1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008

114 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường THPT Tây Hồ - Quận Tây Hồ, năm 2008
Tác giả Nguyễn Thị Xuân Anh
Người hướng dẫn PGS.TS. Trịnh Hữu Vách, TS.Vũ Hoàng Lan
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn thạc sĩ y tế công cộng
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 114
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU (14)
    • 1.1 Một số kiến thức cơ bản (14)
      • 1.1.1 Khái niệm về vị thành niên (14)
    • 1.2 Kiến thức, thái độ và thực hành về QHTD của VTN trên Thế giới (21)
    • 1.3 Kiến thức, thái độ và thực hành về QHTD của VTN ở Việt Nam (23)
    • 1.4 Yếu tố liên quan đến KAP của VTN về tình dục và sức khỏe sinh sản (28)
    • 1.5 Truyền thông và giáo dục sức khỏe sinh sản cho Vị thành niên (30)
    • 1.6 Nội dung, phương pháp thu thập số liệu đã được sử dụng trong các nghiên cứu (31)
    • 1.7 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu (31)
  • Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (33)
    • 2.3 Thiết kế nghiên cứu (33)
    • 2.4 Mẫu và phương pháp chọn mẫu (33)
    • 2.5 Phương pháp thu thập số liệu (34)
    • 2.6 Phân tích số liệu (35)
    • 2.7 Các biến số được sử dụng trong nghiên cứu (0)
    • 2.8 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu (0)
    • 2.9 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu (43)
    • 2.10 Hạn chế của đề tài và cách khắc phục (43)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (45)
    • 3.1 Thông tin chung (45)
    • 3.2 Kiến thức của học sinh về quan hệ tình dục (46)
    • 3.3 Thái độ của học sinh đối với vấn đề quan hệ tình dục (52)
    • 3.4 Thực hành trong quan hệ tình dục (55)
    • 3.5 Tiếp cận và chia sẻ nguồn thông tin về sức khỏe sinh sản (58)
    • 3.6 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về QHTD (64)
  • Chương 4 BÀN LUẬN (71)
    • 4.1 Đặc điểm chung của đối tượng (71)
    • 4.2 Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục (72)
    • 4.3 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về quan hệ tình dục (81)
    • 4.4 Một vài bàn luận về phương pháp nghiên cứu (82)
  • KẾT LUẬN (85)
    • 5.1 Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục (85)
    • 5.2 Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục (86)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (89)

Nội dung

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ tháng 4/2008 đến tháng 9/2008

- Địa điểm: THPT Tây Hồ: cụm 5 - tổ 31 – Phú Thượng – Tây Hồ

Thiết kế nghiên cứu

- Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, định lượng kết hợp định tính.

Mẫu và phương pháp chọn mẫu

Cỡ mẫu: Nghiên cứu sử dụng công thức tính cỡ mẫu cho xác định một tỉ lệ n= z 2 ( 1   / 2 ) p(1-p)/d 2

Trong đó: n là cỡ mẫu tối thiểu cần thiết z (1-/2) = 1,96 (độ tin cậy 95%) p = 0,5 d=0,08 (sai số cho phép 8%) n = 151

Chọn hệ số thiết kế là 2 và tỉ lệ bỏ cuộc là 10%

Số mẫu cần thu thập là: (151 x 2) x 110% = 332 học sinh

 Sử dụng phương pháp chọn mẫu cụm

Trong nghiên cứu, chúng tôi đã bốc thăm ngẫu nhiên 3 lớp 10, 3 lớp 11 và 2 lớp 12, với tổng số 342 học sinh được chọn tham gia Tuy nhiên, do sử dụng bộ phiếu tự điền, một số phiếu đã bị loại bỏ vì thiếu thông tin hoặc thông tin không đáng tin cậy Cuối cùng, chỉ còn 307 phiếu hợp lệ được chấp nhận và đưa vào phân tích số liệu.

Học sinh đã tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm với 12 học sinh lớp 11, bao gồm 6 nam và 6 nữ Các học sinh được chọn từ cùng một lớp và tham gia hoàn toàn tự nguyện.

- Giáo viên: PVS 1 thầy Hiệu trưởng

- Cha/mẹ: mỗi khối học chọn được 3 phụ huynh học sinh để phỏng vấn sâu và tổng số là 9 cuộc phỏng vấn với cha/mẹ học sinh.

Phương pháp thu thập số liệu

Thông tin được thu thập thông qua phiếu tự điền, khuyết danh, với bộ câu hỏi được biên soạn dựa trên các nghiên cứu trước đây như Điều tra quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam, Nghiên cứu dọc về sức khỏe vị thành niên và thanh niên tại huyện Chí Linh – Hải Dương của Lê Cự Linh và cộng sự, cùng với Nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên do Khuất Thu Hồng thực hiện.

 Lớp học được chọn bằng cách bốc thăm ngẫu nhiên

Ban Giám hiệu nhà trường đã sắp xếp thời gian thu thập dữ liệu một cách hợp lý, phù hợp với lịch học của học sinh Số liệu được thu thập sau mỗi buổi học, với mỗi khối lớp thực hiện vào một buổi riêng biệt.

Trước khi tiến hành phỏng vấn bằng bộ phiếu đã được thiết kế sẵn, điều tra viên sẽ giới thiệu với học sinh về mục đích của nghiên cứu và chia sẻ những vấn đề mà các em quan tâm liên quan đến sức khỏe sinh sản vị thành niên Đồng thời, điều tra viên cũng sẽ giải thích nội dung của phiếu tự điền và làm rõ một số thuật ngữ mà học sinh có thể chưa hiểu, như điều kiện kinh tế và học lực.

 Học sinh điền các thông tin vào phiếu dưới sự hướng dẫn của điều tra viên

 Sau khi điền xong, học sinh bỏ phiếu vào hòm phiếu đặt ở lối ra vào của lớp học để đảm bảo thông tin hoàn toàn được giữ bí mật

Điều tra viên bao gồm một số học viên cao học từ Đại học Y tế công cộng và một số cán bộ thuộc Trung tâm Nghiên cứu Dân số và Sức khỏe Nông thôn của Đại học Y Thái Bình.

 Nội dung phỏng vấn/thảo luận dựa theo khung hướng dẫn phỏng vấn/thảo luận được thiết kế sẵn

 Thời gian cho mỗi cuộc phỏng vấn sâu là khoảng 45 phút và mỗi cuộc thảo luận nhóm là 60 phút

Tất cả các cuộc phỏng vấn và thảo luận được tổ chức trong một phòng học do Ban giám hiệu sắp xếp, nhằm đảm bảo tính riêng tư và không bị làm phiền trong quá trình phỏng vấn hoặc thảo luận.

 Nội dung cuộc phỏng vấn/thảo luận được ghi âm lại và tóm tắt bằng văn bản phỏng vấn/thảo luận

 Phỏng vấn viên do nhóm học viên CH10 thực hiện.

Phân tích số liệu

Dữ liệu được làm sạch trước và sau khi nhập vào máy tính bằng phần mềm Epi DATA Để đảm bảo độ chính xác, số liệu được nhập hai lần bởi hai người khác nhau nhằm giảm thiểu sai sót trong quá trình nhập liệu.

Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS Kết quả được chia thành 2 phần:

- Phần mô tả: thể hiện tần số của các biến trong nghiên cứu

Phân tích mối liên hệ giữa kiến thức, thái độ và thực hành về quan hệ tình dục với các yếu tố khác được thực hiện thông qua kiểm định χ2 Dựa trên kết quả phân tích đơn biến, các biến có mối liên quan sẽ được đưa vào mô hình hồi quy logistic nhằm kiểm soát các yếu tố nhiễu.

Bản ghi âm được gỡ và ghi chép lại bằng bản Word một cách trung thực

Nghiên cứu viên tiến hành đọc và tóm tắt thông tin, sau đó áp dụng hai phương pháp mã hóa: mã tự do và mã hệ thống Đầu tiên, thông tin được mã hóa theo các vấn đề đã phân tích trong cây vấn đề, tiếp theo là bổ sung mã với những khái niệm mới phát hiện từ phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.

Thông tin mã hóa được trình bày trong ma trận tóm tắt, trong đó các cột đại diện cho những vấn đề quan trọng trong nghiên cứu, còn các hàng là các cuộc phỏng vấn.

2.7 Các biến số đƣợc sử dụng trong nghiên cứu

Mục tiêu 1: Mô tả Kiến thức, thái độ, thực hành về QHTD của học sinh trường THPT Tây Hồ, quận Tây Hồ, năm 2008

TT Tên biến Định nghĩa

Kiến thức về quan hệ tình dục

1 Nghe nói đến tình dục an toàn HS đã từng nghe nói/xem hoặc đọc được ở đâu đó về vấn đề TDAT

2 Hiểu về tình dục an toàn HS đưa ra khái niệm về TDAT

3 Nghe nói đến các BLTQĐTD HS đã từng nghe nói/xem hoặc đọc ở đâu đó về các BLTQĐTD

4 Hiểu về BLTQĐTD Bệnh lây truyền từ người này sang người khác chủ yếu thông qua quan hệ tình dục không được bảo vệ an toàn

5 Biết tên các BLTQĐTD HS kể tên được các BLTQĐTD

HS cho biết những cách phòng tránh các BLTQĐTD

7 Nghe nói đến các BPTT HS đã từng nghe nói đến các BPTT

8 Biết về cách sử dụng các

HS cho rằng mình biết cách sử dụng cho từng BPTT

TT Tên biến Định nghĩa

9 Biết về thời điểm có thai trong chu kỳ kinh nguyệt

HS cho biết thời điểm có thể có thai trong 1 chu kỳ kinh nguyệt

10 Biết về hậu quả của phá thai HS cho biết những hậu quả có thể xảy ra khi phá thai

11 Mức độ kiến thức về các vấn đề sức khỏe sinh sản

HS tự đánh giá mức độ kiến thức của mình về các vấn đề SKSS theo 3 mức độ: đầy đủ, chưa đủ và không biết gì

Thái độ đối với quan hệ tình dục

12 Quan điểm về QHTD ở tuổi học trò

HS đưa ra 1 trong 5 mức độ từ rất đồng ý đến rất không đồng ý về QHTD ở tuổi học trò

13 Quan điểm về các BLTQĐTD HS đưa ra 1 trong 5 mức độ từ rất đồng ý đến rất không đồng ý về các BLTQĐTD

14 Quan điểm về có thai và phá thai ở tuổi học trò

HS đưa ra 1 trong 5 mức độ từ rất đồng ý đến rất không đồng ý về vấn đề có thai và phá thai ở tuổi học trò

Thực hành về quan hệ tình dục

15 Quan hệ tình dục HS trả lời đã từng có hoặc chưa từng có quan hệ tình dục với bạn khác giới

16 Tuổi QHTD lần đầu Tuổi dương lịch khi HS bắt đầu có QHTD

17 Lý do có QHTD lần đầu HS đưa ra những lý do có thể dẫn tới việc

18 Mối quan hệ với người tình đầu

Quan hệ giữa HS và người tình của HS

19 Tuổi người tình đầu tiên HS cho biết tuổi của người tình mà HS có

20 Sử dụng BPTT HS trả lời có hoặc không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên

21 BPTT sử dụng trong quan lần

Loại BPTT mà HS hoặc bạn tình của HS sử dụng trong lần QHTD đầu tiên của HS

22 Lý do không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên

HS đưa ra những lý do dẫn đến việc HS hoặc bạn tình không sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên của HS

23 Quan hệ tình dục lần sau HS trả lời có hoặc không tiếp tục QHTD sau lần quan hệ đầu tiên

24 Sử dụng BPTT trong lần

HS hoặc bạn tình có hoặc không sử dụng BPTT trong lần quan hệ gần nhất so với thời điểm trả lời phỏng vấn

25 Triệu chứng khi mắc các Những triệu chứng đã từng xảy ra với HS từ

TT Tên biến Định nghĩa

BLTQĐTD trước tới thời điểm điều tra

26 Cách xử lý khi mắc các triệu chứng của BLTQĐTD

Giải pháp mà HS đã lựa chọn khi mắc phải các triệu chứng của BLTQĐTD

27 Có thai HS hoặc bạn tình của HS (đối với HS nam) đã từng có thai

28 Cách xử lý khi có thai Giải pháp mà HS hoặc bạn tình của HS lựa chọn khi có thai

Mục tiêu 2 của nghiên cứu là xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về quan hệ tình dục của học sinh tại trường THPT Tây Hồ, quận Tây Hồ, trong năm 2008.

TT Tên biến Định nghĩa

29 Tuổi Tuổi dương lịch (hiệu số của 2008 trừ đi năm sinh )

30 Giới tính Giới tính của học sinh

31 Học lực Điểm trung bình năm học 2007-2008

32 Sống cùng cha/mẹ Người sống cùng với HS

33 Điều kiện kinh tế gia đình

Tổng thu nhập/tổng số người trong gia đình

34 Kiến thức về QHTD Kiến thức của học sinh về TDAT như: hiểu về

TDAT, BLTQĐTD, BPTT, có thai và phá thai

35 Thái độ về QHTD Thái độ của học sinh về các vấn đề QHTD ở tuổi học trò, BLTQĐTD, có thai và phá thai ở tuổi học trò

36 Bố/mẹ chủ động nói về vấn đề QHTD và

HS cho biết bố/mẹ em đã từng hoặc chưa từng chủ động nói với em về các vấn đề QHTD và SKSS

37 Sử dụng internet HS đã từng hoặc chưa từng sử dụng internet

38 Xem phim hoặc hình ảnh kích dục

HS trả lời đã từng xem phim hoặc hình ảnh kích dục trên internet

39 Nơi sử dụng internet Nơi mà HS truy cập internet

40 Kiến thức về QHTD Kiến thức của học sinh về TDAT như: hiểu về

TDAT, BLTQĐTD, BPTT, có thai và phá thai

41 Thái độ về QHTD Thái độ của học sinh về các vấn đề QHTD ở tuổi

TT Tên biến Định nghĩa học trò, BLTQĐTD, có thai và phá thai ở tuổi học trò

42 Quan hệ tình dục HS trả lời đã từng có hoặc chưa từng có quan hệ tình dục với bạn khác giới

2.8 Các khái niệm và tiêu chuẩn đánh giá đƣợc sử dụng trong nghiên cứu

- Vị thành niên(VTN) là những người trong độ tuổi từ 10-19 tuổi Như vậy những người trong độ tuổi này ở trong tuổi thiếu nhi và trước tuổi trưởng thành[9],[14]

Sức khỏe sinh sản (SKSS) được định nghĩa là trạng thái khỏe mạnh toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, liên quan đến hệ thống sinh sản và các chức năng, quá trình sinh sản, không chỉ đơn thuần là việc không có bệnh tật hay tổn thương trong hệ thống sinh sản.

Tình dục không chỉ đơn thuần là giao hợp giữa nam và nữ mà còn bao gồm nhiều hành vi khác như vuốt ve, âu yếm và hôn, nhằm mang lại khoái cảm Hành vi này có thể diễn ra giữa các cặp đôi khác giới hoặc cùng giới, với một người hoặc nhiều người, và có thể bao gồm cả thủ dâm hoặc sử dụng dụng cụ chuyên dụng Tình dục cũng liên quan đến việc mơ tưởng đến những trải nghiệm tình dục, tạo ra sự thỏa mãn và kết nối giữa các cá nhân.

- Quan hệ tình dục: trong nghiên cứu này được hiểu là sự giao hợp

Tình dục an toàn là hình thức quan hệ giữa nam và nữ mà không gây ra việc thụ thai và ngăn ngừa lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục như lậu, giang mai, herpes, và HIV/AIDS.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) là những bệnh lý có khả năng lây lan từ người này sang người khác chủ yếu thông qua quan hệ tình dục không an toàn.

- Biện pháp tránh thai: là các biện pháp can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thu thai ở người phụ nữ[6],[9]

2.8.2 Tiêu chuẩn đánh giá a Tiêu chuẩn đánh giá về kiến thức

Tình dục an toàn là quan hệ tình dục giữa nam và nữ, đảm bảo không lây nhiễm các bệnh qua đường tình dục và tránh thai ngoài ý muốn.

Bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) là bệnh lây từ người này sang người khác chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn Việc hiểu đúng về BLTQĐTD là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng.

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) mà học sinh cần biết bao gồm: Lậu, Viêm niệu đạo, Viêm cổ tử cung do Chlamydia, Trùng roi, Nấm Candida, Giang mai, Hạ cam, Mụn rộp (herpes), Viêm gan B và HIV/AIDS.

Để phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD), học sinh cần biết sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục hoặc lựa chọn không quan hệ tình dục.

- Thời điểm có thể có thai trong chu kỳ kinh nguyệt: 7 ngày giữa chu kỳ kinh nguyệt (lựa chọn 4 – câu B10)

- Hậu quả của việc NHT: đó là dính khoang tử, vô sinh, xảy thai/đẻ non (lựa chọn 1,2,4 – câu B9)

Nghiên cứu này tập trung vào việc tìm hiểu kiến thức của học sinh về QHTD, bao gồm các vấn đề quan trọng như hiểu đúng về TDAT và BLTQĐTD.

BPTT, có thai và phá thai là những khái niệm quan trọng trong kiến thức về quan hệ tình dục (QHTD) Để đánh giá kiến thức này, hiệu số điểm được tính bằng tổng số lựa chọn đúng trừ đi số lựa chọn sai từ câu B1 đến B9 Các lựa chọn đúng bao gồm: câu B1 - lựa chọn 1; câu B2 - lựa chọn 4; câu B3 - lựa chọn 1; câu B4 - lựa chọn 3; câu B5 - lựa chọn 1, 2, 3, 5, 6, 8, 10, 11, 12; câu B6 - lựa chọn 1, 2; câu B7 - lựa chọn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10; câu B8 - lựa chọn 4; và câu B9 - lựa chọn 1, 2, 4 Mỗi lựa chọn, dù đúng hay sai, đều được tính 1 điểm, và hiệu số điểm càng cao cho thấy kiến thức về QHTD càng tốt.

Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

Học sinh tham gia nghiên cứu đã được thông báo rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu trước khi tự điền vào phiếu điều tra Họ có quyền từ chối tham gia bất kỳ lúc nào trong quá trình thu thập dữ liệu mà không cần phải đưa ra lý do.

Dữ liệu được thu thập một cách khuyết danh nhằm bảo vệ bí mật thông tin nhạy cảm của học sinh Tất cả thông tin và số liệu thu thập chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không được sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức của Trường Đại học Y tế Công cộng phê duyệt trước khi triển khai thực hiện.

Nội dung nghiên cứu đã nhận được sự ủng hộ từ Phòng y tế quận Tây Hồ, Trung tâm y tế dự phòng quận Tây Hồ và Hiệu trưởng trường THPT Tây Hồ.

Kết quả nghiên cứu sẽ được công bố sau khi hoàn tất, và có thể làm nền tảng cho các hoạt động giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản trong các trường THPT tại quận Tây Hồ cũng như một số quận khác trong thành phố.

Hà Nội có các điều kiện tương tự.

Hạn chế của đề tài và cách khắc phục

Để giảm thiểu sự e ngại của học sinh trong việc trả lời câu hỏi nhạy cảm, nghiên cứu định lượng đã áp dụng bộ phiếu tự điền Tuy nhiên, việc sử dụng phiếu tự điền cũng có thể khiến học sinh gặp khó khăn với những câu hỏi có cụm từ khó hiểu hoặc chưa quen thuộc.

Để giải quyết vấn đề trong quá trình điền phiếu, các điều tra viên đã hỗ trợ học sinh khi có thắc mắc Bộ phiếu được thiết kế dễ hiểu và rõ ràng, với những điểm quan trọng được tô đậm Nghiên cứu sử dụng bộ phiếu tự điền, giúp liệt kê đầy đủ thông tin về kiến thức, đồng thời xen kẽ các lựa chọn sai để tránh việc học sinh đánh dấu toàn bộ.

Trong quá trình thu thập số liệu, học sinh được phân chia thành hai lớp học riêng biệt theo giới tính: nam và nữ Mỗi học sinh có một bàn riêng để đảm bảo rằng thông tin trên phiếu bầu không bị nhìn thấy bởi người ngồi cạnh Sau khi hoàn thành việc điền phiếu, học sinh tự tay bỏ phiếu vào hòm phiếu, giúp họ cảm thấy yên tâm hơn vì thông tin cá nhân được bảo mật tuyệt đối.

Vấn đề nghiên cứu tại trường THPT Tây Hồ gặp khó khăn do một số thành viên trong Ban Giám hiệu chưa đồng tình với việc triển khai Trường mới thành lập nên rất nhạy cảm với dư luận, điều này có thể dẫn đến việc đối tượng tham gia cung cấp thông tin không chính xác.

Nghiên cứu được thực hiện trên học sinh THPT, đối tượng có nhận thức tốt về sức khỏe sinh sản (SKSS) Sống trong môi trường đô thị, họ có quan điểm thoáng hơn về quan hệ tình dục (QHTD) và tiếp cận nhiều hơn với các vấn đề nhạy cảm, do đó có thể giảm bớt sự e ngại khi thảo luận về những chủ đề này.

Do hạn chế về thời gian và nguồn lực, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại một trường THPT, không thể mở rộng ra cả ba trường hoặc cấp học THCS.

Hồ là quận trung tâm Hà Nội, nơi có sự giao thoa giữa các vùng lân cận, dẫn đến việc học sinh tại trường đến từ nhiều quận/huyện khác nhau Do đó, việc khái quát cho trẻ VTN trên toàn quận là khó khăn Để đảm bảo tính chính xác trong quá trình nhập số liệu, dữ liệu đã được nhập hai lần.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung

Bảng 3 1 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

4 Kinh tế hộ gia đình

Nghiên cứu được thực hiện trong cùng một cấp học, do đó độ tuổi của đối tượng không có sự biến động lớn Trong tổng số 307 học sinh, nhóm học sinh 17 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 123 em (40,1%), tiếp theo là học sinh 16 tuổi với 101 em (32,9%) và cuối cùng là học sinh 18 tuổi với 83 em (27,0%) Tỷ lệ này cũng tương tự khi phân tích theo các khối lớp (phụ lục 1.1).

Theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, học sinh có điểm tổng kết từ 6,5 trở lên được xếp loại học lực khá hoặc giỏi, trong khi điểm tổng kết dưới 6,5 được coi là học lực trung bình hoặc yếu Dựa trên quy định này, có 145 học sinh có học lực từ trung bình trở xuống, chiếm 47,2% tổng số học sinh, trong đó tỷ lệ nam là 45,4% và nữ là 49,0%.

162 học sinh có học lực khá trở lên, chiếm tỉ lệ 52,8% (nam 54,6%; nữ 51,0%)

Học sinh sống cùng cha mẹ chiếm 90,9%, không có sự khác biệt lớn giữa học sinh nam và nữ Trong số học sinh không sống cùng cha mẹ, có 10 em sống với cha, 12 em với mẹ, và 6 em với người khác như ông bà hoặc bố mẹ nuôi Nguyên nhân chính khiến các em không sống cùng cha mẹ là do cha mất, cha mẹ li dị, bố mẹ đi làm xa, và mẹ mất Đánh giá điều kiện kinh tế hộ gia đình dựa trên thu nhập bình quân người/tháng, với mức thu nhập dưới 390.000 đồng/người/tháng được coi là nghèo Theo tiêu chuẩn này, có 11 học sinh có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, chiếm 3,6% tổng số học sinh (nam 3,9%, nữ 3,2%).

Kiến thức của học sinh về quan hệ tình dục

Kiến thức của học sinh về các vấn đề liên quan đến quan hệ tình dục (QHTD) bao gồm các khái niệm như tình dục an toàn (TDAT), biện pháp luật pháp về tình dục (BLTQĐTD), biện pháp phòng tránh thai (BPTT), có thai và nạo hút thai (NHT) Mỗi phần kiến thức có các câu hỏi liên quan, như khái niệm về TDAT và BLTQĐTD, danh sách các BLTQĐTD và BPTT, cách phòng tránh các BLTQĐTD, cách phòng tránh thai, và hậu quả của NHT Mỗi lựa chọn trả lời được tính 1 điểm, bao gồm cả lựa chọn đúng và sai Kiến thức được đánh giá bằng tổng số lựa chọn đúng trừ tổng số lựa chọn sai từ câu B1 đến B9, với tổng điểm cao nhất là 42 và thấp nhất là 0.

Biểu đồ 3 1 Phân bố tổng điểm kiến thức

Biểu đồ 3.1 cho thấy điểm kiến thức trung bình đạt 14,7, với nam đạt 14,8 và nữ đạt 14,3 Học sinh có điểm cao nhất chỉ đạt 29 điểm, tương đương gần 2/3 tổng điểm tối đa Chỉ có 2 học sinh (0,7%) đạt 29 điểm, trong khi 6 học sinh (2,0%) có tổng điểm kiến thức bằng 0 và 17,9% học sinh có tổng điểm nhỏ hơn hoặc bằng 10 điểm.

Trong một nghiên cứu về điểm kiến thức của học sinh, chúng ta chia tổng số học sinh thành hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm những học sinh có điểm kiến thức cao, được gọi là nhóm có kiến thức tốt, và nhóm thứ hai là những học sinh còn lại với kiến thức chưa tốt Kết quả cho thấy, nhóm có kiến thức tốt đạt điểm từ 18 trở lên, trong khi nhóm còn lại có điểm dưới 18.

3.2.1 Kiến thức về tình dục an toàn

Bảng 3 2: Kiến thức của học sinh về tình dục an toàn

Khi được hỏi về kiến thức về tình dục an toàn, 91,9% trong số 307 học sinh cho biết họ đã từng nghe nói đến khái niệm này Chỉ 8,1% học sinh chưa từng nghe về tình dục an toàn, chủ yếu là học sinh nữ (5,2%) Đáng chú ý, gần 4/5 số học sinh (73,3%) đã hiểu đúng về tình dục an toàn, trong khi 18,6% còn lại có sự hiểu biết sai lệch về vấn đề này.

3.2.2 Kiến thức về các BLTQĐTD

Bảng 3 3: Kiến thức của học sinh về các BLTQĐTD

Có tới 92,8% học sinh đã từng được nghe nói đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục (nam 91,4%; nữ 94,2%)

Khi được khảo sát về hiểu biết về bệnh lây truyền qua đường tình dục, 62,8% học sinh đã có câu trả lời chính xác, với tỷ lệ này tương đương giữa nam (64,5%) và nữ (64,3%) Tuy nhiên, vẫn có 30,0% học sinh hiểu sai về vấn đề này.

Biết tên 1 BLTQĐTD trở lên Biết 1 cách phòng BLTQĐTD trở lên

Biểu đồ 3 2: Biết tên các BLTQĐTD và cách phòng tránh

Có 279 học sinh, chiếm 90,9%, biết ít nhất một tên bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) Trong số đó, học sinh nữ (142 HS) biết nhiều hơn học sinh nam (137 HS) Trung bình, học sinh chỉ biết từ 2 đến 3 bệnh, và rất ít học sinh biết tên của 8 bệnh Bệnh lây truyền qua đường tình dục được nhắc đến nhiều nhất trong số các học sinh.

HIV/AIDS (88,3%), tiếp đến là bệnh Giang mai (76,9%), bệnh Lậu được nhắc nhiều thứ 3 (57,3%) (phụ lục 1.5)

Tỉ lệ học sinh biết cách phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD) thấp hơn so với tỉ lệ biết tên các bệnh này Cụ thể, 86,3% học sinh được khảo sát biết ít nhất một phương pháp phòng tránh, với số lượng học sinh nam và nữ gần như tương đương (nam 133 HS; nữ 132 HS) Phương pháp phổ biến nhất được nhắc đến là sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, chiếm 83,1% Đáng chú ý, có tới 90 học sinh (29,3%) cho rằng viên uống tránh thai có thể giúp phòng tránh các BLTQĐTD.

3.2.3 Kiến thức về biện pháp tránh thai

Biết ít nhất tên 1 BPTT Biết ít nhất 1 cách sử dụng BPTT

Biểu đồ 3 3: Kiến thức của học sinh về các biện pháp tránh thai

Trong số 307 học sinh tham gia khảo sát, 90,3% cho biết họ biết ít nhất một biện pháp tránh thai, với trung bình từ 5 đến 6 biện pháp được nhắc đến Đặc biệt, có 14% học sinh (43 em) biết đến 10 biện pháp tránh thai Biện pháp được biết đến nhiều nhất là bao cao su (83,1%), tiếp theo là thuốc viên tránh thai (82,4%), đặt vòng tránh thai (81,1%) và viên tránh thai khẩn cấp (60,3%) Ngược lại, thuốc diệt tinh trùng là biện pháp ít được biết đến nhất, chỉ có 25,1% học sinh nhận thức về nó.

Mặc dù tỉ lệ học sinh nhận thức về các biện pháp tránh thai cao, nhưng tỉ lệ học sinh hiểu cách sử dụng chúng lại rất thấp Chỉ có 100 học sinh biết cách sử dụng các biện pháp này.

HUPH cho thấy 32,6% học sinh sử dụng ít nhất 1 biện pháp tránh thai (BPTT), trong đó tỷ lệ nam giới biết cách sử dụng cao gần gấp đôi so với nữ giới (nam: 42,1%; nữ: 23,3%) Biện pháp được nhiều học sinh biết đến nhất là bao cao su với 24,4%, tiếp theo là thuốc viên tránh thai và viên tránh thai khẩn cấp.

3.2.4 Kiến thức về có thai và phá thai

Bảng 3 4: Kiến thức của học sinh về thời điểm có thể có thai

Hiểu biết về thời điểm có thể có thai trong chu kỳ kinh nguyệt

Chỉ có 14,0% học sinh biết thời điểm có thể có thai trong chu kỳ kinh nguyệt, trong khi 20,2% trả lời sai và 65,8% không biết Đặc biệt, tỷ lệ học sinh nữ biết đúng thời điểm dễ thụ thai cao gấp gần 4 lần so với học sinh nam, với 21,9% nữ và 5,9% nam.

Vô sinh Sảy thai/đẻ non Dính khoang tử cung

Biểu đồ 3 4: Học sinh biết về hậu quả của phá thai

Mặc dù nhiều học sinh vẫn chưa nắm rõ thời điểm có thể mang thai, nhưng tỷ lệ học sinh nhận thức về các hậu quả của việc phá thai lại rất cao Trong số 307 học sinh tham gia khảo sát, có đến 79,5% biết ít nhất một hậu quả liên quan đến phá thai Trong số các hậu quả được đề cập, vô sinh là vấn đề được nhiều học sinh biết đến nhất (75,6%), tiếp theo là nguy cơ xảy thai hoặc đẻ non (38,8%).

Bảng 3 5: Học sinh tự đánh giá mức độ hiểu biết về các vấn đề SKSS

STT Vấn đề Đầy đủ Chưa đủ Không biết gì n % n % n %

2 Bộ máy sinh dục nữ 101 32,9 124 40,4 82 26,7

3 Các biện pháp phòng tránh thai 114 37,1 144 46,9 49 16,0

4 Bộ máy sinh dục nam 117 38,1 92 30,0 98 31,9

5 Các bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS

6 Cách phòng tránh các BLTQĐTD và HIV/AIDS

7 Vệ sinh cơ quan sinh dục 187 60,9 74 24,1 46 15,0

Có 7 vấn đề sức khỏe được nêu ra để yêu cầu học sinh tự đánh giá mức độ kiến thức của mình về những vấn đề đó Vấn đề nào học sinh tự cho rằng đã đầy đủ rồi, vấn đề nào vẫn còn chưa đầy đủ cần phải bổ sung thêm và vấn đề sức khỏe nào mà học sinh cho rằng không biết gì về nó Trong số những vấn đề mà học sinh tự cho rằng thiếu và không biết gì, cơ chế thụ thai là vấn đề mà nhiều học sinh lựa chọn nhiều nhất (79,8%) và vấn đề vệ sinh cơ quan sinh dục là ít nhất (39,1%) Những vấn đề cũn lại cũng đến hơn ẵ số học sinh cho rằng mỡnh cũn thiếu hiểu biết Sự thiếu hụt kiến thức về các vấn đề SKSS là như nhau ở 2 giới, ngoại trừ 2 vấn đề về bộ phận sinh dục nam và nữ Học sinh nam thì thiếu hiểu biết về bộ máy sinh dục nữ và ngược lại

Thái độ của học sinh đối với vấn đề quan hệ tình dục

Thái độ của học sinh về quan hệ tình dục (QHTD) ở tuổi học trò, các bệnh lây truyền qua đường tình dục, có thai và phá thai được đánh giá thông qua tổng số điểm của 12 quan điểm thuộc 3 nhóm chính: QHTD ở tuổi học trò, bệnh lây truyền qua đường tình dục, và việc có thai và phá thai Mỗi quan điểm có thang điểm từ 1 đến 5, với tổng điểm cao nhất có thể đạt được là 60 và thấp nhất là 12.

Biểu đồ 3 5: Phân bố tổng điểm thái độ

Kết quả nghiên cứu cho thấy điểm thái độ trung bình của học sinh là 44,5 điểm, với học sinh nam đạt 43,7 điểm và học sinh nữ đạt 45,1 điểm Điểm thái độ cao nhất ghi nhận là 55 điểm, chỉ có một học sinh đạt được, trong khi điểm thấp nhất là 29 điểm, chủ yếu thuộc về nhóm học sinh nam.

Trong một nghiên cứu về thái độ học sinh, tổng số học sinh được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm những học sinh có điểm thái độ cao nhất, được gọi là nhóm có thái độ tích cực, và nhóm thứ hai là những học sinh còn lại với thái độ chưa tích cực Kết quả cho thấy, điểm thái độ của nhóm tích cực đạt từ 47 điểm trở lên, trong khi nhóm chưa tích cực có điểm thái độ dưới 47 điểm.

Người con gái nên giữ gìn trinh tiết cho đến khi kết hôn

QHTD ở tuổi học trò có thể ảnh hưởng đến học tập

Có thể QHTD ở lứa tuổi học trò khi cả 2 cùng đồng ý

QHTD là cách chứng tỏ tình yêu Không đồng ý Trung lập Đồng ý

Biểu đồ 3 6: Thái độ về QHTD ở tuổi học trò

Trong 2 quan điểm dương tính, phần lớn học sinh có thái độ đồng tình Có tới 72,3% học sinh đồng ý và rất đồng ý với quan điểm người con gái nên giữ gìn trinh tiết cho đến khi kết hôn và 53,4% học sinh đồng ý và rất đồng ý với quan điểm QHTD ở tuổi học trò có thể ảnh hưởng đến kết quả học tập Tuy nhiên tỉ lệ học sinh không đồng tình với quan điểm này cũng khá cao (27,1%) Đối với 2 quan điểm âm tính, có sự khác biệt giữa 2 quan điểm Có tới 69,1% học sinh không đồng ý và rất không đồng ý với quan điểm QHTD là cách chứng tỏ tình yêu Nhưng học sinh có ý kiến không đồng ý với quan điểm có thể QHTD ở lứa tuổi học trò khi cả 2 cùng đồng ý với tỉ lệ tương đối thấp (18,9%)

Kết quả thảo luận nhóm cho thấy các em gái có xu hướng bảo thủ hơn các em trai Hầu hết học sinh nữ đều cho rằng quan hệ tình dục ở tuổi học trò không nên diễn ra vì ảnh hưởng đến việc học tập và sức khỏe Ngoài ra, các em cũng cho rằng việc có quan hệ tình dục trước hôn nhân sẽ khiến các bạn gái gặp khó khăn trong việc tìm chồng sau này.

Mọi người đều có nguy cơ mắc các BLTQĐTD

BLTQĐTD có thể phòng tránh được

BLTQĐTD là bệnh thông thường, dễ chữa trị.

Nên tránh xa những người mắc các BLTQĐTD Không đồng ý Trung lập Đồng ý

Biểu đồ 3 7: Thái độ đối với BLTQĐTD

Trong bốn quan điểm về vấn đề các bệnh lây truyền qua đường tình dục (BLTQĐTD), phần lớn học sinh đồng tình với các quan điểm tích cực và phản đối các quan điểm tiêu cực Tuy nhiên, tỷ lệ học sinh giữ ý kiến trung lập vẫn cao, với 29,0% (tương đương 89 học sinh) không chắc chắn về việc có nên tránh xa hay không những người mắc các BLTQĐTD.

Phá thai ảnh hưởng nhiều đến thể chất và tinh thần

Rất xấu hổ với bạn bè nếu có thai và phá thai

Phá thai rất dễ thực hiện

Phá thai là việc bình thường nếu nhỡ có thai ngoài ý muốn Không đồng ý Trung lập Đồng ý

Biểu đồ 3 8: Thái độ đối với việc có thai và phá thai ở tuổi học trò

Nhóm nghiên cứu đã đánh giá thái độ của học sinh về vấn đề mang thai và phá thai ở tuổi học trò Kết quả cho thấy phần lớn học sinh ủng hộ các quan điểm tích cực và phản đối các quan điểm tiêu cực Tuy nhiên, vẫn có ba quan điểm mà nhiều học sinh giữ ý kiến trung lập.

Thực hành trong quan hệ tình dục

Bảng 3 6: Thực hành quan hệ tình dục

2 Tuổi quan hệ tình dục

Tuổi QHTD trung bình: 16,8 tuổi

4 Mối quan hệ với bạn tình

Người bán dâm/mua dâm 1 5,9

Trong nghiên cứu với 307 học sinh, chỉ có 17 học sinh (5,5%) đã từng có quan hệ tình dục, trong đó tỷ lệ nam là 7,2% và nữ là 3,9% Tuổi trung bình khi bắt đầu quan hệ tình dục là 16,8 tuổi, với một học sinh đã có quan hệ khi mới 14 tuổi Đặc biệt, hầu hết học sinh có quan hệ tình dục lần đầu với người yêu (88,2%) và có độ tuổi tương đương Chỉ có một học sinh có quan hệ tình dục với người bán dâm.

Theo thầy Hiệu trưởng trường THPT Tây Hồ, tình trạng yêu đương và quan hệ tình dục (QHTD) giữa học sinh đang diễn ra, đặc biệt là ở lớp cuối cấp và chủ yếu là học sinh nữ Ông cho biết, năm ngoái có một trường hợp học sinh nữ phải nghỉ học do mang bầu.

Bắt chước phim/tranh ảnh, 2

Bạn bè rủ rê/lôi kéo, 5

Bị ảnh hưởng bởi chất kích thích, 1

Thích hoạt động tình dục, 2 Muốn có tiền tiêu sai, 1

Phản đối lại bố/mẹ, 1

Biểu đồ 3 9: Lý do chính của lần đầu tiên quan hệ tình dục

Khi được hỏi về lý do cho lần quan hệ tình dục đầu tiên, hai lý do chính được các em đưa ra là tình yêu và sự lôi kéo từ bạn bè, với tỷ lệ lần lượt là 29,3% và 29,4% Đặc biệt, có một học sinh cho biết đã có quan hệ tình dục để kiếm tiền tiêu sài.

Kết quả từ cuộc thảo luận nhóm nam học sinh cho thấy rằng ở lứa tuổi học trò, các em có xu hướng tìm hiểu về quan hệ tình dục do muốn khám phá cơ thể người khác giới, bị ảnh hưởng bởi phim ảnh khiêu dâm, và áp lực từ bạn bè khi cho rằng "có người yêu mà không làm gì thì quá kém".

QHTD lần đầu tiên QHTD lần sau

Biểu đồ 3 10: Sử dụng BPTT

Trong số 17 học sinh đã từng quan hệ tình dục, chỉ có 12 học sinh tiếp tục có quan hệ lần sau Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai (BPTT) ở lần quan hệ sau cao hơn so với lần đầu, với 29,4% ở lần đầu và 41,7% ở lần sau.

HUPH mà học sinh sử dụng trong lần quan hệ đầu tiên là bao cao su, xuất tinh ngoài âm đạo và viên tránh thai khẩn cấp (phụ lục 1.17)

Bảng 3 7: Lý do không sử dụng BPTT trong lần QHTD lần đầu tiên

STT Nội dung Tần số

3 Không biết cách sử dụng 2 16,7

4 Khi đó không dự định quan hệ tình dục 2 16,7

5 Bạn tình không thích sử dụng 1 8,3

Học sinh thường không sử dụng biện pháp tránh thai trong lần quan hệ tình dục đầu tiên vì nhiều lý do Trong đó, 33,3% cho biết họ không thích sử dụng, 25,0% cảm thấy xấu hổ, và 16,7% không có ý định quan hệ tình dục vào thời điểm đó.

Trong số học sinh đã từng quan hệ tình dục, có 47,1% (8 học sinh) gặp triệu chứng bất thường ở bộ phận sinh dục, chủ yếu là ngứa và ra khí hư âm đạo (4/8 học sinh) Khi xuất hiện các triệu chứng này, học sinh thường tự đến cơ sở y tế để khám và điều trị mà ít chia sẻ với người khác.

Chỉ có một trường hợp mang thai trong nghiên cứu, đó là bạn gái của một học sinh nam Cô ấy đã tự quyết định thực hiện việc phá thai mà không tham khảo ý kiến của ai.

Tiếp cận và chia sẻ nguồn thông tin về sức khỏe sinh sản

Biểu đồ 3 11: Nguồn thông tin về SKSS mà HS đã nhận được

Trong số 8 nguồn thông tin chính về giới tính và sức khỏe sinh sản mà học sinh tiếp cận, 69,7% cho rằng họ nhận được thông tin chủ yếu từ sách, tạp chí và báo Các nguồn tiếp theo bao gồm bạn bè, tivi/đài và internet, trong khi nguồn thông tin từ nhân viên y tế chỉ chiếm 28,7% Ngoài ra, một số học sinh cũng cho biết họ nhận được thông tin từ các câu lạc bộ sức khỏe sinh sản và giờ học ngoại khóa, chiếm 2%.

Bảng 3 8: Nguồn TT mong muốn được nhận

Nguồn TT mong muốn được nhận Tần số

Học sinh có nhu cầu tiếp nhận thông tin về giới tính và sức khỏe sinh sản chủ yếu từ gia đình/người thân (24,1%), tiếp theo là nhân viên y tế (18,8%) Nguồn thông tin từ sách/tạp chí/báo được mong muốn ở mức 9,4%, trong khi thông tin từ thầy cô giáo chỉ chiếm 5,2% Cuối cùng, loa truyền thanh là nguồn thông tin ít được học sinh mong muốn nhất, chỉ đạt 1,0%.

Bạn bè Mẹ Anh/chị/em Người yêu Nhân viên y tế

Biểu đồ 3 12: Người HS thường chia sẻ thông tin về vấn đề giới tính và SKSS

Khi gặp rắc rối về giới tính và sức khỏe sinh sản, học sinh thường chia sẻ với bạn bè, với 50,8% trong số 307 học sinh tham gia khảo sát chọn bạn bè là nguồn thông tin chính Chia sẻ với mẹ đứng thứ hai với 23,5%, trong khi chỉ 3,9% học sinh chọn bố Học sinh nam có xu hướng tâm sự với bố nhiều hơn, trong khi học sinh nữ lại thích chia sẻ với mẹ Tỷ lệ chia sẻ với anh/chị/em và người yêu gần như tương đương, lần lượt là 12,7% và 10,1%.

Bảng 3 9: Sự quan tâm của cha mẹ đến giáo dục tình dục và SKSS cho HS

Tần suất cha/mẹ nói chuyện với HS về vấn đề tình dục và SKSS

Nhiều học sinh cho biết cha mẹ họ chưa bao giờ chủ động thảo luận về các vấn đề giới tính và sức khỏe sinh sản, chiếm 60,6% Trong khi đó, chỉ có 31,6% học sinh cho biết cha mẹ thỉnh thoảng mới đề cập đến những chủ đề này.

Học sinh cho biết bố mẹ họ rất ít khi nói chuyện với con về các vấn đề tình dục và sức khỏe sinh sản (1,3%)

Biểu đồ 3 13: Chủ đề bố mẹ đề cập với học sinh

Chủ đề tình bạn và tình yêu là những vấn đề quan trọng mà nhiều bậc cha mẹ lựa chọn để thảo luận với con cái Trong số 121 học sinh, có 105 em cho biết bố mẹ đã chủ động nói chuyện với họ về giới tính và sức khỏe sinh sản.

HUPH đã tiến hành khảo sát về các chủ đề mà cha mẹ thường trao đổi với con cái, trong đó tình bạn và tình yêu chiếm tỷ lệ cao nhất với 86,8% Tiếp theo, 43,8% cha mẹ nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vệ sinh cơ quan sinh dục Các vấn đề liên quan đến bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS được đề cập bởi 29,8% cha mẹ Đáng chú ý, cơ chế thụ thai là chủ đề ít được cha mẹ lựa chọn để thảo luận với con cái, chỉ chiếm 5,0%.

Qua phỏng vấn sâu, hầu hết phụ huynh đều nhận thấy tầm quan trọng của giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản cho trẻ Tuy nhiên, nhiều cha mẹ cảm thấy lúng túng trong việc lựa chọn nội dung, thời điểm và cách thức truyền đạt Một số phụ huynh thừa nhận rằng họ thiếu kiến thức về giới tính và sức khỏe sinh sản, dẫn đến việc chưa bao giờ trò chuyện với con cái về những vấn đề này.

Chưa từng sử dụng internet 7 4,6 9 7,7 16 5,2 Đã sử dụng internet và xem phim/hình ảnh kích dục trên internet

91 59,9 19 12,3 110 35,8 Đã sử dụng internet nhưng chưa từng xem phim/hình ảnh kích dục trên internet

Trong một khảo sát với 307 học sinh, có đến 291 học sinh (94,8%) đã từng sử dụng internet, với tỷ lệ nam và nữ sử dụng tương đương Tuy nhiên, có 110 học sinh (35,8%) đã từng xem phim hoặc hình ảnh kích dục trên internet, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa hai giới: 59,9% nam và 12,3% nữ.

Biểu đồ 3 14: Nơi xem phim/hình ảnh kích dục trên internet

Trong 4 địa điểm mà đa số học sinh có thể sử dụng internet thì quán internet là nơi mà học sinh lựa chọn để xem các hình ảnh kích dục nhiều hơn cả (54,5%) Ngoài ra cũng có rất nhiều học sinh lại lựa chọn nhà mình là nơi để xem các hình ảnh kích dục (40,0%) Tiếp đến là học sinh xem ở nhà bạn (27,3%) Tỉ lệ học sinh xem các hình ảnh kích dục ở trường học là thấp nhất (4,5%)

Bảng 3 11: Mức độ cần thiết cải thiện nội dung của chương trình GDGT và SKSS tại trường học

Giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản

Cần cải thiện Tần số

Cách phòng tránh các BLTQĐTD và HIV/AIDS 247 80,5

Các BLTQĐTD và HIV/AIDS 245 79,8

Các biện pháp phòng tránh thai 214 69,7

Vệ sinh cơ quan sinh dục 180 58,6

Bộ máy sinh dục nam và nữ 176 57,3

Trong số 7 vấn đề về giới tính và sức khỏe sinh sản cần được giáo dục trong trường học, đa số học sinh nhận thấy cần cải thiện nội dung giáo dục Đặc biệt, vấn đề phòng tránh các bệnh lây truyền qua đường tình dục, bao gồm HIV/AIDS, được 80,5% học sinh cho rằng cần được chú trọng cải thiện nhiều hơn.

Nói chuyện chuyên đề/sinh hoạt câu lạc bộ

Lồng ghép vào bài học các môn sinh vật, giáo dục công dân

Phát tờ rơi/treo áp phích

Biểu đồ 3 15: Nhận định của HS về sự cần thiết cải thiện hình thức trong giáo dục

GT và SKSS tại trường học

Hiện nay, tại các trường THPT, giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản chủ yếu được thực hiện thông qua việc lồng ghép vào các môn sinh vật và giáo dục công dân, tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề hoặc sinh hoạt câu lạc bộ, và phát tờ rơi hoặc treo áp phích Trong ba hình thức này, học sinh cho rằng cần cải thiện nhiều nhất là hình thức nói chuyện chuyên đề/sinh hoạt câu lạc bộ, với tỷ lệ 31,9%.

Yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và thực hành về QHTD

3.6.1 Yếu tố liên quan đến kiến thức

Bảng 3 12: Yếu tố liên quan đến kiến thức

Sống chung với cha mẹ

Không 10 18 Điều kiện kinh tế gia đình

Bố mẹ chủ động nói với HS về vấn đề giới tính và SKSS

Kết quả phân tích đơn biến cho thấy tuổi, giới tính và học lực của học sinh có mối liên quan đến kiến thức về quan hệ tình dục Học sinh từ 18 tuổi trở lên có khả năng hiểu biết tốt về vấn đề này gấp 1,5 lần so với học sinh dưới 18 tuổi (p=0,03) Ngoài ra, học sinh nam có kiến thức tốt về quan hệ tình dục gần gấp 2 lần so với học sinh nữ (p=0,04).

Học sinh nữ tại HUPH có hiểu biết về các vấn đề quan hệ tình dục (QHTD) tốt hơn Cụ thể, những học sinh có học lực khá trở lên có khả năng nắm vững kiến thức về QHTD cao gấp 1,69 lần so với những học sinh có học lực trung bình trở xuống (p=0,04).

Không có mối liên hệ rõ ràng giữa việc sống chung với cha mẹ, điều kiện kinh tế gia đình và thái độ đối với quan hệ tình dục ở tuổi học trò Bố mẹ cũng không chủ động thảo luận về vấn đề này với con cái.

Kết quả phân tích cho thấy rằng tuổi và học lực của học sinh không còn liên quan đến kiến thức về quan hệ tình dục (QHTD), chỉ còn yếu tố giới tính có ảnh hưởng Mức độ liên quan giữa giới tính và điểm kiến thức giảm nhẹ (OR hiệu chỉnh = 0,52) sau khi kiểm soát các yếu tố khác trong mô hình hồi quy logistic Điều này cho thấy sự xuất hiện của yếu tố nhiễu đã ảnh hưởng đến mối liên hệ giữa tuổi, học lực và kiến thức của học sinh về QHTD.

3.6.2 Yếu tố liên quan đến thái độ

Bảng 3 13: Yếu tố liên quan đến thái độ

Thái độ thiếu tích cực

Sống chung với cha mẹ

Không 8 20 Điều kiện kinh tế gia đình

Nghèo 5 6 Điểm kiến thức về QHTD

Bố mẹ chủ động nói với HS về vấn đề tình dục và SKSS

Kết quả từ bảng 10 chỉ ra rằng có một mối liên hệ giữa học lực và thái độ của học sinh đối với quan hệ tình dục Cụ thể, học sinh có học lực trung bình trở xuống có khả năng thể hiện thái độ thiếu tích cực cao gấp gần 2 lần so với những học sinh có học lực khá trở lên (p=0,007).

Các yếu tố như tuổi, giới tính, việc sống chung với cha mẹ, điều kiện kinh tế gia đình, kiến thức về quan hệ tình dục, và sự chủ động của bố mẹ trong việc trao đổi với học sinh về giới tính và sức khỏe sinh sản không có mối liên quan đáng kể đến thái độ của học sinh đối với vấn đề quan hệ tình dục (p>0,05).

Khi đưa các yếu tố vào mô hình hồi quy để kiểm soát yếu tố nhiễu, kết quả cho thấy học sinh có học lực từ trung bình trở xuống có khả năng có thái độ thiếu tích cực cao gấp gần 2 lần so với học sinh có học lực từ khá trở lên, sau khi đã xem xét tác động của các yếu tố khác (p=0,01).

3.6.3 Yếu tố liên quan đến thực hành

Bảng 3 14: Yếu tố liên quan đến thực hành

Không quan hệ tình dục

Có quan hệ tình dục

Sống chung với cha mẹ

Không 27 1 Điều kiện kinh tế gia đình

Bố mẹ chủ động nói với HS về vấn đề giới tính và SKSS

Xem các phim/hình ảnh kích dục trên internet

Kết quả phân tích từ bảng 3.14 cho thấy có mối liên hệ giữa tuổi tác, học lực và việc xem phim/hình ảnh kích dục trên internet với hành vi quan hệ tình dục của học sinh Cụ thể, học sinh từ 18 tuổi trở lên có khả năng quan hệ tình dục cao gấp 3,2 lần so với những học sinh dưới 18 tuổi (p=0,01) Học sinh có học lực trung bình trở xuống có khả năng quan hệ tình dục cao gấp 5,6 lần so với những học sinh có học lực khá trở lên (p

Ngày đăng: 27/07/2023, 00:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, Daniel Weitraub & Meredith Caplan (1999), Khảo sát, đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành của Thanh thiếu niên Hải Phòng với các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát, đánh giá về kiến thức, thái độ và thực hành của Thanh thiếu niên Hải Phòng với các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản
Tác giả: Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Mỹ Hương, Daniel Weitraub, Meredith Caplan
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1999
2. Tôn Thất Bách, Lưu Minh Châu & Hoàng Thị Hoa (1998), Nạo hút thai trong lứa tuổi Vị thành niên - vấn đề cần quan tâm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạo hút thai trong lứa tuổi Vị thành niên - vấn đề cần quan tâm
Tác giả: Tôn Thất Bách, Lưu Minh Châu, Hoàng Thị Hoa
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 1998
3. Daniele Belanger & Khuất Thu Hồng (1996), Kết quả nghiên cứu tình hình quan hệ tình dục và nạo phá thai lứa tuổi vị thành niên ở Hà Nội, Viện Xã hội học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả nghiên cứu tình hình quan hệ tình dục và nạo phá thai lứa tuổi vị thành niên ở Hà Nội
Tác giả: Daniele Belanger, Khuất Thu Hồng
Nhà XB: Viện Xã hội học
Năm: 1996
4. Bộ Y tế (2005), Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên Việt Nam
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2005
6. Bộ Y tế (2005), Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc Sức khỏe sinh sản, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc Sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
7. Bộ Y tế (1997), Sức khỏe sinh sản Vị thành niên - Điều tra cơ bản tại Hà Nội, Vĩnh Phú, Thái Bình, Chương trình hợp tác Y tế Việt Nam - Thụy Điển, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản Vị thành niên - Điều tra cơ bản tại Hà Nội
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Chương trình hợp tác Y tế Việt Nam - Thụy Điển
Năm: 1997
8. Hoàng Thị Hiệp & Trịnh Hữu Vách (2002), Sức khỏe Vị thành niên ở Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe Vị thành niên ở Việt Nam
Tác giả: Hoàng Thị Hiệp, Trịnh Hữu Vách
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2002
9. Đỗ Trọng Hiếu, Đặng Thị Xuân Hoài, Quan Lệ Nga & Hà Phương (2000), Sức khỏe sinh sản Vị thành niên và Thanh niên, Tổng công ty Phát hành sách Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản Vị thành niên và Thanh niên
Tác giả: Đỗ Trọng Hiếu, Đặng Thị Xuân Hoài, Quan Lệ Nga, Hà Phương
Nhà XB: Tổng công ty Phát hành sách Việt Nam
Năm: 2000
10. Khuất Thu Hồng (1999), Tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên, Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu kiến thức, thái độ và thực hành về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên
Tác giả: Khuất Thu Hồng
Nhà XB: Khánh Hòa
Năm: 1999
11. Nguyễn Thị Mỹ Hương (2001), Nạo phá thai ở tuổi thanh niên tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạo phá thai ở tuổi thanh niên tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh
Tác giả: Nguyễn Thị Mỹ Hương
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2001
12. Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Lân & Nguyễn Phương Thảo (2003), Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản Vị thành niên, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình trong giáo dục sức khỏe sinh sản Vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Linh Khiếu, Lê Ngọc Lân, Nguyễn Phương Thảo
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2003
14. Nguyễn Quang Mai (2003), Sức khỏe sinh sản Vị thành niên, NXB Phụ nữ, Hà Nội.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe sinh sản Vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Quang Mai
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2003

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu (Trang 45)
Bảng 3. 2: Kiến thức của học sinh về tình dục an toàn - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 2: Kiến thức của học sinh về tình dục an toàn (Trang 47)
Bảng 3. 3: Kiến thức của học sinh về các BLTQĐTD - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 3: Kiến thức của học sinh về các BLTQĐTD (Trang 48)
Bảng 3. 4: Kiến thức của học sinh về thời điểm có thể có thai - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 4: Kiến thức của học sinh về thời điểm có thể có thai (Trang 50)
Bảng 3. 5: Học sinh tự đánh giá mức độ hiểu biết về các vấn đề SKSS - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 5: Học sinh tự đánh giá mức độ hiểu biết về các vấn đề SKSS (Trang 51)
Bảng 3. 6: Thực hành quan hệ tình dục - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 6: Thực hành quan hệ tình dục (Trang 55)
Bảng 3. 7: Lý do không sử dụng BPTT trong lần QHTD lần đầu tiên - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 7: Lý do không sử dụng BPTT trong lần QHTD lần đầu tiên (Trang 57)
Bảng 3. 8:  Nguồn TT mong muốn được nhận - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 8: Nguồn TT mong muốn được nhận (Trang 58)
Bảng 3. 9: Sự quan tâm của cha mẹ đến giáo dục tình dục và SKSS cho HS - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 9: Sự quan tâm của cha mẹ đến giáo dục tình dục và SKSS cho HS (Trang 60)
Bảng 3. 10: Sử dụng internet - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 10: Sử dụng internet (Trang 61)
Bảng 3. 12: Yếu tố liên quan đến kiến thức - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 12: Yếu tố liên quan đến kiến thức (Trang 64)
Bảng 3. 13: Yếu tố liên quan đến thái độ - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 13: Yếu tố liên quan đến thái độ (Trang 66)
Bảng 3. 14: Yếu tố liên quan đến thực hành - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Bảng 3. 14: Yếu tố liên quan đến thực hành (Trang 68)
Hình thức TT  không phù hợp - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Hình th ức TT không phù hợp (Trang 102)
Hình thức - Kiến thức, thái độ, thực hành về quan hệ tình dục và một số yếu tố liên quan ở học sinh trường thpt tây hồ quận tây hồ, năm 2008
Hình th ức (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w