PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mô tả bộ số liệu gốc
Người dân sinh sống tại TP Chí Linh, Hải Dương trong thời điểm khảo sát
2.1.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2020 đến tháng 3/2021 Địa điểm nghiên cứu: Thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam
Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu TNTT áp dụng công thức tính toán cỡ mẫu cho điều tra hộ gia đình nhằm ước lượng các nguyên nhân TNTT không tử vong hàng đầu trong quần thể Cỡ mẫu được xác định là 10,000 hộ gia đình, bao gồm cả dự phòng Chi tiết về cách tính toán được trình bày trong Phụ lục 1.
Mẫu thiết kế cụm 1 giai đoạn được định nghĩa là một địa bàn dân số, tương ứng với 120-150 hộ gia đình Địa bàn dân số này được Chi cục Thống kê thành phố Chí Linh quy định và lập danh sách chi tiết đến từng thành viên trong hộ gia đình trên toàn bộ thành phố.
Để ước lượng tỷ suất TNTT trên toàn thành phố, cỡ mẫu điều tra được xác định là 10.000 hộ gia đình, trong đó có khoảng 2.800 trẻ em từ 0 đến 5 tuổi, theo số liệu của Chi cục Dân số thành phố Chí Linh.
Mỗi phường/xã sẽ xác định số lượng hộ gia đình cần khảo sát dựa trên tổng dân số và số hộ gia đình hiện có Các phường/xã được chia thành các cụm nhỏ, sau đó một cụm sẽ được chọn ngẫu nhiên để tiến hành khảo sát toàn bộ hộ gia đình trong cụm đó.
2.1.6 Công cụ thu thập số liệu
Nhóm nghiên cứu đã phát triển một công cụ thu thập số liệu dựa trên Bộ công cụ khảo sát quốc gia về TNTT VNIS 2010 Công cụ này bao gồm các bộ câu hỏi nhằm thu thập thông tin từ toàn bộ thành viên hộ gia đình hoặc một số thành viên liên quan đến tình trạng tử vong, các vấn đề TNTT, và KAPs cho các nhóm đối tượng đặc biệt như người cao tuổi, người chăm sóc chính của trẻ, vị thành niên và thanh niên.
Bộ công cụ bao gồm:
1 Khảo sát thông tin hộ gia đình và các thành viên hộ gia đình: Phỏng vấn chủ hộ gia đình
2 Khảo sát về tình hình kinh tế xã hội hộ gia đình: Phỏng vấn chủ hộ gia đình
3 Bộ bảng kiểm quan sát môi trường sống trong và xung quanh nhà cho HGĐ có trẻ từ 0 đến 5 tuổi
4 Phỏng vấn về KAPs ATGT: Phỏng vấn chủ hộ
5 Bộ câu hỏi phỏng vấn KAPs TNTT trẻ em: Người chăm sóc chính của trẻ dưới
6 Bộ câu hỏi KAPs ngã ở người cao tuổi : Người trên 60 tuổi của HGĐ
7 Bộ câu hỏi về KAPs tự hại và bạo lực thiếu niên, vị thành niên, thanh niên: Thiếu niên (10-14), vị thành niên (15-19) và thanh niên (20-24) của HGĐ
8 Bộ câu hỏi dành cho hộ gia đình có thành viên mắc TNTT phải nghỉ việc hoặc nhập viện do TNTT trong 12 tháng vừa qua
9 Các thông tin về tử vong
2.1.7 Phương pháp thu thập số liệu
Việc thu thập số liệu cho nghiên cứu này được thực hiện thông qua phần mềm Kobo Collect, cho phép thu thập dữ liệu trên máy tính bảng và quản lý thông tin phỏng vấn một cách hiệu quả.
Các bước tiến hành thu thập số liệu:
Bước 1 Gửi công văn tới Sở Y tế – TTYT tp.Chí Linh xin triển khai đề tài
Bước 2 Xây dựng kế hoạch khảo sát, họp bàn với các đối tác ở địa phương về chọn mẫu và phương pháp tiến hành thu thập số liệu
Bước 3 Tập huấn điều tra viên (ĐTV) địa phương và giám sát viên
Phương pháp nghiên cứu của đề tài luận văn
Nghiên cứu này sử dụng toàn bộ mẫu thông tin của trẻ từ 0 đến 5 tuổi trong bộ số liệu gốc, với tổng số 3.043 trẻ được lựa chọn để tiến hành phân tích.
- Nghiên cứu sử dụng 2.761 bảng kiểm quan sát ngôi nhà an toàn từ bộ số liệu gốc để tiến hành phân tích
2.2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021 Thời gian thu thập số liệu từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2020
HUPH Địa điểm nghiên cứu bao gồm 19 xã / phường thuộc thành phố Chí Linh tỉnh Hải Dương
Nghiên cứu xử dụng thiết kế cắt ngang phân tích, sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng
2.2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Trong khảo sát TNTT tại TP Chí Linh, Hải Dương năm 2020, toàn bộ trẻ em và hộ gia đình có trẻ từ 0-5 tuổi đã được nghiên cứu Tổng cộng có 3.403 trẻ đủ tiêu chuẩn được chọn từ bộ số liệu gốc, trong đó có 2.761 bảng kiểm quan sát hộ gia đình có trẻ trong độ tuổi này.
Biểu đồ 2 1: Cỡ mẫu của nghiên cứu lấy ra từ bộ số liệu gốc
10.157 hộ gia đình; 31.627 người tham gia
Số mẫu nghiên cứu: 3.043 trẻ từ 0-5 tuổi
Số bảng kiểm quan sát hộ gia đình: 2.761 hộ gia đình có trẻ từ 0-5 tuổi
2.2.5 Các biến số nghiên cứu Để đạt được ba mục tiêu cụ thể mà đề tài luận văn đưa ra, các nhóm biến số cụ thể đã được sử dụng như sau:
Mục tiêu 1: Mô tả thực trạng TNTT ở trẻ từ 0 đến 5 tuổi tại thành phố Chí Linh tỉnh Hải Dương năm 2020
Nhóm biến số về thực trạng và mức độ trầm trọng của chấn thương:
- Loại hình TNTT đã gặp phải
- Tình trạng khi bị TNTT
- Bản chất của chấn thương
- Sơ cấp cứu ban đầu sau chấn thương
- Điều trị và chăm sóc sau chấn thương
Mục tiêu 2 của nghiên cứu là mô tả thực trạng nguy cơ gây tai nạn thương tích (TNTT) từ môi trường trong và xung quanh nhà của trẻ em từ 0 đến 5 tuổi tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương trong năm 2020.
- Nguy cơ gây ngã cho trẻ
- Nguy cơ gây ngộ độc
- Nguy cơ gây đuối nước
- Nguy cơ động vật tấn công
- Nguy cơ vật sắc nhọn
Mục tiêu 3 của nghiên cứu là xác định các yếu tố liên quan đến tai nạn thương tích (TNTT) và mức độ chấn thương ở trẻ em từ 0 đến 5 tuổi tại thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương trong năm 2020.
Yếu tố liên quan đến việc mắc TNTT (giai đoạn trước TNTT)
Nhóm biến số thuộc bản thân người chăm sóc trẻ
- Thông tin về người chăm sóc trẻ: tuổi, trình độ học vấn, kinh tế hộ gia đình
Nhóm biến số thuộc cá nhân:
- Tuổi, giới, số lượng thành viên trong gia đình
Yếu tố liên quan đến hậu quả của chấn thương (trong và sau TNTT)
Nhóm biến số về môi trường, địa điểm, thời gian mắc TNTT
- Thời điểm trong năm mắc TNTT
- Việc sơ cấp cứu ban đầu và người sơ cấp cứu cho nạn nhân
Thời gian di chuyển nạn nhân từ hiện trường tai nạn đến cơ sở y tế là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu Chi tiết về các loại biến số liên quan được trình bày trong Phụ lục 2.
Các khái niệm, thước đo, tiêu chuẩn đánh giá
Trong nghiên cứu này, chúng tôi định nghĩa tai nạn thương tích (TNTT) là những thương tổn do các sự cố như tai nạn giao thông, ngã, tai nạn lao động, va chạm, và điện giật Những thương tích này có thể bao gồm vết thương chảy máu, bong gân, phù nề, xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước, và ngộ độc Tất cả những trường hợp này đều cần đến sự chăm sóc y tế và có thể dẫn đến việc nghỉ học, nghỉ làm hoặc hạn chế sinh hoạt ít nhất một ngày.
Để xác định một trường hợp TNTT, các điều tra viên sử dụng bộ "show card" đã được in sẵn, trong đó có định nghĩa và hình ảnh mô tả 14 loại TNTT Một trường hợp được coi là TNTT khi đáp ứng đầy đủ tất cả các tiêu chí đã đề ra.
- Liên quan đến một trong 14 loại TNTT nêu trong "show card" và
Tổn thương có thể bao gồm nhiều dạng như chảy máu, bong gân, phù nề, xây xát, gãy xương, gãy răng, vỡ thủng nội tạng, chấn thương sọ não, bỏng, ngạt/đuối nước, ngộ độc, và thậm chí là tự tử.
- Cần đến sự chăm sóc y tế, nằm viện, phải nghỉ học/nghỉ làm hoặc bị hạn chế sinh hoạt ít nhất 1 ngày
Cách xác định các trường hợp TNTT theo nguyên nhân
Tai nạn giao thông (TNGT) đối với trẻ em được xác định khi trẻ tham gia giao thông cùng với người khác và xảy ra tai nạn, hoặc khi trẻ đang chơi đùa, đi lại trên đường.
HUPH giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc địa bàn giao thông công cộng và xảy ra va chạm với người và phương tiện giao thông khác
Ngã là tình huống trẻ em rơi từ độ cao hoặc ngã trên mặt phẳng, dẫn đến việc dừng lại đột ngột trên mặt đất hoặc sàn nhà Các trường hợp ngã do tấn công, bị xô đẩy, nhảy từ trên cao để tự tử, ngã từ động vật, từ tòa nhà đang cháy, hoặc ngã xuống nước không được tính Đuối nước xảy ra khi đường thở của trẻ bị ngập trong nước, gây khó thở do tắc nghẽn Nếu trẻ được cứu sống hoặc tự thoát khỏi tình huống nguy hiểm, đó được gọi là đuối nước; nếu không may tử vong, thì gọi là chết đuối.
Ngộ độc xảy ra khi trẻ tiếp xúc với các loại độc tố qua hít, ăn, uống hoặc tiêm, dẫn đến việc cần can thiệp y tế hoặc có thể gây tử vong Các loại ngộ độc bao gồm ngộ độc thực phẩm, ngộ độc thuốc tân dược, ngộ độc hóa chất và nước tẩy rửa.
Bỏng là tình trạng tổn thương của trẻ do tác động trực tiếp từ các yếu tố vật lý như nhiệt, bức xạ, điện, và hóa học Tổn thương bắt đầu từ da, sau đó lan đến các lớp dưới da như gân, cơ, mạch máu, thần kinh, xương, và có thể ảnh hưởng đến một số cơ quan như hô hấp và tiêu hóa.
Trẻ em có thể gặp phải nhiều nguy hiểm từ các vật sắc nhọn, như dao, kéo hay mảnh thuỷ tinh vỡ, dẫn đến các vết cắt, đâm hoặc rách Ngoài ra, điện giật cũng là một mối nguy hiểm nghiêm trọng khi trẻ tiếp xúc với hệ thống truyền tải hoặc dẫn điện Hơn nữa, trẻ có thể bị tấn công bởi các loại động vật như chó, mèo, trâu, bò, gây ra các chấn thương như cắn, húc hoặc đâm.
Phân loại mức độ trầm trọng TNTT thương tích: Trong nghiên cứu này mức độ TNTT được chia ra làm 2 mức độ như sau:
- Nặng: là những trường hợp trẻ bị TNTT và phải nằm viện nội trú
- Nhẹ: là những trường hợp trẻ bị TNTT và không phải nằm viện điều trị nội trú
Hậu quả của tai nạn giao thông có thể dẫn đến tàn tật, làm mất chức năng vận động, cảm giác hoặc các giác quan như nghe, nhận biết và nói Tình trạng tàn tật này có thể là tạm thời, phục hồi dần sau điều trị, hoặc vĩnh viễn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng sống của người bị nạn.
Tiêu chuẩn và các nguyên tắc khi sử dụng bảng kiểm ngôi nhà an toàn:
Bảng kiểm ngôi nhà an toàn được xây dựng dựa trên các bảng kiểm đã được phát triển và áp dụng trong các nghiên cứu trước đây, bao gồm bảng kiểm của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội theo quyết định số 548/QĐ-LĐTBXH năm 2011, bảng kiểm của Quỹ phòng chống TNTT trẻ em Úc, và bảng kiểm từ dự án Can thiệp phòng chống TNTT trẻ em tại Đà Nẵng năm 2007 Ngoài ra, bảng kiểm cũng tham khảo từ luận án tiến sĩ Nguyễn Văn Hùng năm 2019, nhằm đánh giá nguy cơ TNTT trong và xung quanh nhà.
Bảng kiểm nguy cơ trong nhà được sử dụng để quan sát và đánh giá an toàn hộ gia đình thông qua việc điền thông tin vào bảng kiểm Các điều tra viên đã được đào tạo sẽ thực hiện quy trình này bằng công cụ máy tính bảng Để đạt tiêu chí an toàn, tất cả các yếu tố nguy cơ trong gia đình, như hai cầu thang, cần phải được đảm bảo an toàn.
Hình 2 1: Tranh mô tả tai nạn thương tích thường gặp
Phương pháp quản lý và phân tích số liệu
Dữ liệu được thu thập qua ứng dụng KOBO trên máy tính bảng, với các điều kiện khống chế được thiết lập nhằm giảm thiểu sai số trong quá trình phỏng vấn và ghi nhận Sau khi tự động chuyển về cơ sở dữ liệu trung tâm, dữ liệu sẽ được kiểm tra và làm sạch Cuối cùng, các số liệu sẽ được phân tích bằng phần mềm STATA 15.
Cả thống kê mô tả và thống kê suy luận sẽ được thực hiện Thống kê mô tả bao gồm việc tính toán giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn cho số liệu định lượng, cùng với tần số và tỷ lệ phần trăm cho số liệu định tính.
HUPH thực hiện suy luận qua ước tính 95% CI và kiểm định giả thuyết Kiểm định thống kê Khi bình phương được áp dụng để so sánh tỷ lệ mắc TNTT giữa các nhóm Mô hình hồi quy logistic cho biến nhị phân được sử dụng, với tình trạng TNTT là biến giả nhận giá trị 0 (không) và 1 (có) Các biến độc lập được chọn dựa trên khung lý thuyết và các nghiên cứu trước Phương pháp Enter được sử dụng để đưa tất cả các biến vào mô hình hồi quy, sau đó loại bỏ các biến có giá trị p lớn hơn 0,2 Mô hình được kiểm định tính phù hợp bằng kiểm định Hosmer and Lemeshow, và khả năng dự báo được đánh giá qua tỷ lệ phân loại đúng Giá trị R² cho thấy khả năng giải thích của mô hình, với mức ý nghĩa thống kê p0,05) Tương tự, không có sự khác biệt giữa tỷ lệ TNTT ở các nhóm có trình độ học vấn, nghề nghiệp và nơi sống khác nhau (p>0,05) Tuy nhiên, điều kiện kinh tế hộ gia đình có mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng mắc TNTT của trẻ, với nguy cơ mắc TNTT ở trẻ thuộc hộ gia đình không nghèo chỉ bằng 0,428 lần so với trẻ trong hộ nghèo (95% CI 0,20 – 0,88; p = 0,019).
Bảng 3 10: Phân tích đơn biến xác định mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân đối với tình trạng TNTT của trẻ
Yếu tố cá nhân của trẻ TNTT 2
Nữ 22 1,4 1.526 98,6 Nhóm tuổi của trẻ
Số lượng thành viên của HGĐ
Yếu tố liên quan OR 95% CI p
Số lượng thành viên của hộ gia đình
*nhóm dùng để so sánh
Phân tích đơn biến cho thấy không có mối liên quan giữa giới tính và tình trạng TNTT của trẻ Tuy nhiên, có sự liên quan giữa nhóm tuổi và số lượng thành viên trong hộ gia đình với tình trạng TNTT Cụ thể, trẻ trên 4 tuổi có nguy cơ mắc TNTT cao gấp 1,73 lần so với trẻ từ 0 đến 4 tuổi (95% CI 1,01 – 3,00, p=0,04