35 3.3 Phân bố kiến thức và thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại lũ lụt trong một số nhóm yếu tố cá nhân và môi trường .... Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt trong phân bố kiến
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN ĐỨC MẠNH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH GIẢM NHẸ TÁC HẠI CỦA LŨ LỤT CỦA HỌC SINH LỚP 4 VÀ 5 TẠI 3 XÃ DỰ ÁN, HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP, NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SỸ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
HÀ NỘI, 2014HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
TRẦN ĐỨC MẠNH
KIẾN THỨC, THỰC HÀNH GIẢM NHẸ TÁC HẠI CỦA LŨ LỤT CỦA HỌC SINH LỚP 4 VÀ 5 TẠI 3 XÃ DỰ ÁN, HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP, NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.03.01
TS Hà Văn Như
HÀ NỘI, 2014HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban Giám hiệu trường Đại học
Y tế công cộng, các Thầy giáo, Cô giáo đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS Hà Văn Như, người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, định hướng, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới Tổ chức Cứu trợ Trẻ em Quốc tế tại Việt Nam
đã tạo điều kiện cho tôi được thực hiện luận văn tại Tổ chức
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Tháp, Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Tân Hồng, Ban Giám hiệu các trường tiểu học: Tân Hộ Cơ 1, Tân Hộ Cơ 2, Dinh Bà, Bình Phú 1, Bình Phú 2, Thống Nhất, Cả Găng, Thông Bình 1, Thông Bình 2 và Thông Bình 3 đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi tiến hành nghiên cứu
Tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè và đồng nghiệp đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới những người thân trong gia đình của tôi, những người đã động viên và hỗ trợ rất lớn để tôi hoàn thành luận văn
HUPH
Trang 4MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT IV DANH MỤC BẢNG V DANH MỤC BIỂU ĐỒ VI DANH MỤC HÌNH VI TÓM TẮT NGHIÊN CỨU VII
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Tổng quan về lũ lụt 4
1.2 Thực trạng lũ lụt và ảnh hưởng tới sức khỏe con người 7
1.3 Chương trình giảm nhẹ tác hại của lũ lụt 10
1.4 Rà soát nội dung giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong chương trình tiểu học 14
1.5 Dự án “Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” tại Đồng Tháp 15
1.6 Một số nghiên cứu đã triển khai 19
1.7 Khung lý thuyết 23
1.8 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu 25
1.9 Kết hợp nghiên cứu vào dự án và vai trò của nghiên cứu viên 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.3 Thiết kế nghiên cứu 27
2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu 28
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 28
2.6 Các biến số nghiên cứu 30
2.7 Các khái niệm dùng trong nghiên cứu 31
2.8 Phương pháp phân tích số liệu 33
2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 33
2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và cách khắc phục 34
HUPH
Trang 5CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35
3.1 Thông tin chung về nghiên cứu 35
3.2 Kiến thức và thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt 35
3.3 Phân bố kiến thức và thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại lũ lụt trong một số nhóm yếu tố cá nhân và môi trường 45
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 51
4.1 Kiến thức và thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt 51
4.2 Phân bố kiến thức và thực hành giảm nhẹ tác hại lũ lụt trong một số nhóm yếu tố cá nhân học sinh và môi trường 57
4.3 Bàn luận về hạn chế của nghiên cứu 61
KẾT LUẬN 63
1 Kiến thức và thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt 63
2 Phân bố kiến thức và thực hành giảm nhẹ tác hại lũ lụt trong một số nhóm yếu tố cá nhân học sinh và môi trường 63
KHUYẾN NGHỊ 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
PHỤ LỤC 70
Phụ lục 1: Các biến số nghiên cứu 70
Phụ lục 2: Bộ câu hỏi dành cho học sinh 73
Phụ lục 3: Một số kết quả phân tích mô tả 82
Phụ lục 4: Tổ chức thu thập số liệu 88
Phụ lục 5: Số lượng học sinh tham gia nghiên cứu 89
Phụ lục 6: Phiếu đồng ý tham gia nghiên cứu 90
Phụ lục 7: Danh sách người tham gia vào nghiên cứu 91
Phụ lục 8: Phương pháp tính điểm kiến thức 92
Phụ lục 9: Phương pháp tính điểm thực hành 96
Phụ lục 10: Sơ đồ nghiên cứu 100
Phụ lục 11: Biên bản giải trình chỉnh sửa sau bảo vệ luận văn 101
HUPH
Trang 6PCĐN : Phòng chống đuối nước
HUPH
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Kiến thức của học sinh về các biện pháp giảm nhẹ tác hại 19
Bảng 1.2: Thực hành của học sinh về các biện pháp giảm nhẹ tác hại 21
Bảng 3.1: Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.2: Kiến thức lũ lụt theo giới tính 35
Bảng 3.3: Kiến thức về những việc nên làm trước khi lũ lụt xảy ra theo giới tính 36
Bảng 3.4: Kiến thức về những việc nên làm trong khi lũ lụt xảy ra theo giới tính 37
Bảng 3.5: Kiến thức về những việc nên làm sau khi lũ lụt xảy ra theo giới tính 37
Bảng 3.6: Kiến thức phòng chống đuối nước 38
Bảng 3.7: Những việc học sinh đã làm trước khi lũ lụt xảy ra theo giới tính 40
Bảng 3.8: Những việc học sinh đã làm trong khi lũ lụt xảy ra theo giới tính 41
Bảng 3.9: Những việc học sinh đã làm sau khi lũ lụt xảy ra theo giới tính 41
Bảng 3.10: Học bơi an toàn của học sinh 43
Bảng 3.11: Thực hành bơi an toàn 44
Bảng 3.12: Các yếu tố liên quan đến kiến thức giảm nhẹ tác hại của lũ lụt 45
Bảng 3.13: Các yếu tố cá nhân liên quan đến thực hành giảm nhẹ tác hại lũ lụt 46
Bảng 3.14: Các yếu tố môi trường liên quan đến thực hành giảm nhẹ tác hại lũ lụt 47 Bảng 3.15: Các yếu tố liên quan đến kiến thức phòng chống đuối nước 48
Bảng 3.16: Yếu tố môi trường liên quan tới thực hành phòng chống đuối nước 49
Bảng 3.17: Các yếu tố cá nhân liên quan đến thực hành phòng chống đuối nước 50
HUPH
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Kiến thức đạt về giảm nhẹ tác hại lũ lụt theo giới tính 38
Biểu đồ 3.2: Kiến thức xử trí khi thấy người bị đuối nước 39
Biểu đồ 3.3: Kiến thức đạt về phòng chống đuối nước theo giới tính 40
Biểu đồ 3.4: Thực hành đạt về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt theo giới tính 42
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ học sinh được học bơi và có khả năng bơi theo giới tính 42
Biểu đồ 3.6: Thực hành đạt về phòng chống đuối nước theo giới tính 44
DANH MỤC HÌNH Hình 1: Tài liệu hướng dẫn dạy và học về Giảm nhẹ rủi ro thiên tai 17
Hình 2: Tờ rơi “Những việc cần làm trước, trong và sau lũ, lụt xảy ra” 17
Hình 3: “Sổ tay lũ lụt – Những điều em cần biết” dành cho học sinh 18
Hình 4: Lịch treo tường và Áp phích về Phòng chống đuối nước cho trẻ em 18
Hình 5: Bản đồ huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp 25
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Giảm nhẹ tác hại của lũ lụt đối với trẻ em có vai trò đặc biệt quan trọng, không chỉ vì trẻ em là tương lai của đất nước, là đối tượng dễ bị tổn thương nhất,
mà còn vì quyền của trẻ em cần được đảm bảo ngay cả trong điều kiện thiên tai Dù
là đối tượng dễ bị tổn thương nhất nhưng trẻ em có vai trò to lớn trong giảm nhẹ rủi
ro thiên tai Vì vậy, tăng cường kiến thức, kỹ năng để trẻ em có những hành vi tốt trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai là rất cần thiết
Nghiên cứu này nhằm đánh giá kiến thức và thực hành của học sinh lớp 4 và lớp 5 về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt tại huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2014 sau khi kết thúc can thiệp Nghiên cứu mô tả cắt ngang đã được thực hiện trên 1.286 học sinh tại 10 trường tiểu học vào tháng 4 năm 2014 Số liệu được thu thập bằng hình thức phát vấn và sử dụng mô hình phân tích đơn biến để mô tả kiến thức, thực hành của học sinh và xác định phân bố kiến thức và thực hành của học sinh trong một số nhóm yếu tố liên quan
Nghiên cứu đã chỉ ra: 81,3% học sinh có kiến thức đạt và 88,9% học sinh có thực hành đạt về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt; 94,9% học sinh có kiến thức đạt và 80,9% học sinh có thực hành đạt về phòng chống đuối nước trong mùa lũ Không có
sự khác biệt giữa nhóm nam và nhóm nữ (p>0,05) Nghiên cứu cũng cho thấy sự khác biệt trong phân bố kiến thức và thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại của
lũ lụt trong một số nhóm yếu tố như “Được cha mẹ nhắc nhở”, “Khả năng tiếp cận thông tin tại gia đình”, “Kế hoạch giảm nhẹ tác hại lũ lụt của nhà trường”, “Khả năng tiếp cận thông tin tại nhà trường” và “Kiến thức về giảm nhẹ tác hại lũ lụt”
Từ kết quả của nghiên cứu, chúng tôi khuyến nghị: (i) Nhà trường cần tiếp tục duy trì các hoạt động có ảnh hưởng tốt tới việc tăng cường kiến thức và khuyến khích thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt như chủ động lập kế hoạch giảm nhẹ tác hại của lũ lụt hàng năm, huy động sự tham gia tích cực của học sinh vào việc lập và thực hiện các hoạt động giảm nhẹ tác hại của lũ lụt, duy trì và củng cố nguồn thông tin về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt tại trường học và (ii) Gia đình tiếp tục quan tâm, nhắc nhở trẻ em tìm hiểu và thực hiện giảm nhẹ tác hại của
lũ lụt
HUPH
Trang 10ĐẶT VẤN ĐỀ
Công ước về Quyền trẻ em của Liên Hợp Quốc đã khẳng định vai trò quan trọng của trẻ em trong sự phát triển của mỗi quốc gia Là nước thứ 2 trên thế giới ký Công ước này, Việt Nam đã thể hiện sự cam kết và tạo điều kiện thuận lợi nhất để quyền trẻ em được tôn trọng, được bảo vệ và được thực hiện trong mọi hoàn cảnh, đặc biệt là khi có thiên tai xảy ra
Lũ lụt là loại thiên tai có ảnh hưởng nhất tới con người Khi lũ lụt xảy ra, trẻ
em chính là đối tượng dễ bị tổn thương nhất và chiếm tỷ lệ lớn nhất trong nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương Theo Tổ chức Y tế Thế giới, trẻ em chiếm từ 30,0% đến 50,0% trường hợp tử vong liên quan tới thiên tai [49] Ở Nepal, năm 1993, tỷ lệ tử vong liên quan tới lũ lụt của trẻ gái là 13,3/1.000 và của trẻ trai là 9,4/1.000 Tỷ lệ này cao gấp 6 lần so với trước khi lũ lụt xảy ra [43] Tại Việt Nam, một số trận lũ lụt lớn đã làm nhiều người tử vong, trong đó chủ yếu là trẻ em Trận lũ lụt năm
2011 tại đồng bằng sông Cửu Long đã làm chết 63 người, trong đó có 55 trẻ em [2] Trong các nguyên nhân gây tử vong cho trẻ em có liên quan tới lũ lụt, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu [27]
Mặc dù là đối tượng dễ bị tổn thương nhưng trẻ em cũng đóng vai trò rất quan trọng trong giảm nhẹ tác hại của lũ lụt (GNTHLL) Thực tế đã cho thấy nếu được trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết thì ngoài việc tự bảo vệ bản thân, trẻ em còn có thể giúp đỡ cộng đồng xung quanh như cảnh báo thiên tai, cứu người đuối nước, giúp đỡ người lớn, trông nom trẻ nhỏ hơn, an ủi, giúp đỡ bạn bị mất người thân, tham gia vào việc dọn dẹp vệ sinh môi trường… [21, 49] Tuy nhiên, kiến thức và thực hành của học sinh về giảm nhẹ rủi ro thiên tai tại Việt Nam chưa được tốt Tại Tiền Giang, tỷ lệ học sinh biết các kiến thức cơ bản về thiên tai thấp hơn 50,0% vào năm 2013 [22] Tỷ lệ học sinh có kiến thức đạt về các biện pháp giảm nhẹ tác hại của thiên tai chỉ chiếm dưới 30,0% và chỉ có 5,0% học sinh thường xuyên theo dõi thông tin về thiên tai tại Thanh Hóa năm 2011 [33] Về phòng chống đuối nước (PCĐN), chỉ có 11,7% học sinh biết phải học bơi để PCĐN
và chỉ có 31,9% học sinh được học bơi [12]
HUPH
Trang 11Tỉnh Đồng Tháp thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là nơi hàng năm thường xảy ra lũ lụt Một số trận lũ lụt lớn đã xuất hiện như trận lũ lụt năm 2000 và
2011 đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính mạng con người, tài sản và môi trường, trong đó đa số trường hợp thiệt hại về người xảy ra ở trẻ em [28] Nhằm giảm nhẹ rủi ro thiên tai (GNRRTT) đối với trẻ em tại vùng lũ, Tổ chức Cứu trợ Trẻ em đã phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Tháp thực hiện dự án “Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” tại huyện Tân Hồng và Hồng Ngự Dự án này được triển khai từ tháng 4 năm 2013 tới tháng 4 năm 2014 với mục tiêu tăng cường khả năng ứng phó với lũ lụt của học sinh và gia đình Dự án bao gồm 3 cấu phần chính: (1) Nâng cao năng lực cho cán bộ và giáo viên về GNRRTT; (2) Tăng cường kiến thức và kỹ năng cho học sinh về GNRRTT và (3) Cung cấp các trang thiết bị tìm cứu cứu nạn
cơ bản, công trình nhỏ GNRRTT cho cộng đồng và trường học
Vậy, sau khi kết thúc dự án, thực trạng kiến thức và thực hành của học sinh
về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt như thế nào? Các yếu tố nào liên quan tới kiến thức
và thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt? Nhằm tìm hiểu các vấn đề
trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Kiến thức, thực hành giảm nhẹ tác hại
của lũ lụt của học sinh lớp 4 và 5 tại 3 xã dự án, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, năm 2014” Được sự chấp thuận của Tổ chức Cứu trợ Trẻ em, nghiên
cứu này đã được thực hiện lồng ghép vào cuộc đánh giá cuối kỳ của dự án “Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” tại tỉnh Đồng Tháp
HUPH
Trang 12MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức và thực hành giảm nhẹ tác hại của lũ lụt của học sinh lớp 4 và lớp 5 tại xã Bình Phú, xã Thông Bình và xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, năm 2014
2 Xác định phân bố kiến thức và thực hành giảm nhẹ tác hại của lũ lụt trong một
số nhóm yếu tố của học sinh lớp 4 và lớp 5 tại xã Bình Phú, xã Thông Bình và
xã Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp năm 2014
HUPH
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về lũ lụt
1.1.1 Khái niệm lũ lụt
Theo Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương, lũ là hiện tượng mực nước sông, suối dâng cao, có vận tốc dòng chảy lớn; lụt là hiện tượng nước ngập vượt quá mức bình thường, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống [1]
1.1.2 Phân loại lũ lụt
Tại Việt Nam, có 3 loại lũ lụt chính là lũ quét, lũ sông và lũ ven biển Lũ quét thường xảy ra ở sông nhỏ, suối ở miền núi, nơi có độ dốc cao Lũ quét khó dự báo, thường xuất hiện nhanh, bất ngờ và xảy ra trong một thời gian ngắn nên thường gây ra những thiệt hại to lớn về người và tài sản Lũ sông thường xảy ra khi mực nước sông cao hơn và tốc độ dòng chảy nhanh hơn mức bình thường Lũ sông thường do các trận mưa lớn ở đầu nguồn gây ra, có thể xuất hiện từ từ như ở vùng đồng bằng sông Cửu Long hoặc nhanh như khu vực Trung Bộ Lũ ven biển xuất hiện khi sóng biển dâng cao đột ngột, kết hợp với triều cường phá vỡ hoặc tràn qua
đê biển vào đất liền, làm nước sông chảy thoát ra biển chậm, gây ngập lụt Lũ ven biển thường xảy ra khi có áp thấp nhiệt đới hoặc bão [13, 27]
1.1.3 Phân cấp báo động lũ lụt
Thông tin cảnh báo lũ lụt được phân thành 3 cấp báo động, trong đó cấp I là mực nước thấp nhất và cấp III là cao nhất Tùy từng sông và từng vị trí đo mà mực nước của từng cấp báo động sẽ khác nhau
1.1.4 Nguyên nhân gây ra lũ lụt
Một số nguyên nhân gây ra lũ lụt như: do mưa lớn kéo dài, do rừng đầu nguồn bị phá hủy, do các công trình thủy lợi như đê, đập, hồ, kè…bị vỡ hoặc do dòng chảy của sông, suối bị lấn chiếm, bồi đắp Nếu mưa lớn kéo dài xảy ra ở những vùng có độ dốc cao, cây cối bị phá hủy và đất không còn khả năng giữ nước thì có thể gây ra lũ quét Các trận mưa lớn ở đầu nguồn các con sông sẽ làm tăng mức nước đổ về hạ lưu và gây ra lũ sông Và nếu bão lớn xảy ra làm nước biển dâng lên, kết hợp với triều cường phá vỡ đê biển hoặc tràn qua đê biển, tiến sâu vào
HUPH
Trang 14đất liền thì gây ra lũ ven biển [13, 27] Lũ lụt thường gặp cùng với bão có kèm theo mưa lớn với lượng mưa từ 500mm đến 1.680mm [26]
1.1.5 Tác hại của lũ lụt
Lũ lụt là loại hình thiên tai gây ảnh hưởng nhiều nhất tới đời sống con người như gia tăng nguy cơ tử vong, nguy cơ bị chấn thương, tạo điều kiện thuận lợi để một số bệnh truyền nhiễm lây lan, gây thiệt hại về tài sản, công trình công cộng, tăng nguy cơ mất an ninh lương thực và gây ô nhiễm môi trường
Về nguy cơ bị tử vong, mỗi loại lũ lụt có ảnh hưởng khác nhau tới tính mạng con người Lũ quét, với đặc điểm tốc độ dòng chảy mạnh và độ dốc địa hình lớn, có thể cuốn trôi con người, làm con người bị thiệt mạng do đuối nước hoặc do va đập vào các vật cứng như đá, cây… Lũ sông hoặc lũ ven biển gây ra tình trạng ngập lụt
và con người sẽ có nguy cơ bị tử vong do đuối nước Thiệt hại về tính mạng con người có thể xảy ra trong và sau lũ lụt Theo thống kê, tỷ lệ tử vong tăng lên tới 50% trong năm đầu tiên sau lũ lụt [37] Đối với trẻ em, nguy cơ bị tử vong trong lũ lụt cao hơn so với người lớn do đặc điểm thể chất cũng như kiến thức, kỹ năng ứng phó với lũ lụt của trẻ em không bằng người lớn Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), từ 30,0% đến 50,0% trường hợp tử vong liên quan tới thảm họa thiên tai là trẻ em [49] Nghiên cứu ở Nepal năm 1993 trên trẻ em từ 2 tới 9 tuổi đã cho thấy tỷ
lệ tử vong liên quan tới lũ lụt là 13,3/1.000 trẻ gái và 9,4/1.000 trẻ trai Tỷ lệ này cao gấp 6 lần so với trước khi lũ lụt xảy ra [43] Tại đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam, trận lụt lịch sử năm 2000 đã làm 642 người tử vong do đuối nước, trong
đó 2/3 là trẻ em Các trận lụt năm 2001 và năm 2002 đã làm 1.044 người chết [6,
26, 28] Mới đây, trận lũ lụt năm 2011 đã làm chết 63 người, trong đó có 55 trẻ em dưới 16 tuổi [2] Trong các nguyên nhân gây tử vong ở trẻ em có liên quan tới lũ lụt, đuối nước là nguyên nhân hàng đầu [17, 27] Nghiên cứu ở Úc giai đoạn từ 1788-1996 đã cho thấy tử vong do đuối nước chiếm 67,6% tổng số các trường hợp
tử vong do lũ lụt [38] Theo nghiên cứu về thực trạng đuối nước tại 5 huyện vùng lũ của tỉnh Đồng Tháp năm 2005, tỷ lệ đuối nước ở trẻ em vào mùa lũ cao hơn 2,4 lần
so với mùa khô [14] Nguyên nhân gây đuối nước là do trẻ không biết bơi khi ngã xuống nước, khi đi tắm sông, do bị chuột rút, bị sóng đánh, cuốn đập vào cây, đá, bị
HUPH
Trang 15đuối sức, bị kẹt khi bơi lội ở sông khi cứu người hoặc vớt vật dụng, khi đi tìm kiếm rau hoặc đi giăng câu trong mùa lũ…[27] Trẻ em dễ dàng bị đuối nước hơn trong mùa lũ khi trẻ đi bơi, tắm sông hoặc đi chơi… mà không có sự giám sát của người lớn và không mang theo các vật nổi như áo phao, phơi bơi…
Về nguy cơ bị chấn thương, trong thời gian lũ lụt xảy ra, con người sẽ có nguy cơ bị chấn thương cao hơn bình thường do nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan tới lũ lụt Nguyên nhân trực tiếp là con người bị dòng nước lũ cuốn trôi, bị ngã khi đi vào vùng ngập lụt hoặc bị đuối nước không gây tử vong Nguyên nhân gián tiếp là bị động vật (rắn, rết, chuột ) cắn vì các động vật này có xu hướng
di chuyển lên các chỗ cao ráo Tình trạng ngập lụt làm cho trẻ em dễ dàng bị chấn thương hơn nếu trẻ em vui chơi tại các nơi nguy hiểm như cạnh bờ sông, bờ suối, leo trèo lên cây cối, vào trong các ngôi nhà bị ngập hoặc đi tìm kiếm lương thực, thực phẩm trong mùa lũ Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới chấn thương do thiên tai được thực hiện tại Uganda năm 2010 ở 400 hộ gia đình bị ảnh hưởng bởi lũ lụt đã cho thấy số người bị chấn thương liên quan tới lũ lụt là 101 người, chiếm 31,5%, trong đó có 57 trẻ em dưới 17 tuổi Chấn thương chủ yếu xảy ra tại nhà (78,2%) Tỷ lệ chấn thương do lũ lụt cao hơn 65% so với sạt lở đất (p<0,001) [30]
Về bệnh truyền nhiễm, theo Tổ chức Y tế Pan Mỹ, lũ lụt là mối de dọa tiềm
ẩn đối với sức khỏe con người vì lũ lụt tạo ra môi trường thuận lợi để các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ lây lan nhanh [25] Điều kiện vệ sinh kém, nguồn nước sinh hoạt bị ô nhiễm sẽ làm tăng nguy cơ lây lan bệnh tiêu chảy, tả, bệnh ngoài da, viêm đường hô hấp, sốt xuất huyết, viêm mắt đỏ, nấm kẽ chân [6, 25, 49] Theo nghiên cứu trên số liệu của 2 trạm y tế xã tại tỉnh Đồng Tháp năm 2008, số bệnh nhân mắc các bệnh nhiễm trùng phổ biến trong 4 tháng mùa lụt cao hơn 3,6 lần so với 4 tháng trước đó [40] Trẻ em có nguy cơ bị bệnh truyền nhiễm trong và sau khi
lũ lụt xảy ra cao hơn so với trước khi lũ lụt xảy ra Theo WHO, sau lũ lụt năm 2003, tại miền Trung, một số bệnh nhiễm trùng phổ biến đã gia tăng như nhiễm khuẩn hô hấp (34,0%), bệnh đau mắt đỏ (27,0%) và bệnh ngoài da (19,6%) [46] Xác suất trẻ
bị ốm tăng lên 41,0% sau lũ lụt [26]
HUPH
Trang 16Về tài sản, công trình công cộng, với tốc độ dòng chảy lớn và gây ra tình trạng ngập úng kéo dài, lũ lụt thường làm hư hại hoặc cuốn trôi các tài sản của con người và các công trình như nhà cửa, đường sá, cầu cống…Trận lũ lụt tại miền Trung năm 1999 đã làm 1.073.653 ngôi nhà bị hư hại, thiệt hại vật chất lên tới 4.036 tỷ đồng [26] Việc mất mát tài sản, nhà cửa và thiệt hại về các công trình công cộng đã làm cuộc sống của người dân tạm thời bị thay đổi như phải di dời tới nơi ở mới, phải dành nguồn lực để xây dựng, sửa chữa lại nhà cửa… Riêng đối với trẻ
em, việc mất mát về đồ dùng học tập hoặc hư hại đường sá, trường lớp… sẽ làm gián đoạn chương trình học tập của các em
Về nguy cơ mất an ninh lương thực, khi lũ lụt xảy ra, lương thực, thực phẩm của người dân có thể bị ngập úng nếu không được cất giữ ở nơi cao ráo, an toàn Mùa màng có thể bị thiệt hại nếu tình trạng ngập lụt kéo dài Trận lụt năm 2000 tại đồng bằng sông Cửu Long đã làm mất trắng vụ lúa hè-thu [28] Trận lụt năm 1971 tại Bắc Bộ đã làm ngập chìm khoảng 300 nghìn ha lúa của 1.062 xã ở 94 huyện [1] Sinh kế bị ảnh hưởng sẽ tác động trực tiếp tới tình trạng dinh dưỡng của con người, đặc biệt là trẻ em Theo một số nghiên cứu, tình trạng suy dinh dưỡng cấp có thể xảy ra ở trẻ em trong và sau lũ lụt [6, 25, 47-49]
Về ô nhiễm môi trường, đây là một trong các hậu quả lớn nhất sau khi lũ lụt xảy ra Nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường là do xác chết động vật, rác thải, phân người và phân động vật… bị nước lũ cuốn trôi và phân tán đi khắp nơi Ô nhiễm môi trường sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn hoặc các vật chủ trung gian truyền bệnh phát triển và có thể gây ra các dịch bệnh cho người như tiêu chảy, sốt xuất huyết…
1.2 Thực trạng lũ lụt và ảnh hưởng tới sức khỏe con người
1.2.1 Tình hình lũ lụt trên thế giới
Trên thế giới, lũ lụt là một trong bốn loại thiên tai thường xảy ra nhất và gây ảnh hưởng nhiều nhất tới con người Về số lượng, theo báo cáo tình hình thiên tai thế giới của Hiệp hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (IFRC), trong giai đoạn 1992-2001, 963 trận lũ lụt đã xảy ra, đứng thứ nhất trong số các loại thiên tai với tỷ lệ 35,3% Số trận lũ lụt cũng tăng lên trong những năm qua, từ 57 trận lũ lụt
HUPH
Trang 17vào năm 1992 lên tới 156 trận lũ lụt vào năm 2001 Tại Châu Á, 342 trận lũ lụt đã xảy ra trong giai đoạn 1992-2001, chiếm 34,0% tổng số các thảm họa tự nhiên Tổng số thiệt hại do lũ lụt gây ra cao thứ 2 trong số các loại thiên tai với 191.950 triệu USD, trong đó phần lớn thiệt hại là ở các nước châu Á với gần 120 triệu USD [36] Về tác động, theo Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (UNDP, 2004),
lũ lụt là loại thiên tai đứng thứ 2 về việc gây ảnh hưởng tới con người trên thế giới với khoảng 196 triệu người ở 90 nước bị ảnh hưởng hàng năm, chỉ tính đến những thảm họa lũ lụt thảm khốc [45] Chỉ tính riêng trong giai đoạn 1992-2001, lũ lụt là loại thiên tai gây ảnh hưởng nhiều nhất đến người dân, chiếm 63,0% số người bị ảnh hưởng bởi tất cả các loại thiên tai [36] Châu Á là lục địa có số người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt nhiều nhất, chiếm 97,3% Tổng số người bị ảnh hưởng bởi lũ lụt tại châu Á cũng chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số người bị ảnh hưởng bởi thiên tai, chiếm 61,0% [36] Tại Pakistan, năm 2010, lũ lụt đã gây ảnh hưởng tới khoảng 20 triệu người dân ở 78 huyện, phá hủy khoảng 2 triệu ngôi nhà, 514 cơ sở y tế…[48] Đối với tính mạng con người, trên thế giới, trong giai đoạn 1980-2000 có khoảng
170 nghìn người chết có liên quan tới lũ lụt [45] Trong giai đoạn 1992-2001, có tới hơn 96 nghìn người bị chết do lũ lụt, chỉ thấp hơn so với số người bị tử vong do động đất, trong đó tập trung chủ yếu ở châu Á với hơn 50 nghìn người thiệt mạng [36] Ít nhất 73 trường hợp đã tử vong liên quan trực tiếp tới lũ lụt tại Úc trong giai đoạn từ 1997-2008 [35] Trận lụt năm 2010 tại Pakistan đã làm chết khoảng 1.800 người [48] Theo một nghiên cứu tại Trung Quốc năm 1999, tỷ lệ tử vong (SMRs)
và số năm sống tiềm tàng bị mất đi (YPLLs) do lũ lụt của nhóm bị ảnh hưởng cao hơn nhóm không bị ảnh hưởng bởi lũ lụt [50]
Ngoài ra, lũ lụt cũng làm tăng tình trạng bị bệnh truyền nhiễm ở người Nghiên cứu trên 517 người ngay sau lũ lụt tại Bangladesh năm 1998 cho thấy 63,6% người bị sốt, 46,8% người có vấn đề hô hấp, 44,3% người bị tiêu chảy và 41,0% người bị bệnh ngoài da [41] Theo WHO, sau trận lũ lụt tại Pakistan năm
2010, tình trạng bệnh truyền nhiễm đã gia tăng với khoảng 6,2 triệu người mắc viêm ruột, nhiễm khuẩn đường hô hấp, sốt rét, sốt xuất huyết…[48]
HUPH
Trang 181.2.2 Tình hình lũ lụt tại Việt Nam
Lũ lụt là thiên tai thường xảy ra ở khắp các vùng miền của Việt Nam Mỗi năm, Việt Nam có khoảng từ 2 đến 5 trận lũ lụt [6, 26] Theo báo cáo đặc biệt của Việt Nam về quản lý rủi ro thiên tai và các hiện tượng cực đoan nhằm thúc đẩy thích ứng với biến đổi khí hậu, từ năm 1990 đến 2010 đã xảy ra 74 trận lũ lụt trên các hệ thống sông của Việt Nam [15]
Tại vùng núi phía Bắc, Trung Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, trung bình
có từ 2 đến 4 trận lũ quét xảy ra trong mùa lũ hàng năm Các trận lũ quét điển hình như trận lũ quét năm 1991 tại Sơn La, năm 1996 tại Lai Châu, năm 2002 tại Hà Tĩnh, năm 2005 tại Yên Bái…[1] Trận lũ quét năm 1991 tại thị xã Sơn La đã làm
40 người chết và mất tích, 30 người bị thương, 250 ngôi nhà hư hỏng nặng, nhiều công trình công cộng bị hư hại với tổng thiệt hại khoảng 120 tỷ đồng Trận lũ quét tại huyện Mường Lay, tỉnh Lai Châu năm 1996 là trận lũ quét gây hậu quả nặng nề nhất, làm chết 63 người, phải cứu trợ lương thực khẩn cấp cho 5.588 người dân và thực hiện di dân toàn bộ 877 hộ cùng cơ quan huyện Na Pheo [26]
Tại Bắc Bộ, lũ trên sông Hồng và sông Thái Bình thường xuất hiện sớm hơn
so với các vùng khác, từ tháng 5 tới tháng 9 hàng năm Mỗi năm có từ 3 đến 5 trận
lũ lụt và mỗi trận lũ thường kéo dài từ 8 đến 15 ngày Lũ lụt lớn đã xảy ra vào các năm 1945, 1968, 1969 và 1971 Trận lụt lịch sử năm 1945 đã làm ảnh hưởng tới 3 triệu người và hàng vạn người bị đói và chết đói, 400.000ha lúa bị ngập chìm, hàng vạn ngôi nhà bị hư hại Trận lụt năm 1971 đã gây ảnh hưởng tới 290 nghìn người, làm chết 594 người, làm ngập chìm 300 nghìn ha lúa của 1.062 xã ở 94 huyện [1]
Tại miền Trung, lũ lụt xảy ra ở hầu hết các tỉnh, có những tỉnh năm nào cũng
bị lũ lụt như Thừa Thiên Huế Năm 1999, miền Trung bị thiệt hại nặng nề do 3 đợt
lũ lụt lớn với 742 người chết, 69 người mất tích, 590 người bị thương, 1.073.653 ngôi nhà bị hư hại Thiệt hại vật chất lên tới 4.036 tỷ đồng [26]
Tại đồng bằng sông Cửu Long, lũ lụt diễn biến chậm, kéo dài trong khoảng 4 hoặc 5 tháng trong năm, mực nước trung bình dao động từ 0,5-4,5m, làm ngập hầu hết toàn bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long [1, 28] Trận lũ lụt lịch sử năm 2000 đã làm 642 người chết (trong đó 2/3 là trẻ em), gây ảnh hưởng tới khoảng 5 triệu
HUPH
Trang 19người, làm hư hại 825 căn nhà, buộc khoảng 60 nghìn hộ dân phải di dời, làm mất trắng vụ lúa hè-thu và gây hư hại năng nề hệ thống đường giao thông Tổng thiệt hại ước tính khoảng 285 triệu USD [28] Các trận lụt từ năm 2001 tới năm 2002 đã làm 1.044 người chết, thiệt hại khoảng 6 nghìn tỷ đồng [6, 26, 28] Mới đây nhất, trận lũ lụt năm 2011 đã làm chết 63 người, trong đó có 55 trẻ em dưới 16 tuổi, gây ảnh hưởng tới hơn 120 nghìn ngôi nhà, buộc gần 1 nghìn ngôi trường và gần 300 nghìn học sinh phải nghỉ học với tổng thiệt hại ước tính hơn 2,5 nghìn tỷ đồng [2]
Ngoài ảnh hưởng tới tính mạng và tài sản, lũ lụt còn làm gia tăng nguy cơ lây lan một số bệnh truyền nhiễm Nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm thường gặp tại
19 tỉnh, thành phố trong các năm có bão, lũ lụt lớn trong giai đoạn 1996-2006 đã cho thấy 49,1% các tỉnh đã xảy ra bệnh tiêu chảy, 25,0% đã từng xảy ra dịch tả, 38,6% đã từng xảy ra bệnh sốt xuất huyết và các bệnh khác như đau mắt đỏ, sốt phát ban, cảm cúm, nhiễm khuẩn đường hô hấp…[29]
1.3 Chương trình giảm nhẹ tác hại của lũ lụt
1.3.1 Cơ sở pháp lý của Việt Nam
Trong những năm gần đây, Việt Nam đã ban hành những văn bản quan trọng
về công tác giảm nhẹ rủi ro thiên tai (GNRRTT) như “Chiến lược quốc gia về phòng, chống và GNRRTT đến năm 2020” của Chính phủ năm 2007, “Đề án nâng cao nhận thức cộng đồng và quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng” của Chính phủ năm 2009 và “Luật phòng, chống thiên tai” của Quốc hội năm 2014…Các văn bản này chỉ rõ để GNRRTT thì cần tập trung vào hai cấu phần chính là: (1) Tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác GNRRTT và (2) Tăng cường nhận thức về GNRRTT cho cộng đồng Các văn bản này khẳng định trẻ em là đối tượng
dễ bị tổn thương nhất trong thiên tai và cần tăng cường vai trò của trẻ em vào công
tác GNRRTT như trẻ em cần được tiếp cận với các nguồn thông tin về thiên tai và
cùng được tham gia vào việc lập kế hoạch cũng như triển khai kế hoạch GNRRTT tại cộng đồng và trường học [8-10, 19]
Nhằm cụ thể hóa các văn bản của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng
đã ban hành những kế hoạch hành động, chương trình, đề án cụ thể như “Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược quốc gia phòng, chống và GNRRTT của ngành
HUPH
Trang 20Giáo dục giai đoạn 2011-2020” và đề án “Đưa kiến thức, kỹ năng về phòng, chống thiên tai vào nhà trường giai đoạn 2012-2020” với mục tiêu trang bị kiến thức, kỹ năng cho cán bộ, giáo viên và học sinh về GNRRTT thông qua các hoạt động chính như xây dựng khung kiến thức, kỹ năng và thái độ về GNRRTT cho học sinh, xây dựng tài liệu, công cụ giảng dạy và học tập, tiến hành giảng dạy và tổ chức các hoạt động ngoại khóa…về GNRRTT [3, 5]
1.3.2 Vai trò của trẻ em trong giảm nhẹ rủi ro thiên tai
Bên cạnh vấn đề quyền của trẻ em cần được đảm bảo trong hoàn cảnh thiên tai, vai trò của trẻ em trong công tác phòng, chống và GNRRTT cũng rất quan trọng Điều này đã được thể hiện trong một số thiên tai trong thực tế Năm 2004, trong thảm họa sóng thần tại miền Nam Thái Lan, trẻ em đã chứng tỏ được vai trò quan trọng của mình trong việc hỗ trợ gia đình và cộng đồng trong và sau khi thảm họa xảy ra như cứu người đuối nước, giúp đỡ người lớn trong các nhà lánh nạn tạm thời, trông nom trẻ nhỏ, an ủi, giúp đỡ những người bạn bị mất người thân, tham gia vào việc dọn dẹp vệ sinh môi trường… [21] Năm 2010, một bé gái 12 tuổi ở Chile
đã cảnh báo cho những người hàng xóm của mình về một trận sóng thần sẽ xảy ra sau trận động đất tại khu vực đó, giúp mọi người di chuyển tới nơi an toàn [49] Đây là những việc mà trẻ em đã tham gia vào một cách tự nhiên Khi các em được người lớn hỗ trợ tăng cường kỹ năng và nâng cao năng lực, các em có thể đảm nhận những vai trò quan trọng như tổ chức các nhóm tình nguyện bảo vệ trẻ em tại trường học và cộng đồng, tổ chức các nhóm giúp đỡ, hỗ trợ các bạn gặp hoàn cảnh khó khăn do thiên tai gây nên hay chuẩn bị kế hoạch ngăn ngừa và tổ chức các chiến dịch truyền thông giáo dục nhằm GNRRTT
1.3.3 Kiến thức và thực hành giảm nhẹ tác hại lũ lụt của học sinh
1.3.3.1 Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học
Trẻ em đang học tiểu học là giai đoạn bắt đầu thoát khỏi nhận thức trung tâm hóa và năng lực nhận thức quan hệ nhân quả của sự việc, sự vật cũng bắt đầu phát triển Do vậy, đây là giai đoạn thích hợp nhất để giáo dục an toàn cho trẻ em, trong
đó có GNTHLL Trong giai đoạn này, khả năng nhận biết của học sinh về môi trường xung quanh tương đối phát triển, tuy nhiên kỹ năng nắm bắt nguy hiểm vẫn
HUPH
Trang 21chưa được thành thục Học sinh tiểu học đã biết gắn kiến thức đã học với hành động trong cuộc sống…[3, 5]
1.3.3.2 Khung kiến thức và thực hành giảm nhẹ tác hại lũ lụt của học sinh
Nhằm hướng dẫn thực hiện Đề án “Đưa kiến thức, kỹ năng về phòng, chống thiên tai vào nhà trường giai đoạn 2012-2020” được Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt ở Quyết định số 2734 /QĐ- BGDĐT ngày 29 tháng 7 năm 2013, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức hội thảo chia sẻ bản dự thảo “Khung kiến thức, kỹ năng, thái độ về giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong nhà trường” vào ngày 16 tháng 1 năm 2014 Khung kiến thức, kỹ năng và thái
độ này đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt ở Quyết định số BGDĐT ngày 21 tháng 11 năm 2014
5523/QĐ-Theo Khung kiến thức về giáo dục phòng chống thiên tai trong nhà trường của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, học sinh tiểu học cần có các kiến thức cơ bản về lũ lụt và các giải pháp an toàn Đối với kiến thức lũ lụt, học sinh tiểu học cần biết các thông tin đơn giản như thế nào là lũ lụt, thời gian xảy ra, loại lũ lụt tại địa phương và các tác hại chính của lũ lụt Ngoài ra, học sinh tiểu học cũng cần hiểu biết các ký hiệu, biển báo dùng để cảnh báo lũ lụt như bản đồ rủi ro, cọc báo mực nước lũ và các nguồn thông tin về thiên tai như tivi, đài phát thanh, thầy cô giáo, cán bộ xã, thôn…Về các giải pháp an toàn cơ bản, học sinh tiểu học cần biết các việc đơn giản cần làm trước, trong và sau khi lũ lụt xảy ra để đảm bảo an toàn và giảm nhẹ thiệt hại cho bản thân và gia đình Trước khi lũ lụt xảy ra, học sinh tiểu học cần biết và thực hiện một số việc đơn giản như: tham gia trồng cây quanh nhà và trường học để bảo vệ môi trường và góp phần phòng tránh thiên tai; chủ động tìm kiếm và theo dõi thông tin về lũ lụt như hỏi cha mẹ, thầy cô giáo về những việc nên làm; tích cực tham gia các hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức và trang bị kỹ năng cần thiết về GNTHLL trong trường học như các chương trình ngoại khóa, các lớp dạy bơi, các lớp dạy sơ cấp cứu đơn giản…; nên biết kế hoạch GNTHLL của trường học
và gia đình, đồng thời ghi nhớ một số thông tin quan trọng để chủ động kêu gọi sự trợ giúp khi lũ lụt xảy ra như địa điểm sơ tán, địa điểm sơ cấp cứu, người có thể hỗ trợ trong thiên tai…; nên chủ động bảo vệ sách vở, đồ dùng học tập và đồ dùng cá
HUPH
Trang 22nhân, cất giữ ở nơi cao ráo, an toàn khi có thông báo lũ; tham gia với gia đình và nhà trường trong các việc chuẩn bị trước khi lũ lụt xảy ra như nhốt gia súc, gia cầm
ở nơi an toàn, thu dọn đồ dùng trong nhà, che đậy giếng nước, chum, vại… Trong khi lũ lụt xảy ra, học sinh tiểu học cần biết và thực hiện một số việc sau: không nên chơi đùa ở những nơi nguy hiểm như gần khu vực nước lũ, cạnh bờ sông hay vào những ngôi nhà bị ngập…; cùng với gia đình đi sơ tán khi cần thiết và mang theo các đồ dùng cá nhân thiết yếu như đồ dùng vệ sinh hàng ngày, quần áo, nước sạch… theo sự hướng dẫn của người lớn trong gia đình; hỗ trợ gia đình trong các công việc phù hợp như trông em, bảo vệ nguồn nước…; thực hiện phòng bệnh truyền nhiễm trong mùa lũ như luôn ăn chín uống sôi, đi tiểu tiện đúng chỗ và thực hiện vệ sinh cá nhân hàng ngày bằng nguồn nước an toàn Sau khi lũ lụt xảy ra, học sinh tiểu học cần biết và thực hiện một số việc sau: nên tham gia dọn dẹp vệ sinh môi trường tại gia đình và trường học; tiếp tục thực hiện vệ sinh cá nhân hàng ngày
để phòng chống dịch bệnh; cảnh giác với những tai nạn có thể xảy ra trên đường đến trường hay trong khi vui chơi; không đi vào những nơi nguy hiểm, ngập lụt; và sắp xếp lại đồ dùng học tập để đi học lại khi có thông báo của nhà trường
Khi lũ lụt xảy ra, trẻ em là đối tượng rất dễ dàng bị đuối nước Theo thống
kê, trong các nguyên nhân gây tử vong cho trẻ em có liên quan tới lũ lụt, đuối nước
là nguyên nhân hàng đầu [27] Một nghiên cứu về thực trạng đuối nước tại 5 huyện vùng lũ của tỉnh Đồng Tháp năm 2005 chỉ ra tỷ lệ chết đuối trẻ em vào mùa lũ cao hơn mùa khô 2,4 lần, đặc biệt vào tháng 8, tháng 9 vào tháng 10 (chiếm 52,1%) [14] Chính vì vậy, việc phòng chống đuối nước ở trẻ em trong thời gian lũ lụt xảy
ra có vai trò quan trọng nhất trong GNTHLL đối với trẻ em Do vậy, bên cạnh các giải pháp GNTHLL nói chung, học sinh tiểu học cũng cần biết và thực hiện một số biện pháp sau để PCĐN trong mùa lũ: nên học bơi vào trước mùa lũ và ở những nơi
an toàn với sự giám sát của người lớn, luôn mang theo vật nổi khi đi ra khỏi nhà, không đi tìm kiếm rau hoặc giăng câu trong mùa lũ, kêu cứu khi thấy người bị ngã xuống nước, không nên chơi đùa ở những nơi nguy hiểm như trong những ngôi nhà ngập nước, cạnh bờ sông, bờ suối…; nếu thấy người bị ngã xuống nước thì cần giữ bình tĩnh và hô hoán để kêu gọi sự giúp đỡ của người lớn, tìm các vật nổi xung
HUPH
Trang 23quanh để ném xuống cho người bị đuối nước bám vào, và không được nhảy xuống cứu người đang bị đuối nước nếu không biết bơi hoặc không biết kỹ năng cứu đuối 1.3.3.3 Môi trường hỗ trợ tại gia đình
Gia đình là nơi trẻ sử dụng phần lớn thời gian để sinh hoạt và vui chơi Do vậy, gia đình cần xây dựng môi trường thuận lợi để trẻ em phòng tránh và GNTHLL Các gia đình nên thực hiện một số biện pháp giúp tăng cường kiến thức
và khuyến khích trẻ em thực hiện các hành vi có lợi về GNTHLL như: nên thường
xuyên trao đổi thông tin với trẻ em, nhắc nhở trẻ em thực hiện GNTHLL và PCĐN trong mùa lũ; mỗi gia đình nên có kế hoạch GNTHLL hàng năm và huy động trẻ em tham gia lập kế hoạch cũng như phân công công việc cụ thể cho trẻ và các thành viên khác trong gia đình; và nên trang bị cho trẻ các vật nổi cần thiết và phù hợp như áo phao, phao bơi để trẻ có thể mang theo khi đi ra khỏi nhà trong mùa lũ
nhằm PCĐN
1.3.3.4 Môi trường hỗ trợ tại trường học
Nhà trường là nơi quan trọng nhất để học sinh trau dồi kiến thức GNTHLL Nhằm tăng cường kiến thức và kỹ năng cho học sinh, nhà trường nên thực hiện các việc sau: xây dựng kế hoạch GNTHLL của nhà trường với sự tham gia của học sinh
và phổ biến kế hoạch này cho toàn bộ học sinh trong trường; thực hiện các hoạt động tuyên truyền kiến thức GNTHLL cho học sinh thông qua các hình thức phù hợp như sinh hoạt dưới cờ, hội thi, tiểu phẩm…; tổ chức các lớp tập huấn để trang
bị kỹ năng cần thiết cho trẻ như kỹ năng bơi, kỹ năng sơ cấp cứu đơn giản; trang bị các tài liệu GNTHLL để học sinh có thể tiếp cận khi cần như tranh ảnh, áp phích, tờ rơi…; thường xuyên tổ chức các hoạt động diễn tập GNTHLL để học sinh có thể thực hành các biện pháp an toàn trước, trong và sau lũ lụt; trang bị các trang thiết bị cần thiết cho công tác cứu hộ cứu nạn và ứng phó với lũ lụt như áo phao, phao bơi, dụng cụ sơ cấp cứu…
1.4 Rà soát nội dung giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong chương trình tiểu học
Qua rà soát chương trình giảng dạy cho học sinh tiểu học, nội dung giảm nhẹ rủi ro thiên tai hầu như chưa được đề cập tới, chỉ có một số nội dung có liên quan như thời tiết và vệ sinh môi trường Trong môn Tự nhiên – Xã hội ở lớp 1, có một
HUPH
Trang 24số bài về thời tiết như Bài 30: Trời nắng, trời mưa; Bài 32: Gió; Bài 33: Trời nóng, trời rét; Bài 34: Thời tiết Trong môn Tự nhiên – Xã hội của lớp 3, có một số bài về
vệ sinh môi trường (bài 36, bài 37 và bài 38) và các đới khí hậu (bài 65) Đối với lớp 4 và lớp 5, một số nội dung liên quan đến chủ đề giảm nhẹ rủi ro thiên tai được
đề cập trong môn Khoa học Môn Khoa học lớp 4 có đề cập nội dung phòng tránh tai nạn đuối nước (bài 17), nội dung về mây, mưa (bài 22: Mây được hình thành như thế nào? Mưa từ đâu ra?), về gió (bài 37: Tại sao có gió?) và đặc biệt có nội dung về phòng chống bão (bài 38: Gió nhẹ, gió manh, phòng chống bão) Còn ở môn Khoa học lớp 5, chỉ có một số bài về môi trường, tác động của con người tới môi trường và một số biện pháp bảo vệ môi trường (từ bài 62 tới bài 68)
Như vậy, nội dung về GNRRTT, cụ thể là GNTHLL chưa được đề cập tới trong chương trình giảng dạy cho học sinh tiểu học Học sinh tiểu học mới chỉ được giới thiệu về một số chủ đề xunh quanh vấn đề này như thời tiết và môi trường, mà chưa được học các kiến thức cụ thể về nhận diện lũ lụt, tác hại của lũ lụt, dấu hiệu cảnh báo và các việc cần làm trước, trong và sau khi lũ lụt xảy ra để GNTHLL
1.5 Dự án “Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” tại Đồng Tháp
Dự án “Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” đã được thực hiện tại 3 xã: Bình Phú, Tân Hồng và Tân Hộ Cơ, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp từ tháng 4 năm 2013 tới tháng 4 năm 2014 Mục tiêu của dự án là nâng cao nhận thức và năng lực về GNRRTT và những tác động của thiên tai tới trường học và cộng đồng Các kết quả của dự án bao gồm:
- Kết quả 1: Nâng cao năng lực cho cán bộ và giáo viên về GNRRTT và thích ứng với biến đổi khí hậu
- Kết quả 2: Tăng cường kiến thức và kỹ năng cho học sinh về GNRRTT
và thích ứng với biến đổi khí hậu
- Kết quả 3: Cung cấp các trang thiết bị tìm cứu cứu nạn cơ bản, công trình nhỏ GNRRTT cho cộng đồng và trường học
Các hoạt động chính của dự án bao gồm:
HUPH
Trang 25- Tổ chức hội thảo lập kế hoạch, đánh giá nhu cầu thực tế của trường học
và cộng đồng để thiết kế nội dung các hoạt động dự án cho phù hợp với nhu cầu thực tế
- Tổ chức tập huấn cho giáo viên và cán bộ chủ chốt của cộng đồng về kiến thức cơ bản về Giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với Biến đổi khí hậu Các giáo viên cũng sẽ được hướng dẫn sử dụng sách “Tài liệu hướng dẫn dạy và học về Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt
- Tổ chức tập huấn cho giáo viên và học sinh về mô hình trường học an toàn, đáng giá tình trạng dễ bị tổn thương và khả năng, lập kế hoạch giảm nhẹ rủi ro thiên tai của trường học, kỹ năng sơ cấp cứu, kỹ năng tổ chức hoạt động truyền thông
- Tổ chức tập huấn cho các giáo viên thể dục về phương pháp tổ chức lớp dạy bơi cho trẻ em, kỹ năng dạy bơi và kỹ năng cứu đuối cho trẻ em
- Tổ chức các lớp dạy bơi cho học sinh trong trường học
- In ấn tài liệu truyền thông, tài liệu giảng dạy về giảm nhẹ rủi ro thiên tai
và thích ứng với biến đổi khí hậu trong trường học
- Tổ chức truyền thông, nâng cao kiến thức về giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tại cộng đồng
- Thành lập các câu lạc bộ trẻ với trẻ và tổ chức sinh hoạt định kỳ về chủ
đề giảm nhẹ rủi ro thiên tai
- Thực hiện dạy lồng ghép giảm nhẹ rủi ro thiên tai trong trường học
- Tổ chức hội thi về giảm nhẹ rủi ro thiên tai cho học sinh và giáo viên
- Tổ chức diễn tập với tình huống thiên tai giả định trong trường học để nâng cao kỹ năng ứng phó với thiên tai cho học sinh và giáo viên
- Cung cấp các trang thiết bị thiết yếu cho trường học và cộng đồng phục
vụ công tác chuẩn bị và sẵn sàng ứng phó với thiên tai như hồ bơi cho học sinh, cặp phao cho học sinh, túi sơ cấp cứu, loa giảng bài, máy phát điện, loa cầm tay cho trường học và cộng đồng
HUPH
Trang 26Tài liệu chính được sử dụng
xuyên suốt trong các hoạt động của dự
án là cuốn “Tài liệu hướng dẫn dạy và
học về Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” đã
được Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt
vào ngày 27/4/2012 tại quyết định số
1612/QĐ-BGDĐT để sử dụng trong các
hoạt động giảng dạy, tuyên truyền trong
trường học cho học sinh (hình 1) Tài
liệu này gồm 6 chủ đề:
- Chủ đề 1: Nhận diện một số
loại hình thiên tai
- Chủ đề 2: Một số khái niệm
cơ bản về thiên tai
- Chủ đề 3: Biến đổi khí hậu
Hình 2: Tờ rơi “Những việc cần làm trước, trong và sau lũ, lụt xảy ra”
Hình 1: Tài liệu hướng dẫn dạy và
học về giảm nhẹ rủi ro thiên tai
HUPH
Trang 27Sau dự án, một cuộc đánh giá đã
được thực hiện để tìm hiểu kiến thức,
thái độ và thực hành của học sinh về
GNRRTT, đánh giá hiệu quả, tính phù
hợp của các hoạt động đã triển khai
cũng như khó khăn và bài học kinh
nghiệm trong quá trình triển khai dự án
Kết quả của cuộc đánh giá nhằm giúp
cho Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng
Tháp xác định được hiệu quả của các
hoạt động can thiệp, xác định được mô
hình phù hợp để duy trì và nhân rộng
trong thời gian tới nhằm cung cấp cho
học sinh các kiến thức và kỹ năng cần
Hình 4: Lịch treo tường “Phòng tránh chết đuối cho trẻ em vùng lũ – Những
điều người lớn cần làm” (hình a) và Áp phích “Phòng tránh chết đuối cho trẻ
vùng lũ – Những điều trẻ em cần làm” (hình b)
HUPH
Trang 281.6 Một số nghiên cứu đã triển khai
1.6.1 Kiến thức của trẻ em về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt
Đối với các biện pháp an toàn cơ bản để GNTHLL, kiến thức của học sinh tại Thanh Hóa, Quảng Trị và Tiền Giang được thể hiện trong bảng 1.1dưới đây Bảng 1.1: Kiến thức của học sinh về các biện pháp giảm nhẹ tác hại
Kiến thức
Thanh Hóa [33]
Quảng Trị [42]
Tiền Giang [44] Biện pháp nên làm TRƯỚC khi lũ lụt xảy ra
Giúp cha mẹ cất trữ lương thực, thực phẩm, nước uống,
Biện pháp nên làm TRONG khi lũ lụt xảy ra
Làm theo hướng dẫn của người lớn, tìm nơi trú ẩn an
Biện pháp nên làm SAU khi lũ lụt xảy ra
Nguồn: CARE (2011), PLAN (2013) và Save the Children (2013)
Đối với kiến thức cơ bản về thiên tai, một số nghiên cứu trước và sau khi triển khai dự án cho thấy tỷ lệ học sinh có kiến thức “lũ lụt là một loại hiểm họa tự nhiên” tương đối tốt: 52,0% tại Thanh Hóa (nghiên cứu trước dự án) và khoảng 80,0% tại Bắc Kạn (nghiên cứu sau dự án) và 80,0% tại Quảng Trị (nghiên cứu sau
HUPH
Trang 29dự án) Có khoảng từ 70,0% tới 80,0% học sinh biết trẻ em là một trong các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương [33, 34, 42] Nghiên cứu tại Bắc Kạn, Tiền Giang (nghiên cứu sau dự án) và Quảng Trị năm 2013 chỉ ra chỉ có khoảng từ 20,0% tới 35,0% học sinh biết khu vực dễ bị tác động của thiên tai trong địa bàn xã [34, 42, 44] Một nghiên cứu trước dự án khác tại Tiền Giang năm 2013 cho thấy chỉ có khoảng 20,0% học sinh biết một trong các dấu hiệu có thể cảnh báo thiên tai và chỉ khoảng 10,0% biết người trong đội tìm kiếm cứu nạn của địa phương, 54,0% học sinh biết địa điểm sơ cấp cứu và chỉ có 42,0% biết địa điểm sơ tán an toàn khi thiên tai lớn xảy ra [22] Về nguyên nhân dẫn đến thiên tai diễn ra trầm trọng hơn so với giai đoạn trước, khoảng từ 80,0% đến 90,0% học sinh đều cho rằng do chặt phá rừng bừa bãi, khoảng 70,0% học sinh cho rằng do biến đổi khí hậu và khoảng từ 30,0% đến 40,0% học sinh cho rằng do hoạt động sản xuất quá mức của con người [34, 42, 44]
Trong GNTHLL, PCĐN có vai trò quan trong đối với việc giảm nhẹ tác hại đối với trẻ em Theo một nghiên cứu ở trẻ em từ 10 tới 16 tuổi tại Đà Nẵng năm
2005, tỷ lệ học sinh biết “phải học bơi để PCĐN” chỉ chiếm 35,3%, trong đó ở nhóm trẻ 10-11 tuổi là 11,7% Chỉ có 34,1% trẻ biết “đi tắm/bơi thì phải cần có phao bơi” nhưng có tới 71,6% trẻ biết “không được tắm/bơi một mình” [12] Theo nghiên cứu tại Bắc Ninh, tỷ lệ học sinh biết “phải học bơi” là 69,7% và “không tắm, bơi một mình” là 68,4% [11] Nhận định chung về kiến thức của trẻ em, trong nghiên cứu của tác giả Đặng Văn Khoát, chỉ có 14,2% học sinh có kiến thức đạt về PCĐN [16] Nghiên cứu trước can thiệp của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh tại Đà Nẵng đã chỉ ra chỉ có 37,1% học sinh biết 5 địa điểm có nguy cơ bị đuối nước, 56,7% học sinh biết các biện pháp PCĐN, 62,9% học sinh biết 3 tình huống cho thấy một người có nguy cơ đuối nước và 68,7% học sinh biết 4 dấu hiện nhận biết bản thân có nguy cơ đuối nước [20]
1.6.2 Thực hành của trẻ em về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt
Theo kết quả một số nghiên cứu về GNRRTT, trong đó bao gồm lũ lụt, tỷ lệ học sinh “Hỏi cha mẹ và thầy cô giáo về các việc cần làm” chiếm 60,0% tại Quảng Trị năm 2013 và cũng chiếm 60,0% tại Tiền Giang năm 2013 Tỷ lệ học sinh “Giúp
HUPH
Trang 30cha mẹ cất trữ lương thực, thực phẩm, nước uống và thuốc men ở nơi an toàn” tại Quảng Trị là 70,0% và tại Tiền Giang là 80,0% Đặc biệt, tỷ lệ học sinh theo dõi thông tin lũ lụt trước khi triển khai dự án rất thấp (5,0% tại Thanh Hóa năm 2011) nhưng sau dự án, tỷ lệ này khá cao (khoảng 70,0% tại Quảng Trị năm 2013 và khoảng 80,0% tại Tiền Giang năm 2013) [34, 42, 44] Thực hành của học sinh về các biện pháp giảm nhẹ tác hại qua một số nghiên cứu được thể hiện chi tiết trong trong bảng 1.2 dưới đây
Bảng 1.2: Thực hành của học sinh về các biện pháp giảm nhẹ tác hại
Thực hành
Thanh Hóa [33]
Quảng Trị [42]
Tiền Giang [44] Biện pháp ĐÃ làm TRƯỚC khi lũ lụt xảy ra
Giúp cha mẹ cất trữ lương thực, thực phẩm, nước uống
Biện pháp ĐÃ làm TRONG khi lũ lụt xảy ra
Biện pháp ĐÃ làm SAU khi lũ lụt xảy ra
Nguồn: CARE (2011), PLAN (2013) và Save the Children (2013)
Trong GNTHLL, thực hành PCĐN có vai trò quan trọng đối với trẻ em Nghiên cứu tại Đà Nẵng và Bắc Ninh đã cho thấy tỷ lệ học sinh được học bơi lần lượt là 31,9% và 59,1% [11, 12] Nghiên cứu tại Đà Nẵng chỉ ra có tới 82,8% trẻ em 10-16 tuổi không đi bơi một mình nhưng chỉ có 30,3% trẻ có mang theo phao bơi [12] Khả năng bơi của trẻ cũng là một yếu tố quan trọng trong PCĐN ở trẻ em
HUPH
Trang 31nhưng tỷ lệ trẻ biết bơi không cao Chỉ có 41,0% trẻ trong một nghiên cứu ở Đà Nẵng có khả năng bơi, trong đó 2/3 là trẻ trai [12] Trong nghiên cứu tại Thái Lan được triển khai tại cộng đồng năm 2009, tỷ lệ học sinh biết bơi chỉ là 18,2% [39] Tại Tiền Giang, tỷ lệ này là khoảng 40,0% trong nghiên cứu năm 2013 nhưng chỉ có 6,0% đã từng cứu đuối [22] Nghiên cứu trước can thiệp tại Đà Nẵng của tác giả Nguyễn Thúy Quỳnh cho thấy 51,8% học sinh có 4 kỹ năng an toàn khi bản thân có nguy cơ đuối nước, 57,7% học sinh có 4 kỹ năng an toàn khi cấp cứu người bị đuối nước được đưa lên bờ và 74,3% học sinh có 3 kỹ năng an toàn khi cứu người có nguy cơ đuối nước [20]
1.6.3 Một số yếu tố liên quan tới kiến thức và thực hành của học sinh
1.6.3.1 Tuổi
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chưa thấy nghiên cứu nào về mối liên quan giữa tuổi và kiến thức và thực hành của học sinh về GNTHLL Tuy nhiên, trong một số nghiên cứu về PCĐN, tuổi có ảnh hưởng tới kiến thức và thực hành của học sinh Các học sinh lớn tuổi hơn thì thường có kiến thức PCĐN tốt hơn Trong nghiên cứu trên 402 trẻ tại Đà Nẵng, tỷ lệ trẻ trong nhóm tuổi 12-15 có kiến thức đạt cao gấp 2 lần nhóm 10-11 tuổi Tỷ lệ trẻ biết “không nên tắm, bơi một mình” ở nhóm 12-15 tuổi là 47,5%, cao hơn so với nhóm 10-11 tuổi (24,1%) Tương tự, có 25,1% trẻ trong nhóm 12-15 tuổi biết “phải mang theo phao bơi khi đi tắm”, cao hơn so với nhóm 10-11 tuổi (9,0%) [12]
1.6.3.2 Giới tính
Kết quả một số nghiên cứu cho thấy không có mối liên quan giữa yếu tố giới tính và kiến thức và thực hành của học sinh về GNTHLL [34, 42, 44] Tuy nhiên, trong một nghiên cứu về phòng chống tại nạn thương tích, trong đó bao gồm PCĐN
ở trẻ em, tỷ lệ nữ có kiến thức đạt cao hơn nam 2 lần (p<0,05) Tỷ lệ nữ có khả năng bơi là 26,0%, thấp hơn so với nam (55,9%) Đối với thực hành phòng chống tại nạn thương tích, trong đó bao gồm thực hành PCĐN, nữ lại có thực hành đạt cao hơn nam 1,8 lần (p<0.01) [12]
1.6.3.3 Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, chúng tôi chưa thấy nghiên cứu nào về mối liên quan giữa kiến thức và thực hành của học sinh về GNTHLL Tuy nhiên,
HUPH
Trang 32trong một nghiên cứu về PCĐN, nếu trẻ có kiến thức đạt thì sẽ có thực hành đạt cao gấp 2,67 lần trẻ có kiến thức không đạt [11]
1.7 Khung lý thuyết
Căn cứ trên tổng quan tài liệu, kiến thức và thực hành của học sinh có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: cá nhân, môi trường hỗ trợ tại gia đình và nhà trường Đối với học sinh, kiến thức và thực hành GNTHLL sẽ dừng lại ở mức đơn giản, phù hợp với lứa tuổi và khả năng của các em như nhận diện lũ lụt tại địa phương, thời gian mùa lũ, nguyên nhân, một số ảnh hưởng tới sức khỏe con người và một số việc
mà học sinh có thể thực hiện để bảo vệ bản thân tại 3 thời điểm là trước, trong và sau mùa lũ và các biện pháp PCĐN trong mùa lũ Về một số yếu tố ảnh hưởng, học sinh tiểu học là đối tượng bắt đầu tiếp cận với môi trường bên ngoài gia đình và dần dần hình thành tính tự chủ của bản thân Trong một ngày, học sinh dành phần lớn thời gian để học tập tại trường và sinh hoạt tại gia đình nên kiến thức và thực hành
sẽ bị ảnh hưởng nhiều từ các yếu tố cá nhân, môi trường gia đình và nhà trường Các yếu tố cá nhân của học sinh như tuổi, giới, trường lớp… thường là có ảnh hưởng tới kiến thức và thực hành Các yếu tố liên quan tới gia đình và nhà trường là các yếu tố thúc đẩy tăng cường kiến thức của học sinh và tạo ra môi trường thuận lợi để học sinh có thể thực hiện các hành vi tốt
HUPH
Trang 33Thực hành của học sinh về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt
- Thực hành giảm nhẹ tác hại của lũ lụt tới tính mạng và sức khỏe của trẻ ,
bao gồm thực hành phòng chống đuối nước trong mùa lũ
- Thực hành giảm nhẹ thiệt hại về tài sản trong gia đình và đồ dùng học tập
Kiến thức của học sinh
về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt
- Kiến thức cơ bản về lũ lụt
- Kiến thức về các giải pháp cơ bản
để GNTHLL
- Kiến thức về phòng chống đuối
nước trong mùa lũ,
Điều kiện hỗ trợ cho học sinh thực hiện hành vi có lợi
Trang 341.8 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Tỉnh Đồng Tháp có diện tích tự nhiên 3.374,08 km2, chiếm 8,2% tổng diện tích của vùng đồng bằng sông Cửu Long Chảy qua địa bàn tỉnh, đoạn sông Tiền dài trên 114 km và đoạn sông Hậu dài khoảng 30 km Ngoài ra, trên địa bàn còn có khoảng 1 nghìn kênh rạch lớn nhỏ với tổng chiều dài dòng chảy là 6.273 km, mật
độ kênh rạch trung bình 1,86 km/km2
Mùa lũ kéo dài từ tháng 7 đến tháng 11 hàng năm Cường xuất lũ lên từ 3 đến 4 cm/ngày, có khi lên đến 10 cm/ngày Độ ngập sâu trong những năm lũ lớn có nơi lên đến khoảng 3,25 m Về thời gian ngập lụt, trong những năm lũ trung bình, phần lớn diện tích ngập trên 4 tháng
Đồng Tháp là một trong 5 tỉnh có số trẻ em tử vong do đuối nước cao nhất cả nước [23] Trong những năm qua, đuối nước đang có chiều hướng gia tăng Theo
Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh, năm 2012, toàn tỉnh có 7.120 trẻ em bị tai nạn thương tích, 37 trường hợp đã tử vong, trong đó
có 35 trường hợp trẻ em đuối nước [18] Tính đến cuối tháng 10 năm 2013, toàn tỉnh đã xảy ra 43 trường hợp tử vong do đuối nước [24] Theo một nghiên cứu về thực trạng đuối nước tại 5 huyện vùng lũ của tỉnh Đồng Tháp năm 2005, tỷ lệ chết đuối trẻ em vào mùa lũ cao hơn
mùa khô 2,4 lần, đặc biệt vào
HUPH
Trang 351.9 Kết hợp nghiên cứu vào dự án và vai trò của nghiên cứu viên
Dự án “Giảm nhẹ rủi ro thiên tai” đã được thực hiện tại huyện Cai Lậy và Cái Bè của tỉnh Tiền Giang và huyện Tân Hồng và Hồng Ngự của tỉnh Đồng Tháp
từ tháng 4 năm 2013 tới tháng 4 năm 2014 Mục tiêu của dự án là nâng cao nhận thức và năng lực về GNRRTT và những tác động của thiên tai tới trường học và cộng đồng Dự án gồm 3 cấu phần chính: (1) Nâng cao năng lực cho cán bộ và giáo viên về GNRRTT và thích ứng với biến đổi khí hậu; (2) Tăng cường kiến thức và
kỹ năng cho học sinh về GNRRTT và thích ứng với biến đổi khí hậu và (3) Cung cấp các trang thiết bị tìm cứu cứu nạn cơ bản, công trình nhỏ GNRRTT cho cộng đồng và trường học
Sau dự án, một cuộc đánh giá đã được thực hiện để tìm hiểu kiến thức, thái
độ và thực hành của học sinh về GNRRTT, đánh giá hiệu quả, tính phù hợp của các hoạt động đã triển khai cũng như khó khăn và bài học kinh nghiệm trong quá trình triển khai dự án Kết quả của cuộc đánh giá nhằm giúp cho Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Tiền Giang và Đồng Tháp thiết kế các chương trình đưa kiến thức và kỹ năng
về phòng chống và GNRRTT vào nhà trường trong thời gian tới
Nghiên cứu này được kết hợp vào cuộc đánh giá thực hiện trong dự án Nội dung của nghiên cứu là một phần trong số các nội dung của cuộc đánh giá, bao gồm kiến thức cơ bản của học sinh về lũ lụt và các việc cần làm trước, trong và sau lũ lụt Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng mở rộng hơn so với cuộc đánh giá của dự án ở khía cạnh tìm hiểu sâu thêm thực hành PCĐN và tìm hiểu sự ảnh hưởng của môi trường hỗ trợ của gia đình và trường học tới kiến thức và thực hành của học sinh về GNTHLL Nghiên cứu này sử dụng số liệu sơ cấp được nghiên cứu viên trực tiếp thu thập tại cộng đồng
Nghiên cứu viên là người trực tiếp thiết kế và triển khai cuộc đánh giá của dự
án, bao gồm việc lập đề cương, kế hoạch khảo sát, thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn, tập huấn cho điều tra viên, giám sát thu thập số liệu tại cộng đồng, thiết kế bảng nhập liệu, phân tích số liệu và viết báo cáo đánh giá
HUPH
Trang 36Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của nghiên cứu này là học sinh đang học lớp 4 và lớp 5 của các trường tiểu học thuộc 3 xã dự án: xã Bình Phú, xã Tân Hộ Cơ và xã Thông Bình, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp
Tiêu chí lựa chọn đối tượng vào nghiên cứu:
- Là những học sinh nam và học sinh nữ đang học lớp 4 và lớp 5 của năm học 2013-2014
- Là những học sinh tự nguyện tham gia nghiên cứu
- Là những học sinh được cha mẹ đồng ý cho tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ:
- Học sinh không đồng ý tự nguyện tham gia nghiên cứu hoặc cha mẹ không đồng ý cho tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 4 năm 2014 tại 10 trường tiểu học thuộc 3 xã dự án: xã Bình Phú, xã Tân Hộ Cơ và xã Thông Bình, huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp, bao gồm:
- Trường Tiểu học Thông Bình 1, xã Thông Bình
- Trường Tiểu học Thông Bình 2, xã Thông Bình
- Trường Tiểu học Thông Bình 3, xã Thông Bình
- Trường Tiểu học Bình Phú 1, xã Bình Phú
- Trường Tiểu học Bình Phú 2, xã Bình Phú
- Trường Tiểu học Cả Găng, xã Bình Phú
- Trường Tiểu học Thống Nhất, xã Bình Phú
- Trường Tiểu học Dinh Bà, xã Tân Hộ Cơ
- Trường Tiểu học Tân Hộ Cơ 1, xã Tân Hộ Cơ
- Trường Tiểu học Tân Hộ Cơ 2, xã Tân Hộ Cơ
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng thiết kế đánh giá sau can thiệp
HUPH
Trang 372.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu
- Z = 1,96 (tương đương với độ tin cậy 95%, α = 0,05)
- p = tỷ lệ học sinh tiểu học có thực hành giảm nhẹ tác hại của lũ lụt đạt Vì chưa
có nghiên cứu tương tự trước đây nên để cỡ mẫu là lớn nhất, chúng tôi lấy p=50%
- d = 0,05 (độ chính xác tuyệt đối)
Thay các giá trị trên vào công thức tính cỡ mẫu trên đây ta có: n = 384 Với tỷ
lệ dự phòng 10% thì tổng số mẫu cần cho nghiên cứu là 420 học sinh
Phương pháp chọn mẫu:
Phương pháp chọn mẫu của nghiên cứu gốc: Nghiên cứu gốc được tiến hành tại 21 trường tiểu học, gồm 6 trường tiểu học của huyện Cai Lậy (3 trường) và huyện Cái Bè (3 trường), tỉnh Tiền Giang và 15 trường tiểu học của huyện Tân Hồng (10 trường) và huyện Hồng Ngự (5 trường), tỉnh Đồng Tháp Toàn bộ số học sinh khối 4 và khối 5 của các trường này được chọn vào nghiên cứu
Phương pháp chọn mẫu của nghiên cứu này: Phương pháp chọn mẫu toàn bộ
Vì kết hợp vào nghiên cứu đánh giá của dự án nên nghiên cứu này đã được thực hiện trên toàn bộ số học sinh khối 4 và khối 5 của 10 trường tiểu học của huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp Tổng số học sinh khối 4 và 5 của 10 trường tiểu học được chọn vào nghiên cứu là 1.294 em
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi tự điền được xây dựng dựa trên Khung kiến thức về giáo dục phòng chống thiên tai trong nhà trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tham khảo các bộ công cụ của các nghiên cứu về GNRRTT đã được triển khai Bộ câu hỏi đã được tham vấn với các cán bộ quản lý giáo dục của Sở Giáo dục và Đào tạo của tỉnh
HUPH
Trang 38Tiền Giang và Đồng Tháp, của Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện, cũng như các thầy, cô giáo của các trường tham gia vào nghiên cứu Trước khi triển khai thu thập
số liệu tại tỉnh Đồng Tháp, bộ câu hỏi đã được sử dụng tại tỉnh Tiền Giang Tại Đồng Tháp, trong buổi tập huấn cho các điều tra viên (ĐTV) về cách hướng dẫn điền bộ câu hỏi, các ĐTV cũng đã tiến hành thử nghiệm bộ câu hỏi trên 10 học sinh (5 học sinh lớp 4 và 5 học sinh lớp 5) của trường Tiểu học Thường Thới Tiền, huyện Hồng Ngự và cũng góp ý về bộ câu hỏi Một số câu hỏi được chỉnh sửa gồm:
- Câu 6 và câu 7: Thêm chú thích cho các đáp án để học sinh hiểu rõ hơn về các phương án trả lời
- Câu hỏi về khoảng cách học sinh có thể bơi được và thời gian học sinh có thể nổi được trong nước được các ĐTV đề nghị bỏ đi vì khó xác định đối với học sinh
- Câu hỏi về nguồn thông tin cảnh báo lũ lụt được phân chia thành 2 câu hỏi
để học sinh dễ hiểu hơn: một câu về các công trình có tác dụng cảnh báo thiên tai như cọc báo mực nước lũ, bản đồ rủi ro , một câu về các phương tiện, kênh truyền tải thông tin như truyền hình, loa truyền thành
Ngoài ra, các ĐTV cũng đề nghị tăng cỡ chữ trong bộ câu hỏi khi in ra để học sinh dễ đọc hơn Bộ câu hỏi được trình bày ở Phụ lục 2-trang 73
2.5.2 Điều tra viên và giám sát viên
- Điều tra viên: 10 ĐTV, là các cán bộ các trường tham gia vào nghiên cứu Các ĐTV đã được tập huấn kỹ về việc sử dụng bộ câu hỏi trước khi đi thu thập số liệu Nội dung tập huấn bao gồm:
o Mục đích, kế hoạch nghiên cứu
o Kỹ năng hướng dẫn thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi tự điền
o Đóng góp ý kiến cho bộ câu hỏi
o Phỏng vấn thử
o Xây dựng và thống nhất kế hoạch thu thập số liệu tại địa phương
- Giám sát viên (GSV): 5 GSV, gồm nghiên cứu viên, cán bộ dự án, cán bộ tỉnh và huyện của ngành giáo dục
HUPH
Trang 392.5.3 Tổ chức thực hiện và thu thập số liệu
Tại mỗi trường, việc khảo sát học sinh đã được tiến hành ở các phòng khác nhau Các học sinh được bố trí ngồi trong các phòng thích hợp để thực hiện trả lời
bộ câu hỏi Mỗi phòng được bố trí tối thiểu là 19 học sinh và tối đa là 30 học sinh, tùy theo theo số lượng học sinh tham gia vào nghiên cứu của từng trường Mỗi học sinh đã được bố trí ngồi ở 1 bàn hoặc ở các vị trí với khoảng cách giữa hai học sinh tương đương 1 bàn để các học sinh tự trả lời câu hỏi theo ý hiểu của bản thân
Điều tra viên đã hướng dẫn các học sinh cách điền bộ câu hỏi để đảm bảo học sinh hiểu rõ cách làm và tránh bỏ sót Sau khi học sinh điền xong phiếu khảo sát, ĐTV viên đã kiểm tra lại một lần nữa để đảm bảo các phiếu đã được điền đầy
đủ thông tin trước khi học sinh ra về Với các phiếu vẫn còn thiếu thông tin hoặc có thông tin cần làm rõ, ĐTV đã yêu cầu học sinh tiếp tục làm tiếp cho đến khi hoàn tất phiếu khảo sát
2.6 Các biến số nghiên cứu
Biến số của nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết của nghiên cứu, khung kiến thức về giáo dục phòng chống thiên tai trong nhà trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tham khảo các biến số đã được sử dụng trong các nghiên cứu về GNRRTT ở Việt Nam trước đây
Các biến số nghiên cứu được phân chia thành các nhóm sau:
- Thông tin chung về ĐTNC: Tuổi, giới tính, xã, trường
- Kiến thức về lũ lụt và GNTHLL: biết về lũ lụt, nhận biết loại lũ lụt, tác hại chung của lũ lụt, các biện pháp giảm thiểu tác hại trước, trong và khi lũ lụt xảy ra, các biện pháp PCĐN trong mùa lũ …
- Thực hành GNTHLL: Thực hành giảm nhẹ tác hại trước, trong và sau khi lũ lụt xảy ra, học bơi an toàn, học sơ cấp cứu …
- Môi trường hỗ trợ nâng cao kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi để học sinh thực hiện các hành vi có lợi Các yếu tố thuộc môi trường gia đình như trao đổi thông tin với gia đình, nguồn thông tin tại gia đình, kế hoạch GNTHLL của gia đình… Các yếu tố thuộc môi trường nhà trường như nguồn thông tin
HUPH
Trang 40tại nhà trường, sự tham gia vào các hoạt động GNTHLL tại trường, các hoạt động đã tham dự …
Các biến số được trình bày chi tiết trong Phụ lục 1 – Trang 70
2.7 Các khái niệm dùng trong nghiên cứu
Học sinh được coi là có kiến thức đạt hoặc thực hành đạt khi trả lời đúng ít nhất 70% câu hỏi liên quan đến kiến thức hoặc thực hành Thực tế, một học sinh chỉ được nhận định là có kiến thức đạt hoặc thực hành đạt khi trả lời đúng toàn bộ câu hỏi liên quan Tuy nhiên, sẽ có rất ít hoặc không có học sinh nào có thể trả lời đúng được toàn bộ số câu hỏi Ngoài ra, qua tham khảo một số nghiên cứu trước đây, các tác giả thường dùng điểm cắt 50% hoặc 70% để nhận định ĐTNC có kiến thức hoặc thực hành đạt Đối với nghiên cứu này, do thời điểm thu thập số liệu là sau khi kết thúc dự án nên chắc chắn là kiến thức và thực hành của học sinh đã được tăng cường Do vậy, để mức độ nhận định kiến thức và thực hành đạt của học sinh không quá thấp, điểm cắt 70% đã được lựa chọn để nhận định kiến thức và thực hành của học sinh về GNTHLL và PCĐN Các khái niệm chi tiết được trình bày sau đây:
Kiến thức đạt về giảm nhẹ tác hại của lũ lụt: Đối tượng được nhận định có kiến thức đạt về GNTHLL là đối tượng có những kiến thức cơ bản về lũ lụt và GNTHLL như khái niệm lũ lụt, mùa lũ tại địa phương, loại lũ lụt ở địa phương, tác hại chung của lũ lụt, dấu hiệu cảnh báo lũ lụt, những biện pháp GNTHLL, địa điểm
sơ tán, tìm kiếm thông tin, đối tượng dễ bị tổn thương Bộ câu hỏi gồm 11 câu hỏi
về phần này Nếu ĐNTC trả lời đúng được 70% câu hỏi trở lên (tương đương với 8/11 câu hỏi) thì ĐTNC được cho là có kiến thức đạt về GNTHLL (chi tiết trong phụ lục 8- trang 92)
Kiến thức đạt về phòng chống đuối nước: Đối tượng được nhận định có kiến thức đạt về PCĐN là đối tượng có những kiến thức cơ bản về PCĐN như các việc nên làm, xử trí khi thấy người bị đuối nước, sơ cấp cứu nạn nhân đuối nước, địa điểm sơ cấp cứu Bộ câu hỏi có 4 câu hỏi về PCĐN trẻ em Nếu ĐTNC trả lời đúng được 70% câu hỏi trở lên (tương đương với ¾ câu hỏi) và trong đó có câu 16 thì ĐTNC được coi là có kiến thức đạt về PCĐN (chi tiết trong phụ lục 8- trang 92)
HUPH