuy nhiên, quá trình đào tạo gặp khó khăn về tài chính, số lượng học viên ít và chất lượng giảng dạy không đồng đều Hiện tại, việc cấp bằng tốt nghiệp cũng gặp khó khăn do chưa thống nhất được cơ quan ký bằng Mặc dù đã đóng góp nhân lực cho ngành y tế, từ năm 2014 đến nay, việc đào tạo CKI và CKII tại các bệnh viện đang tạm dừng để rà soát và quy hoạch lại các cơ sở đào tạo nhằm nâng cao chất lượng.
Hiện nay, có hai quan điểm chính về việc bệnh viện có nên trở thành cơ sở đào tạo chuyên khoa hay không Quan điểm thứ nhất cho rằng bệnh viện chỉ nên tham gia vào đào tạo liên tục, không nên đảm nhận vai trò đào tạo chuyên khoa Lý do là bệnh viện không thể giảng dạy các môn học chung và môn cơ sở, chiếm khoảng 60% chương trình đào tạo, và cũng không có chức năng cấp bằng.
Một số bệnh viện trung ương lớn như Huế và Bạch Mai đã tiến hành đào tạo và thuê các trường giảng dạy chứng chỉ về môn hỗ trợ và lý thuyết Tuy nhiên, hình thức này không được Bộ Y tế chấp nhận vì nó dẫn đến việc tuyển sinh mà không kiểm soát được chất lượng, với chỉ 40% nội dung lâm sàng được giảng dạy Quan điểm của Bộ Y tế là dừng đào tạo chuyên khoa I, II và bác sĩ nội trú tại bệnh viện, vì không thể để viện có chức năng cấp bằng.
Luồng quan điểm thứ hai nhấn mạnh tầm quan trọng của việc các bệnh viện tham gia vào đào tạo chuyên khoa, nhằm đảm bảo bác sĩ hành nghề phải có chứng chỉ hành nghề Thời gian đào tạo bác sĩ tại Việt Nam hiện chỉ kéo dài 6 năm, ngắn hơn so với 9 năm ở nhiều quốc gia khác Do đó, sau khi tốt nghiệp, bác sĩ cần thêm 2 năm học chuyên khoa để đủ điều kiện cấp chứng chỉ Tuy nhiên, hệ thống các trường Y tại Việt Nam, với khoảng 20 trường, không đủ khả năng đào tạo cho toàn ngành Y tế Các bệnh viện lớn sở hữu đội ngũ bác sĩ có chuyên môn cao và tay nghề giỏi, vì vậy việc tận dụng nguồn lực này cho công tác đào tạo là rất cần thiết.
Bác sĩ sau 6 năm học tập thường chưa đủ kinh nghiệm để hành nghề, vì vậy cần phải học thêm chuyên khoa từ 3 đến 4 năm Hiện nay, các nước đều yêu cầu bác sĩ phải hoàn thành chương trình chuyên khoa trước khi hành nghề Ở Việt Nam, sau 6 năm học, bác sĩ phải tự thực hành và mới đây mới có chứng chỉ hành nghề, yêu cầu thêm 18 tháng học tập Sự chênh lệch về trình độ giữa các bác sĩ dẫn đến tình trạng bệnh nhân vượt tuyến lên trung ương Để cải thiện tình hình này, cần phải tăng cường đào tạo và phối hợp giữa các trường và bệnh viện, tận dụng nguồn lực từ các thầy ở bệnh viện.
Rà soát tài liệu đào tạo chuyên khoa toàn cầu cho thấy bệnh viện là nơi chính tham gia đào tạo, nhưng cần có đơn vị độc lập kiểm tra tay nghề và cấp chứng chỉ Do đó, Việt Nam nên áp dụng mô hình này, với Bộ Y tế đóng vai trò chỉ đạo và điều phối hoạt động đào tạo chuyên khoa Cần có bản mô tả nhiệm vụ rõ ràng giữa trường và bệnh viện, quy định vai trò và trách nhiệm của từng bên trong triển khai chương trình đào tạo.
So sánh công tác triển khai chương trình đào tạo chuyên khoa và đào tạo ThS, TS
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành so sánh các chương trình đào tạo chuyên khoa ThS và TS bằng cách "ghép cặp" các chương trình cùng mã ngành đang phổ biến tại các cơ sở đào tạo Cụ thể, trong nhóm ngành lâm sàng, chương trình CKI-ThS được so sánh với CKII-TS Nội và Nhi; trong khi đó, nhóm cận lâm sàng so sánh chương trình chẩn đoán hình ảnh với chương trình Y tế công cộng trong lĩnh vực y học dự phòng.
4.2.1 Triển khai chương trình lâm sàng (Nội- Nhi)
4.2.1.1 Cấu trúc chương trình, nội dung/khung chương trình
Cấu trúc chương trình và khung chương trình đào tạo ThS và TS được thực hiện theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, trong khi chương trình CKI và CKII tuân theo quy định của Bộ Y tế Chương trình ThS, TS áp dụng hình thức đào tạo theo tín chỉ, mang lại sự linh hoạt cho người học, cho phép họ chủ động trong việc tích lũy tín chỉ và tham gia thi tốt nghiệp khi đủ điều kiện Ngược lại, chương trình CKI, CKII vẫn duy trì phương pháp đào tạo truyền thống theo đơn vị học trình, yêu cầu người học phải tuân thủ theo năm học một cách cứng nhắc Các đơn vị đào tạo đều đảm bảo cấu trúc chương trình bao gồm kiến thức chung, kiến thức cơ sở, kiến thức chuyên ngành và học phần tốt nghiệp theo quy định của các Bộ, mặc dù có sự khác biệt trong quan điểm đào tạo.
Bảng4.11.So sánh cấu trúc, nội dung chương trình đào tạo CKI- CKII & ThS-TS lâm sàng hệ Nội _Nhi
Nội dung CKI và CKII ThS và TS
Cấu trúc chương trình đào tạo
CKI: Cấu trúc chương trình chia thành 4 phần: Kiến thức chung;
Kiến thức cơ sở; kiến thưc chuyên ngành và học phần tốt
Ths: Cấu trúc chương trình chia thành 4 phần: Kiến thức chung; Kiến thức cơ sở; kiến thưc chuyên ngành và học phần tốt
Chương trình CKII bao gồm 4 phần chính: các môn học chung, các môn học cơ sở và hỗ trợ, các môn học chuyên ngành, và luận án tốt nghiệp.
Chương trình học tiến sĩ bao gồm năm phần chính: các môn học bắt buộc và tự chọn, ba chuyên đề nghiên cứu, tiểu luận tổng quan, nghiên cứu khoa học cho đề tài luận án, và luận án tốt nghiệp theo quy định.
Ths: Học theo tín chỉ Cấu trúc theo từng phần
*CKI: Gồm 4 cấu phần tổng số
100 ĐVHT -Môn học chung: 20 -Môn cơ sở: 4 -Môn chuyên ngành: 68
*CKII: Thời gian học 2 năm tương đương 100 ĐV HT trong đó:
-Các môn chung: 10 -Môn cơ sở và hỗ trợ:10
- Môn Chuyên ngành: 60 -Lvăn tốt nghiệp 20
*Ths: Gồm 4 cấu phần tổng số
55 tín chỉ -Phần chung: 4 TC -Phần cơ sở: 8TC (Bắt buộc 6TC + 2TC tự chọn)
TC bắt buộc + 8TC tự chọn) -Luận văn TN: 11 TC
-Học phần lý thuyết: 9 (6TC bắt buộc + 3TC tự chọn)
- Luận án tốt nghiệp Khung chương trình đào tạo Đều phải xây dựng các khung chương trình đào tạo theo quy định
CKI, CKII: Theo chuẩn BYT Đều phải xây dựng các khung chương trình đào tạo theo quy định
Ths và Ts theo chuẩn của Bộ
Các trường đang điều chỉnh chương trình đào tạo để tạo điều kiện liên thông giữa các hệ đào tạo CKI, CKII và ThS, TS Dựa trên thông tư 15 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về chuyển đổi chương trình ThS theo hai định hướng nghiên cứu và ứng dụng, các đơn vị đã điều chỉnh chương trình CKI, CKII theo hệ thống tín chỉ nhằm tăng khả năng liên thông Chương trình đào tạo hiện nay của Việt Nam cũng đang được cải tiến để đáp ứng nhu cầu này.
HUPH theo xu hướng đào tạo Y khoa của Trung Quốc, bao gồm hai hướng chính: đào tạo hàn lâm và đào tạo thực hành, như đã được trình bày trong phần tổng quan tài liệu.
Có sự khác biệt trong quan điểm về yêu cầu đầu ra của chương trình đào tạo thực hành lâm sàng và nghiên cứu, nhằm đáp ứng nhu cầu việc làm phù hợp với xu hướng đào tạo y học của các nước tiên tiến Các trường đề xuất Bộ Y tế cần có chính sách rõ ràng về yêu cầu bằng cấp cho các vị trí tại cơ sở đào tạo, nghiên cứu và bệnh viện, do đặc thù nghề nghiệp khác nhau Tại bệnh viện, cần có chuyên môn sâu về lâm sàng và kỹ năng thành thạo, do đó không nhất thiết phải học theo chương trình đào tạo hàn lâm (Ths, TS), mà nên tập trung vào đào tạo nghề chuyên sâu Xu hướng này đang được áp dụng tại nhiều nước châu Âu và Mỹ, nhằm tạo ra các bác sĩ thực hành có năng lực thực sự.
Mục tiêu trước đây giữa Bộ Giáo dục và Bộ Y tế chưa rõ ràng, dẫn đến việc xây dựng chương trình giảng dạy có xu hướng tương đồng để thuận tiện cho quản lý Kết quả là, trình độ tốt nghiệp giữa CH và CKI không có nhiều khác biệt Tuy nhiên, thực tế giảng dạy tại các bộ môn lại khác nhau: CH dành một năm cho lý thuyết và một năm cho luận án, trong khi CKI chỉ học 2 tháng tập trung và phần còn lại dành cho chuyên ngành, với khối lượng kiến thức học tập rất lớn và sâu sắc.
Nhiều đánh giá cho rằng trình độ CKI về lâm sàng rất tốt, nhưng có lo ngại rằng trình độ CKII không khác biệt nhiều so với chuyên khoa I Thời gian học lâm sàng hạn chế và cần dành thời gian cho luận văn, khiến việc đạt chuẩn đầu ra để trở thành bác sĩ chuyên môn cao tại bệnh viện trở nên khó khăn Tuy nhiên, chất lượng đào tạo CKII có sự khác biệt giữa chương trình tại bệnh viện và các trường Các chương trình đào tạo tại bệnh viện uy tín được đánh giá cao, vì bác sĩ CKII phải thực hành chặt chẽ với bệnh viện, mặc dù vẫn phải thực hiện luận án tốt nghiệp.
LS nhiều giúp sinh viên đạt trình độ cao theo chuẩn đầu ra mong muốn Điều này cho thấy, mặc dù khung chương trình đào tạo giống nhau, nhưng tùy thuộc vào đặc thù của cơ sở đào tạo, như các Trường Y mang tính hàn lâm/lý thuyết hay các bệnh viện, sản phẩm đầu ra sẽ thiên về những ưu thế riêng của từng cơ sở.
So sánh giữa CK I và Ths cho thấy CK I chú trọng nhiều hơn vào thực hành và có hiệu quả thực hành tốt hơn, trong khi Ths tập trung vào nghiên cứu Đối với CK II, mức độ nghiên cứu không thể so sánh với TS, và về mặt lâm sàng, CK II cũng không vượt trội hơn CK I.
“Với CKII, thời lượng học chuyên môn hơi ít, thời gian học 2 - 3 năm làm luận án tốn
Sau một năm, chất lượng luận án không đạt yêu cầu như chương trình tiến sĩ, và thời gian thực hành còn hạn chế Do đó, chương trình đào tạo CK II nên xem xét việc loại bỏ phần luận án tốt nghiệp, tập trung hoàn toàn vào thực hành Mục tiêu của CK II là nâng cao kỹ năng lâm sàng một cách sâu sắc và toàn diện nhất.
Có ý kiến cho rằng nên có một chương trình đào tạo chuyên khoa sau đại học liên tục, với thời gian đủ để bác sĩ thuần thục nghề nghiệp, tương tự như các nước tiên tiến Việc chỉ có đầu ra là bác sĩ hoặc bác sĩ chuyên khoa là phù hợp với nhu cầu của bệnh viện, không cần gắn với học vị Ths hay TS, vì tiêu chí này chỉ áp dụng cho các đơn vị đào tạo hoặc viện nghiên cứu Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng tiêu chí này trong kế hoạch chiến lược phát triển nguồn nhân lực y tế.
CKI và CKII sẽ được gộp lại thành một chuyên khoa duy nhất, không cần phân biệt CKI hay CKII Sau khi hoàn thành chương trình đào tạo bác sĩ đa khoa, bác sĩ có thể thi vào chuyên khoa sau 1 hoặc 2 năm Thời gian học chuyên khoa sẽ khác nhau tùy thuộc vào từng chuyên ngành; ví dụ, tại Bắc Mỹ, chương trình đào tạo chuyên khoa gia đình kéo dài 3 năm, chuyên khoa nhi nội là 4 năm, và chuyên khoa ngoại sản là 5 năm.
4.2.1.2 Thời gian đào tạo, hình thức đào tạo và giảng viên
Bảng4.12 So sánh thời gian, hình thức đào tạo chương trình đào tạo CKI-
CKII& Ths-TS chuyên ngành Nội _ Nhi
Nội dung CKI và CKII ThS và TS
Hình thức đào tạo Học tập trung
Học tập trung theo từng đợt
TS Có thể học từng đợt theo tín chỉ
Tổng thời gian đào tạo CKI: 2 năm
CKII: 2 năm tập trung hoặc 4 năm tập trung từng đợt
ThS: 1- 2 năm TS: Thời gian đào tạo 3-7 năm
Các chương trình đào tạo CKI Nội và Nhi kéo dài 2 năm, trong khi chương trình ThS có thể từ 1 đến 2 năm tùy thuộc vào thời gian đào tạo trước đó Theo thông tư TT15/2014/TT-BGDĐT, chương trình ThS cho phép kéo dài thêm tối đa 24 tháng Đối với chương trình CKII, thời gian đào tạo có thể là 2 năm hoặc tập trung trong 4 năm, trong khi chương trình TS có thể kéo dài đến 7 năm Tất cả các chương trình ThS và TS của Bộ GDĐT đều theo hướng đào tạo tín chỉ, giúp người học linh hoạt trong việc sắp xếp thời gian và tích lũy tín chỉ Ngược lại, chương trình đào tạo chuyên khoa của Bộ Y tế vẫn tính theo đơn vị học trình và đào tạo theo niên chế.
Bảng4.13 So sánh phương pháp đào tạo và tiêu chí giảng viên chương trình đào tạo CKI-CKII& Ths-TS chuyên ngành Nội _ Nhi
Nội dung CKI và CKII ThS và TS
Giảng dạy truyền thống (các tiết lý thuyết), kết hợp các hình thức giảng thực hành bệnh viện (hướng dẫn lâm sàng, bình bệnh án, giao ban, đi buồng….)
Ths Kết hợp với hình thức tự học, tự nghiên cứu
Phương pháp giảng dạy (Giảng truyền thống; Giảng thực hành trên bệnh nhân hoặc thực hành theo tình huống; thực hành Lab; Giảng dạy tích cực…