1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kết quả chương trình nâng cao sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn cho học sinh trung học khu vực chililab, chí linh, hải dương

122 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kết quả chương trình nâng cao sức khỏe sinh sản và tình dục an toàn cho học sinh trung học khu vực chililab, chí linh, hải dương
Tác giả Trương Quang Tiến, Nguyễn Thanh Hương
Người hướng dẫn PGs.Ts. Nguyễn Thanh Hương, Ths. Trương Quang Tiến
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục
Thể loại Báo cáo nghiên cứu đề tài cấp cơ sở
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả: Các hoạt động triển khai tại các TYT và khu dân cư được đánh giá cao, có ý nghĩa thiết thực; đã góp phần tăng cường sự quan tâm của cha mẹ, cán bộ y tế, các bên liên quan khác

Trang 1

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO SỨC KHỎE SINH SẢN

VÀ TÌNH DỤC AN TOÀN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC KHU VỰC CHILILAB, CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

Chủ nhiệm đề tài: PGs.Ts Nguyễn Thanh Hương; Ths Trương Quang Tiến

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng

HÀ NỘI, 2014

HUPH

Trang 2

BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

Tên đề tài:

KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH NÂNG CAO SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ

TÌNH DỤC AN TOÀN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC KHU VỰC CHILILAB, CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

Chủ nhiệm đề tài: PGs.Ts Nguyễn Thanh Hương, Ths Trương Quang Tiến

Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng

Cấp quản lý: Trường Đại học Y tế công cộng

Mã số đề tài: không có

Thời gian thực hiện: từ tháng 5/2010 đến tháng 9/2013 Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 1.982.248.200 đồng Nguồn kinh phí: Quỹ Ford

Nguồn khác: không

Năm 2014

HUPH

Trang 3

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP CƠ SỞ

1 Tên đề tài: KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP NÂNG CAO SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ TÌNH DỤC AN TOÀN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC KHU VỰC CHILILAB, CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

2 Chủ nhiệm đề tài: PGs.Ts Nguyễn Thanh Hương và Ths Trương Quang Tiến

3 Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng

4 Cơ quan quản lí đề tài: Trường Đại học Y tế công cộng

5 Thư ký đề tài: Ths Hoàng Khánh Chi

6 Danh sách những người thực hiện chính:

PGs Ts Nguyễn Thanh Hương (Khoa KHXH-HV-GDSK, Trường ĐHYTCC) Ths Trương Quang Tiến (Khoa KHXH-HV-GDSK)

Ths Hoàng Khánh Chi (Khoa QLYT)

Ths Lê Thị Hải Hà (Khoa KHXH-HV-GDSK)

Ths Nguyễn Thái Quỳnh Chi (Khoa KHXH-HV-GDSK)

Ths Hứa Thanh Thủy (Khoa QLYT)

Ths Nguyễn Thu Hà (Khoa QLYT)

Cn Nguyễn Thị Nga (Khoa KHXH-HV-GDSK)

Cn Đinh Thu Hà (Khoa KHXH-HV-GDSK)

Trang 4

ĐHYTCC Đại học Y tế công cộng

DVTT Dịch vụ sức khỏe thân thiện

GD-ĐT Giáo dục và Đào tạo

GVCN Giáo viên chủ nhiệm

HIV Virus gây suy giảm miễn dịch ở người

Trang 5

MỤC LỤC

Phần A: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu 1

Phần B: Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài 3

Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở 6

Phần 1: GIỚI THIỆU 6

1.1 Đặt vấn đề 6

1.2 Các nghiên cứu can thiệp về SKSS-TD của VTN/TN trên thế giới 6

1.2.1 Các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ đối với SKSS-TD của VTN/TN 6 1.2.2 Chương trình nâng cao SKSS-TD của VTN trên thế giới 11

1.2.3 Chương trình nâng cao SKSS-TD của VTN ở Đông Nam Á 15

1.3 Vấn đề SKSS-TD của VTN/TN và chương trình can thiệp tại Việt Nam 17

1.3.1 Chính sách và Chiến lược nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN 17

1.3.2 Các chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN ở Việt Nam 18

1.3.3 Phát triển tài liệu truyền thông và các chiến dịch truyền thông 25

1.3.4 Tích hợp chủ đề SKSS-TD của VTN vào các chương trình khác 26

1.3.5 Một số hạn chế của chương trình SKSS-TD cho VTN ở Việt Nam 26

1.4 Dự án nghiên cứu và can thiệp về sức khỏe VTN/TN tại cơ sở thực địa CHILILAB của Trường Đại học Y tế công cộng 27

1.4.1 CHILILAB – Cơ sở thực địa của Trường Đại học Y tế công cộng 27

1.4.2 Nghiên cứu dọc về sức khỏe VTN/TN tại CHILILAB 27

1.4.3 Nghiên cứu can thiệp nâng cao SKSS-TD VTN/TN 28

1.5 Mục tiêu đánh giá chương trình nâng cao SKSS-TD VTN/TN 36

Phần 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 37

2.2 Thiết kế nghiên cứu 38

2.3 Mẫu nghiên cứu 38

2.4 Biến số và công cụ đánh giá 42

2.4.1 Công cụ thu thập số liệu định lượng 42

2.4.2 Công cụ thu thập số liệu định tính 43

2.5 Thu thập số liệu 43

2.5.1 Số liệu định lượng 43

2.5.2 Số liệu định tính 43

HUPH

Trang 6

2.6 Phân tích số liệu 45

2.7 Cân nhắc khía cạnh đạo đức 45

2.8 Hạn chế của nghiên cứu 45

Phần 3: KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 47

3.1 Quá trình thực hiện chương trình 47

3.1.1 Tại trường học 47

3.1.2 Tại trạm y tế 63

3.1.3 Tại khu dân cư 65

3.2 Kết quả chương trình 69

3.2.1 Kiến thức của HS về SKSS-TD và những thay đổi sau can thiệp 70

3.2.2 Sự tự tin của học sinh về SKSS-TD 76

3.2.3 Thái độ của học sinh về SKSS-TD 80

3.2.4 Trải nghiệm QHTD của học sinh 85

3.2.5 Dự định của học sinh về những vấn đề liên quan 86

Phần 4: KẾT LUẬN và KHUYẾN NGHỊ 87

3.2 Kết luận 87

3.3 Khuyến nghị 87

Phần 5: TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Phần 6: PHỤ LỤC 97

6.1.1 Kế hoạch chương trình nâng cao SKSS-TD tổng thể 97

6.1.2 Các tài liệu truyền thông đã phát triển (xem tệp đính kèm) 113

6.1.3 Bộ câu hỏi 114

Phần D: Giải trình chỉnh sửa 115HUPH

Trang 7

Phần A: Báo cáo tóm tắt nghiên cứu

KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP NÂNG CAO SỨC KHỎE SINH SẢN VÀ TÌNH DỤC AN TOÀN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC

KHU VỰC CHILILAB, CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

PGs Ts Nguyễn Thanh Hương 1; Ths Trương Quang Tiến 1, Ths Hoàng Khánh Chi2, Ths Lê Thị Hải Hà 1

, Ths Nguyễn Thái Quỳnh Chi 1, Ths Hứa Thanh Thủy 2, Ths Nguyễn Thu Hà 2, Cn Nguyễn Thị Nga 1, Cn Đinh Thu Hà 1

1

TÓM TẮT Đặt vấn đề: Chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN với nhiều hoạt động đa

dạng, thực hiện trong khoảng 12 tháng là phần chính trong hơn 40 tháng chuẩn bị và triển khai dự án Can thiệp nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN tại trường học, cơ sở y tế

và khu dân cư của 4 xã/phường (Sao Đỏ, Văn An, Bến Tắm, An Lạc) của thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương Báo cáo này trình bày kết quả hoạt động tại các cơ sở, đặc biệt tại các trường trung học trong khu vực

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả, kết hợp cả định lượng và định tính Thông tin thu

thập từ học sinh, giáo viên và đại diện các bên liên quan Tại các TYT và khu dân cư, kết quả hoạt động được mô tả theo đánh giá của các bên tham gia Tại trường học, quá trình hoạt động được mô tả; kiến thức, sự tự tin, thái độ, dự định liên quan với SKSS-TD; trải nghiệm QHTD của học sinh được so sánh với nhóm so sánh và kết quả ban đầu để đánh giá hiệu quả của chương trình

Kết quả: Các hoạt động triển khai tại các TYT và khu dân cư được đánh giá cao, có ý

nghĩa thiết thực; đã góp phần tăng cường sự quan tâm của cha mẹ, cán bộ y tế, các bên liên quan khác đối với vấn đề SKSS-TD của VTN/TN; nâng cao kiến thức và kĩ năng giáo dục VTN/TN về chủ đề SKSS-TD Các hoạt động ở trường học đã nhận được sự ủng hộ, thu hút sự tham gia của giáo viên và học sinh Kiến thức về SKSS-TD, tự tin

về kiến thức SKSS-TD, tự tin về sử dụng BCS, từ chối QHTD, dự định tiếp tục tìm hiểu kiến thức SKSS-TD của học sinh các trường có chương trình tốt hơn có ý nghĩa

so với các trường so sánh và ban đầu Thái độ về SKSS-TD “thoáng” hơn và chia sẻ trải nghiệm tình dục nhiều hơn phù hợp với xu thế chung

Kết luận và khuyến nghị: Chương trình đã có những kết quả khả quan, được các bên

liên quan đón nhận và ủng hộ Kiến thức, sự tự tin, dự định liên quan với SKSS-TD của học sinh có những thay đổi tích cực Chương trình nâng cao SKSS-TD kiểu này có thể tiếp tục triển khai trong các trường trung học với sự phê chuẩn của cơ quan chức năng; nhân rộng nếu nguồn lực cho phép

HUPH

Trang 8

Abstract

ADOLESCENT SEXUAL AND REPRODUCTIVE HEALTH

PROMOTION PROGRAM AT SECONDARY AND HIGH SCHOOLS

IN CHILILAB – PROCESS AND OUTCOME

Assoc Prof Nguyen Thanh Huong1; Truong Quang Tien, MD MPH.1; Hoang Khanh Chi, MPH.2, Le Thi Hai Ha, MA.1; Nguyen Thai Quynh Chi, MA.1; Hua Thanh Thuy, MSc.2; Nguyen Thu Ha, MSc.2; Nguyen Thi Nga, BPH.1; Dinh Thu Ha, BPH.1

A descriptive study, combining both quantitative and qualitative, was applied Data were collected from students, teachers, and other stakeholders At health institutions and residential areas, results of implementing process are described and assessed by participants At schools, the operation was described; knowledge, confidence, attitudes, intentions associated with SRH; sexual behavior were compared with those

in the comparison group and the baseline results for examining the effectiveness of the program

The program activities in the local health stations and residential areas were highly appreciated by participants; has contributed to strengthen the concern of parents, health staff, and other stakeholders on the SRH issues among adolescents and youth; improved their knowledge and skills in educating the SRH topic for young people The activities in schools had received the support, participation of teachers and students Knowledge, confidence, intentions relate to relevant SRH issues of students in the intervention schools were better than those in comparison schools, and baseline one The attitudes toward SRH issues, reported sexual behaviors of students were consistent with the contemporary trend

The program was supported by paticipants, had gained positive results Knowledge, confidence, intentions relate to SRH issues of students had changed positively This program may continue to carry out, to expand in the schools under the approval of authorities, and if proper resources

HUPH

Trang 9

Phần B: Tóm tắt các kết quả nổi bật của đề tài

Tên đề tài:

KẾT QUẢ CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP NÂNG CAO SỨC KHỎE SINH SẢN

VÀ TÌNH DỤC AN TOÀN CHO HỌC SINH TRUNG HỌC KHU VỰC CHILILAB,

CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

1 Kết quả nổi bật của đề tài

(a) Đóng góp mới của đề tài:

Trên cơ sở so sánh với những thông tin đã được công bố trên các ấn phẩm trong

và ngoài nước đến thời điểm kết thúc đề tài, đề tài có những điểm mới sau đây: + Về giải pháp khoa học - công nghệ: Khác với các nghiên cứu mang tính mô

tả, phân tích đơn thuần; dự án nghiên cứu này là một chương trình can thiệp nâng cao SKSS-TD cho VTN và TN nhằm nâng cao kiến thức, sự tự tin, thái

độ, dự định hành động và hành vi liên quan với SKSS-TD của VTN/TN, đặc biệt là học sinh phổ thông Chương trình can thiệp mang tính thí điểm thực hiện

để đánh giá tính hiệu quả của các hoạt động can thiệp tại các cơ sở, địa điểm khác nhau như: trường học, cơ sở y tế và khu dân cư Chương trình có ý nghĩaa thực hành rất cao

+ Về phương pháp nghiên cứu: là một nghiên cứu can thiệp, có nhóm được can thiệp, có nhóm so sánh (không có can thiệp) và kết quả được so sánh với các kết quả điều tra ban đầu (thuộc môđun AH1 – thực trạng về SKSS-TD của VTN/TN ở khu vực CHILILAB) để đánh giá kết quả, xem xét hiệu quả của chương Tính ứng dụng lí thuyết, thực hành của chương trình có ý nghĩa lớn cho giảng dạy và nghiên cứu nâng cao sức khỏe

+ 1 Sách mỏng “SKSS-TD của VTN-TN” dành cho Giáo viên

+ 1 Sách mỏng “SKSS-TD của VTN-TN” dành cho Cha mẹ

+ 1 Sách mỏng “SKSS-TD của VTN-TN” dành cho Cán bộ y tế

+ 1 Sách mỏng “SKSS-TD của VTN-TN” dành cho Cộng tác viên

HUPH

Trang 10

+ 3 loại Tờ rơi của Chương trình

+ 1 Bộ áp phích (chân đứng) của Chương trình

+ 2 bộ Hướng dẫn thực hiện các hoạt động lồng ghép tại lớp theo các chủ đề + 1 Báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu

(c) Hiệu quả về đào tạo:

+ 3 sinh viên cử nhân YTCC đã sử dụng phần số liệu phù hợp để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

+ 1 nghiên cứu viên chính đã hoàn thành Luận án Tiến sĩ YTCC (tại Đại học Mahidol, Thái Lan)

+ Đã đăng 1 bài báo trên Tạp chí Y học thực hành số 4/2014

+ Tham gia trình bày kết quả chương trình trong Hội nghị SKSS toàn quốc lần thứ 2, năm 2014

(d) Hiệu quả về xã hội

Chương trình đã được cơ sở đánh giá cao, được đón nhận Sau quá trình triển khai đã nhận được những phản hồi tích cực từ các bên (chính quyền, mạng lưới cộng tác viên, cha mẹ) Mặc dù có những hạn chế nhất định nhưng chương trình can thiệp, đặc biệt trong trường học đã có tác động tích cực đối với giáo viên;

và học sinh Chương trình đã tạo ra những thay đổi tích cực về kiến thức, sự tự tin, dự định hành động liên quan với nâng cao SKSS-TD cho học sinh phổ thông; điều này là bằng chứng bước đầu về hiệu quả của can thiệp nâng cao SKSS-TD cho VTN tại trường học để tiếp tục có những đầu tư thỏa đáng cho các hoạt động nâng cao sức khỏe học sinh trong trường học, cho VTN/TN tại các địa điểm/cơ sở khác

2 Áp dụng vào thực tiễn đời sống xã hội

Đây là một chương trình can thiệp nâng cao sức khỏe nên đã mang tính ứng dụng, tính thực hành cao Trong quá trình thực hiện, các hoạt động huy động sự tham gia của các bên liên quan, vận động sự ủng hộ của các bên được áp dụng Các hoạt động được triển khai trong các trường học, cơ sở y tế và khu dân cư đã tác động đến nhiều đối tượng đích Quá trình này có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp trên các đối tượng nhằm mục đích nâng cao sức khỏe

3 Đánh giá thực hiện đề tài đối chiếu với đề cương nghiên cứu đã được phê duyệt

(a) Tiến độ: Dự kiến thực hiện từ năm 2009 nhưng vì nhiều lí do, đến 5/2010 chương trình mới bắt đầu tiến hành với những hoạt động đánh giá nhanh để lập

kế hoạch triển khai chương trình Các hoạt động can thiệp không triển khai ngay được từ tháng 9 đầu năm học do lịch chuyên môn bận rộn của các trường,

vì thế hầu hết các hoạt động bắt đầu từ cuối tháng 10, đầu tháng 11/2011

HUPH

Trang 11

+ Hoạt động đánh giá cuối kì không thực hiện được vào cuối năm do kế hoạch thi học kì 2 của các Trường; lịch nghỉ của các trường khác nhau; vì thế đã phải thực hiện đánh giá kết thúc chương trình sau kì nghỉ hè

(b) Thực hiện mục tiêu nghiên cứu: Đề cương chương trình can thiệp nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN đã được phát triển và phê duyệt thực hiện với các mục tiêu chính như sau:

1) Nâng cao kiến thức của VTN/TN về SKSS-TD 2) Tăng cường thái độ tích cực về SKSS-TD, sự tự tin về tìm kiếm và sử dụng các biện pháp tránh thai, phòng các nhiễm khuẩn LQĐTD

3) Tăng cường kĩ năng sống liên quan với SKSS-TD, tăng tiếp cận và sử dụng các DVTT với VTN/TN trong trường học và y tế cơ sở

4) Giảm hành vi có nguy cơ với SKSS-TD của VTN/TN 5) Đánh giá hiệu quả ban đầu của việc lồng ghép giới vào các hoạt động của chương trình can thiệp

Sau khi cân nhắc kết quả đánh giá nhanh, mục tiêu chương trình đã được điều chỉnh theo hướng thu hẹp qui mô can thiệp tại các địa điểm (cụ thể trình bày trongn báo cáo) nhằm phù hợp với nguồn lực và điều kiện thực tế tại các cơ sở (c) Các sản phẩm tạo ra so với dự kiến của bản đề cương

Các sản phẩm đã đáp ứng được các mục tiêu sau khi được điều chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế

+ Mức độ hoàn thành khối lượng công việc: hoàn thành

+ Về các yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN: đáp ứng các yêu cầu khoa học

(d) Đánh giá việc sử dụng kinh phí: kinh phí sử dụng đúng theo kế hoạch kinh phí (có điều chỉnh các hạng mục sau khi các hoạt động chi tiết được điều chỉnh theo mục tiêu cụ thể) Các thủ tục thanh quyết toán đã hoàn thành theo qui định hiện hành

4 Các ý kiến đề xuất

Với nguồn lực luôn có hạn, các dạng chương trình can thiệp như thế này cần có trọng điểm hơn dựa vào phân nhóm đối tượng đích; tập trung vào một cơ sở cụ thể như trường học Chương trình triển khai tại trường học cần được chính thức hóa, được phê chuẩn từ các cơ quan thẩm quyền để việc thực hiện trở thành thường quy, bắt buộc chứ không chỉ là ngoại khóa, nặng tính tự nguyện và dựa vào sự nhiệt tình

cá nhân Việc theo dõi, giám sát hỗ trợ cần được tăng cường

HUPH

Trang 12

Phần C: Nội dung báo cáo chi tiết kết quả nghiên cứu đề tài cấp cơ sở

1.1 Đặt vấn đề

Khái niệm vị thành niên (VTN) và thanh niên (TN) đã được Tổ chức Y tế thế giới (WHO), Quỹ nhi đồng liên hiệp quốc (UNICEF) và Quỹ dân số liên hiệp quốc (UNFPA) định nghĩa và sử dụng thống nhất Vị thành niên (Adolescent) là những người trong độ tuổi 10-19; Thanh thiếu niên (Young people) là nhóm người trong độ tuổi 10-24 và Thanh niên (Youth) là những người từ 15-24 tuổi [71, 117]

Ở Việt Nam, theo quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, trẻ em là công dân Việt Nam có tuổi dưới 16 [98] Theo Luật Thanh niên, thanh niên được xác định là công dân Việt Nam từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi [99] Bộ Y tế đã sử dụng các thuật ngữ "vị thành niên" và "thanh niên" theo định nghĩa của WHO nêu ra [6] Trong báo cáo này, khái niệm VTN và VTN/TN được sử dụng thống nhất theo định nghĩa của WHO và Liên hiệp quốc nêu trên

Vị thành niên (VTN) là giai đoạn phát triển quan trọng của đời người Nhóm VTN tuổi

từ 10-19 chiếm gần 20% dân số chung, chiếm khoảng 1/3 dân số nếu ước tính cho nhóm thanh thiếu niên 10-24 tuổi và 85% những người trẻ tuổi này sống ở những nước đang phát triển 10% gánh nặng bệnh tật toàn cầu (DALY) liên quan đến nhóm tuổi này Nhiều hành vi nguy cơ đối với sức khoẻ rất đáng chú ý trong nhóm đối tượng này như hút thuốc lá; sử dụng bia rượu, các chất kích thích khác và quan hệ tình dục (QHTD) không an toàn v.v dẫn đến các hệ lụy khác như mang thai ngoài ý muốn hay mắc các bệnh lây truyền qua đường tình dục (STDs), kể cả HIV/AIDS Báo cáo của WHO về tình hình SKSS của nhóm 15-24 tuổi ở khu vực Nam Á cho thấy rằng nhóm VTN/TN đang đối mặt với nhiều vấn đề SKSS, kể cả HIV/AIDS [123]

Sức khoẻ nói chung và sức khoẻ sinh sản, sức khoẻ tình dục (SKSS-TD) nói riêng của VTN/TN quyết định khả năng học tập, làm việc, năng lực và cống hiến của họ cho cá nhân, gia đình và xã hội Hiểu rõ tình trạng SKSS-TD của VTN, xác định đúng các yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với SKSS-TD của VTN/TN, có những chương trình can thiệp phù hợp tại các địa điểm, cơ sở nơi các em sinh sống, học tập là rất cần thiết

1.2 Các nghiên cứu can thiệp về SKSS-TD của VTN/TN trên thế giới

1.2.1 Các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ đối với SKSS-TD của VTN/TN

Con người sống và phát triển trong môi trường xã hội có nhiều tương tác với gia đình, bạn bè, tổ chức, mạng lưới xã hội, cộng đồng và xã hội của họ Trong tổng thể các mối tương tác này, có nhiều yếu tố tác động tới con người một cách tích cực, có lợi nhưng bên cạnh đó cũng có những yếu tố nguy cơ tiềm ẩn song hành Các yếu tố vừa nêu có thể thuộc về yếu tố thể chất cá nhân, hành vi cá nhân, có thể là những tác động từ

HUPH

Trang 13

những người xung quanh, hoặc là những tác động từ môi trường vật chất, môi trường

xã hội nói chung Trong các nhóm yếu tố này, hành vi và lối sống của con người là một trong những yếu tố quyết định sức khỏe quan trọng cần quan tâm tìm hiểu, phân tích và có những can thiệp thích hợp [32]

Khi nói đến các yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe, yếu tố nguy cơ và bảo vệ được nhắc đến Yếu tố nguy cơ có thể là những đặc điểm của cá nhân, gia đình, trường học và cộng đồng mà khi chúng tồn tại sẽ làm gia tăng khả năng mắc các vấn đề sức khỏe, làm cho vấn đề trầm trọng hơn, ví dụ: thiếu kiến thức về SKSS-TD; QHTD ở tuổi VTN; QHTD không an toàn là yếu tố nguy cơ vì yếu tố này có khả năng làm gia tăng tình trạng mang thai ở VTN, từ đó có thể làm tình trạng phá thai ở VTN tăng lên Ngược lại với yếu tố nguy cơ, các yếu tố bảo vệ là các yếu tố mang lại nhiều lợi ích cho con người; khi các yếu tố này tồn tại, đồng hành với con người, chúng góp phần làm cho tình trạng sức khỏe của cá nhân được tăng cường, khả năng phòng bệnh của

cá nhân tốt hơn; từ đó giúp cá nhân ngăn ngừa nguy cơ bệnh tật, nâng cao sức khỏe Ví dụ: trì hoãn QHTD ở tuổi VTN, QHTD có sử dụng BCS đúng cách là yếu tố bảo vệ vì giúp cá nhân phòng tránh được nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khiễm khuẩn LQĐTD và mang thai ngoài ý muốn [76, 91]

Mối quan tâm đối với các yếu tố nguy cơ và bảo vệ là khác nhau giữa các quốc gia Với nhiều nước đang phát triển, các xu hướng lây lan của HIV trong giới trẻ được chú

ý nhiều hơn Ở một số nước khác, mối quan tâm chính là sinh đẻ sớm hoặc phá thai Kinh nghiệm của một số chương trình cho thấy rằng chương trình can thiệp sẽ không khả thi, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả nếu chỉ tập trung vào hành vi đơn lẻ mà thiếu cách tiếp cận thay đổi tổng thể về SKSS-TD Hơn nữa, các biện pháp can thiệp

về SKSS-TD được cho là có hiệu quả là tập trung để tăng cường các yếu tố bảo vệ trong nhóm trẻ tuổi chứ không chỉ nỗ lực làm giảm nguy cơ của vấn đề (Blum et al., 2005)

QHTD trước kết hôn luôn là chủ đề được quan tâm nhất và có nhiều nghiên cứu tìm hiểu Zulkifli và Low tìm hiểu về thực hành tình dục ở giới trẻ Malaysia Kết quả cho thấy rằng giới (nam so với nữ), có việc làm, và có quan niệm “thoáng” về tình dục là những yếu tố làm tăng tỉ lệ có QHTD [73] Nghiên cứu ở Puerto Rico tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng tới dự định trì hoãn QHTD của nữ sinh trung học, kết quả cho thấy lòng mộ đạo, tôn trọng các giá trị truyền thống, có bạn cùng quan điểm tôn trọng các giá trị tình dục truyền thống và mẹ có quan niệm truyền thống về QHTD là những yếu

tố khiến các nữ VTN trì hoãn QHTD trước hôn nhân [72]

Năm 2001, nghiên cứu của Laguna tìm hiểu ảnh hưởng của gia đình và trường học đến việc QHTD của thanh thiếu niên Philippines Kết quả cho thấy việc đọc sách báo thường xuyên, lòng mộ đạo là những yếu tố thuộc nhóm bảo vệ, vì làm cho VTN ít QHTD trước kết hôn hơn Trái lại, các yếu tố như: bỏ học, sống xa gia đình, có bạn bè

đã từng QHTD là nguy cơ gia tăng QHTD sớm ở VTN [59]

HUPH

Trang 14

Nghiên cứu tìm hiểu về tình dục và hôn nhân ở Philippines, Đài Loan và Thái lan, đặc biệt lưu ý tới đối tượng VTN chưa lập gia đình gợi ý rằng những thanh thiếu niên sớm

xa gia đình để tự lập, bỏ học sớm là nhóm có nguy cơ sẽ có QHTD trước hôn nhân sớm Kết quả cũng cho thấy một xu hướng tương đối giống nhau ở cả ba nước này [52]

Ở Ấn Độ cũng đã có một số nghiên cứu gần đây về vấn đề này Ngoài tuổi (tuổi càng cao tỉ lệ QHTD càng cao), thu nhập khá, có việc làm, và quan niệm tự do, đặc biệt là tiếp xúc với các văn hóa phẩm kích dục làm tăng nguy cơ thanh thiếu niên có QHTD [48] Nghiên cứu khác tìm hiểu nhận thức, các qui tắc, niềm tin liên quan tới dự định QHTD ở học sinh (HS) phổ thông cơ sở ở Ấn Độ cho thấy: sử dụng rượu, thuốc lá và các chất gây nghiện khác và áp lực từ nhóm bạn bè làm tăng tỉ lệ QHTD Trái lại, trình

độ học vấn cao của cha mẹ chính là yếu tố bảo vệ; HS có cha mẹ học vấn cao thường ít QHTD sớm hơn [69]

Tại Thái Lan, nghiên cứu Isarabhakdi chỉ ra một số yếu tố nguy cơ như: nhóm tuổi lớn, ở vùng Bắc Thái Lan, đã từng di cư, có bạn bè từng QHTD Đang đi học được xem như một yếu tố “bảo vệ” đối với QHTD ở VTN [56] Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của cá nhân và gia đình đến nguy cơ QHTD trước hôn nhân của thanh thiếu niên Thái Lan cũng nhấn mạnh đang đi học là yếu tố “bảo vệ”; đồng thời yếu tố sống ở thành thị cũng là một yếu tố bảo vệ Các yếu tố làm tăng nguy cơ QHTD sớm bao gồm: tuổi lớn hơn, từng có hành vi bạo lực, uống rượu, có quan điểm tự do về tình dục, thu nhập thấp, chịu áp lực từ phía bạn bè, tham gia một số băng nhóm ở nam VTN, không ở cùng cha mẹ, hoặc chỉ ở với bố hoặc mẹ, nhất là nữ giới [67]

Nghiên cứu tại Hồng Kông chỉ ra rằng nam giới có tỉ lệ QHTD trước kết hôn cao hơn hẳn nữ giới Những thanh thiếu niên có gắn kết với gia đình thấp, có nhiều hỗ trợ của

xã hội thì có tỉ lệ QHTD cao hơn [60] Tại Đài Loan, Choe và Lin cũng chỉ ra rằng tuổi càng tăng và càng ra khỏi môi trường trường học lâu thì thanh thiếu niên càng có

tỉ lệ QHTD nhiều hơn Học vấn vì vậy được xem như một yếu tố liên quan đáng chú ý [52]

Học vấn là yếu tố quan trọng, số liệu của 8 quốc gia vùng cận Sahara cho thấy ở nữ VTN việc học phổ thông giảm bớt nguy cơ có QHTD sớm; ở nam VTN học vấn thấp

là yếu tố nguy cơ với QHTD sớm [55] Nghiên cứu khác của Magani trong nhóm VTN

ở Zambia cũng nhấn mạnh vai trò của học vấn và kiến thức về SKSS-TD của VTN với QHTD Hiểu biết về các biện pháp tránh thai, BCS, đang đi học hoặc đã học đại học là những yếu tố bảo vệ đối với QHTD sớm Có sử dụng chất kích thích như rượu, ma túy hoặc có bạn đã từng QHTD chính là các yếu tố nguy cơ đối với QHTD ở tuổi VTN [61]

Nghiên cứu trong nhóm nữ VTN ở phía Bắc Braxin [54] cho thấy yếu tố làm giảm tỉ lệ QHTD trước tuổi 20 gồm: học vấn cao hơn, dự lễ nhà thờ thường xuyên và có xem TV hàng tuần, sinh ra và lớn lên ở nông thôn Nghiên cứu khác ở Lima, Peru trong nhóm nam HS phổ thông [51] kết quả cho thấy những nam VTN dậy thì sớm, từng bị lưu

HUPH

Trang 15

ban, từng có bạn gái và từng trao đổi cởi mở với người yêu về tình dục là những người

có tỉ lệ QHTD cao hơn

Nghiên cứu về yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với QHTD lần đầu trong VTN tại Santos, Braxin cho thấy những yếu tố nguy cơ đối với QHTD lần đầu trước tuổi 15 ở nam là hút thuốc lá, mang vũ khí, gia đình có súng; những yếu tố “bảo vệ” là gia đình còn cả cha mẹ, cha có trình độ học vấn cao và gắn kết tốt với giáo viên (GV) ở trường Với

nữ VTN, yếu tố bảo vệ là chơi thể thao và yếu tố nguy cơ là hút thuốc lá [49]

Kĩ năng sống liên quan với SKSS-TD đặc biệt là kĩ năng từ chối không QHTD hoặc thuyết phục thực hiện QHTD an toàn có vai trò quan trọng, một nghiên cứu trong nhóm nữ VTN Zambia độ tuổi 13-19 bằng bộ câu hỏi tự điền cho thấy VTN không có khả năng từ chối khi bạn bè lôi kéo hoặc không có khả năng từ chối bạn tình thì có khả năng QHTD cao hơn Nữ VTN tự chủ thấp và kĩ năng thương thuyết kém dễ bị lôi kéo vào các hoạt động tình dục kể cả lúc không mong muốn [66] Nghiên cứu của Stanton (1999), trong nhóm VTN 12-18 tuổi ở Namibia, cũng có những kết luận tương đồng về

kĩ năng sống; những VTN có sự tự chủ cao và khả năng kiềm chế bản thân cao có tỉ lệ từng QHTD thấp hơn [70]

Nghiên cứu của Magnani (2001) về các yếu tố liên quan với hành vi tình dục của HS THCS thành thị ở Peru cho thấy những yếu tố nguy cơ của QHTD ở nam VTN là: đứng đầu một nhóm bạn, có bạn đã từng QHTD, có bạn từng có thai; ở nữ VTN, các yếu tố nguy cơ là: không có khả năng ứng phó khi bất đồng với bạn bè, có bạn đã từng QHTD và điều kiện kinh tế gia đình kém hơn [62] Một số nguy cơ khác đối với QHTD sớm được nêu ra trong nghiên cứu trong VTN ở Ecuador cho thấy nguy cơ QHTD sớm ở nam VTN là: nam giới, tuổi lớn hơn, tự tin trong sử dụng BCS và áp lực

từ phía bạn bè Một số yếu tố bảo vệ được nhấn mạnh là khả năng từ chối QHTD không an toàn, nhận thức đúng nguy cơ lây nhiễm HIV, có kì vọng học tập tích cực, xuất thân ở vùng nông thôn [65]

Quan điểm của VTN về QHTD là một yếu tố liên quan với QHTD đáng lưu ý Nghiên cứu trong nhóm HS lớp 6-7 tại 18 trường học ở Tanzania [58], kết quả cho thấy 63%

HS nam và 24% HS nữ cho biết đã từng QHTD; thái độ tán thành QHTD và sự tự tin trong là những yếu tố liên quan ý nghĩa với QHTD trong nhóm này

Nghiên cứu của Karim (2000) ở Ghana trên nhóm VTN/TN tuổi 12-24 cho thấy 41%

nữ và 36% số nam đã từng QHTD Các yếu tố bảo vệ đối với QHTD sớm là đã từng đi học, sự tự chủ cao ở nữ VTN và đặc biệt là có trao đổi về vấn đề tình dục trong gia đình ở nam VTN Các yếu tố nguy cơ với QHTD ở tuổi VTN gồm tuổi càng lớn khả năng QHTD sớm càng cao, tác động của bạn bè, có nhiều bạn bè, có bạn đã từng QHTD, không sống cùng cha mẹ đẻ, di chuyển nơi ở nhiều lần từ nhỏ [57]

Truyền thông, giáo dục về SKSS-TD từ các phương tiện truyền thông đại chúng, từ nhà trường có tác động tích cực đến VTN Nghiên cứu trong nhóm VTN thành thị ở Botswana cho thấy với nam VTN, việc đi học, có tiếp xúc với các phương tiện truyền thông, có nhận các thông điệp truyền thông giáo dục về SKSS-TD từ nhà trường, chịu

HUPH

Trang 16

ảnh hưởng của cha mẹ trong gia đình có xu hướng QHTD thấp hơn Với nữ VTN, đang đi học là yếu tố bảo vệ rõ nét [63]

Kết quả nghiên cứu trong nhóm VTN ở Bamenda, Cameroon, cho thấy yếu tố gia đình

có ảnh hưởng đến hành vi QHTD của VTN Nam VTN trong những gia đình người cha có nhiều vợ hoặc cha mẹ không sống cùng nhau hoặc nhà nghèo và VTN học vấn thấp có nguy cơ QHTD cao hơn [68]

Tổng quan tài liệu của Blum năm 2005 đã cung cấp những yếu tố nguy cơ và các yếu

tố bảo vệ quan trọng đối với vấn đề SKSS-TD và cho thấy rằng các yếu tố thuộc trường học; kiến thức, thái độ liên quan đến BCS và tránh thai; nhận thức về hành vi tình dục của bạn bè; hỗ trợ của bạn tình về sử dụng BCS và thuốc tránh thai là nổi bật Yếu tố giáo dục và từ trường học được chứng minh là những yếu tố bảo vệ quan trọng, không chỉ làm giảm nguy cơ QHTD sớm; mang thai và sinh đẻ sớm, mà còn làm tăng khả năng VTN sử dụng BCS và thuốc tránh thai khi họ có QHTD Có kiến thức và thái

độ tích cực đối với việc sử dụng BCS và thuốc ngừa thai cũng là những yếu tố bảo vệ quan trọng, góp phần tăng cường khả năng sử dụng BCS và thuốc tránh thai khi QHTD Điều này góp phần giảm nguy cơ mang thai ngoài ý muốn hoặc giảm nguy cơ mắc các nhiễm khuẩn LQĐTD [76]

Nghiên cứu ở Chi Lê so sánh khác biệt về giới đối với những yếu tố ảnh hưởng đến QHTD lần đầu tiên ở sinh viên thành thị [64] cho thấy ở nam sinh viên, các yếu tố có liên quan tới lần QHTD đầu tiên là: tuổi, quan niệm thoáng về tình dục; không thích làm bố/mẹ sớm, từng hút thuốc lá Tương tự ở nữ là: tuổi, học tập kém, quan niệm thoáng về tình dục và đã từng say rượu Với cả hai giới, dùng ma túy dạng nhai (marijuana) đều làm tăng khả năng QHTD trước hôn nhân Ở cả nam và nữ VTN, nếu

có bạn đã từng QHTD hoặc VTN đang có người yêu đều có tỉ lệ QHTD cao hơn Ở nữ VTN, yếu tố gia đình có liên quan là nếu sống trong gia đình không có người cha, khả năng QHTD trước hôn nhân là cao hơn so bạn nữ gia đình có bố Kết quả này tương đồng với một nghiên cứu tại Anh Các thanh thiếu niên sống trong gia đình chỉ có bố hoặc mẹ có khả năng QHTD trước hôn nhân nhiều hơn thanh thiếu niên sống cùng cha

mẹ [50]

Đối với nhóm yếu tố gia đình, sống cùng với hai cha mẹ và mức độ giáo dục của cha

mẹ, hoặc tương tác trong gia đình tích cực, mối gắn kết giữa các thành viên trong gia đình, sự hài lòng với các mối quan hệ, sự giám sát thích hợp của cha mẹ đối với con cái là một số ví dụ về các yếu tố bảo vệ quan trọng Bên cạnh đó, một số yếu tố nguy

cơ đáng chú ý là tổ chức cộng đồng không chặt chẽ, gia đình tan vỡ, bị bạo hành và ngược đãi, ảnh hưởng xấu từ đồng đẳng, bị trầm cảm hoặc có ý nghĩ tự tử, thái độ dễ dãi về tình dục trước hôn nhân, hẹn hò thường xuyên và có nhiều bạn tình [91]

Nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu về SKSS-TD VTN trong khoảng 1990 đến 2004 của Mmari [29] cho thấy đi học là yếu tố bảo vệ đối với QHTD trước kết hôn; sự tự chủ về sử dụng BCS, tự tin có thể thảo luận với bạn tình về sử dụng BCS, có trao đổi với bạn tình về HIV chính là yếu tố bảo vệ vì tăng khả năng sử dụng BCS Sống cùng

HUPH

Trang 17

với cha mẹ, có sự hiện diện của người cha trong gia đình chính là yếu tố bảo vệ đối với vấn đề mang thai, sinh con trong nhóm VTN Đồng thời, các yếu tố được xác định là nguy cơ đối với các vấn đề SKSS-TD là: bỏ học, sống xa gia đình, cha mẹ mâu thuẫn,

sử dụng chất kích thích, không sử dụng BCS, tuổi QHTD lần đầu thấp, nhiều bạn tình v.v

Hiểu rõ các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ đối với các vấn đề SKSS-TD sẽ không chỉ

là nhằm tác động vào những VTN có nguy cơ cao đối với sức khỏe, mà còn giúp thiết

kế các chương trình vận động chính sách hoặc can thiệp thay đổi hành vi hiệu quả để góp phần giải quyết các vấn đề sức khỏe đã xác định ưu tiên thay đổi Các chương trình có thể thiết kế và triển khai thực hiện như tập trung tăng cường mối gắn kết với trường học, tăng cường mối gắn kết với cha mẹ; giáo dục và nâng cao SKSS-TD trong trường học nhằm cải thiện cả kiến thức, thái độ về BCS, phòng tránh thai, cũng như cải thiện kĩ năng giao tiếp và thuyết phục Các chương trình tác động làm thay đổi chuẩn mực của đồng đẳng, tăng cường vai trò của cha mẹ, của GV, tăng cường các yếu tố liên quan với QHTD khác theo hướng tích cực có thể giúp cho VTN có đủ kiến thức, kĩ năng để nâng cao SKSS-TD, có sự khởi đầu về tình dục và sinh sản phù hợp

1.2.2 Chương trình nâng cao SKSS-TD của VTN trên thế giới

Đã có nhiều can thiệp với mục đích nâng cao sức khoẻ VTN/TN được triển khai trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển Can thiệp tiến hành ở các mức độ và hình thức đa dạng Các can thiệp tại cộng đồng chủ yếu tập trung vào các hoạt động: cung cấp thông tin cho thanh thiếu niên, khuyến khích thanh thiếu niên sử dụng các dịch vụ SKSS, tăng cường chất lượng và hoạt động của các dịch vụ này, khuyến khích

sự tham gia của phụ huynh, giáo dục viên đồng đẳng (peer educator) Các can thiệp ở trường học như cung cấp thông tin, khuyến khích giáo viên tham gia, bổ sung nội dung giáo dục về SKSS và SKTD vào chương trình học, tuyển chọn, đào tạo và tiến hành các hoạt động của giáo dục viên đồng đẳng [109, 110]

Nhiều nghiên cứu và đánh giá được công bố trong các báo cáo tổng quan tài liệu về các chương trình giáo dục giới tính, tình dục, SKSS Kết quả đã chỉ ra rằng giáo dục toàn diện về giới tính, tình dục, SKSS trong các chương trình truyền thông, giáo dục cho đối tượng VTN về giới tính, tình dục, sinh sản, cách tiết chế tình dục, trì hoãn QHTD, biện pháp tránh thai và các nhiễm khuẩn LQĐTD, là chiến lược hiệu quả để giúp giới trẻ trì hoãn QHTD sớm trong độ tuổi VTN, giảm số lượng bạn tình và sử dụng BCS hoặc thuốc tránh thai nếu có QHTD Các nghiên cứu nêu ra trong phần tiếp theo tập trung thảo luận về các can thiệp để ngăn chặn VTN mang thai ngoài ý muốn, mắc các nhiễm khuẩn LQĐTD, kể cả HIV

Nghiên cứu tổng quan của Kirby năm 2001 về hiệu quả của các chương trình can thiệp giảm tỉ lệ mang thai ở VTN và/hoặc giảm tỉ lệ mắc bệnh LQĐTD trong thanh thiếu niên Phân tích từ 250 nghiên cứu cho thấy cá chương trình giáo dục toàn diện về giới tính, tình dục, SKSS không thúc đẩy QHTD sớm, không tăng tần suất QHTD, hoặc không tăng số bạn tình của thanh thiếu niên Phát hiện quan trọng khác là một số

HUPH

Trang 18

chương trình giáo dục về tình dục và HIV đã trì hoãn QHTD lần đầu, giảm tần suất QHTD, hoặc giảm số bạn tình Các chương trình chỉ tập trung vào tiết chế, trì hoãn QHTD cho đến khi kết hôn không chứng minh được hiệu quả Một số can thiệp đã cho kết quả trì hoãn QHTD lần đầu muộn hơn hoặc đã sử dụng BCS hoặc các biện pháp tránh thai khác nhiều hơn, do đó làm giảm QHTD không an toàn [89]

Nghiên cứu tổng quan khác từ 83 chương trình can thiệp (56 nghiên cứu tại Hoa Kì) trong nhóm thanh thiêu niên độ tuổi 9-24 cho thấy các nguy cơ nhiễm HIV và các nhiễm khuẩn LQĐTD hoặc mang thai ngoài ý muốn giảm đi Trong 52 nghiên cứu đánh giá tác động của chương trình đến tuổi bắt đầu có QHTD, 22 báo cáo cho thấy can thiệp có tác động trì hoãn thời điểm bắt đầu QHTD trong một hoặc nhiều nhóm ít nhất là 6 tháng; 29 báo cáo cho thấy không có tác động đáng kể và 1 báo cáo (tại Hoa Kì) thấy rằng can thiệp làm cho khởi đầu QHTD sớm hơn Trong số 54 nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng của chương trình sử dụng BCS, gần một nửa báo cáo cho thấy can thiệp làm tăng sử dụng BCS; không có báo cáo nào cho kết quả can thiệp làm giảm sử dụng BCS khi QHTD Trong 13 nghiên cứu tìm hiểu tình trạng mang thai, có 3 báo cáo công bố can thiệp có ảnh hưởng tích cực, 9 báo cáo cho thấy tác động không có ý nghĩa và 1 báo cáo (ở Hoa Kì) cho thấy tác động tiêu cực Trong 10 nghiên cứu tìm hiểu tỉ lệ mắc các bệnh LQĐTD, 2 báo cáo cho biết can thiệp làm giảm tỉ lệ mắc, 6 báo cáo cho thấy không có tác động đáng kể, và 2 báo cáo cho thấy có tác động tiêu cực [90]

Năm 2003, một nghiên cứu tổng quan 19 chương trình giáo dục giới tính, tình dục và SKSS nhằm hạn chế tình trạng mang thai, mắc các bệnh LQĐTD và HIV trong VTN ở Hoa Kì đã chứng minh là có hiệu quả trong việc giảm nguy cơ mang thai, mắc các nhiễm khuẩn LQĐTD và HIV trong nhóm VTN 12 báo cáo cho biết can thiệp có tác động trì hoãn QHTD lần đầu 17 báo cáo cho thấy can thiệp có tác động tích cực đối với hành vi tình dục của giới trẻ đã có QHTD 9 báo cáo cho biết chương trình đã làm giảm tỉ lệ mắc các bệnh LQĐTD và giảm tỉ lệ mang thai tuổi VTN [28]

Sales (2006) đã nghiên cứu tổng quan các chương trình can thiệp về phòng tránh HIV

và các bệnh LQĐTD trong VTN, tại các địa điểm trường học, TYT, trại giam và các

cơ sở cai nghiện ma túy tại Hoa Kì từ năm 1994 đến 2004 Các hành vi nguy cơ thường được báo cáo có thay đổi là sử dụng BCS trong QHTD Các khuyến cáo đã nêu

ra là nên có các chương trình giáo dục, khuyến khích VTN sử dụng BCS đúng cách nếu có QHTD [44]

Nghiên cứu tổng quan báo cáo đánh giá của 12 can thiệp về sức khỏe tình dục trong các trường học ở châu Phi cận Sahara cho thấy hầu hết các biện pháp can thiệp đã mang lại sự cải thiện về kiến thức, thái độ và dự định trong HS, nhưng ít tìm thấy bằng chứng về duy trì sự thay đổi hành vi [41] Một nghiên cứu khác tại Dominica cho thấy VTN được giáo dục giới tính và tình dục có tỉ lệ sử dụng BCS và kiến thức về HIV tốt hơn so với VTN không được tham gia chương trình [37] Trong khi đó các nghiên cứu

ở Mexico phát hiện rằng can thiệp tại trường học đã làm cho chuẩn mực liên quan với hành vi phòng tránh HIV tích cực hơn [31, 43] Đánh giá của Nhóm công tác thanh

HUPH

Trang 19

niên liên ngành cũng cho thấy các chương trình giáo dục về HIV và SKSS dựa vào trường học ở các nước đang phát triển là có hiệu quả, mặc dù vẫn còn những thách thức [33]

Mối gắn kết giữa cha mẹ và con cái là một yếu tố bảo vệ đối với SKSS-TD Một nghiên cứu ở Nam Phi đã xem xét tác động của giao tiếp về các vấn đề tình dục giữa cha mẹ và con cái đối với VTN Kết quả cho thấy các bà mẹ tham gia vào các hoạt động can thiệp có thể giao tiếp với con cái của họ và các thành viên khác trong gia đình về các vấn đề liên quan đến QHTD và sử dụng BCS hơn so với những bà mẹ không tham gia chương trình [42] Nghiên cứu khác ở Ghana thì cho thấy rằng các HS cho biết có trao đổi với cha mẹ về HIV/AIDS thì đã sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất nhiều hơn, tuy nhiên quá trình giao tiếp này không liên quan với thời điểm có QHTD lần đầu [27] Tại Tanzania, một nghiên cứu dọc trên VTN độ tuổi 12-14 cho thấy 27% VTN cho biết có nói chuyện với cha mẹ về tình dục và HIV, nhưng các cuộc nói chuyện này không liên quan với thời điểm bắt đầu QHTD Tuy nhiên, HS có nói chuyện với GV về chủ đề này có liên quan với trì hoãn QHTD lần đầu [34] Trong một

số nước đang phát triển thì cha mẹ được coi là nguồn thông tin ưa thích và hữu dụng cho VTN về SKSS-TD [36, 40, 47]

Căn cứ vào những bằng chứng thu được, một số hướng dẫn thực hành đã được thiết kế

và truyền bá áp dụng ở nhiều quốc gia nhằm cung cấp thông tin về giới tính, tình dục, SKSS, HIV/AIDS, khung lí thuyết cho chương trình hành động, chương trình giáo dục

về SKSS-TD và các công cụ hỗ trợ thực hành thích hợp để thay đổi hoặc làm giảm nguy cơ mắc các hành vi tình dục có nguy cơ một cách hiệu quả hoặc, để phòng tránh lây nhiễm HIV và các nhiễm khuẩn LQĐTD khác, và để tránh mang thai ngoài ý muốn ở VTN [111]

Năm 2005, Bộ Y tế Kenya đã xây dựng bản kế hoạnh hành động chiến lược về SKSS

vị thành niên và Chính sách phát triển giai đoạn 2005-2015 nhằm cải thiện tình trạng SKSS vị thành niên ở đất nước này Bản kế hoạch đã cung cấp một khung chương trình hành động với 4 nhóm chiến lược chính: vận động để có môi trường chính sách thuận lợi cho các hoạt động của chương trình SKSS; truyển thông nâng cao kiến thức

về SKSS và thay đổi hành vi, trao quyền cho đối tượng để tự nguyện thực hiện hành vi lành mạnh, kiểm soát các yếu tố nguy cơ (đa dạng hình thức truyền thông, phân phát tài liệu, phát triển hình thức câu lạc bộ thanh niên, tập huấn phát triển KNS…); thúc đẩy tiếp cận và sử dụng hiệu quả các dịch vụ thân thiện với VTN/TN (xây dựng và củng cố dịch vụ thân thiện, phối hợp các chiến dịch tiếp thị xã hội…) và tăng cường công tác quản lí [87] Phương thức hành động này rất phù hợp để nghiên cứu ứng dụng triển khai trong bối cảnh Việt Nam

Tại Bangladesh, một dự án nghiên cứu tác nghiệp được thực hiện tại khu vực Tây Bắc nước này từ năm 2000 đến năm 2002, với mục tiêu phòng tránh các hậu quả tiêu cực

và đẩy mạnh hành vi lành mạnh của vị thành niên bằng cách truyền thông giáo dục về SKSS và cung cấp dịch vụ hỗ trợ thân thiện So sánh với nhóm chứng, những tác động trên nhóm can thiệp đã mang lại những kết quả khả quan như: có sự cải thiện rõ rệt về

HUPH

Trang 20

kiến thức về HIV/AIDS, kiến thức về tránh thai, các nguy cơ đối với sức khoẻ trong độ tuổi sinh sản, mang thai sớm; thái độ tích cực hơn đối với việc sử dụng bao cao su Số liệu đã từng QHTD ngoài hôn nhân không thay đổi, tuy nhiên việc sử dụng bao cao su trong QHTD tăng lên rõ rệt ở địa bàn can thiệp Việc sử dụng dịch vụ sức khoẻ thân thiện của vị thành niên cũng tăng lên ở khu vực can thiệp Những khuyến cáo chính của dự án này là: lồng ghép các can thiệp về SKSS trong nhà trường, cộng đồng và cơ

sở y tế; các bạn trẻ cũng thích được nhận thông tin về SKSS trong nhà trường Người cung cấp thông tin như GV, truyền thông viên, cán bộ y tế cần được tập huấn về SKSS, có kĩ năng truyền thông về SKSS Cần chú trọng thiết lập và củng cố dịch vụ thân thiện với vị thành niên Và cuối cùng là cần quan tâm can thiệp nhóm vị thành niên chưa kết hôn có QHTD và nhóm không còn đến trường [103]

Tổ chức Cứu trợ trẻ em (SC) đã triển khai nhiều dự án nhằm tăng cường SKSS, SKTD VTN/TN trên thế giới Các chương trình về SKSS VTN/TN của Tổ chức này tập trung vào phát triển các KNS và hình thành những hành vi tích cực góp phần bảo vệ và cải thiện sức khỏe sinh sản của VTN/TN, ví dụ như lùi thời gian QHTD lần đầu, tìm kiếm dịch vụ SKSS khi cần thiết và sử dụng các biện pháp phòng tránh thai và nhiễm khuẩn đường sinh sản Cách tiếp cận giải quyết vấn đề là lấy VTN/TN làm trọng tâm, hoạt động truyền thông thay đổi hành vi dựa vào giáo dục viên đồng đẳng, các câu lạc bộ VTN/TN và các cộng tác viên tại cộng đồng nhằm gia tăng mức độ tiếp cận của VTN/TN với thông tin, dịch vụ chăm sóc SKSS cho chính họ Ngoài ra, Tổ chức này cũng phối hợp với gia đình, người chăm sóc để tăng tính sẵn có của nguồn thông tin dành cho VTN/TN và tăng cường mối quan hệ giữa VTN/TN và gia đình để họ có được những hỗ trợ hiệu quả nhất Các dự án can thiệp của tổ chức này đã được đánh giá là đạt được mục tiêu và trở thành mô hình mẫu để nhân rộng triển khai ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển [104]

Một ví dụ điển hình là dự án INSYGHT tại Ethiopia từ năm 2003 với những hoạt động tập trung nâng cao kiến thức về SKSS cho vị thành niên trong và ngoài trường học, hình thức câu lạc bộ tuổi trẻ và giáo dục đồng đẳng được triển khai rộng rãi Ngoài ra các hoạt động hướng đến cha mẹ và người giám hộ như cung cấp thông tin về SKSS, SKTD VTN/TN và kĩ năng nói chuyện, hướng dẫn con cái về vấn đề này; đây cũng là điểm khác biệt mà các dự án khác không có Ngoài ra thiết lập và tăng cường hoạt động của các dịch vụ thân thiện với VTN/TN được thực hiện như nhiều dự án khác Chương trình được đánh giá cao và sau đó đã được mở rộng áp dụng tại nhiều địa điểm trong cả nước [105]

Báo cáo kết quả điều tra quốc gia về sức khoẻ VTN ở Malawi năm 2004 nêu ra một số khuyến nghị rất hữu ích cho các nước đang phát triển Các tiếp cận can thiệp đa chiều cạnh nhằm thu hút sự tham gia của giới trẻ trong các hoạt động giáo dục về tình dục, SKSS; giảm thiểu các biểu hiện kì thị, tăng cường các điều kiện thuận lợi để giới trẻ tiếp cận nguồn thông tin về SKSS, SKTD, bao gồm cả thiết lập và củng cố các dịch vụ sức khoẻ thân thiện với VTN/TN [83]

HUPH

Trang 21

Dựa trên kết quả của các báo cáo nghiên cứu và các chương trình can thiệp, WHO cũng nhấn mạnh rằng có nhiều yếu tố góp phần làm cho các chương trình cải thiện SKSS thành công như: bản thân VTN/TN cần tham gia vào quá trình lập kế hoạch và thực hiện chương trình; giải quyết vấn đề với cách tiếp cận toàn diện phối hợp cả giáo dục, y tế, tăng cường KNS, đồng thời củng cố chất lượng dịch vụ theo hướng thân thiện với VTN/TN và phù hợp với khả năng chi trả của đối tượng [119]

Một báo cáo tổng thể về vấn đề SKSS vị thành niên của 13 quốc gia ở khu vực Châu Á

và Cận đông của POLICY Project đã đưa ra nhiều khuyến nghị rất giá trị và có tính ứng dụng cao cho các nước trong khu vực Các khuyến nghị nhấn mạnh rằng các vấn

đề SKSS VTN cần được giải quyết bằng việc kết hợp nhiều tiếp cận, giải pháp thực hiện như: tăng cường vận động để có chính sách thuận lợi trong việc triển khai thực hiện chương trình; huy động sự tham gia của đối tượng VTN trong việc xây dựng chính sách và thực hiện các chính sách về sức khoẻ cho VTN; tăng cường triển khai đào tạo, tập huấn cho các nhà hoạch định chính sách, GV, cha mẹ và đặc biệt là đối tượng VTN; tập huấn kĩ năng giao tiếp, nói chuyện với VTN về SKSS, tình dục; tăng cường vấn đề công bằng, bình đẳng giới trong chăm sóc SKSS; thúc đẩy VTN tiếp cận các nguồn thông tin về SKSS và dịch vụ sức khoẻ thân thiện với VTN; đồng thời tiến hành các nghiên cứu cần thiết để đảm bảo các chương trình can thiệp được thực hiện dựa vào các bằng chứng Những khuyến cáo này trở thành cơ sở quan trọng cho việc thiết kế chương trình can thiệp phù hợp tại Việt Nam [102]

Nhiều khuyến nghị, bài học kinh nghiệm từ nhiều nghiên cứu, dự án đã nhấn mạnh cần tiếp cận, cung cấp thông tin, giáo dục hướng dẫn cho VTN/TN về SKSS, SKTD sớm ngay từ tuổi học đường GV, các bậc cha mẹ, cán bộ y tế đều có vai trò rất quan trọng đối với VTN/TN trong việc giáo dục, định hướng cho thanh thiếu niên có nhận thức, hiểu biết đầy đủ và có KNS để sinh hoạt, học tập hiệu quả và tránh được những nguy

cơ đối với sức khỏe hoặc ra quyết định đúng trong các tình huống có nguy cơ đối với sức khỏe nói chung và SKSS nói riêng Các nội dung và chủ đề chính được nêu ra rất

rõ ràng và được cấu trúc thành các chương trình giảng dạy, hướng dẫn về SKSS cho

HS trong nhà trường đã được nhiều cơ quan, tổ chức về sức khỏe khuyến cáo sử dụng

và đã triển khai sử dụng ở nhiều nước có hiệu quả [78, 86]

1.2.3 Chương trình nâng cao SKSS-TD của VTN ở Đông Nam Á

Tại Thái Lan, mặc dù vẫn còn tồn tại một số khó khăn do rào cản văn hóa, đã có những nỗ lực rất lớn trong nhiều năm về việc triển khai giáo dục giới tính, tình dục cho VTN của các cơ quan và tổ chức tiềm năng thuộc chính phủ và phi chính phủ Từ năm

2002, Bộ Giáo dục đã công bố chương trình giáo dục giới tính tích hợp trong hệ thống giáo dục cơ bản gồm 3 cấp học: tiểu học (elementary), từ lớp 1-6 (6-12 tuổi); trung học bậc thấp (lower secondary), từ lớp 7-9 (13-15 tuổi); trung học bậc cao (upper secondary), từ lớp 10-12 (16-18 tuổi) Có 6 chủ đề được nhấn mạnh về phát triển con người, các mối quan hệ, kĩ năng cá nhân, hành vi tình dục, sức khỏe tình dục và các vấn đề văn hóa xã hội Chương trình đã được cập nhật, chỉnh sửa để sử dụng trong giảng dạy hiệu quả hơn Một báo cáo đánh giá hiệu quả của can thiệp dựa vào trường

HUPH

Trang 22

học ở Thái Lan trong năm 2008 cho thấy HS trung học tiếp xúc với chương trình giáo dục toàn diện này có kiến thức tốt hơn so với các sinh viên khác, và họ cũng có dự định từ chối QHTD sớm nhiều hơn, giảm tần suất QHTD; tuy nhiên chưa có khác biệt trong việc sử dụng BCS khi có QHTD [45]

Nhằm cải thiện các dịch vụ SKSS-TD cho VTN, Bộ Y tế công cộng đã triển khai thiết lập dịch vụ thân thiện với VTN, gọi là "Góc thân thiện" Đến năm 2006, đã có 50 cơ

sở thân thiện với VTN này trên toàn quốc Khả năng mở rộng và tăng cường loại dịch

vụ này cũng đã bị hạn chế do khó khăn về kinh phí Mô hình dịch vụ sức khỏe VTN dựa vào bệnh viện cũng đã được nghiên cứu áp dụng [125]

Ở Philippines, đã có nhiều chương trình can thiệp tập trung cải thiện tình trạng

SKSS-TD của VTN và được cung cấp bởi các cơ quan chính phủ và phi chính phủ ở cấp quốc gia và địa phương Hầu hết các chương trình này dựa vào cộng đồng, một số triển khai ở trường học, và một số ít được thực hiện tại nơi làm việc Các hình thức thực hiện bao gồm các bài giảng, hội thảo, thảo luận, đào tạo và các hoạt động truyền thông qua các phương tiện Nội dung tập trung vào SKSS-TD ở VTN Tuy nhiên, rất ít chương trình tập trung vào cha mẹ, người giám hộ, hoặc người cung cấp dịch vụ [122] Bên cạnh can thiệp giáo dục, một số chương trình can thiệp tích hợp vào dịch vụ y tế như tư vấn, dịch vụ y tế và chuyển tuyến tại các bệnh viện hoặc trung tâm y tế của trung ương hoặc địa phương [122] Một trong số đó là "Chương trình TeenBayan", do

tổ chức Save the Children tài trợ nhằm cải thiện SKSS-TD của VTN độ tuổi từ 13-18 Năm 2007, chương trình tập trung hỗ trợ người cung cấp dịch vụ y tế đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN để thu hút và giữ khách hàng là VTN nhiều hơn Sau một năm rưỡi hoạt động, mạng lưới dịch vụ SKSS thân thiện với VTN đã nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ cho VTN Kết quả đánh giá cho thấy những chương trình can thiệp truyền thông, giáo dục đã mang lại kết quả tích cực về kiến thức, thái độ và kĩ năng của VTN về SKSS-TD [122]

Tại Lào, trong giai đoạn 1994-2000, các chương trình sức khỏe cho giới trẻ hầu hết tập trung vào mục tiêu nâng cao kiến thức về HIV/AIDS hơn là các vấn đề SKSS nói chung Tuy nhiên, sau đó, các dự án về sức khỏe VTN đã có phạm vi rộng hơn Một số

dự án do các tổ chức quốc tế tài trợ trong giai đoạn 1997-2006 đã thực hiện các chương trình truyền thông về SKSS-TD của VTN cho giới trẻ Từ cuối những năm 90, các chủ đề về dân số, SKSS-TD đã được lồng ghép trong chương trình học của các trường tiểu học, trung học và giáo dục không chính quy với sự hỗ trợ của UNFPA Từ đầu những năm 2000, chủ đề dân số, SKSS-TD, HIV/AIDS, kĩ năng sống đã được lồng ghép giảng dạy trong một số trường có tính lựa chọn trong nước Một số đánh giá

ở qui mô nhỏ cho thấy kiến thức, thái độ của VTN về các chủ đề liên quan đã được cải thiện Về can thiệp ở mức dịch vụ, dịch vụ thân thiện với thanh thiếu niên và tư vấn đã được cung cấp, tuy nhiên số liệu đánh giá liên quan không đầy đủ [121]

Nhìn chung, các nước trong khu vực đã triển khai các chương trình hành động vì mục tiêu cải thiện tình trạng SKSS-TD cho VTN và thanh niên Các chương trình can thiệp

HUPH

Trang 23

có tính toàn diện, tiếp cận đa ngành, bao gồm cả các chương trình can thiệp dựa vào trường học, dựa vào cộng đồng, một số chương trình triển khai tại nơi làm việc Ngoài các nội dung về SKSS-TD, dân số, các tiếp cận dựa trên quyền của con người liên quan với SKSS-TD đã được đề cập; truyền thông đa dạng hình thức đã được đề cập và

áp dụng Mục tiêu chung của các chương trình can thiệp đều nhằm cải thiện kiến thức, thái độ, kĩ năng của VTN và thanh niên về SKSS-TD để giúp họ có thể trì hoãn QHTD lần đầu, QHTD an toàn hơn để tránh hậu quả không mong muốn Các kết quả đạt được cho thấy sự thay đổi về kiến thức và thái độ nổi bật hơn so với những thay đổi về hành

vi

1.3 Vấn đề SKSS-TD của VTN/TN và chương trình can thiệp tại Việt Nam

Ở Việt Nam, VTN tuổi 10-19 chiếm gần 19% dân số; VTN/TN tuổi 10-24 chiếm khoảng 32% dân số cả nước [80] Mặc dù Luật Hôn nhân và Gia đình qui định tuổi kết hôn ở nam là từ 20 và ở nữ là từ 18 tuổi [100], nhưng thực tế một số trường hợp đã kết hôn ở độ tuổi trẻ hơn Báo cáo Điều tra dân số Việt Nam năm 2009 cho thấy 2,2% nam VTN tuổi 15-19 đã từng kết hôn, tỉ lệ này ở nữ VTN cao hơn là 8,5% Tỉ lệ này ở khu vực nông thôn và miền núi cao hơn so với vùng đô thị [80, 93]

Năm 2011, một điều tra hộ gia đình được tiến hành ở 6 vùng sinh thái, kết quả cho thấy 63,1% nữ thanh thiếu niên độ tuổi 15-24 đã từng có QHTD Tỉ lệ này của VTN

độ tuổi 15-19 là 9,3% [81] Tỉ lệ này cao hơn so với tỉ lệ QHTD trước hôn nhân trong giới trẻ nói chung (tuổi 14-25) là 9,5% trong điều tra quốc gia về sức khỏe thanh thiếu niên Việt Nam năm 2009 (SAVY 2) và cao hơn tỉ lệ này của SAVY 1 năm 2005 là 7,6% [38, 39]

Dữ liệu về vấn đề mang thai, phá thai hoặc sinh đẻ trong VTN hoặc thanh thiếu niên rất hiếm và thường rời rạc từ các dịch vụ y tế công Thống kê của Bộ Y tế tổng hợp từ hầu hết dịch vụ y tế công trên toàn quốc trong năm 2010, cho thấy số VTN mang thai

là hơn 62600 trường hợp, chiếm 3,24% trong tổng số phụ nữ mang thai Tỉ lệ phá thai

ở VTN là 2,23% trong tổng số phụ nữ phá thai Trong năm 2011, các trường hợp VTN mang thai tăng tương đối, tuy nhiên tỉ lệ phụ nữ mang thai nói chung thì không thay đổi Số phá thai VTN gia tăng nhanh chóng so với năm 2010 với tỉ lệ phá thai VTN trong tổng trường hợp phá thai đạt 2,81% trong năm 2011 [97]

Năm 2011, tỉ lệ sinh trong nhóm VTN là 46 trên 1000 nữ VTN tuổi 15-19 (4,6% nữ VTN tuổi 15-19 đã sinh con), cùng với 2,9% đang mang thai đứa con đầu tiên, nên tỉ

lệ sinh ở VTN nói chung là 7,5% [81]

1.3.1 Chính sách và Chiến lược nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN

Năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Chiến lược quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010 [82] Chiến lược này đã nhấn mạnh chăm sóc SKSS cho VTN/TN là một trong những vấn đề ưu tiên cần được thực hiện ở tất cả các cấp Một trong sáu mục tiêu của chiến lược là cải thiện tình trạng SKSS-TD của thanh thiếu niên thông qua giáo dục, tư vấn và cung cấp dịch vụ SKSS phù hợp với các lứa tuổi

HUPH

Trang 24

khác nhau Chiến lược này cũng nêu ra các biện pháp chiến lược để cải thiện

SKSS-TD của VTN/TN thông qua giáo dục và tư vấn, cũng như cung cấp các dịch vụ sức khỏe thân thiện (DVTT) với giới trẻ

Năm 2006, Bộ Y tế ban hành Kế hoạch quốc gia tổng thể về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe VTN/TN giai đoạn 2006-2010 và định hướng chiến lược đến năm 2020 [95] Kế hoạch này tiếp tục cung cấp các hướng dẫn chiến lược để giảm các hành vi nguy cơ sức khỏe và cải thiện tình trạng SKSS của thanh thiếu niên đến năm 2020 và nhằm đạt được các mục tiêu của Chiến lược quốc gia Các mục tiêu chính là tăng cường tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng của giới trẻ, đặc biệt là các dịch vụ về SKSS-TD, phòng tránh lây nhiễm HIV và các bệnh LQĐTD; giảm số trường hợp mang thai, phá thai tuổi VTN; phòng tai nạn và thương tích; giảm tỉ lệ sử dụng chất gây nghiện và mắc các vấn đề sức khỏe tâm thần trong VTN/TN Năm

2009, Bộ Y tế đã ban hành Hướng dẫn Quốc gia về các dịch vụ SKSS, gồm cả đảm bảo DVTT cho VTN/TN [96] Tài liệu này tạo điều kiện thuận lợi để lập kế hoạch triển khai các chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN phù hợp và thực hiện có hiệu quả

Sau 10 năm thực hiện Chiến lược chăm sóc SKSS giai đoạn 2001-2010, kết quả đánh giá thực hiện chiến lược đã cho thấy một phần mục tiêu cải thiện tình trạng SKSS-TD của VTN/TN đã đạt được Một số chương trình can thiệp về SKSS-TD của VTN/TN

đã được triển khai trong các trường học, cộng đồng và cơ sở y tế tại các địa phương Gần một nửa số tỉnh, thành phố đã thiết lập các cơ sở DVTT với VTN/TN Tuy nhiên,

vì lí do nguồn lực hạn chế, kết quả được ghi lại là không đáng kể; nhiều hoạt động chưa thực hiện [84]

1.3.2 Các chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN ở Việt Nam

Các hành vi nguy cơ đối với SKSS, những hậu quả tiêu cực như mang thai, phá thai trong nhóm VTN là đáng chú ý và cần có những can thiệp hiệu quả Nâng cao SKSS, tăng cường tình dục an toàn; hình thành kĩ năng sống (KNS) nói chung và KNS cần thiết để nâng cao SKSS-TD cho VTN thông qua hoạt động truyền thông, giáo dục sức khỏe về những chủ đề liên quan trong các chương trình can thiệp dựa vào trường học, dựa vào cộng đồng và làm cho các cơ sở y tế trở nên thân thiện với VTN đã được chứng minh là có hiệu quả [30, 45] Với kì vọng giảm số lượng VTN mang thai, phá thai, cũng như kiểm soát số mắc các bệnh LQĐTD, kể cả HIV/AIDS, việc thực hiện các hành vi tình dục an toàn và các hành vi có lợi cho sức khỏe khác đóng một vai trò quan trọng trong việc cải thiện tình trạng sức khỏe của VTN

Cuối những năm 1980, do áp lực dân số tăng nhanh, các chương trình quốc gia về kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) chủ yếu tập trung kiểm soát mức sinh; đã cung cấp thông tin về SKSS và các biện pháp tránh thai cho các cặp vợ chồng nhưng hầu như không có cho VTN/TN Điều này làm sự hạn chế tiếp cận các dịch vụ SKSS-TD của nhóm VTN/TN Tuy nhiên, từ đầu những năm 1990, các chương trình SKSS-TD khác

HUPH

Trang 25

nhau cho thanh thiếu niên tại cộng đồng, trong các trường học đã được triển khai thực hiện tại các khu vực khác nhau của Việt Nam [23, 85, 88, 92]

1.3.2.1 Chương trình tại trường học

Các hoạt động can thiệp trong trường học về các chủ đề SKSS, SKTD đã được chứng minh là có hiệu quả cao Điểm chung của các dự án sử dụng phương pháp này đó là phát triển các tài liệu giảng dạy về SKSS và SKTD; tập huấn nâng cao kiến thức về SKSS, SKTD VTN/TN cho các GV Đã có một số dự án đã lồng ghép giảng dạy SKSS-SKTD chính thức trong chương trình dạy học của nhà trường hoặc tổ chức thành các chuyên đề riêng để giảng dạy Bên cạnh đó, các góc truyền thông thân thiện cũng được xây dựng, củng cố tại nhiều trường học Thách thức chính là việc mở rộng phạm vi áp dụng và tính duy trì nếu không còn sự hỗ trợ của các dự án [13, 21, 107, 116]

Từ năm 1988, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) đã triển khai chương trình "Giáo dục dân số, Giáo dục tình dục và Cuộc sống gia đình", với sự hỗ trợ của UNFPA và UNESCO, tại 17 trong 53 tỉnh/thành phố của Việt Nam Sau giai đoạn thử nghiệm, từ năm 1994, chương trình đã được mở rộng trên toàn quốc Từ giai đoạn 1998-2000, chương trình có tên là "Giáo dục về Dân số và Sức khỏe sinh sản" Nội dung về dân số

và SKSS thường được tích hợp vào các môn học như Sinh học, Giáo dục công dân, Địa lý, hoặc vào các hoạt động ngoại khóa của HS từ lớp 8 Thực tế các nội dung chủ yếu được phổ biến ở lớp 10 và 12 [14, 22] Dự án này đã tập trung vào giáo dục các vấn đề dân số, SKSS cho HS, thực hiện các khóa đào tạo về dân số và SKSS cho GV

để có thể tham gia giảng dạy hoặc trao đổi về các chủ đề nhạy cảm liên quan

Trong giai đoạn 2001-2003, dựa vào kết quả đánh giá dự án trước đó, Bộ GD-ĐT tiếp tục thực hiện các tiểu dự án "Giáo dục dân số" nhằm nâng cao chất lượng giáo dục dân

số và SKSS HS các trường trung học phổ thông đã không tiếp cận được trong các chương trình trước đó Các hoạt động chính gồm: đào tạo cho hàng ngàn GV của 53 tỉnh/thành phố về dân số và SKSS, cũng như phương pháp dạy học liên quan để có đủ năng lực giảng dạy các chủ đề liên quan trong các trường phổ thông trung học Dự án cũng đã đào tạo cho hàng ngàn người làm quản lí của các trường trung học, cũng như cán bộ quản lí của các Sở GD-ĐT về chủ đề này; cung cấp các tài liệu đào tạo liên quan cho GV và HS chủ chốt như “Sổ tay hướng dẫn tổ chức các hoạt động ngoại khóa về giáo dục SKSS VTN trong trường học" [14]

Trong giai đoạn 2001-2005, với tài trợ của UNFPA, Bộ GD-ĐT thực hiện dự án "Hỗ trợ giáo dục Dân số và SKSS trong trường học" Mục tiêu của dự án là kết hợp các hoạt động giáo dục khác để tăng cường cung cấp kiến thức và cải thiện kĩ năng liên quan với SKSS cho HS Bộ GD-ĐT & ĐT đã yêu cầu nghiên cứu tích hợp các nội dung giáo dục SKSS VTN vào chương trình giảng dạy chính thức Bên cạnh đó, thông qua các hoạt động ngoại khóa phù hợp để tạo điều kiện thuận lợi cho HS bày tỏ quan điểm của họ, chia sẻ thông tin và kiến thức va KNS liên quan với SKSS-TD của VTN

HUPH

Trang 26

Một số chương trình dựa vào trường học có qui mô nhỏ hơn đã được triển khai tại một

số địa phương khác nhau trong cả nước Từ năm 1996, Sở GD-ĐT thành phố Hồ Chí Minh, với sự hỗ trợ của Tổ chức Cứu trợ trẻ em, đã tiến hành chương trình giáo dục về HIV/AIDS trong trường học cho HS từ tiểu học đến trung học tại một số trường của thành phố [88] Trong giai đoạn từ 2008 đến 2010, cũng với tài trợ của tổ chức này, Bộ GD-ĐT triển khai dự án với mục tiêu nâng cao kiến thức và thực hành giảm nguy cơ lây nhiễm HIV và mắc các vấn đề SKSS trong HS bằng cách cải thiện chất lượng giảng dạy và học tập về SKSS và HIV/AIDS trong các trường trung học Chương trình mới chỉ ở mức độ tích hợp các nội dung liên quan vào các hoạt động ngoại khóa về sức khỏe hoặc nhằm vào mục đích thí điểm Hạn chế nói chung là chưa có một kế hoạch toàn diện và lâu dài; sự tham gia và hỗ trợ của cha mẹ HS trong các chương trình này vẫn còn yếu

KNS là khả năng hành động tích cực và phù hợp với hoàn cảnh, tạo điều kiện cho cá nhân ứng phó hiệu quả với những đòi hỏi và thách thức của cuộc sống hàng ngày [25]

Đó chính là tập hợp các kĩ năng của con người có được thông qua học tập, trải nghiệm, giúp cá nhân sống, học tập, làm việc hiệu quả, cũng như có thể vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Chính vì thế, KNS cần thiết đối với mọi người, đặc biệt đối với nhóm VTN

Từ năm 1996, với hỗ trợ của UNICEF, Bộ GD-ĐT và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã thực hiện chương trình giảng dạy KNS cho thanh thiếu niên tại 7 tỉnh/thành phố Chương trình tập trung vào giáo dục KNS và phòng chống HIV/AIDS thanh thiếu niên trong trường học Nhiều KNS cần thiết như ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức bản thân, làm chủ cảm xúc và ứng phó với stress v.v., được biên soạn và tích hợp vào chương trình học Đối với thanh thiếu niên không đến trường, chương trình giáo dục

về KNS được Hội Chữ thập đỏ thiết kế và áp dụng trong các can thiệp dựa vào cộng đồng [88, 118] Các chương trình can thiệp nâng cao SKSS-TD cho VTN cần phải cân nhắc các yếu tố văn hóa, xã hội để tích hợp giáo dục KNS trong trường học

Dự án ”Giáo dục SKSS và phòng chống HIV/AIDS cho HS trung học” do Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai thực hiện trong giai đoạn 2008-2009, với tài trợ của Tổ chức Save the Children cũng là một chương trình điển hình Mục tiêu nhằm nâng cao kiến thức về SKSS, HIV/AIDS, giảm hành vi nguy cơ liên quan đến SKSS và lây nhiễm HIV trong HS trung học thông qua việc nâng cao chất lượng giáo dục về SKSS và phòng, chống HIV/AIDS trong nhà trường Dự án đã thu được những kết quả đáng kể [3] Một dự án khác là “Xây dựng mô hình chăm sóc SKSS VTN/TN”do Trung ương Đoàn thanh niên thực hiện với tài trợ của Ngân hàng tái thiết Đức và Tổ chức Marie Stopes tài trợ Với mục tiêu tăng khả năng tiếp cận thông tin và dịch vụ SKSS cho VTN/TN, các hoạt động can thiệp đã tiến hành ở 6 trường THPT, 6 trường THCS, xây dựng một số trung tâm tư vấn tại một số điểm của xã, phường và kí túc xá sinh viên tại

6 tỉnh/thành phố; 4 mô hình truyền thông chính được triển khai là giáo dục đồng đẳng, câu lạc bộ SKSS, góc thân thiện (mô hình Ngôi nhà tuổi trẻ) và xây dựng trang web

HUPH

Trang 27

“gioitinhtuoiteen.org.vn” Kết quả thu được rất khả quan, nhiều lượt HS tham gia, trang web được duy trì và đông đảo bạn trẻ truy cập [17]

1.3.2.2 Chương trình tại cộng đồng

Nhiều sáng kiến nhằm giảm các hành vi nguy cơ đối với sức khỏe và hỗ trợ các nhu cầu về SKSS-TD của giới trẻ đã được thực hiện sau khi có chương trình hành động chung của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển năm 1994 Các chương trình tiếp cận thanh thiếu niên, kể cả những em còn đang đi học hoặc các em không còn đến trường nữa, thông qua các hình thức, phương pháp truyền thông, giáo dục khác nhau, cũng như thành lập các trung tâm thanh thiếu niên; các trung tâm khám chữa bệnh thuộc chính phủ cũng như phi chính phủ, nhằm tăng cường khả năng tiếp cận và đáp ứng nhu cầu về SKSS-TD cho VTN/TN tại cộng đồng

Một số chương trình và các hoạt động dựa vào cộng đồng đã được triển khai như: các câu lạc bộ thanh thiếu niên; các đội tuyên truyền di động và các hình thức truyền thông khác Đoàn thanh niên đã đóng vai trò chính trong việc triển khai thực hiện các chương trình SKSS-TD cho VTN/TN thí điểm kể từ đầu những năm 1990 Các mô hình truyền thông về SKSS-TD thử nghiệm khác nhau đã được phát triển và thực hiện theo qui mô nhỏ với hỗ trợ của các tổ chức quốc tế Ví dụ: câu lạc bộ thanh niên chưa lập gia đình, câu lạc bộ vợ chồng trẻ, các cuộc thi hoặc cuộc thi về SKSS, dân số và kế hoạch hóa gia đình Các mô hình hoạt động khác như tư vấn trực tiếp qua điện thoại; các đội truyền thông về SKSS-TD lưu động đã được triển khai tại 6 tỉnh dự án với sự

hỗ trợ của UNFPA [14]

Giáo dục KNS cũng đã được tích hợp vào các hoạt động tại cộng đồng Từ cuối năm

1990 đến đầu những năm 2000, Đoàn Thanh niên đã thực hiện dự án "Nâng cao SKSS VTN - VIE/97/P12" cho thanh thiếu niên trong cả nước Hội Phụ nữ cùng với các cơ quan chức năng khác cũng đã triển khai thực hiện chương trình "Giáo dục KNS", phòng chống các nhiễm khuẩn LQĐTD và HIV/AIDS cho phụ nữ trẻ [14]

Dự án Sáng kiến SKSS cho thanh thiếu niên ở Châu Á (RHIYA), do Liên minh châu

Âu tài trợ, tiến hành tại Việt Nam từ năm 2003 đến 2006 Thanh thiếu niên tuổi 10-24, còn đi học hoặc không còn đến trường, từ vùng đô thị, bán đô thị và nông thôn của 7 tỉnh/thành phố Dự án nhấn mạnh chủ đề bình đẳng giới trong giáo dục về SKSS-TD cho thanh thiếu niên và các dịch vụ hỗ trợ Dự án vận động chính sách, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho giới trẻ nâng cao kiến thức, kĩ năng về SKSS-TD và hành động

có trách nhiệm; nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh thiếu niên tiếp cận dịch

vụ hỗ trợ Tiếp cận dựa vào cộng đồng, có sự tham gia của các trường học, của mạng lưới đồng đẳng, chương trình đã thúc đẩy tăng cường kiến thức về SKSS-TD và thực hiện hành vi lành mạnh trong thanh thiếu niên Đồng thời, chương trình cung cấp thông tin thích hợp, tư vấn và điều trị cho thanh thiếu niên có nguy cơ bằng việc cung cấp dịch vụ y tế phù hợp Chương trình đã có những khuyến nghị như cần phải đảm bảo sự tham gia bền vững của thanh thiếu niên; phối hợp tốt giữa các hoạt động vận động, truyền thông thay đổi hành vi và DVTT với thanh thiếu niên; củng cố các “Góc

HUPH

Trang 28

thân thiện” với thanh thiếu niên (dạng DVTT đơn giản) tại các cơ sở y tế tuyến cơ sở

và đầu tư nguồn lực bền vững cho các hoạt động liên quan [115]

Các chương trình can thiệp dựa vào cộng đồng về SKSS cũng rất đa dạng về hình thức Nổi bật là Dự án “Cải thiện chất lượng chăm sóc SKSS ở Việt Nam” do Bộ Y tế điều phối triểnkhai tại 11 tỉnh/thành phố với tài trợ của Tổ chức Pathfinder và Tổ chức Engender Health Mục tiêu Các hoạt động đào tạo về SKSS, giám sát hoạt động chăm sóc SKSS, kĩ năng lập kế hoạch; nâng cấp trang thiết bị cho cơ sở y tế và làm cho dịch

vụ thân thiện hơn với khách hàng, đặc biệt là thanh thiếu niên Kết quả mô hình dịch

vụ thân thiện được triển khai ở nhiều tỉnh/thành phố, đặc biệt ở Hà Nội và TP HCM Đồng thời, nhiều sản phẩm truyền thông được sản xuất và phân phát cho nhiều người [5] Với mong muốn tăng cường kiến thức về SKSS cho đối tượng thanh thiếu niên thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, nhiều chương trình phát thanh, truyền hình và nhiều bài viết về SKSS đăng trên các tạp chí đã được triển khai do Trung ương Đoàn TNCS HCM điều phối thực hiện trong giai đoạn 2001-2005 Kết quả đáng chú ý

là chương trình “Cửa sổ tình yêu” trên sóng phát thanh và internet được rất nhiều thanh thiếu niên đón nhận [16]

Nhằm tăng cường SKSS, phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên thông qua một diễn đàn diễn đàn lành mạnh trên mạng internet để thanh thiếu niên tham gia tìm hiểu

và thảo luận về các vấn đề liên quan đến tình dục, SKSS và HIV/AIDS, dự án “Thông tin và tư vấn trực tuyến về HIV/AIDS, tình dục và SKSS” được Công ty Tư vấn đầu tư

y tế (CIHP) và Trung tâm Sáng kiến sức khoẻ và dân số (CCIHP) điều phối thực hiện với tài trợ của Quỹ cứu trợ trẻ em và Quỹ Ford Kết quả là trang web tamsubantre.org với nhiều thông tin về SKSS, SKTD và HIV/AIDS được duy trì và hàng triệu lượt người truy cập Ngoài ra trang web này còn là diễn đàn để trao đổi, thảo luận và tham vấn ý kiến chuyên gia rất hữu ích và hiệu quả [7]

Một trong những chương trình can thiệp về SKSS cho thanh thiếu niên nổi bật khác là Chương trình sáng kiến chăm sóc SKSS VTN/TN Việt Nam (RHIYA) do Trung ương Đoàn TNCS HCM, Hội Kế hoạch hoá gia đình và UNFPA điều phối thực hiện Mục tiêu chính là tăng cường SKSS cho VTN/TN Việt Nam, đặc biệt là cho các nhóm thiệt thòi trong đó có nhấn mạnh đến yếu tố giới trong can thiệp Các hoạt động chính được tiến hành gồm đào tạo xây dựng năng lực, vận động chính sách, truyền thông thay đổi hành vi và tăng cường dịch vụ y tế và hành vi tìm kiếm dịch vụ Nhiều thành tựu đáng

kể đạt được như: Luật Thanh niên, Kế hoạch quốc gia về bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ VTN/TN Việt Nam giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến năm 2020 được công bố; các

mô hình vận động chính sách thử nghiệm ở Đà Nẵng và Hải Phòng được triển khai; các hoạt động truyền thông về SKSS trực tiếp và qua kênh đại chúng được thực hiện;

22 góc thân thiện tại 7 tỉnh được thử nghiệm; các hoạt động thu hút sự tham gia của đông đảo thanh thiếu niên và được đánh giá cao [115]

Nhiều chương trình, dự án khác có mục tiêu cung cấp kiến thức, kĩ năng về SKSS cho thanh thiếu niên được triển khai thực hiện rộng khắp cả nước Các hoạt động can thiệp tập trung vào tư vấn về SKSS tại các phòng tư vấn, hoạt động câu lạc bộ “sức khoẻ vị

HUPH

Trang 29

thành niên”, lồng ghép các hoạt động truyền thông giáo dục về SKSS, SKTD vào các chương trình dân số, kế hoạch hoá gia đình… Hoạt động giáo dục SKSS qua hoạt

động của Góc thân thiện cũng đã được đánh giá cao và được ghi nhận là ưu tiên triển

khai trong “Kế hoạch tổng thể quốc gia về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ

của VTN/TN” Thực tế việc triển khai góc thân thiện với VTN/TN nhìn chung thuận tiện ở khu vực đồng bằng, đô thị, nhưng chưa phổ biến đối với VTN ở vùng sâu, vùng

xa [13, 107, 114, 115]

Các báo cáo nghiên cứu, kết quả dự án đều thể hiện điều quan trọng nhất của việc cung cấp dịch vụ SKSS, SKTD cho VTN/TN ở Việt Nam là sự sẵn có của các dịch vụ tư vấn và đảm bảo về tính riêng tư và bí mật VTN thường chọn các dịch vụ SKSS ở các phòng khám tư nhân vì vậy các chương trình can thiệp cần phải chú ý nhiều hơn đến những cơ sở này [15, 120] Một chương trình tiếp thị xã hội tốt về chủ đề SKSS kết hợp với giáo dục đồng đẳng và các địa điểm cung cấp dịch vụ phù hợp có thể giúp tăng cường sự tiếp cận các dịch vụ chăm sóc SKSS, SKTD của giới trẻ Mô hình “góc thân thiện”, “dịch vụ thân thiện” đã ra đời với mong muốn đáp ứng các yêu cầu này [107]

Mặc dù các hoạt động can thiệp hướng đến đối tượng VTN/TN tương đối đa dạng và phổ biến tuy nhiên các chương trình, hoạt động tập trung vào đối tượng cha mẹ về SKSS, SKTD của VTN/TN, kĩ năng chia sẻ, trợ giúp con em mình có KNS, phòng tránh các nguy cơ đối với SKSS VTN/TN ở Việt Nam; tạo nguồn thông tin tin cậy và

dễ tiếp cận cho các em cũng như trở thành chỗ dựa về tinh thần cho các em lại chưa được chú ý và còn ít ỏi Đây là lĩnh vực cần được cân nhắc thiết kế triển khai thực hiện

Cần phải tăng cường hơn nữa sự tham gia của thanh thiếu niên, là đối tượng đích của các chương trình vào lập kế hoạch và thực hiện các chương trình nâng cao SKSS thanh thiếu niên; các can thiệp cần cân nhắc yếu tố giới và thiết kế lồng ghép các tiếp cận giới trong các chiến lược can thiệp để triển khai thực hiện hiệu quả Điều này thật sự được nhấn mạnh trong kế hoạch chiến lược nâng cao SKSS VTN/TN đến năm 2010 và tầm nhìn đến 2020 [4]

Vận động là một trong những tiếp cận rất quan trọng hỗ trợ cho sự thành công và bền vững của các chương trình can thiệp SKSS và SKTD cho VTN/TN Mục tiêu chính của quá trình vận động này là có được sự ủng hộ của cộng đồng và sự ủng hộ của những nhà lãnh đạo Bản thân thanh thiếu niên cũng cần phải tham gia vào quá trình vận động này Tiếng nói của họ giúp cho những nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn những nhu cầu thiết thực của họ [112, 113]

Các can thiệp trong giai đoạn từ 2000 – 2004 đã rất thành công trong việc vận động tạo ra môi trường thuận lợi và các chính sách hỗ trợ cho tăng cường SKSS của VTN/TN, và được khuyến cáo tiếp tục quá trình vận động không ngừng để có nguồn lực và các điều kiện tốt nhất cho quá trình thực hiện kế hoạch hành động ở cấp quốc gia hoặc ở các cấp thấp hơn [8, 9, 74, 77, 107]

HUPH

Trang 30

Một số tài liệu cũng đã nêu ra những khuyến cáo tiếp tục cải thiện chương trình đào tạo, tập huấn ngắn hạn cho người cung cấp dịch vụ, đặc biệt là các cán bộ y tế có trách nhiệm về chăm sóc SKSS VTN/TN ở vùng nông thôn, vùng sâu và vùng xa Ngoài các vấn đề về SKSS như QHTD không an toàn, có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai; các vấn đề về HIV/AIDS, cần đề cập các vấn đề có liên quan khác như bạo lực, lạm dụng tình dục v.v [12, 20, 114]

1.3.2.3 Chương trình tại các cơ sở y tế

Sáng kiến dịch vụ thân thiện (DVTT) với thanh thiếu niên đã được áp dụng ở nhiều nơi tại Việt Nam Bộ Y tế đã ban hành hướng dẫn cung cấp dịch vụ này từ năm 2007 với các qui mô khác nhau tùy thuộc vào nguồn lực thực tế [6, 22] Nhiều tổ chức phi chính phủ đã tài trợ cho các địa phương thiết lập các DVTT cho VTN/TN tích hợp trong các trạm y tế (TYT) xã/phường Mô hình hoạt động với nguyên tắc cung cấp tư vấn về SKSS-TD không có kì thị, phân biệt đối xử, đảm bảo tính riêng tư, bí mật cho VTN/TN Mô hình này cũng đã tích hợp trong các trung tâm y tế, y tế cơ quan/nhà máy/xí nghiệp, trường học, trung tâm văn hóa cộng đồng hoặc hoạt động độc lập

Từ năm 2004, tổ chức Pathfinder quốc tế tại Việt Nam đã triển khai các dự án về SKSS cho VTN/TN, với DVTT tích hợp vào các dịch vụ chăm sóc SKSS tại 3 tỉnh dự

án Đến 2007, mô hình này đã mở rộng trên 17 tỉnh/thành phố Ước tính số lượng lũy tích VTN/TN đã tiếp cận và sử dụng DVTT khoảng 75000 lượt người [101] Hiện nay các thông tin về thực trạng DVTT và hiệu quả sử dụng dịch vụ còn tản mạn và chưa thu thập được những báo cáo chính thức

Tại các cơ sở y tế, đặc biệt là cơ sở có cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS, hoạt động can thiệp tập trung nâng cao năng lực cho cán bộ y tế phụ trách công tác này về kiến thức, kĩ năng chuyên môn, kĩ năng tư vấn SKSS-SKTD, tình yêu, giới tính Bên cạnh

đó, cơ sở vật chất cũng được quan tâm cải thiện theo hướng làm cho dịch vụ thân thiện hơn với thanh thiếu niên, tạo điều kiện thuận lợi cho họ tiếp cận, sử dụng dịch vụ khi

có nhu cầu Với sự tài trợ của Quỹ AP và Tổ chức Marie Stopes quốc tế, Dự án “Tăng cường năng lực chăm sóc SKSS cho mạng lưới y tế xã phường” được triển khai thực hiện tại Đà Nẵng và Khánh Hoà từ 2007, với mục tiêu củng cố chất lượng và thu hút khách hàng sử dụng dịch vụ SKSS tại TYT Các hoạt động tập huấn về chuyên môn,

tư vấn, tiếp thị xã hội cho cán bộ y tế xã được tiến hành Dự án đã được nhiều địa phương học tập nhân rộng

Đào tạo cho cán bộ y tế là một biện pháp hiệu quả để tăng cường kiến thức cho những người cung cấp dịch vụ Qua những người này, thanh thiếu niên có thể tiếp cận với thông tin SKSS nhanh nhất Tuy nhiên, thực tế giới trẻ ít đến TYT để tìm hiểu những thông tin này vì những khác biệt trong quan điểm hoặc do ngại ngùng Sắp xếp, bố trí các hoạt động tại Góc truyền thông thân thiện với thanh thiếu niên tại cơ sở y tế sẽ góp phần tăng khả năng tiếp nhận thông tin sức khỏe cần thiết cho họ [114]

Sự quan tâm, ủng hộ của chính phủ đối với việc nâng cao chất lượng chăm sóc SKSS cho người dân trong đó có nhóm VTN/TN đã được thể hiện qua việc Bộ Y tế ban hành

HUPH

Trang 31

Chuẩn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS năm 2002, sau đó được hiệu chỉnh thành Hướng dẫn quốc gia về các dịch vụ chăm sóc SKSS, trong đó đề cập dịch vụ sức khỏe thân thiện với VTN/TN với những hướng dẫn triển khai tại các cơ sở y tế của tất

cả các tuyến Điều này đã tạo môi trường chính sách thuận lợi cho sự lồng ghép thích hợp và hiệu quả các hoạt động chăm sóc SKSS thân thiện với VTN/TN trong hệ thống cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS tại các tuyến [6] Quá trình triển khai thực hiện dịch

vụ sức khỏe thân thiện với VTN/TN đã được đánh giá ở một số địa phương với những kết quả khả quan và thể hiện rõ nhu cầu thực sự của loại hình dịch vụ này Lồng ghép dịch vụ SKTT trong các cơ sở chăm sóc SKSS nhà nước và tuyến y tế cơ sở là phù hợp và khả thi với những cân nhắc với điều kiện thực tế và nhu cầu thực sự của VTN/TN [11]

1.3.3 Phát triển tài liệu truyền thông và các chiến dịch truyền thông

Với hỗ trợ tài chính và kĩ thuật của nhiều tổ chức quốc tế, Bộ Y tế, Bộ GD-ĐT, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, v.v đã thực hiện nhiều dự án phát triển, sản xuất và phổ biến các loại tài liệu truyền thông khác nhau về SKSS-TD như: áp phích, tờ rơi, sách mỏng cho VTN/TN và các đối tượng khác Các nội dung chính đề cập các đặc điểm tâm, sinh lí của VTN; tình bạn, tình yêu; những thông tin cần biết về HIV/AIDS; KNS v.v được trình bày trong các tài liệu Nhiều cuốn sách về "Giáo dục về SKSS-TD cho thanh thiếu niên” đã được sản xuất và cung cấp cho thanh thiếu niên và các độc giả khác

Các chiến dịch truyền thông ở qui mô quốc gia đầu tiên về SKSS VTN được Đoàn Thanh niên tổ chức theo dự án VIE/97/P12 váo năm 1998 do UNFPA tài trợ Mục tiêu của các chiến dịch này nhằm nâng cao nhận thức của giới trẻ về lợi ích của việc trì hoãn QHTD, khuyến khích VTN/TN đã hoạt động tình dục thực hành tình dục an toàn Quá trình thực hiện có sự kết hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng và cơ quan truyền thông các cấp; trường học v.v nhằm đạt được kết quả tốt nhất

Một số dự án ở thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với cơ quan báo chí để cung cấp thông tin SKSS-TD cho VTN/TN và thúc đẩy giao tiếp giữa người lớn và VTN về chủ

đề này để góp phần cải thiện kiến thức, thái độ, kĩ năng và hành vi liên quan với SKSS-TD, phòng lây nhiễm HIV của VTN/TN [106]

Những hoạt động truyền thông sáng tạo khác cũng đã được thực hiện ở Việt Nam từ giữa những năm 1990, đặc biệt là các hoạt động phòng chống HIV/AIDS đã được lồng ghép vào các chương trình SKSS-TD cho VTN Các hoạt động truyền thông bao gồm

tư vấn và giáo dục đồng đẳng tại các địa điểm có tính sáng tạo như "Cà phê bao cao

su", "Cà phê tư vấn", "Green shop" và "nhóm bạn giúp bạn" Các cơ sở này được

Đoàn Thanh niên ở các tuyến điều phối hoạt động, đặc biệt phổ biến ở khu vực đô thị Khách hàng đến các cơ sở này ngoài mục đích giải khát, còn có thể nhận được thông tin tư vấn, tài liệu truyền thông hoặc bơm kim tiêm, BCS, thuốc tránh thai v.v

HUPH

Trang 32

1.3.4 Tích hợp chủ đề SKSS-TD của VTN vào các chương trình khác

Chủ đề SKSS-TD của VTN cũng đã được đề cập trong các chương trình khác nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và sự tham gia của nam giới trong chăm sóc SKSS-TD được thực hiện bởi Hội Phụ nữ, Hội Nông dân và Hội Chữ thập đỏ Việt Nam Hầu hết các chương trình được hỗ trợ bởi các tổ chức quốc tế và phi chính phủ Các hoạt động chính tập trung vào truyền thông về kế hoạch hóa gia đình, áp dụng biện pháp tránh thai và phòng chống HIV/AIDS cho VTN/TN

Các chuẩn mực giới được cho là ảnh hưởng đến kiến thức, thái độ và hành vi về SKSS-TD của VTN Các chuẩn mực giới định hình vai trò của cả nam và nữ thông qua tác động của chúng trong các tương tác xã hội Thực tế vẫn còn những quan điểm khác nhau gán cho hai giới nam và nữ, ví dụ đàn ông được cho là người chủ động trong các mối quan hệ về tình dục, trong khi đó phụ nữ là người đón nhận, không chủ động bày tỏ; hay sự cởi mở về tình dục ở nam giới được chấp nhận, trong khi phụ nữ thường được kì vọng là người phục tùng trong QHTD Chuẩn mực của cá nhân ảnh hưởng tới thái độ của họ, góp phần định hình hành vi cá nhân Tuổi VTN là giai đoạn quan trọng

để hình thành các chuẩn mực, giá trị tích cực, tạo điều kiện thực hiện hành vi tích cực,

có lợi cho sức khỏe Do đó, kết hợp quan điểm giới vào giáo dục, đào tạo và cung cấp dịch vụ sẽ góp phần nâng cao SKSS-TD tốt hơn cho VTN/TN [75]

Nữ VTN là đối tượng dễ bị tổn thương hơn nên các chương trình cần tập trung vào các

cô gái đã lập gia đình hoặc chưa kết hôn nhưng đã có hoạt động tình dục để nâng cao nhận thức về sức khỏe nói chung, SKSS-TD nói riêng, hiểu về quyền của cá nhân, để củng cố sự tự chủ và tự quyết định để phòng tránh nguy cơ đối với sức khỏe Chương trình có nhấn mạnh yếu tố giới còn thúc đẩy giao tiếp giữa nam và nữ VTN/TN và điều này chính là điều kiện tiên quyết để thực hiện các hành vi liên quan với SKSS-TD hiệu quả

1.3.5 Một số hạn chế của chương trình SKSS-TD cho VTN ở Việt Nam

Các chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN ở Việt Nam thường được triển khai theo các dự án do một số tổ chức quốc tế hỗ trợ thực hiện Các chương trình thường chỉ được thực hiện ở một số địa phương, trong một thời gian nhất định [79] Việc đánh giá và chia sẻ kết quả phụ thuộc vào các tổ chức, cơ quan điều phối

Các hoạt động truyền thông giáo dục về SKSS-TD cho học sinh trong trường học có tính ngoại khóa, không bắt buộc, không thường xuyên Các nội dung giáo dục SKSS-

TD cho thanh thiếu niên trong trường học còn hạn chế Việc triển khai thực hiện phần lớn là các dự án truyền thông giáo dục sức khỏe trong một giai đoạn nhất định [1-3, 10]

Trong quá trình thực hiện, tồn tại một số rào cản mà có thể làm giảm hiệu quả của chương trình SKSS-TD cho VTN ở Việt Nam Những hạn chế đã được nêu ra là thiếu

sự tham gia và hỗ trợ của người lớn trong quá trình thực hiện; người lớn vẫn chưa thoải mái khi đề cập hay thảo luận về vấn đề tình dục, sinh sản với VTN/TN; bên cạnh

đó người lớn hoặc chưa đủ kiến thức, kĩ năng hoặc chưa đủ tự tin để để nói chuyện với

HUPH

Trang 33

VTN/TN, chính là con em của mình về những vấn đề liên quan với SKSS-TD, vẫn thường được cho là nhạy cảm Chưa có những cân nhắc liên quan đến các đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi VTN trong quá trình phát triển các chính sách liên quan để tạo môi trường thuân lợi cho các hoạt động truyền thông giáo dục về SKSS-TD cho VTN/TN, giảm thiểu các yếu tố nguy cơ đối với các vấn đề SKSS-TD của VTN/TN được ghi nhận [4, 88]

Những thông tin thu được, các bài học kinh nghiệm từ các chương trình, chiến dịch,

dự án về SKSS, SKTD VTN/TN trong và ngoài nước cho thấy triển khai chương trình can thiệp với nhiều hoạt động tại trường học, gia đình, cộng đồng và tại các cơ sở y tế nhằm cải thiện SKSS, SKTD cho đối tượng VTN/TN là cần thiết và khả thi trong điều kiện và bối cảnh kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay

1.4 Dự án nghiên cứu và can thiệp về sức khỏe VTN/TN tại cơ sở thực địa CHILILAB của Trường Đại học Y tế công cộng

1.4.1 CHILILAB – Cơ sở thực địa của Trường Đại học Y tế công cộng

Năm 2003, Trường Đại học Y tế công cộng (ĐHYTCC) thành lập cơ sở thực địa tại thị

xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, được gọi là CHILILAB hay Hệ thống Giám sát Dân số

và Dịch tễ học Cơ sở thực tập thực địa và nghiên cứu này cách Hà Nội khoảng 70 km

về phía đông bắc Khu vực CHILILAB gồm 4 phường (Sao Đỏ, Văn An, Bến Tắm và Phả Lại) và 3 xã (An Lạc, Lê Lợi và Hoàng Tiến) trong tổng số 20 phường/xã của thị

xã Chí Linh và có tốc độ đô thị hóa khá nhanh có diện tích khoảng 137,5 km vuông; dân số khoảng 65 ngàn người sinh sống tại VTN/TN có độ tuổi từ 15-24 tuổi chiếm khoảng 20% tổng dân số.[85]

Mục tiêu chung của CHILILAB là định kì thu thập thông tin về dân số và sức khỏe của người dân trong khu vực để xác định các vấn đề sức khỏe, phân tích các yếu tố liên quan, các ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi kinh tế xã hội đối với sức khỏe để làm

cơ sở cho những chương trình can thiệp nâng cao sức khỏe, cũng như có những khuyến nghị chính sách sức khỏe phù hợp cho địa phương Để đạt được mục tiêu này, các vòng điều tra cơ bản đã được tiến hành định kì hàng quí tại các hộ gia đình bằng bảng câu hỏi thiết kế sẵn

Các lĩnh vực nghiên cứu ưu tiên của CHILILAB là mô hình bệnh tật và xu hướng tử vong theo xu hướng thay đổi kinh tế-xã hội; tình trạng lạm dụng rượu bia; các vấn đề sức khỏe liên quan với thuốc lá; sức khỏe người cao tuổi; tình trạng sức khỏe VTN/TN

và các yếu tố nguy cơ và bảo vệ đối với sức khỏe VTN/TN v.v

1.4.2 Nghiên cứu dọc về sức khỏe VTN/TN tại CHILILAB

Năm 2006, Trường ĐHYTCC tiến hành một nghiên cứu dọc về sức khỏe VTN/TN tại CHILILAB Nghiên cứu được thiết kế gồm 3 mô đun Mô đun 1 khảo sát về sức khỏe VTN/TN nói chung và các hành vi sức khỏe liên quan (AH1) Vòng điều tra đầu tiên của AH1 được thực hiện vào cuối năm 2006 Trong lần đầu tiên, mẫu nghiên cứu của AH1 gồm tất cả VTN/TN độ tuổi 10-24 sinh sống trong khu vực CHILILAB Mẫu ước

HUPH

Trang 34

tính khoảng 10.000 người Mục đích của AH1 là mô tả được tình trạng sức khỏe, gồm

cả SKSS-TD của VTN/TN, trải nghiệm của họ với các tình huống nguy cơ đối với sức khỏe, hành vi tiếp cận dịch vụ sức khỏe Các kết quả được ưu tiên chú ý để có định hướng can thiệp là kiến thức, thái độ và hành vi đối với SKSS-TD; sử dụng chất kích thích; sức khỏe tâm thần; bạo lực và chấn thương Vòng điều tra lần 2 đã thực hiện vào đầu năm 2009 và vòng điều tra lần 3 đã tiến hành vào cuối năm 2012

Mô đun 2 (AH2) tập trung tìm hiểu các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo về đối với sức khỏe VTN/TN Mô đun này đã được thực hiện vòng đầu tiên từ cuối năm 2007 đến đầu năm 2008 Mẫu nghiên cứu là nhóm VTN/TN trong độ tuổi 12-26 tại thời điểm cuối năm 2007 đã được phỏng vấn trong mô đun thứ 1 Tổng mẫu ước tính khoảng 3.500 người Số liệu của AH2 sẽ được kết nối với AH1 nhằm xác định các yếu tố liên quan với tình trạng sức khỏe của VTN/TN Các nhóm biến số chính của AH2 gồm thông tin về khu dân cư, gia đình, trường học, bạn bè và các yếu tố cá nhân Vòng điều tra thứ 2 đã tiến hành vào cuối năm 2012

Mô đun 3 (AH3) tìm hiểu mối gắn kết giữa VTN/TN với cha mẹ và vai trò của mối gắn kết này với tình trạng sức khỏe và hành vi sức khỏe của VTN/TN Vòng điều tra đầu tiên của mô đun này tiến hành từ cuối năm 2008 đến đầu năm 2009 Vòng điều tra lần 2 cũng đã tiến hành cuối năm 2012 Mẫu nghiên cứu là cha mẹ của tất cả VTN/TN

đã tham gia vòng điều tra lần 1 của AH2; mẫu nghiên cứu xấp xỉ 3.500 cha mẹ Các thông tin chính được thu thập là mối quan hệ cha mẹ và con; tác động của các yếu tố cuộc sống đang dần hiện đại hóa đối với mối quan hệ cha mẹ và con theo thời gian; ảnh hưởng của mối gắn kết này đối với sức khỏe của VTN/TN

Câu hỏi chính của nghiên cứu dọc về sức khỏe VTN/TN tại CHILILAB là mức độ ảnh hưởng của quá trình phát triển kinh tế xã hội tại khu vực đối với sức khỏe VTN/TN như thế nào? Đối với nghiên cứu này, các yếu tố của quá trình phát triển được cân nhắc gồm: giáo dục, công việc của các thành viên gia đình, di cư, tiếp cận với phương tiện truyền thông, các giá trị truyền thống Đối với sức khỏe VTN/TN, tập trung tìm hiểu các vấn đề SKSS-TD (kiến thức về SKSS-TD, thái độ đối với QHTD trước hôn nhân, QHTD trước hôn nhân, sử dụng BCS và các biện pháp tránh thai khác, mang thai, phá thai), sức khỏe tâm thần và nhiều hành vi nguy cơ đối với sức khỏe khác như bạo lực, sử dụng chất kích thích, dinh dưỡng v.v Tình trạng sức khỏe, các yếu tố nguy

cơ, bảo vệ đối với sức khỏe sẽ được phân tích theo thời gian để có thể nhận định xu hướng và làm cơ sở cho các chương trình can thiệp, hoạch định chính sách [18]

1.4.3 Nghiên cứu can thiệp nâng cao SKSS-TD VTN/TN

Một trong các mục tiêu nghiên cứu của mô đun AH1 là mô tả kiến thức của VTN/TN

về SKSS-TD, về HIV/AIDS; thái độ và hành vi của họ liên quan với SKSS-TD, với phòng chống HIV/AIDS Các biến số chính được mô tả, phân tích là kiến thức về giới tính, dậy thì, sinh sản, tránh thai và phòng các nhiễm khuẩn LQĐTD, phòng tránh nguy cơ lây nhiễm HIV; thái độ với QHTD trước hôn nhân; tự tin về sử dụng BCS,

HUPH

Trang 35

trải nghiệm QHTD, tuổi QHTD lần đầu, sử dụng BCS, số bạn tình; mắc các nhiễm khuẩn LQĐTD; mang thai và phá thai và một số biến số liên quan khác

Kết quả điều tra AH1 vòng 1 cho thấy kiến thức về SKSS-TD trong VTN/TN là mối quan tâm lớn Có đến 39,7% VTN/TN nhóm tuổi 10-24 không biết bất cứ dấu hiệu nào của giai đoạn dậy thì Trong nhóm tuổi 10-14, 57% các em không biết dấu hiệu dậy thì của em gái Tỉ lệ này là 35% trong nhóm tuổi 15-19 và 24% trong nhóm tuổi 20-24 tương ứng Chỉ 49,6% VTN/TN biết về biện pháp tránh thai Về thời điểm dễ thụ thai nhất trong chu kỳ kinh hàng tháng của phụ nữ, chỉ có 12,8% VTN/TN trả lời đúng [23]

Sự tự tin của VTN/TN về tìm mua và sử dụng BCS ở mức thấp Khoảng một phần tư VTN/TN cho biết cảm thấy xấu hổ khi hỏi hoặc mua BCS Chỉ có khoảng 18% các bạn nam và 12% bạn nữ cho biết họ cảm thấy tự tin mình có thể sử dụng BCS đúng cách; xu hướng tự tin tăng theo độ tuổi và nam tự tin hơn so với nữ Vấn đề phòng các bệnh LQĐTD và tránh thai của VTN/TN là đáng báo động Nhiều thanh niên đã kết hôn cho biết họ đã QHTD trước hôn nhân, với tỉ lệ 23,4% ở nam và 13,5% ở nữ Trong số nam chưa kết hôn, 13,4% cho biết đã từng làm bạn gái của họ mang thai Trong số nữ chưa kết hôn, 23,8% cho biết đã từng mang thai Trong nhóm nữ từng mang thai, tỉ lệ phá thai là 27,9% [23]

Điều tra AH1 vòng 2 được tiến hành vào đầu năm 2009, với bộ câu hỏi như đã sử dụng ở vòng 1 và có một số hiệu chỉnh từ ngữ nhỏ Đối tượng chính là VTN/TN đã từng tham gia vòng 1 và nay đã thuộc nhóm tuổi 13-27 Kết quả cho thấy kiến thức của họ nói chung về SKSS-TD tăng lên so với kết quả năm 2006; tuy nhiên không có thay đổi trong kiến thức về các biện pháp tránh thai Vẫn còn 34% VTN/TN độ tuổi 13-27 không biết bất cứ dấu hiệu nào của tuổi dậy thì (39,7% năm 2006) Chỉ có 13% nam và 32% nữ nói đúng thời điểm dễ thụ thai nhất trong chu kì kinh hàng tháng của phụ nữ; trong số nữ VTN tuổi từ 13-17, chỉ 14,6% có câu trả lời đúng Chỉ có 47,2% VTN/TN nhóm tuổi 13-27 có câu trả lời "QHTD an toàn là có QHTD có sử dụng BCS đúng cách" (44,4% trong nhóm tuổi 10-24, năm 2006)

Về thái độ với QHTD trước hôn nhân, dường như quan điểm của VTN/TN nam cởi

mở hơn so với nữ; so sánh với kết quả của vòng 1 trong cùng nhóm tuổi thì không có khác biệt [24] Về trải nghiệm QHTD, kết quả của vòng 2 cho thấy 9,7% nam độ tuổi 13-27 cho biết đã từng có QHTD (5,1% nam độ tuổi 10-24 trong năm 2006) Nếu so sánh trong cùng nhóm tuổi, xu hướng đều tăng trong nhóm tuổi 15-19 (3,1% năm 2006

và 5,8% năm 2009) và nhóm tuổi 20-24 (14,9% năm 2006 và 24,9% năm 2009) Xu hướng QHTD ở nhóm nữ là tương tự Năm 2009, 2,5% nữ chưa lập gia đình nhóm tuổi 13-27 cho biết đã từng QHTD (1% trong nhóm 10-24 năm 2006); so sánh tỉ lệ này với vòng 1 theo nhóm tuổi 15-19 và 20-24 trong nhóm nữ xu hướng đều tăng [24]

Trong nhóm VTN/TN đã có QHTD, chỉ 31,1% nam và 12,6% nữ cho biết có sử dụng BCS trong lần QHTD gần nhất Trong số nam tuổi 13-27 chưa lập gia đình, từng QHTD, 15,3% cho biết đã từng làm cho bạn gái mang thai; trong số này, 72,5% đã phá

HUPH

Trang 36

thai Trong nhóm nữ tuổi 13-27 chưa lập gia đình đã QHTD, 14,8% cho biết đã từng mang thai và gần nửa số đó đã phá thai [24]

Phân tích cho thấy có một số mối liên quan đáng lưu ý VTN/TN nữ có thái độ thoáng hơn về QHTD có khả năng QHTD nhiều hơn 7,7 lần so với nhóm có thái độ truyền thống, không chấp nhận QHTD trước hôn nhân Nữ VTN/TN có câu trả lời "có thể mang thai dù chỉ QHTD một lần" thì khả năng có QHTD giảm đi 78% [26] Một số mối liên quan có ý nghĩa khác là nếu có mối gắn kết tốt giữa mẹ và VTN nam thì làm giảm nguy cơ QHTD của nhóm này; VTN nam nếu sống trong gia đình cha mẹ có nhiều mâu mẫu, xung đột có xu hướng QHTD nhiều hơn; VTN nữ bị đánh mắng trong gia đình có khả năng QHTD nhiều hơn; được GV quan tâm, đối xử cộng bằng ở trường làm giảm khả năng có QHTD trong nhóm này VTN/TN có bạn bè hút thuốc, uống rượu, bỏ học, xu hướng có QHTD nhiều hơn VTN/TN nam có bạn đã có người yêu hoặc VTN/TN nữ có bạn từng có QHTD có xu hướng QHTD nhiều hơn [25]

Có thể nhận thấy rằng trong nhóm VTN/TN ở khu vực CHILILAB còn thiếu kiến thức

về SKSS-TD, thiếu tự tin về tìm kiếm và sử dụng BCS đúng cách, thái độ “thoáng” về QHTD trước hôn nhân Hiện tượng mang thai và phá thai trong nhóm nay là đáng chú

ý Các vấn đề này trong nhóm VTN/TN tại CHILILAB và những yếu tố có liên quan gợi ý thiết kế chương trình can thiệp trong khuôn khổ những định hướng chung của chiến lược quốc gia để góp phần giải quyết vấn đề, cải thiện tình trạng sức khỏe của VTN/TN tại khu vực này

Với mong muốn cải thiện tình trạng SKSS-TD cho VTN/TN thông qua nâng cao kiến thức, tăng cường thái độ tích cực, củng cố sự tự tin, kĩ năng sống liên quan với SKSS-

TD, tăng cường tiếp cận các nguồn thông tin và dịch vụ hỗ trợ phù hợp để nâng cao năng lực phòng tránh các nguy cơ đối với SKSS-TD của nhóm VTN/TN từ đó nâng cao tình trạng sức khỏe của nhóm này Đề cương chương trình can thiệp nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN đã được phát triển và phê duyệt thực hiện với các mục tiêu chính như sau:

1) Nâng cao kiến thức của VTN/TN về SKSS-TD

2) Tăng cường thái độ tích cực về SKSS-TD, sự tự tin về tìm kiếm và sử dụng các biện pháp tránh thai, phòng các nhiễm khuẩn LQĐTD

3) Tăng cường kĩ năng sống liên quan với SKSS-TD, tăng tiếp cận và sử dụng các DVTT với VTN/TN trong trường học và y tế cơ sở

4) Giảm hành vi có nguy cơ với SKSS-TD của VTN/TN

5) Đánh giá hiệu quả ban đầu của việc lồng ghép giới vào các hoạt động của chương trình can thiệp

1.4.3.1 Đánh giá nhanh và thiết kế chương trình can thiệp

Để tăng tính khả thi và hiệu quả của chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN tại CHILILAB, một đánh giá nhanh được thực hiện vào đầu năm 2010 Đại diện của các

HUPH

Trang 37

bên liên quan như chính quyền xã/phường; đoàn thanh niên; hội phụ nữ; cơ quan y tế thị xã và các phường/xã; lãnh đạo, GV và HS các trường phổ thông; cha mẹ của VTN/TN trong khu vực CHILILAB đã được mời tham gia cung cấp thông tin Mục tiêu đánh giá nhanh là tìm hiểu những thông tin cơ bản để sử dụng lập kế hoạch chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN trong khu vực này

Kết quả chính thể hiện các bên liên quan đồng thuận quan điểm cần có can thiệp để cải thiện vấn đề SKSS-TD của VTN/TN đã/đang tồn tại, ở cả cấp độ cộng đồng, cơ sở y tế

và trường học Cần có sự phối hợp tham gia của cha mẹ, gia đình, đoàn thanh niên địa phương, nhà trường và cán bộ y tế cơ sở, trong đó các bên nhấn mạnh tầm quan trọng của trường học trong việc giáo dục, hướng dẫn, tư vấn cho HS Chưa có DVTT với VTN/TN trong khu vực CHILILAB, các trường học và các TYT đều mong muốn có

“Góc thân thiện” để tăng cường hoạt động truyền thông về chủ đề SKSS-TD cho giới trẻ Các nội dung và hoạt động truyền thông, giáo dục cần được cân nhắc thiết kế phù hợp theo giới tính, theo cấp học Các hoạt động truyền thông, giáo dục về SKSS-TD trong trường học cần được cân nhắc lồng ghép vào sinh hoạt định kì hàng tuần của lớp, của đoàn đội Các cấp chính quyền thể hiện sự ủng hộ việc triển khai chương trình Bên cạnh những cam kết tham gia chương trình từ các bên liên quan, có nhiều yếu tố

có thể ảnh hưởng đến kết quả của chương trình Tại các trường học, nhà trường chịu

áp lực phải đạt được các chỉ tiêu thi đua về dạy học được giao, khối lượng giảng dạy phải hoàn thành rất lớn; HS cũng chịu áp lực về thành tích học tập từ nhà trường và gia đình Điều này ảnh hưởng đến sự tham gia của các em trong các hoạt động ngoại khóa Điều kiện cơ sở vật chất nói chung còn hạn chế, nên việc bố trí, sắp xếp một “góc thân thiện” phải ghép với văn phòng Đoàn-Đội hoặc phòng Y tế nên ảnh hưởng tới hoạt động dự kiến tại Góc thân thiện Một điểm nữa cần lưu ý là nhận thức và quan điểm của GV đối với các hoạt động ngoại khóa về sức khỏe Nhiều GV cho rằng những chương trình kiểu này không có tính bắt buộc, không có trong chương trình chính thức, chính vì thế dưới áp lực hoàn thành khối lượng dạy-học trong năm, GV nào nhiệt tình sẽ quan tâm, hỗ trợ thực hiện các hoạt động, ngược lại sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả mong muốn

Tại các cơ sở y tế như Trung tâm y tế, TYT, người dân thường đến đây khi có vấn đề sức khỏe, để khám hoặc chữa bệnh Người dân ít khi đến các cơ sở này để tìm hiểu thông tin hay tìm kiếm lời khuyên, tư vấn về sức khỏe Tại các khu vực dân cư, VTN/TN nếu không còn đi học thì thường tìm kiếm việc làm ngoài khu vực sinh sống Địa bàn rộng, nếu nguồn lực hạn chế thì độ bao phủ của các hoạt động sẽ thấp và thường chỉ tác động đến đối tượng đích thứ 2 như cha mẹ, các cộng tác viên khu dân

cư v.v Có thể xem thêm chi tiết đánh giá nhanh trong phần phụ lục

1.4.3.2 Chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN tại CHILILAB

1.4.3.2.1 Mục tiêu của chương trình

Sau khi cân nhắc kết quả đánh giá nhanh, với mục tiêu chung là góp phần nâng cao sức khỏe VTN/TN, giảm số trường hợp mang thai tuổi VTN; giảm số trường hợp phá

HUPH

Trang 38

thai tuổi VTN; giảm số trường hợp mắc các nhiễm khuẩn LQĐTD, chương trình đã được điều chỉnh theo hướng thu hẹp qui mô can thiệp tại các địa điểm và mục tiêu cụ thể cho từng địa điểm như sau:

Tại trường học:

Mục tiêu cụ thể là nâng cao kiến thức về SKSS-TD của VTN/TN, tăng cường sự tự tin; thay đổi thái độ, dự định và hành vi liên quan với SKSS-TD của VTN/TN theo hướng tích cực

Tại cơ sở y tế:

Mục tiêu cụ thể là nâng cao kiến thức của CBYT phường/xã về SKSS-TD của VTN/TN; nhận thức đúng vai trò và tham gia giáo dục, hướng dẫn VTN/TN phòng tránh các nguy cơ đối với SKSS-TD

Tại các khu dân cư:

Mục tiêu cụ thể là nâng cao kiến thức của cha mẹ VTN/TN, của các CTV tại các khu dân cư về SKSS-TD của VTN/TN; nhận thức đúng vai trò và tham gia giáo dục, hướng dẫn VTN/TN phòng tránh các nguy cơ đối với SKSS-TD

1.4.3.2.2 Các hoạt động của chương trình

Để đạt được các mục tiêu cụ thể nêu trên, chương trình đã được thiết kế với nhiều hoạt động đa dạng, tiến hành cả trong trường học, các TYT, trung tâm y tế và khu dân cư;

để có những tác động đến HS và GV, cha mẹ, cán bộ y tế và cộng tác viên ở khu dân

VTN/TN không còn đi học cũng có thể nhận được các thông tin liên quan từ các hoạt động truyền thông đại chúng tại khu dân cư, những tác động từ cha mẹ, cán bộ y tế, cộng tác viên, qua đó nâng cao kiến thức, thái độ và kĩ năng liên quan đến SKSS-TD, góp phần mang lại lợi ích cho sức khỏe của họ

Các hoạt động can thiệp trong các trường học, tại khu vực dân cư và các TYT ngoài những tác động tới VTN/TN còn có những ảnh hưởng nhất định đến đối tượng đích thứ 2 là GV, cha mẹ, cán bộ y tế và các cộng tác viên khác, từ đó nâng cao kiến thức của họ về SKSS-TD của VTN/TN, tăng cường nhận thức về vai trò của họ trong việc giáo dục, hướng dẫn VTN/TN rèn luyện lối sống lành mạnh1

Trang 39

Các hoạt động can thiệp tác động vào các nhóm đối tượng khác nhau được thiết kế sau khi cân nhắc các lí thuyết về yếu tố quyết định hành vi, lí thuyết về thay đổi hành vi Đặc biệt, trong can thiệp này, yếu tố giới đã được cân nhắc tác động Cụ thể trong các hoạt động tại khu vực trường học và khu dân cư thuộc phường Sao Đỏ và phường Văn

An thì các nội dung truyền thông, các hoạt động được thiết kế nhấn mạnh yếu tố giới, thay đổi mối quan hệ về giới nhằm tăng cường bình đẳng giới trong sinh hoạt, học tập của VTN/TN Các hoạt động của chương trình có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến VTN/TN, từ đó chuyển đổi kiến thức, sự tự tin, thái độ, dự định của VTN/TN, để góp phần hình thành và duy trì các hành vi có lợi, giảm nguy cơ; góp phần nâng cao tình trạng SKSS-TD trong nhóm đối tượng này

Các hoạt động của chương trình nâng cao SKSS-TD cho VTN/TN đã được triển khai trong khoảng thời gian 12 tháng, từ tháng 9 năm 2011, tại các địa điểm/cơ sở cụ thể trong khu vực CHILILAB và được tóm tắt trong bảng 1 sau

Bảng 1: Các hoạt động của chương trình can thiệp

Khu vực : phường Sao Đỏ và phường Văn An

Cơ sở có can thiệp Hoạt động can thiệp

giới) trong các hoạt động

- Tập huấn cho GV, cán bộ y tế trường học

- Tập huấn cho HS chủ chốt

- Hoạt động lồng ghép tại lớp, trong các hoạt động đoàn đội

- Xây dựng và sử dụng Góc thân thiện tại trường

- Cung cấp các loại tài liệu truyền thông cho HS, GV

- Tập huấn cho mạng lưới cộng tác viên

- Truyền thông trực tiếp cho cha mẹ

- Phát các bản tin trên hệ thống loa phát thanh

- Cung cấp tài liệu truyền thông cho cha mẹ và các cộng tác viên

Trạm Y tế

TYT Sao Đỏ

TYT Văn An

Thời gian từ 9/2011 đến 9/2012

- Tập huấn nâng cao năng lực CBYT về SKSS-TD VTN/TN

- Xây dựng và sử dụng Góc thân thiện tại TYT

HUPH

Trang 40

Khu vực: phường Bến Tắm và xã An Lạc Trường học

THPT Bến Tắm

THCS Nguyễn Trãi

THCS An Lạc

Thời gian từ 9/2011 đến 9/2012 Không nhấn mạnh yếu tố giới trong các hoạt động

- Tập huấn cho GV, cán bộ y tế trường học

- Tập huấn cho HS chủ chốt

- Hoạt động lồng ghép tại lớp, trong các hoạt động đoàn đội

- Xây dựng và sử dụng Góc thân thiện tại trường

- Cung cấp các loại tài liệu truyền thông cho HS, GV

- Tập huấn nâng cao năng lực CBYT về SKSS-TD VTN/TN

- Xây dựng và sử dụng Góc thân thiện tại trạm

HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm