ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng Điều dưỡng các khoa lâm sàng đang công tác tại Bệnh viện ĐKKV Ba Tri
- Lãnh đạo phòng HCQT-TCCB
- Lãnh đạo phòng Điều dưỡng
- Nhân viên điều dưỡng lâm sàng
- Những đối tượng từ chối tham gia nghiên cứu
- Những đối tượng đi học, nghỉ thai sản, nghỉ ốm trong thời gian nghiên cứu
- Những đối tượng hợp đồng thời vụ theo hình thức khoán công việc.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: từ tháng 4/2017 đến tháng 9/2017
- Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện đa khoa khu vực Ba Tri, tỉnh Bến Tre
Thiết kế nghiên cứu
- Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính
- Nghiên cứu định tính được tiến hành sau định lượng nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng.
Cỡ mẫu và cách chọn mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho phương pháp định lượng
- Nội dung nghiên cứu: động lực làm việc của điều dưỡng
Mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ điều dưỡng đang làm việc tại các khoa lâm sàng của bệnh viện, với tổng số 123 điều dưỡng lâm sàng được ghi nhận từ phòng HCQT – TCCB Trong đó, 110 điều dưỡng lâm sàng đã được chọn để tham gia nghiên cứu, trong khi số còn lại không được chọn do nghỉ thai sản và đi học dài hạn.
2.4.2 Cỡ mẫu cho phương pháp định tính
Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng, đồng thời đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao động lực làm việc trong ngành này.
- Phỏng vấn sâu có chủ đích:
- Thảo luận nhóm: Chọn 2 nhóm điều dưỡng lâm sàng, mỗi nhóm 5 điều dưỡng
2.5 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.5.1 Thu thập số liệu định lượng
2.5.1.1 Xác định công cụ nghiên cứu
Phiếu phát vấn được thiết kế dựa trên các tài liệu và nghiên cứu liên quan đến động lực làm việc cả trong và ngoài nước Phiếu này bao gồm ba phần chính: thông tin chung về ĐTNC, động lực làm việc, và các yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc.
Các biến số về động lực làm việc của điều dưỡng được xây dựng dựa trên lý thuyết động lực lao động, tham khảo nghiên cứu của Hồ Ngọc Thành (2016) về động lực làm việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Bộ công cụ nghiên cứu của Hồ Ngọc Thành được dịch và chỉnh sửa từ thang đo động lực của Patrick Mbindyo và cộng sự (2008), áp dụng tại các bệnh viện huyện ở Kenya Thang đo này bao gồm 07 yếu tố với 23 tiểu mục và đã được kiểm định độ tin cậy với hệ số Cronbach's alpha đạt 0,75.
Thang đo động lực làm việc của điều dưỡng trong nghiên cứu này được xây dựng dựa trên nghiên cứu của Hồ Ngọc Thành (2016) tại bệnh viện đa khoa Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp Thang đo bao gồm 23 tiểu mục, phân thành 7 yếu tố chính: động lực chung (03 tiểu mục), sức khoẻ (02 tiểu mục), mức độ hài lòng với công việc (03 tiểu mục), hài lòng về khả năng công việc hiện tại (03 tiểu mục), cam kết với tổ chức (05 tiểu mục), sự tận tâm (04 tiểu mục), và tính kịp thời cùng tham dự (03 tiểu mục).
2.5.1.2 Quy trình thu thập số liệu
* Thử nghiệm bộ công cụ
Phiếu phát vấn đã được thử nghiệm trên 10 điều dưỡng lâm sàng trước khi thu thập số liệu định lượng Kết quả cho thấy các thông tin từ đối tượng nghiên cứu được trả lời đầy đủ và rõ ràng Nhóm nghiên cứu quyết định không cần chỉnh sửa và tiến hành thu thập số liệu.
* Tập huấn điều tra viên
Nhóm thu thập thông tin gồm 3 thành viên, bao gồm một học viên và hai nhân viên từ phòng Tổ chức-Hành chính và phòng Điều dưỡng của bệnh viện, trong đó học viên cũng đóng vai trò giám sát viên Nhóm nghiên cứu đã thống nhất về nội dung bộ câu hỏi, kỹ thuật và phương pháp thu thập số liệu.
* Tiến hành thu thập số liệu
Nghiên cứu viên chính đã liên hệ với lãnh đạo bệnh viện và các khoa phòng để trình bày rõ ràng mục đích của nghiên cứu, đồng thời hẹn thời gian thu thập số liệu.
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại từng khoa, phòng vào khoảng một giờ trước khi kết thúc các buổi làm việc, nhằm tập trung các đối tượng nghiên cứu và làm rõ mục đích của nghiên cứu.
Sau khi phát phiếu điều tra cho từng đối tượng nghiên cứu, cần giải thích rõ ràng các vướng mắc và nhắc nhở họ không trao đổi thông tin với nhau.
Khi nhận phiếu, điều tra viên sẽ kiểm tra xem phiếu đã được điền đầy đủ thông tin hay chưa Nếu phát hiện còn thiếu thông tin, điều tra viên sẽ yêu cầu người tham gia nghiên cứu bổ sung để hoàn thiện phiếu.
- Các đối tượng ra trực hoặc đi công tác không có mặt ngày hôm đó thì hôm sau nhóm nghiên cứu sẽ quay lại để thu thập số liệu
Để đảm bảo tính bảo mật trong quá trình nghiên cứu, cần lựa chọn điều tra viên có mối quan hệ tốt và uy tín với đối tượng nghiên cứu Điều tra viên không yêu cầu đối tượng ký và ghi tên vào phiếu thu thập thông tin.
2.5.2 Thu thập số liệu định tính
Nghiên cứu viên chính thực hiện phỏng vấn sâu với người cung cấp thông tin chính, sử dụng hướng dẫn phỏng vấn để đảm bảo tính chính xác Nội dung của các cuộc phỏng vấn được ghi chép lại và ghi âm để phục vụ cho việc phân tích sau này.
Nghiên cứu viên chính sẽ trực tiếp liên lạc với đối tượng phỏng vấn để giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của cuộc phỏng vấn, sau đó thống nhất về thời gian và địa điểm thực hiện phỏng vấn.
- Thời gian cuộc phỏng vấn sâu: 45phút
Thông báo cho các trưởng khoa và điều dưỡng trưởng khoa về mục đích, ý nghĩa và nội dung của 02 cuộc thảo luận nhóm, để họ có thể thông báo cho nhân viên được chọn, cùng với thời gian và địa điểm cụ thể.
2.6.1 Các biến số về động lực làm việc (biến số định lượng) tập trung vào các nội dung:
- Yếu tố động lực chung
- Yếu tố mức độ hài lòng với công việc
- Yếu tố thuộc về khả năng bản thân và giá trị công việc
- Yếu tố cam kết với tổ chức
- Yếu tố sự tận tâm
- Yếu tố về tuân thủ giờ giấc và sự tham gia
Bảng biến số nghiên cứu
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Loại biến
Phương pháp thu thập Thông tin chung của nhân viên điều dưỡng
A1 Giới Giới tính của đối tượng nghiên cứu (Nam/ Nữ)
A2 Tuổi Là tuổi tính theo năm dương lịch của ĐTNC
A3 Tình trạng hôn nhân Tình trạng hôn nhân hiện tại của ĐTNC
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Loại biến
A4 Trình độ chuyên môn Trình độ chuyên môn hiện tại của ĐTNC
A5 Người thu nhập chính Là người có nguồn thu nhập chính trong gia đình
A6 Thu nhập trung bình/tháng Mức tiền bình quân thu được trong tháng
A7 Thời gian công tác tại đơn vị Là thời gian từ khi bắt đầu làm tại bệnh viện ĐKKV Ba Tri đến nay
A8 Chức vụ quản lý Những điều dưỡng trưởng khoa lâm sàng
A9 Vị trí công tác Công việc làm thường xuyên Phân loại Phát vấn A10 Loại lao động Biên chế hoặc hợp đồng Phân loại Phát vấn
Các biến số về Động lực làm việc
I Yếu tố động lực chung
B1 Có động lực để làm việc chăm chỉ Điều dưỡng cảm thấy có động lực để làm việc một cách chăm chỉ
B2 Làm việc để được lãnh lương vào cuối tháng Điều dưỡng cho rằng đi làm chỉ để cuối tháng có lương, không có mục đích gì khác
B3 Làm việc để đảm bảo cuộc sống lâu dài Điều dưỡng cho rằng công việc mình làm với mục đích
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Loại biến
Phương pháp thu thập đảm bảo cuộc sống lâu dài, trong tương lai
II Yếu tố sức khoẻ
C1 Cảm thấy mệt mỏi vào cuối mỗi ngày
Mức độ của cảm giác mệt mỏi mà ĐTNC cảm nhận do công việc gây ra cuối mỗi ngày làm việc
C2 Buổi sáng thức dậy cảm thấy uể oải với công việc ĐTNC cảm thấy mệt mỏi, uể oải vào buổi sáng khi nghĩ đến công việc trong ngày
III Yếu tố mức độ hài lòng với công việc và đồng nghiệp
D1 Rất hài lòng với công việc
Mức độ cảm thấy hài lòng với công việc hiện tại
D2 Không hài lòng với các đồng nghiệp
Mức độ ĐTNC không hài lòng với các đồng nghiệp Thứ bậc Phát vấn
D3 Hài lòng với người quản lý Mức độ ĐTNC cảm thấy hài lòng với người quản lý Thứ bậc Phát vấn
IV Yếu tố thuộc về khả năng bản thân và giá trị công việc
E1 Hài lòng với cơ hội sử dụng khả năng của bản thân
Mức độ hài lòng của ĐTNC về cơ hội được phát huy khả năng của bản thân trong công việc
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Loại biến
E2 Hài lòng với giá trị của công việc mình làm
Mức độ ĐTNC hài lòng với giá trị/ kết quả công việc của mình
E3 Cảm thấy công việc ở bệnh viện là có giá trị
Là công việc thực hiện có giá trị với cá nhân, tổ chức và người dân
V Yếu tố cam kết với tổ chức
F1 Tự hào khi được làm việc cho bệnh viện này ĐTNC có cảm giác tự hào, hãnh diện khi làm việc cho bệnh viện ĐKKV Ba Tri
Nhận thấy giá trị của bản thân và giá trị của bệnh viện là tương đồng
Là bản thân và bệnh viện có chung mục tiêu, có cùng giá trị, quan điểm trong công việc
F3 Vui vì làm việc ở BV này hơn là làm ở những cơ sở khác
Là sự vui, hạnh phúc khi được làm việc tại bệnh viện so với nếu làm ở cơ sở khác
F4 Cảm thấy bản thân có sự cam kết cao với BV
Là nhận định của điều dưỡng về sự cam kết, gắn bó lâu dài với bệnh viện
F5 BV đã truyền cảm hứng để tôi làm tốt công việc của mình
Là môi trường bệnh viện, công việc và đồng nghiệp đã truyền cảm hứng để điều dưỡng làm việc tốt
TT Biến số nghiên cứu Định nghĩa biến Loại biến
VI Yếu tố Sự tận tâm
Đạo đức nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được sự quan tâm và ủng hộ của lãnh đạo bệnh viện ĐKKV Ba Tri nơi tiến hành nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu sẽ được thông báo rõ ràng về mục đích của nghiên cứu trước khi tham gia phỏng vấn, và việc tiến hành phỏng vấn chỉ diễn ra khi có sự đồng ý của họ Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu có quyền từ chối tham gia bất kỳ lúc nào.
- Các thông tin thu thập được chỉ dùng cho mục đích nghiên cứu và được giữ bí mật, chỉ nghiên cứu viên mới được phép tiếp cận
- Nghiên cứu chỉ được tiến hành sau khi Hội đồng đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng thông qua
- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi tới lãnh đạo bệnh viện ĐKKV Ba Tri sau khi kết thúc nghiên cứu.
Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục
- Nghiên cứu về động lực làm việc của nhân viên y tế là vấn đề nhạy cảm nên tỷ lệ người từ chối tham gia trả lời có thể cao
- Việc thu thập thông tin chủ yếu qua bộ câu hỏi được thiết kế sẵn và tương
HUPH đối dài nên có thể gặp sai số do thái độ hợp tác của người tham gia nghiên cứu
- Học viên là cán bộ quản lý phòng HCQT-TCCB nên có thể ảnh hưởng đến kết quả trả lời của đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu này chỉ tập trung vào đội ngũ điều dưỡng tại bệnh viện tuyến huyện, do đó chưa phản ánh đầy đủ nguồn nhân lực y tế ở các tuyến y tế khác nhau.
- Đối tượng tham gia nghiên cứu được giải thích rõ ràng mục đích và ý nghĩa của nghiên cứu, động viên sự tự nguyện tham gia
Các phiếu điều tra sẽ được kiểm tra ngay sau khi các đối tượng nghiên cứu nộp, và những thông tin còn thiếu sẽ được yêu cầu bổ sung.
- Phiếu điều tra không yêu cầu ghi tên họ và chữ ký, để tạo cho người tham gia nghiên cứu cảm giác yên tâm, bảo mật
- Chọn điều tra viên là người có uy tín với nhân viên điều dưỡng
- Phiếu phát vấn đã được thử nghiệm trước khi điều tra chính thức
- Số liệu được kiểm tra và làm sạch trước khi nhập liệu
KẾT QUẢ
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu (n0) Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ %
Có gia đình 74 67,3 Độc thân 36 32,7
Bảng 3.1 cho thấy điều dưỡng nữ chiếm 82% tổng số nhân viên, trong khi nam giới chỉ chiếm phần còn lại Tuổi trung bình của nhân viên điều dưỡng là 30,7, với độ tuổi trẻ nhất là 23 và lớn nhất là 59 Tỷ lệ nhân viên dưới 30 tuổi là 68,2%, nhóm từ 31 đến 40 tuổi chiếm 25,5%, và chỉ 6,4% là từ 41 tuổi trở lên Ngoài ra, 67,3% nhân viên đã có gia đình, trong khi 32,7% còn lại đang độc thân.
HUPH tượng có trình độ Trung cấp Y dược chiếm đa số với 87,3%; trình độ Cao đẳng, Đại học là 12,7%
Bảng 3.2: Thu nhập và công việc của đối tượng nghiên cứu (n0) Đặc điểm Số lượng (n) Tỷ lệ %
Thu nhập chính trong gia đình
Thu nhập trung bình/tháng (VNĐ)
Chức vụ Điều dưỡng trưởng khoa 7 6,4 Điều dưỡng viên 103 93,6
Quản lý 5 4,5 Điều dưỡng chăm sóc 95 86,4 Điều dưỡng hành chính 10 9,1
Loại lao động (biên chế, hợp đồng…)
Kết quả nghiên cứu cho thấy 48,2% đối tượng nghiên cứu là người thu nhập chính trong gia đình Đối với nhân viên điều dưỡng, phần lớn có thu nhập trung bình từ 3 - 5 triệu đồng/tháng, trong khi chỉ 5,5% nhân viên có thu nhập từ 5 triệu đồng trở lên, còn lại có thu nhập dưới 3 triệu đồng/tháng.
Trong số các nhân viên điều dưỡng, 50,9% có thời gian công tác dưới 5 năm, 30,9% từ 5 đến 10 năm, và phần còn lại trên 10 năm Tỷ lệ điều dưỡng trưởng khoa chỉ chiếm 6,4%, trong khi 86,4% là điều dưỡng viên chăm sóc Về vị trí công tác, 4,5% đảm nhận vai trò quản lý, 9,1% là điều dưỡng hành chính Đáng chú ý, 64,5% nhân viên đã là biên chế, trong khi 35,5% còn lại là nhân viên hợp đồng.
3.2 Động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng Bệnh viện ĐKKV Ba Tri
Biểu đồ 3.1: Phân bố tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/ đồng ý với các yếu tố thuộc động lực làm việc chung
Biểu đồ 3.1 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/đồng ý với các yếu tố động lực làm việc chung Kết quả cho thấy, 70% nhân viên điều dưỡng cho rằng "làm việc là để đảm bảo cuộc sống lâu dài" là yếu tố quan trọng nhất Ngoài ra, 52,8% nhân viên điều dưỡng cảm thấy "có động lực để làm việc chăm chỉ", trong khi 33,7% xác định "làm việc để được lãnh lương cuối tháng" là lý do chính.
Có động lực để làm việc chăm chỉ Làm việc để được lãnh lương vào cuối tháng Làm việc để đảm bảo cuộc sống lâu dài
Bảng 3.3: Điểm trung bình của nhóm yếu tố động lực chung
Nội dung (n = 110) Điểm trung bình Độ lệch chuẩn
B1 Có động lực để làm việc chăm chỉ 3,67 0,74 2 5
B2 Làm việc để được lĩnh lương vào cuối tháng 2,95 0,99 2 5
B3 Làm việc để đảm bảo cuộc sống lâu dài 3,75 0,69 2 5
Nhóm yếu tố động lực chung 10,38
Bảng 3.3 cho thấy điểm trung bình của các yếu tố động lực chung, trong đó yếu tố “làm việc để đảm bảo cuộc sống lâu dài” đạt điểm cao nhất là 3,75 Yếu tố “có động lực để làm việc chăm chỉ” theo sau với điểm trung bình 3,67 Đáng chú ý, chỉ có 33,7% người tham gia đồng ý rằng họ làm việc chủ yếu để nhận lương cuối tháng, thể hiện qua điểm trung bình 2,95, thấp hơn mức bình thường.
3.2.2 Động lực làm việc dưới góc độ sức khỏe
Biểu đồ 3.2: Phân bố tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/ đồng ý với yếu tố sức khỏe
Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý và đồng ý với yếu tố sức khỏe, trong đó có 49% nhân viên điều dưỡng cảm thấy mệt mỏi vào cuối mỗi ngày.
Thấy mệt mỏi vào cuối ngày Thấy uể oải với công việc vào buổi sáng
HUPH làm việc”; có 62,7% điều dưỡng cho rằng “buổi sáng thức dậy cảm thấy uể oải với công việc”
Bảng 3.4: Điểm trung bình động lực làm việc dưới góc độ sức khoẻ
Nội dung (n = 110) Điểm trung bình Độ lệch chuẩn
C1 Cảm thấy mệt mỏi vào cuối mỗi ngày 3,54 0,94 2 5
C2 Buổi sáng thức dậy cảm thấy uể oải với công việc 3,15 0,83 1 5
Nhóm yếu tố động lực dưới góc độ sức khỏe 6,68
Bảng 3.4 về phân bố động lực làm việc dưới góc độ sức khỏe cho thấy yếu tố
Cuối mỗi ngày, mức độ mệt mỏi của người lao động đạt điểm trung bình 3,54, trong khi đó, cảm giác uể oải khi thức dậy vào buổi sáng với công việc có điểm trung bình là 3,15.
3.2.3 Động lực làm việc dưới góc độ hài lòng với công việc và đồng nghiệp
Biểu đồ 3.3: Phân bố tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/ đồng ý với các yếu tố hài lòng với công việc và đồng nghiệp
Biểu đồ 3.3 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý và đồng ý với các yếu tố hài lòng trong công việc và với đồng nghiệp Cụ thể, 65,5% nhân viên điều dưỡng hài lòng với người quản lý, 53,7% hài lòng với đồng nghiệp, và 50% hài lòng với công việc của mình.
Hài lòng với công việc Hài lòng với các đồng nghiệp Hài lòng với người quản lý
Bảng 3.5: Điểm trung bình động lực làm việc dưới góc độ hài lòng với công việc và đồng nghiệp
Nội dung (n = 110) Điểm trung bình Độ lệch chuẩn
D1 Nhìn chung, rất hài lòng với công việc 3,55 0,71 2 5 D2 Không hài lòng với các đồng nghiệp 3,44 0,90 1 5
D3 Hài lòng với người quản lý 3,8 0,73 2 5
Nhóm yếu tố động lực dưới góc độ hài lòng với công việc và đồng nghiệp
Theo Bảng 3.5, phân bố động lực làm việc được đánh giá qua mức độ hài lòng với công việc và đồng nghiệp Yếu tố "hài lòng với người quản lý" đạt điểm trung bình cao nhất là 3,8, tiếp theo là "rất hài lòng với công việc" với điểm trung bình 3,55 Cuối cùng, yếu tố "không hài lòng với các đồng nghiệp" có điểm trung bình là 3,44.
3.2.4 Động lực làm việc góc độ khả năng bản thân và giá trị công việc
Biểu đồ 3.4: Phân bố tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/ đồng ý với các yếu tố về khả năng bản thân và giá trị công việc
Cảm thấy hài lòng với cơ hội phát huy khả năng cá nhân và giá trị công việc mình thực hiện là điều quan trọng Công việc tại bệnh viện mang lại cảm giác có ý nghĩa và giá trị, giúp người lao động cảm nhận được sự đóng góp của mình cho cộng đồng.
Theo biểu đồ 3.4, tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý và đồng ý với các yếu tố về khả năng bản thân và giá trị công việc cho thấy 70,9% điều dưỡng cảm thấy công việc tại bệnh viện của họ có giá trị, đây là tỷ lệ cao nhất trong các yếu tố này Bên cạnh đó, 55,5% điều dưỡng hài lòng với giá trị công việc của mình, và 51,8% nhân viên điều dưỡng rất hài lòng hoặc hài lòng với cơ hội sử dụng khả năng của bản thân.
Bảng 3.6: Điểm trung bình động lực làm việc dưới góc độ khả năng bản thân và giá trị công việc
(n = 110) Điểm trung bình Độ lệch chuẩn
E1 Hài lòng với cơ hội sử dụng khả năng của bản thân 3,55 0,59 2 5
E2 Hài lòng với giá trị công việc mình làm 3,61 0,65 2 5
E3 Cảm thấy công việc ở bệnh viện là có giá trị 3,81 0,66 2 5
Nhóm yếu tố động lực dưới góc độ khả năng của bản thân và giá trị công việc 10,97
Bảng 3.6 cho thấy phân bố động lực làm việc dựa trên khả năng bản thân và giá trị công việc Kết quả cho thấy yếu tố "cảm thấy công việc ở bệnh viện là có giá trị" đạt điểm trung bình 3,81, trong khi yếu tố "hài lòng với giá trị công việc mình làm" có điểm trung bình 3,61 Cuối cùng, yếu tố "hài lòng với cơ hội sử dụng khả năng của bản thân" đạt điểm trung bình 3,55.
3.2.5 Động lực làm việc dưới góc độ cam kết với tổ chức
Biểu đồ 3.5: Phân bố tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/ đồng ý với các yếu tố thuộc yếu tố cam kết với tổ chức
Theo biểu đồ 3.5, tỷ lệ nhân viên điều dưỡng cảm thấy có sự cam kết cao với bệnh viện đạt 56,4%, cao nhất trong các yếu tố cam kết Tiếp theo là 55,4% nhân viên tự hào khi làm việc cho bệnh viện Tuy nhiên, chỉ có 45,5% nhân viên cảm thấy vui khi làm việc ở bệnh viện này hơn so với các cơ sở khác, và 45,4% nhân viên điều dưỡng cho rằng bệnh viện đã truyền cảm hứng để họ làm tốt công việc của mình.
Bảng 3.7: Phân bố động lực làm việc dưới góc độ cam kết với tổ chức
(n = 110) Điểm trung bình Độ lệch chuẩn
F1 Tự hào khi được làm việc cho BV 3,68 0,69 3 5
F2 Nhận thấy giá trị của bản thân và giá trị của bệnh viện là tương đồng 3,53 0,60 2 5
F3 Vui vì làm việc ở BV này hơn là làm ở những cơ sở khác 3,54 0,70 2 5
F4 Cảm thấy bản thân có sự cam kết cao với BV 3,62 0,62 2 5
F5 BV đã truyền cảm hứng để tôi làm tốt công việc của mình 3,39 0,65 1 5
Nhóm yếu tố động lực dưới góc độ cam kết với tổ chức 17,75
Tự hào khi được làm việc cho bệnh viện
Nhận thấy giá trị của bản thân và giá trị của bệnh viện là tương đồng
BV này hơn là làm ở những cơ sở khác
Cảm thấy bản thân có sự cam kết cao với BV
BV đã truyền cảm hứng để tôi làm tốt công việc của mình
Bảng 3.7 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/đồng ý với các yếu tố cam kết với tổ chức, trong đó yếu tố “tự hào khi được làm việc ở bệnh viện này” đạt điểm trung bình cao nhất là 3,68 Ngược lại, yếu tố “bệnh viện đã truyền cảm hứng để tôi làm tốt công việc của mình” có điểm trung bình thấp nhất là 3,39 Các yếu tố còn lại có điểm trung bình dao động từ 3,53 đến 3,62.
3.2.6 Động lực làm việc dưới góc độ sự tận tâm
Biểu đồ 3.6: Phân bố tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/ đồng ý với các yếu tố thuộc khía cạnh sự tận tâm
Biểu đồ 3.6 cho thấy tỷ lệ điều dưỡng rất đồng ý/đồng ý với các yếu tố liên quan đến sự tận tâm Cụ thể, 67,3% nhân viên điều dưỡng cảm thấy chủ động trong công việc và có thể “làm những việc cần phải mà không cần ai nhắc nhở.” Ngoài ra, 63,7% nhân viên cho rằng họ có thể tin tưởng và dựa vào đồng nghiệp Tuy nhiên, yếu tố “luôn hoàn thành công việc hiệu quả và chính xác” lại có tỷ lệ thấp nhất, chỉ đạt 51,9%.
Có thể tin tưởng và dựa vào đồng nghiệp Luôn hoàn thành công việc hiệu quả và chính xác
Là một nhân viên chăm chỉ Làm những việc thấy cần phải làm mà không cần ai nhắc nhở
Bảng 3.8: Phân bố động lực làm việc dưới góc độ sự tận tâm
(n = 110) Điểm trung bình Độ lệch chuẩn
G1 Có thể tin tưởng và dựa vào đồng nghiệp 3,66 0,65 2 5
G2 Luôn hoàn thành công việc hiệu quả và chính xác 3,57 0,59 3 5
G3 Là một nhân viên chăm chỉ 3,66 0,61 3 5
G4 Làm những việc thấy cần phải làm mà không cần ai nhắc nhở 3,69 0,73 2 5
Nhóm yếu tố động lực dưới góc độ sự tận tâm 14,59
Một số yếu tố ảnh hưởng đến động lực làm việc của điều dưỡng lâm sàng tại bệnh viện ĐKKV Ba Tri
3.3.1 Yếu tố tiền lương và các khoản thu nhập
Nguồn thu nhập của điều dưỡng tại bệnh viện hiện nay chủ yếu từ lương và phụ cấp ưu đãi nghề, nhưng vẫn còn thấp Mức thu nhập bao gồm lương, phụ cấp và thu nhập tăng thêm, trong đó phụ cấp ưu đãi nghề được chi trả theo quy định của nhà nước Tuy nhiên, mức hưởng phụ cấp giữa các khoa có sự chênh lệch lớn; ví dụ, khoa nhiễm và cấp cứu nhận từ 60%-70% lương, trong khi các khoa khác chỉ nhận 20%-40% Điều này tạo ra sự không công bằng, khi mà các khoa như khám bệnh và cấp cứu cũng tiếp xúc với bệnh truyền nhiễm nhưng chỉ được hưởng 40%.
Thu nhập tăng thêm của nhân viên bệnh viện rất thấp, chỉ khoảng 150.000 đồng/tháng, do nguồn kinh phí hạn chế và khó khăn trong việc hợp đồng thêm nhân lực để đảm bảo công việc Lãnh đạo bệnh viện cho biết rằng nguồn thu nhập này chủ yếu được trích từ nguồn thu của đơn vị.
Bệnh viện thực hiện chi trả lương và phụ cấp ưu đãi nghề theo quy định của nhà nước Tuy nhiên, thu nhập tăng thêm của bệnh viện không đáng kể do nguồn thu chủ yếu từ bảo hiểm y tế (BHYT) còn thấp Trong những tháng có thu nhập khá, bệnh viện có thể chi cho nhân viên nhiều hơn, nhưng nhìn chung vẫn ở mức thấp, thường chỉ chi một lần mỗi quý.
Nghiên cứu chỉ ra rằng đa số điều dưỡng có thâm niên dưới 5 năm, dẫn đến thu nhập hàng tháng chỉ từ 3 đến 4 triệu đồng Họ thường xuyên làm việc trong môi trường độc hại, căng thẳng và chịu nhiều áp lực, đặc biệt khi chăm sóc bệnh nhân tai nạn giao thông.
Nhiều nhân viên điều dưỡng tại HUPH thường xuyên phải đối mặt với sự chửi mắng và hành hung từ bệnh nhân, gây lo lắng cho họ Do thu nhập thấp, chỉ khoảng 3 đến 4 triệu đồng mỗi tháng, nhiều điều dưỡng phải tìm kiếm công việc trái nghề để cải thiện tài chính, ảnh hưởng đến động lực làm việc và chất lượng công việc Một điều dưỡng nữ cho biết, với mức thu nhập hiện tại, họ chỉ đủ chi tiêu trong ba tuần, buộc họ phải làm thêm như chăn nuôi để trang trải cuộc sống.
Thu nhập tăng thêm là yếu tố quan trọng thúc đẩy điều dưỡng làm việc hiệu quả, nhưng hiện tại mức thu nhập này tại bệnh viện còn thấp Lãnh đạo bệnh viện cho biết rằng nguồn thu chủ yếu từ bảo hiểm y tế, do chưa triển khai dịch vụ khám bệnh, gây khó khăn trong việc tăng thu nhập Để cải thiện tình hình, cần có giải pháp quản lý hiệu quả, phát triển dịch vụ kỹ thuật cao và khám bệnh theo yêu cầu Một điều dưỡng cho rằng việc mở khu khám bệnh dịch vụ sẽ thu hút người dân và nâng cao thu nhập cho điều dưỡng.
Bệnh viện ĐKKV Ba Tri thực hiện công tác đào tạo điều dưỡng theo kế hoạch hàng năm, dựa trên quy hoạch của đơn vị Trong thời gian qua, bệnh viện đã tổ chức nhiều hình thức đào tạo cho nhân viên, bao gồm nâng bằng, đào tạo liên tục và tập huấn tại chỗ, với sự hợp tác từ các bệnh viện tuyến trên, trường Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh và ĐHYD Cần Thơ Từ năm 2014 đến 2016, bệnh viện đã đào tạo dài hạn cho 10 cử nhân điều dưỡng và cử đi đào tạo ngắn hạn theo chương trình đào tạo liên tục tại các cơ sở y tế hàng đầu.
HUPH ĐHYD theo thư chiêu sinh 73 điều dưỡng và tổ chức 12 lớp tập huấn tại chỗ cho điều dưỡng theo các chuyên khoa
Quá trình triển khai đào tạo tại bệnh viện gặp nhiều khó khăn do chưa được cấp mã đào tạo, dẫn đến việc đào tạo liên tục cho nhân viên không chủ động và phụ thuộc vào chiêu sinh của các cơ sở đào tạo Hiện tại, bệnh viện phải cử điều dưỡng lên tuyến trên học, nhưng nhiều người phải chờ thư chiêu sinh, gây khó khăn trong việc đào tạo Việc nâng cao trình độ cho nhân viên cũng chưa đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh và tiêu chí chất lượng bệnh viện, do thiếu hụt nguồn nhân lực Bệnh viện phải hợp đồng thêm khoảng 80 nhân viên để đảm bảo hoạt động, trong đó phần lớn là điều dưỡng.
Việc xét đi đào tạo hiện nay gặp nhiều khó khăn do phụ thuộc vào kinh phí hoạt động của bệnh viện Trước đây, bệnh viện chi toàn bộ học phí và các khoản kinh phí đào tạo, nhưng hiện tại chỉ chi học phí, và trong một số trường hợp chỉ 50% học phí Điều này xảy ra vì nguồn kinh phí đào tạo chủ yếu đến từ ngân sách của đơn vị mà không có kinh phí riêng cho đào tạo Một cán bộ quản lý cho biết: “Bệnh viện rất muốn cho nhân viên đi đào tạo để nâng cao trình độ, nhưng nếu xét cho đi học nhiều quá thì bệnh viện không có người làm, chưa kể đến phần kinh phí chi cho đào tạo hiện nay rất ít.”
Bệnh viện đã thiết lập các tiêu chí cụ thể cho việc xét duyệt đào tạo, nhưng thực tế cho thấy quy trình này chưa đảm bảo tính công bằng và còn nhiều vấn đề tồn tại Một điều dưỡng 31 tuổi chia sẻ: "Nhiều nhân viên làm việc lâu năm, hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng không được xét đi học, trong khi đó, có những người mới vào làm chỉ vài năm lại được cử đi học Rõ ràng, việc xét duyệt này chưa thực sự công bằng."
Để khuyến khích nhân viên làm việc tích cực, việc xét đào tạo không chỉ dựa vào thâm niên mà còn cần xem xét năng lực công tác và hiệu quả công việc Nhân viên có thâm niên cao nhưng năng lực và tinh thần làm việc kém cần được điều chỉnh kế hoạch đào tạo cho hợp lý Theo một điều dưỡng nam 30 tuổi, việc xét cho đi học cần phải cân nhắc cả thâm niên lẫn năng lực công tác để khuyến khích nhân viên làm việc tốt hơn.
Đào tạo và phát triển nghề nghiệp được xem là động lực quan trọng giúp điều dưỡng làm việc tích cực hơn Do đó, bệnh viện cần có chính sách ưu đãi để tạo điều kiện cho điều dưỡng nâng cao trình độ Nhiều điều dưỡng trẻ tuổi mong muốn học hỏi và phát triển nghề nghiệp, và nếu có cơ hội được đi học, họ sẽ làm việc với tinh thần tích cực hơn.
Mặc dù công tác đào tạo tại bệnh viện gặp nhiều khó khăn, nhưng bệnh viện đã triển khai chính sách khuyến khích và động viên điều dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn Điều này nhằm mục đích cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân, theo thông tin từ lãnh đạo bệnh viện.
Hiện nay, kinh phí đào tạo không còn được cấp trên mà được trích từ nguồn thu viện phí của đơn vị Tuy nhiên, bệnh viện vẫn nỗ lực hỗ trợ học phí cho những trường hợp đào tạo cử nhân điều dưỡng nhằm tạo động lực cho các em phấn đấu.
3.3.3 Yếu tố người quản lý trực tiếp
Người quản lý điều dưỡng, bao gồm Ban giám đốc bệnh viện, Trưởng/Phó khoa và điều dưỡng trưởng, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối chuỗi công việc tại khoa Họ là yếu tố then chốt tạo động lực cho nhân viên điều dưỡng, vì công việc này yêu cầu sự kỹ lưỡng, nhanh nhẹn và chính xác Do đó, sự tương tác và hỗ trợ trực tiếp từ người quản lý là cần thiết để đảm bảo hiệu quả công việc.