PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Nghiên cứu định lượng Đối tượng nghiên cứu: điều dưỡng viên đang công tác tại 8 khoa lâm sàng bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng
Tiêu chuẩn lựa chọn: là những điều dưỡng trực tiếp chăm sóc người bệnh tại
8 khoa lâm sàng bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng
Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm những điều dưỡng viên không tham gia trực tiếp vào việc chăm sóc bệnh nhân, như điều dưỡng làm công tác hành chính, nghỉ ốm, nghỉ thai sản, đi học dài hạn hoặc nghỉ không lương.
Lãnh đạo bệnh viện, cán bộ khoa kiểm soát nhiễm khuẩn, điều dưỡng trưởng, điều dưỡng viên 8 khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian tiến hành nghiên cứu: từ tháng 02 đến tháng 7 năm 2017
Điều dưỡng viên tại Bệnh viện Đa Khoa Lâm Đồng làm việc tại 8 khoa lâm sàng, bao gồm Khoa Nội A, Nội B, Nội tim mạch - lão khoa, Bệnh nhiệt đới, Nhi, Hồi sức tích cực - chống độc, Ngoại chấn thương và Ngoại tổng quát.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng.
Cỡ mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng Áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ để điều tra kiến thức về rửa tay thường quy: toàn bộ điều dưỡng viên trực tiếp chăm sóc người bệnh được mời tham gia vào nghiên cứu tại 8 khoa lâm sàng bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng với tổng số
HUPH đánh giá việc tuân thủ quy trình rửa tay của điều dưỡng trong chăm sóc bệnh nhân, nghiên cứu áp dụng công thức mẫu để xác định tỷ lệ rửa tay đúng quy định Mục tiêu là xác định tỷ lệ rửa tay thường quy của điều dưỡng dựa trên số lần thực hiện rửa tay theo quy định.
Cỡ mẫu: được xác định bằng công thức:
Công thức tính số cơ hội rửa tay cần quan sát được xác định bởi \$Z_{2(1 - \alpha/2)} \cdot p(1 - p) \cdot n \cdot d^{-2}\$, trong đó \$Z_{(1 - \alpha/2)} = 1.96\$ (độ tin cậy 95%), \$p = 0.58\$ là tỉ lệ điều dưỡng tuân thủ RTTQ từ nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh tại Bệnh viện Xanh Pôn, Hà Nội năm 2012 Với \$d = 0.05\$ và \$n = 374\$ lần rửa tay cần quan sát, tổng số điều dưỡng tham gia nghiên cứu là 121 người, mỗi người được quan sát trung bình 4 lần, dẫn đến cần có 484 lần quan sát đầy đủ theo quy định.
- Lãnh đạo bệnh viện: 01 người
- Cán bộ phụ trách khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn: 01 người
Thảo luận nhóm có trọng tâm: 2 cuộc thảo luận nhóm
- Nhóm điều dưỡng trưởng: 8 người (8 khoa lâm sàng mà các điều dưỡng đang làm việc)
- Nhóm điều dưỡng viên: 8 người (8 khoa khoa lâm sàng mà các điều dưỡng đang làm việc).
Phương pháp chọn mẫu
Chọn toàn bộ điều dưỡng viên tại 8 khoa lâm sàng bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng (tổng số 121 điều dưỡng)
Mỗi điều dưỡng tham gia phát vấn sẽ được quan sát 4 lần rửa tay trong quá trình thu thập số liệu
Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo bệnh viện và 01 cán bộ phụ trách khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện
Nhóm điều dưỡng viên sẽ chọn một điều dưỡng viên từ mỗi khoa lâm sàng để tham gia vào nghiên cứu định lượng và đồng ý tham gia thảo luận nhóm.
- Nhóm điều dưỡng trưởng: là những điều dưỡng trưởng mỗi khoa lâm sàng được mời tham gia thảo luận nhóm
Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu:
- Yếu tố nào thúc đẩy điều dưỡng tăng cường tuân thủ rửa tay?
- Yếu tố nào gây cản trở đến việc rửa tay của điều dưỡng?
- Những mong muốn của điều dưỡng khi rửa tay là gì?
Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng Đánh giá kiến thức về rửa tay thường quy của điều dưỡng được thực hiện bằng phương pháp phát vấn với bộ công cụ đo lường kiến thức về rửa tay với bộ câu hỏi gồm 20 câu Đối tượng nghiên cứu tự điền vào bộ câu hỏi được thiết kế sẵn Nhóm điều tra viên được tập huấn và thống nhất về cách sử dụng và chấm điểm bộ công cụ đánh giá kiến thức về rửa tay thường quy Trước khi tiến hành điều tra trên toàn bộ mẫu, bộ câu hỏi được điều tra thử trên 5 điều dưỡng và điều chỉnh cho phù hợp Điều tra viên giải thích rõ mục đích nghiên cứu, cách điền thông tin trên phiếu điều tra cho các điều dưỡng tham gia, đặc biệt nhấn mạnh thông tin thu được rất quan trọng đối với nghiên cứu, để đảm bảo tính chính xác và tin cậy của thông tin, đề nghị điều dưỡng viên hợp tác và không trao đổi trong quá trình điền phiếu Sau đó, điều tra viên phát phiếu và giám sát các điều dưỡng viên tự điền phiếu Sau 20 phút, thu lại phiếu khảo sát Điều tra viên kiểm tra lại phiếu khảo sát để đảm bảo không có thông tin nào bị bỏ sót
Nghiên cứu xác định tỉ lệ tuân thủ rửa tay của điều dưỡng viên thông qua phương pháp quan sát không tham gia, sử dụng bảng kiểm theo mẫu của WHO Nhóm nghiên cứu bao gồm các nghiên cứu viên, một điều dưỡng từ phòng điều dưỡng và ba giáo viên từ trường đại học Yersin Đà Lạt, những người có kinh nghiệm giám sát tuân thủ rửa tay Các quan sát viên được phân công đến các khoa lâm sàng để thực hiện quan sát trong thời gian điều dưỡng chăm sóc bệnh nhân Họ tiến hành quan sát tại tám khoa lâm sàng của bệnh viện, đảm bảo ghi nhận chính xác hành vi rửa tay của điều dưỡng viên.
Các quan sát viên sử dụng bảng kiểm để đánh giá tuân thủ quy trình rửa tay/sát khuẩn tay trong 4 cơ hội cho mỗi đối tượng nghiên cứu, với mỗi đối tượng được quan sát 2 đợt kéo dài từ 15 - 20 phút Vị trí quan sát được chọn tại phòng tiêm hoặc phòng hành chính, đảm bảo không gây sự chú ý nhưng vẫn quan sát được đầy đủ các hoạt động chăm sóc bệnh nhân Khi có cơ hội, đối tượng nghiên cứu thực hiện rửa tay/sát khuẩn tay bằng nước với xà phòng trong 30 - 45 giây hoặc bằng cồn trong 20 - 30 giây theo quy trình 6 bước Nghiên cứu viên cũng thực hiện quan sát để đảm bảo chất lượng dữ liệu thu thập và giảm thiểu sai số.
2.6.2 Thu thập số liệu định tính
Phương pháp thảo luận nhóm tập trung và phỏng vấn sâu đã được áp dụng với lãnh đạo bệnh viện và cán bộ phụ trách khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn nhằm tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kiến thức và việc tuân thủ quy trình rửa tay của điều dưỡng viên.
Mỗi cuộc thảo luận nhóm bao gồm 8 điều dưỡng, được tiến hành trong 45 -
60 phút, điều dưỡng tham gia thảo luận nhóm được chọn có chủ đích Mỗi khoa mời
Một điều dưỡng trưởng và một điều dưỡng viên có hơn 5 năm kinh nghiệm đã tham gia hai cuộc thảo luận nhóm tại Hội trường giao ban của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Lâm Đồng.
Các câu hỏi cho thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được trình bày trong “Hướng dẫn thảo luận nhóm” (Phụ lục 9) và “Hướng dẫn phỏng vấn sâu” (Phụ lục 10) Nghiên cứu viên sẽ điều hành các cuộc thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu cùng với một thư ký, thường là điều dưỡng đã tham gia giám sát việc tuân thủ rửa tay Nội dung của các cuộc thảo luận và phỏng vấn sẽ được thư ký ghi âm và tóm tắt trong biên bản.
2.6.3 Công cụ thu thập số liệu
Bộ câu hỏi phát vấn được thiết kế theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bao gồm 20 câu hỏi nhằm đánh giá kiến thức về rửa tay thường quy, bên cạnh phần thông tin chung.
Bảng kiểm quan sát được thiết kế dựa trên bộ công cụ và quy trình đánh giá tuân thủ rửa tay của WHO, bao gồm 5 thời điểm quan trọng cần rửa tay khi chăm sóc bệnh nhân Mục tiêu là theo dõi sự tuân thủ của điều dưỡng trong việc rửa tay bằng nước và xà phòng trong 30 - 45 giây hoặc sử dụng dung dịch sát khuẩn chứa cồn trong 20 - 30 giây, đảm bảo thực hiện đúng quy trình.
6 bước quy trình rửa tay thường quy hay không và đánh dấu vào phiếu
- Hướng dẫn thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm có trọng tâm được thực hiện trên 2 nhóm đối tượng khác nhau (Phụ lục 9)
- Hướng dẫn phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu Phó Giám đốc bệnh viện và cán bộ phụ trách Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn (Phụ lục 10).
Xử lý và phân tích số liệu
Sau mỗi ngày điều tra, các nghiên cứu viên tiến hành kiểm tra và làm sạch phiếu trả lời của điều dưỡng viên, mã hóa và ghép cặp phiếu phát vấn với bảng kiểm quan sát Tất cả thông tin được nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý, phân tích dữ liệu theo mục tiêu nghiên cứu bằng phần mềm SPSS 16.0 Phân tích mối tương quan giữa các yếu tố cá nhân được thực hiện bằng cách sử dụng Odds Ratio (OR).
HUPH kiến thức và tỉ lệ tuân thủ RTTQ của điều dưỡng viên Kiểm định Khi bình phương
2 được dùng để đánh giá mối tương quan này
Số liệu định tính được phân tích qua ba giai đoạn: thu gọn dữ liệu, làm sạch và tổ chức thông tin; thể hiện thông tin, cô đọng và tổ chức sơ đồ phân tích; phác thảo kết luận và kiểm định kết quả Bản ghi chép nội dung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm được tổ chức lại, trong khi bản ghi âm được gỡ băng chi tiết, mã hóa và phân tích theo chủ đề để tìm hiểu các yếu tố liên quan đến tuân thủ RTTQ Mỗi cuộc thảo luận và phỏng vấn được mã hóa bằng mã số riêng, với mỗi thành viên trong thảo luận nhóm có mã số riêng và mỗi chủ đề được đánh dấu bằng hình ảnh Nghiên cứu viên chính nghe lại băng ghi âm, đọc bản gỡ băng và mã hóa thông tin theo các chủ đề Có ba nhóm chủ đề chính: yếu tố tăng cường/thúc đẩy, yếu tố rào cản và mong muốn của điều dưỡng viên khi thực hiện RTTQ Dựa trên thông tin thu được, nghiên cứu viên chia thành các nhóm nhỏ để thuận lợi cho việc phân tích và tổng hợp thông tin định tính.
Tiêu chuẩn, cách đánh giá kiến thức, thực hành rửa tay thường quy
2.8.1 Đánh giá kiến thức tuân thủ rửa tay thường quy [2], [13], [20] Đo lường kiến thức về RTTQ của điều dưỡng được thực hiện bằng phương pháp phát vấn tự điền vào bộ câu hỏi Sử dụng bộ công cụ đánh giá kiến thức về rửa tay gồm 20 câu hỏi tự điền Điểm tối đa cho phần đánh giá kiến thức là 20 điểm Kiến thức được đánh giá là đạt khi số điểm lớn hơn hoặc bằng 13 điểm (≥ 2/3 số điểm tuyệt đối), chưa đạt khi số điểm dưới 13 điểm (Phụ lục 4)
2.8.2 Đánh giá tuân thủ thực hành rửa tay thường quy Đánh giá thực hành rửa tay/sát khuẩn tay theo số cơ hội rửa tay của điều dưỡng được thực hiện bằng phương pháp quan sát điền vào bảng kiểm theo mẫu của TCYTTG (Quan sát không tham gia) Nghiên cứu không đánh giá mức độ giảm NKBV mà chỉ lý luận tuân thủ RTTQ sẽ làm giảm NKBV
Dựa trên tài liệu đánh giá tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế của WHO, ta có công thức [36]:
Số lần rửa tay của NVYT trong thời gian quan sát
Tổng số cơ hội rửa tay của nhân viên y tế trong thời gian quan sát là rất quan trọng Việc rửa tay cần được thực hiện đúng theo quy trình rửa tay 6 bước do Bộ Y tế ban hành, bất kể hình thức nào.
Cơ hội rửa tay được Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa là “Một thời điểm khi có nguy cơ lây truyền mầm bệnh từ một bề mặt hoặc bệnh nhân này sang bề mặt hoặc bệnh nhân khác qua bàn tay”.
Tuân thủ rửa tay thường quy đúng, đủ trong nghiên cứu bao gồm:
Rửa tay thường xuyên là rất quan trọng, đặc biệt là khi có cơ hội Theo Bộ Y tế, có 5 thời điểm chính mà mọi người nên rửa tay để đảm bảo sức khỏe.
Rửa tay đúng cách là rất quan trọng để ngăn ngừa lây nhiễm Bạn nên rửa tay với nước và xà phòng trong khoảng 30 - 45 giây, hoặc sử dụng dung dịch sát khuẩn có chứa cồn trong 20 - 30 giây, theo hướng dẫn của Bộ Y tế.
Thực hiện rửa tay theo đủ 6 bước quy trình rửa tay thường quy của Bộ Y tế
2.8.3 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ rửa tay thường quy
Mô tả các yếu tố liên quan đến tuân thủ RTTQ được đánh giá bằng phương pháp định lượng và định tính
Phương pháp định lượng xác định mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân và kiến thức với tuân thủ RTTQ
Phương pháp định tính được áp dụng thông qua phỏng vấn sâu với lãnh đạo bệnh viện và cán bộ phụ trách khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, kết hợp với thảo luận nhóm giữa điều dưỡng trưởng và điều dưỡng viên của 8 khoa lâm sàng, nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu.
- Yếu tố nào thúc đẩy điều dưỡng tăng cường tuân thủ rửa tay?
- Yếu tố nào gây cản trở đến việc rửa tay của điều dưỡng?
- Những mong muốn của điều dưỡng khi rửa tay là gì?
Các chỉ số, biến số nghiên cứu
Bảng 2.1: Các biến số sử dụng trong nghiên cứu
STT Tên biến số Định nghĩa Loại biến
I Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
1 Tuổi Tuổi của đối tượng nghiên cứu tính theo năm dương lịch
2 Giới Giới tính của đối tượng nghiên cứu Nhị phân Phát vấn
3 Khoa Khoa hiện đang công tác Định danh Phát vấn
Trình độ học vấn cao nhất Thứ bậc Phát vấn
5 Thời gian công tác tại bệnh viện
Số năm làm việc tại bệnh viện Rời rạc Phát vấn
II Kiến thức của đối tượng nghiên cứu về tuân thủ rửa tay thường quy
6 Kiến thức về tác nhân gây NKBV
Sự hiểu biết của ĐTNC về tác nhân gây NKBV (bao gồm vi rút, vi khuẩn và nấm)
7 Kiến thức về tác dụng của RTTQ
Là kiến thức của ĐTNC về 6 bước của quy trình RTTQ giúp loại bỏ hầu hết các VSV vãng lai trên da bàn tay
8 Kiến thức về các bước quy trình
6 bước rửa tay thường quy Thời gian rửa tay bằng xà phòng hoặc dung dịch rửa tay có chứa cồn hoặc rửa tay bằng cồn
9 Kiến thức về các thời điểm RTTQ
Là kiến thức của ĐTNC về 5 cơ hội RTTQ
10 Kiến thức về hóa chất
Là rửa tay với nước và xà phòng hoặc rửa tay với cồn/dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn
11 Kiến thức về lượng thời gian đủ để làm sạch bàn tay bằng cồn/dd sát khuẩn tay có chứa cồn
Là khoảng thời gian đủ để làm sạch bàn tay bằng cồn/dd sát khuẩn tay có chứa cồn được xác định qua các nghiên cứu (20 - 30 giây)
RTTQ được đánh giá tổng hợp dựa trên kiến thức về chỉ định rửa tay, quy trình rửa tay bằng nước và xà phòng, cũng như việc sát khuẩn tay bằng cồn hoặc dung dịch có chứa cồn và thời gian thực hiện RTTQ.
III Thực hành tuân thủ rửa tay thường quy của đối tượng nghiên cứu
13 Số cơ hội thực hành rửa tay được quan sát
Là số cơ hội cần thực hiện rửa tay được quan sát trong tổng số 5 cơ hội cần rửa tay
14 Thực hiện rửa tay bằng
Là số cần thực hiện rửa tay bằng nước và xà phòng khi có cơ
HUPH nước và xà phòng hội/chỉ định rửa tay
15 Thực hiện rửa tay bằng cồn/dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn
Là số cần thực hiện rửa tay bằng cồn/dung dịch sát khuẩn tay có chứa cồn khi có cơ hội/chỉ định rửa tay
16 Tỉ lệ tuân thủ RTTQ của ĐTNC
Là tỉ lệ tuân thủ rửa tay theo các cơ hội/thời điểm rửa tay trong phạm vi nghiên cứu
Biến số nghiên cứu chi tiết được trình bày trong Phụ lục 1 trang 85
Chủ đề phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm của cán bộ y tế:
- Yếu tố nào thúc đầy điều dưỡng tăng cường tuân thủ RTTQ
- Yếu tố nào cản trở điều dưỡng RTTQ
- Những mong muốn của điều dưỡng khi rửa tay.
Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu được Hội Đồng đạo đức trường Đại học Y tế công cộng thông qua
Nghiên cứu này đã được thực hiện với sự chấp thuận của Ban Giám đốc và được Hội đồng khoa học và đạo đức của Bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng cho phép.
- Các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ về mục đích nghiên cứu và đều đồng ý tham gia vào nghiên cứu
- Các thông tin cá nhân về đối tượng nghiên cứu được giữ bí mật bằng cách mã hóa
- Nghiên cứu không có tác động nào có nguy cơ gây hại đến đối tượng nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu sẽ được thông báo đến bệnh viện Đa khoa Lâm Đồng nhằm cải thiện tình hình rửa tay của điều dưỡng tại bệnh viện.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và các biện pháp khắc phục sai số
2.11.1 Hạn chế của nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và nhân lực, nghiên cứu được thực hiện thông qua một điều tra cắt ngang, do đó kết quả chỉ phản ánh tình hình tại thời điểm nghiên cứu.
Nghiên cứu đã đánh giá kiến thức của điều dưỡng về rửa tay và tỉ lệ tuân thủ quy trình rửa tay, tuy nhiên chưa đo lường được hiệu quả thực tế của việc rửa tay của điều dưỡng.
Người phỏng vấn và điều hành thảo luận nhóm thiếu kinh nghiệm và kỹ năng đặt câu hỏi, dẫn đến việc không thu thập được nhiều thông tin Nghiên cứu định tính chỉ xác định được một số yếu tố liên quan đến tuân thủ RTTQ, mà chưa khai thác hết toàn bộ các yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuân thủ RTTQ trong bệnh viện của điều dưỡng.
2.11.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Việc thu thập thông tin từ đối tượng nghiên cứu chủ yếu thông qua bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn Tuy nhiên, quá trình này có thể gặp sai số do thái độ hợp tác và tâm lý của đối tượng nghiên cứu trong khi tham gia.
- Việc thu thập thông tin ở đối tượng nghiên cứu đôi khi mang tính chủ quan, cảm tính của người tham gia trả lời phiếu phát vấn
- Nghiên cứu định tính có hạn chế về thông tin do kĩ năng điều hành thảo luận, ý kiến của đối tượng mang tính chủ quan
- Đối tượng nghiên cứu có thể phát hiện ra mình bị quan sát do đó có thể ý thức tuân thủ rửa tay tốt hơn ở thời điểm quan sát
- Bộ câu hỏi và hướng dẫn thảo luận được nhóm nghiên cứu xây dựng, điều tra thử và hoàn thiện bảo đảm rõ ràng và dễ hiểu
Để đảm bảo chất lượng điều tra, cần tổ chức tập huấn kỹ lưỡng cho các điều tra viên, thống nhất các tiêu chuẩn đánh giá, tiến hành thử nghiệm bộ công cụ và rút ra kinh nghiệm trước khi bắt đầu quá trình điều tra.
Thông báo trước lịch phỏng vấn cho các đối tượng nghiên cứu giúp họ sắp xếp thời gian hợp lý Đồng thời, việc giải thích rõ ràng mục đích và tính bảo mật của nghiên cứu sẽ tạo ra một không khí thoải mái, cởi mở trong suốt quá trình thực hiện.
Để giảm thiểu khả năng đối tượng nghiên cứu nhận ra mình đang bị quan sát và nâng cao ý thức tuân thủ quy trình, nghiên cứu đã tổ chức tập huấn cho các quan sát viên về việc lựa chọn vị trí quan sát phù hợp, không gây chú ý và không làm ảnh hưởng đến hoạt động của điều dưỡng.
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Phân bố tuổi của đối tượng nghiên cứu
Nhóm tuổi Số lượng Tỉ lệ (%)
Nghiên cứu được thực hiện trên 121 điều dưỡng viên tại 8 khoa lâm sàng của bệnh viện, với tổng số lần rửa tay quan sát là 484 lần Tuổi trung bình của các điều dưỡng viên tham gia nghiên cứu là 31 ± 7, trong đó độ tuổi trẻ nhất là 20 và lớn nhất là 55 Phân bố độ tuổi của điều dưỡng viên tương đối chuẩn, với nhóm tuổi 30 - 39 chiếm tỷ lệ cao nhất là 43% (n = 52), tiếp theo là 36.3% (n = 44) cho nhóm tuổi 30 trở xuống và 20.7% (n = 25) cho nhóm tuổi trên 39.
Biểu đồ 3.1 cho thấy trong tổng số 121 điều dưỡng tham gia nghiên cứu, tỷ lệ nữ điều dưỡng chiếm 86.8% (n = 105), trong khi tỷ lệ nam giới chỉ chiếm một phần nhỏ.
13.2% (n = 16) Nhóm điều dưỡng có trình độ trung cấp chiếm tỉ lệ cao hơn cả với
91 điều dưỡng (75.2%), 30 điều dưỡng (24.8%) có trình độ đại học và cao đẳng, không có đối tượng nào có trình độ sơ cấp
Biểu đồ 3.2 Trình độ học vấn của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.3 Thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu
Hiện tại, ở các khoa lâm sàng, số lượng điều dưỡng công tác nhiều nhất từ 5
- 10 năm chiếm tỉ lệ 40.5% (n = 49), nhóm điều dưỡng gắn bó trên 25 năm chiếm 9.9% (n = 12), thấp nhất ở thời gian 21 - 25 năm chỉ chiếm 2.5% (n = 7)
Bảng 3.2 Phân bố nhân viên theo khoa thuộc khối nội
Khoa lâm sàng Số lượng Tỉ lệ %
Nội tim mạch - lão khoa 7 8.3
Trong nghiên cứu này, trong số 6 khoa thuộc khối nội, khoa HSTC-CĐ có số lượng nhân viên cao nhất với 26 người, chiếm 30.9%, trong khi khoa Nội tim mạch lão khoa có số lượng thấp nhất với 7 người, chiếm 8.3% Tổng số nhân viên tham gia nghiên cứu là 84, chiếm 69.5% tổng số nhân viên.
Bảng 3.3 Phân bố nhân viên theo khoa thuộc khối ngoại
Khoa lâm sàng Số lượng Tỉ lệ %
Khối ngoại bao gồm hai khoa chính là Ngoại Chấn thương và Ngoại Tổng quát, với tỷ lệ lần lượt là 54% (n = 20) và 46% (n = 17) Tổng số nhân viên trong khối ngoại chỉ chiếm 30.5% (n = 37) trong tổng số nhân viên tham gia nghiên cứu.
Kiến thức về rửa tay thường quy của đối tượng nghiên cứu
Biểu đồ 3.4 Kiến thức đúng của điều dưỡng về rửa tay
Rửa tay thường quy là yếu tố quan trọng trong kiểm soát nhiễm khuẩn bệnh viện, với 96.7% điều dưỡng nhận thức rằng bàn tay của nhân viên y tế là tác nhân chính trong lây truyền nhiễm khuẩn Hơn nữa, 99.2% cho rằng việc tuân thủ rửa tay sẽ giảm nguy cơ mắc nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) Đáng chú ý, 91.7% cho rằng bàn tay của nhân viên y tế là nguồn lây lan vi sinh vật (VSV), và 83.5% tin rằng rửa tay đúng cách giúp loại bỏ hầu hết VSV trên da Tuy nhiên, 17.4% vẫn nhầm lẫn rằng rửa tay đúng quy trình là phương pháp đơn giản nhưng tốn kém để phòng ngừa NKBV.
Hàng năm, Bệnh viện tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên môn và đào tạo liên tục, trong đó khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn đảm nhận việc đào tạo về kiểm soát nhiễm khuẩn cho toàn viện Khoa đã phối hợp với Phòng Điều dưỡng để lên kế hoạch tổ chức tập huấn về rửa tay thường quy cho điều dưỡng viên tại các khoa lâm sàng.
Rửa tay là một hoạt động quan trọng mà chúng tôi được học hàng năm, với việc điểm danh và kiểm tra giúp nâng cao ý thức về vai trò và tác dụng của nó.
Biểu đồ 3.5: Kết quả sắp xếp đúng thứ tự các bước trong quy trình RTTQ
Quy trình RTTQ gồm 6 bước cơ bản: (1) Làm ướt tay bằng nước và lấy xà phòng để chà hai lòng bàn tay vào nhau; (2) Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia, sau đó lặp lại; (3) Chà hai lòng bàn tay vào nhau, chú ý miết mạnh các kẽ trong ngón tay; (4) Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia; (5) Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại.
Xoay các đầu ngón tay vào lòng bàn tay kia và ngược lại, sau đó rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay Nghiên cứu cho thấy, 64.5% điều dưỡng viên thực hiện đúng quy trình rửa tay 6 bước, trong khi 35.5% vẫn mắc lỗi trong thứ tự các bước, chủ yếu ở các bước 2, 3 và 4.
Tại khoa của em, mọi khu vực có lavabo rửa tay đều được dán quy trình rửa tay 6 bước theo hướng dẫn của Bộ Y tế, vì vậy em thường xuyên tiếp xúc với quy trình này Hàng năm, em cũng tham gia đầy đủ các buổi tập huấn về kiểm soát nhiễm khuẩn do khoa tổ chức.
Hàng ngày, nhiều người rửa tay nhưng thường không chú ý đến quy trình 6 bước được dán ở hầu hết các lavabo, dẫn đến việc thực hiện sai thứ tự các bước rửa tay.
Trong những năm gần đây, Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn đã thực hiện việc dán poster hướng dẫn thời điểm và quy trình rửa tay 6 bước của Bộ Y tế tại hầu hết các vị trí có lavabo trong tất cả các khoa lâm sàng và các phòng ban khác của bệnh viện, nhằm đảm bảo tiêu chí chất lượng bệnh viện.
Bảng 3.4: Kiến thức của điều dưỡng về thời gian một lần RTTQ Dung dịch rửa tay
Thời gian cho một lần RTTQ
Dung dịch chứa cồn/cồn
Theo kết quả từ bảng 3.4, hơn 50% điều dưỡng đã trả lời đúng về thời gian rửa tay với nước và xà phòng cũng như bằng cồn hoặc dung dịch chứa cồn Cụ thể, 68.6% (n = 83) cho rằng thời gian rửa tay với nước và xà phòng cần từ 30 - 45 giây, trong khi 31.4% (n = 38) có câu trả lời sai Đối với việc rửa tay bằng cồn hoặc dung dịch chứa cồn, 66.1% (n = 80) cho rằng thời gian cần thiết là 20 - 30 giây, còn 33.9% (n = 41) trả lời không đúng.
Trong các buổi tập huấn, tôi thường được thông báo về thời gian rửa tay phù hợp với từng loại hóa chất, vì vậy việc lựa chọn câu trả lời trở nên dễ dàng.
Bảng 3.5: Kiến thức của điều dưỡng về dung dịch rửa tay phù hợp nhất
TT Trường hợp/Thời điểm cần rửa tay
1 Rửa tay phù hợp với sau khi tiếp xúc với đồ vật, dụng cụ dính máu, dịch, và các chất bài tiết của người bệnh?
2 Rửa tay phù hợp trước khi mang găng tay sạch?
3 Rửa tay phù hợp khi chuyển từ vùng bẩn sang vùng sạch trên cùng người bệnh?
4 Rửa tay phù hợp khi bàn tay NVYT xuất hiện vết bẩn?
5 Rửa tay phù hợp ngay sau khi bàn tay bị rủi ro do vật sắc nhọn?
6 Rửa tay phù hợp trước và sau khi tiếp xúc bệnh nhân?
7 Rửa tay phù hợp trước khi thực hiện các kĩ thuật tiêm, truyền cho người bệnh?
8 Dung dịch nào có tác dụng diệt vi khuẩn trên bàn tay tốt nhất?
Hình thức rửa tay phù hợp được xác định dựa trên thời gian, tính sẵn có và hiệu quả diệt khuẩn Kết quả từ bảng 3.5 cho thấy 90.1% (n = 109) người tham gia đã chọn đúng phương pháp rửa tay bằng nước và xà phòng sau khi tiếp xúc với đồ vật, dụng cụ dính máu và dịch bệnh Chỉ 47.1% (n = 57) lựa chọn đúng hóa chất rửa tay là cồn hoặc dung dịch có chứa cồn trước khi mang găng sạch Tỷ lệ lựa chọn đúng hình thức rửa tay khi chuyển từ vùng bẩn sang vùng sạch là 47.9% (n = 58), với 91.7% (n = 111) chọn rửa tay bằng nước và xà phòng khi có vết bẩn Ngoài ra, 81% (n = 98) và 57% (n = 69) đã chọn đúng rửa tay bằng nước và xà phòng trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân Chỉ 52.1% (n = 63) lựa chọn đúng rửa tay bằng cồn/dung dịch có chứa cồn trước khi thực hiện các kỹ thuật tiêm, truyền Cuối cùng, chỉ có 39.7% (n = 48) điều dưỡng cho rằng dung dịch có tác dụng diệt vi khuẩn tốt nhất là cồn hoặc dung dịch có chứa cồn.
Biểu đồ 3.6: Kiến thức chung của điều dưỡng về RTTQ
Trong số 6 khoa thuộc khối nội, kiến thức của điều dưỡng về tuân thủ RTTQ đạt cao nhất ở khoa HSTC-CĐ và khoa Nội B với tỷ lệ 100%, trong khi khoa Nội TMLK có tỷ lệ thấp nhất là 57.1%.
Tại khoa, cô điều dưỡng trưởng luôn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát nhiễm khuẩn và công tác chuyên môn Cô thường xuyên kiểm tra việc rửa tay, đặc biệt với nhân viên mới, giúp nâng cao ý thức của tất cả nhân viên về vấn đề này Ngoài ra, các buổi sinh hoạt chuyên môn hàng tháng cũng là dịp để nhân viên trao đổi và thảo luận về kỹ thuật rửa tay của điều dưỡng viên, từ đó củng cố kiến thức và kỹ năng cần thiết.
Biểu đồ 3.7: Phân bố kiến thức của điều dưỡng về tuân thủ RTTQ theo khoa thuộc khối nội
Bảng 3.6: Phân bố kiến thức của điều dưỡng về tuân thủ RTTQ theo khoa thuộc khối ngoại Khoa làm việc Kiến thức đạt n (%)
Mặc dù chỉ đánh giá kiến thức của hai khoa thuộc khối ngoại, nhưng tỷ lệ kiến thức đạt của điều dưỡng là khá cao, với Ngoại TQ đạt 94.1%, cao hơn so với Ngoại CT là 90%.
Khoa Ngoại Tổng quát và khoa Ngoại Chấn thương thường xuyên tiếp xúc với vết thương, dịch tiết và máu của bệnh nhân, điều này có thể giải thích cho tỷ lệ kiến thức cao của các bác sĩ trong hai khoa này.
Thực trạng tuân thủ rửa tay thường quy của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.7: Tỉ lệ có RTTQ trong số cơ hội được quan sát
Số cơ hội quan sát được (a)
Số cơ hội có rửa tay (b)
1 Trước khi tiếp xúc với người bệnh 135 58 42.96%
2 Trước khi làm thủ thuật vô trùng 98 84 85.71%
3 Sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể 56 56 100%
4 Sau khi tiếp xúc người bệnh 144 96 66.67%
5 Sau khi đụng chạm vào những vùng xung quanh người bệnh
Trong tổng số 484 cơ hội rửa tay được quan sát, có 309 cơ hội thực hiện rửa tay, chiếm tỷ lệ 63.84% Rửa tay được thực hiện bằng nước và xà phòng hoặc bằng dung dịch có chứa cồn Đặc biệt, 100% rửa tay được thực hiện sau khi tiếp xúc với máu và dịch cơ thể, và 85.71% rửa tay trước khi thực hiện thủ thuật vô trùng Tuy nhiên, tỷ lệ rửa tay sau khi tiếp xúc với các vùng xung quanh người bệnh chỉ đạt 29.41%.
Sau khi tiếp xúc với các vật dụng xung quanh bệnh nhân, tôi thường quên việc rửa tay Trong những tình huống cấp cứu, việc nhận hồ sơ và chuẩn bị cho bác sĩ khám bệnh chiếm nhiều thời gian, khiến tôi vội vàng và không chú ý đến việc vệ sinh tay.
Khi tiếp xúc với máu của bệnh nhân, việc rửa tay ngay lập tức là rất quan trọng để tránh lây nhiễm bệnh Ai cũng cần phải tự bảo vệ bản thân trong những tình huống như vậy.
Bảng 3.8: Quy trình RTTQ 6 bước Bước thực hiện
RTTQ với nước và xà phòng RTTQ với cồn/dung dịch có chứa cồn
Bước 1 Làm ướt bàn tay bằng nước, lấy xà phòng chà hai lòng bàn tay vào nhau
Lấy khoảng 3 - 5 ml dung dịch chứa cồn vào lòng bàn tay Xoa hai lòng bàn tay vào nhau
Bước 2 Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại
Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại
Bước 3 Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay
Chà hai lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay
Bước 4 Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia
Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia
Bước 5 Dùng lòng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
Dùng lòng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
Bước 6 Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại Rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay
Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại
Các biểu đồ từ 3.9 đến 3.14 mô tả chi tiết 5 cơ hội rửa tay, trong đó mỗi cơ hội cho phép lựa chọn phương thức rửa tay theo quy trình 6 bước, sử dụng nước và xà phòng, hoặc rửa/chà tay bằng cồn hoặc dung dịch có chứa cồn.
HUPH nhằm xác định phương pháp rửa tay phổ biến và những bước thường bị nhân viên y tế bỏ sót trong quy trình rửa tay theo tiêu chuẩn (RTTQ) sử dụng nước và xà phòng hoặc dung dịch có chứa cồn.
Biểu đồ 3.9: Tỉ lệ RTTQ theo quy trình RTTQ 6 bước trước khi tiếp xúc NB
Rửa được hiểu là rửa tay bằng nước với xà phòng, chà được hiểu là rửa/chà tay bằng cồn/dd có chứa cồn
Trong một nghiên cứu, có tổng cộng 135 cơ hội quan sát trước khi tiếp xúc với bệnh nhân Trong số đó, 58 cơ hội điều dưỡng rửa tay bằng nước với xà phòng hoặc dung dịch có chứa cồn, trong khi 21 cơ hội rửa tay bằng nước với xà phòng Tuân thủ cao nhất được ghi nhận ở bước 1 và bước 2, đạt 100%, trong khi bước 4 và bước 5 có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn, lần lượt là 81% và 85.7% Đối với việc rửa tay bằng cồn/dung dịch có chứa cồn, có 37 cơ hội được ghi nhận, với tỷ lệ tuân thủ cao nhất ở bước 1 và bước 2, đạt 100% và 97.3%, nhưng thấp hơn ở bước 5 (67.6%) và bước 3 (81.1%).
Trước khi tiếp xúc với bệnh nhân, tôi luôn ưu tiên sử dụng nước và xà phòng, vì đây là bước đầu tiên cần thực hiện trước khi tiến hành bất kỳ hành động nào Tôi tin rằng ai cũng nên làm như vậy.
Biểu đồ 3.10: Tỉ lệ RTTQ theo quy trình RTTQ 6 bước trước thực hiện thủ thuật vô trùng
Trong tổng số 98 cơ hội quan sát, có 84 cơ hội điều dưỡng rửa tay bằng nước với xà phòng hoặc dung dịch rửa tay có chứa cồn Trong số đó, tuân thủ cao nhất ở bước 1, bước 4 và bước 6 đạt 100%, trong khi bước 3 và bước 5 chỉ đạt 93.8% Ngoài ra, có 68 cơ hội điều dưỡng viên chà tay bằng dung dịch có chứa cồn, với tỷ lệ tuân thủ cao nhất ở bước 1 và bước 2 lần lượt là 100% và 95.6%, nhưng thấp hơn ở bước 4 và bước 5 với 85.3%.
Trước khi tiêm hoặc truyền cho bệnh nhân, việc rửa tay bằng cồn hoặc dung dịch có chứa cồn là đủ để đảm bảo vệ sinh, vừa nhanh chóng vừa tiện lợi, thay vì phải đi rửa tay tại phòng tiêm hay phòng hành chính, điều này sẽ tiết kiệm thời gian.
Biểu đồ 3.11: Tỉ lệ RTTQ theo quy trình RTTQ 6 bước sau tiếp xúc BN
Trong tổng số 144 cơ hội quan sát, có 96 cơ hội điều dưỡng rửa tay bằng nước với xà phòng hoặc dung dịch rửa tay có chứa cồn Trong số đó, tuân thủ cao nhất ở bước 1 và bước 2 lần lượt đạt 100% và 97%, trong khi tuân thủ ở bước 4 và bước 5 chỉ đạt 78% và 78.1% Ngoài ra, có 64 cơ hội điều dưỡng chà tay bằng dung dịch có chứa cồn, với tuân thủ cao nhất ở bước 1 và bước 2 đạt 100% và 90.6%, nhưng thấp hơn ở bước 3 và bước 5, lần lượt là 65.6% và 64.1%.
Biểu đồ 3.12: Tỉ lệ RTTQ theo quy trình RTTQ 6 bước sau tiếp xúc máu và dịch cơ thể
Trong 56 cơ hội tiếp xúc với máu và dịch cơ thể, 100% điều dưỡng đã chọn rửa tay bằng nước và xà phòng, không có trường hợp nào sử dụng cồn hoặc dung dịch có chứa cồn Mức độ tuân thủ cao nhất được ghi nhận ở bước 1 và bước 2 với tỷ lệ lần lượt là 100% và 87.5%, trong khi đó, tỷ lệ tuân thủ ở bước 3 và bước 5 chỉ đạt 75% và 67.9%.
Sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, việc rửa tay trước khi gặp bệnh nhân mới là rất quan trọng Nếu không thực hiện điều này, những người có chuyên môn có thể phản ánh qua đường dây nóng, gây phiền phức cho chúng ta.
Rửa tay bằng nước và xà phòng là cách hiệu quả nhất để ngăn ngừa lây nhiễm, đặc biệt khi nguy cơ cao Việc sử dụng cồn không đảm bảo sạch sẽ có thể khiến bạn mắc bệnh và lây lan cho người khác Do đó, hãy luôn ưu tiên rửa tay bằng nước và xà phòng để bảo vệ sức khỏe bản thân và cộng đồng.
Biểu đồ 3.13: Tỉ lệ RTTQ theo quy trình RTTQ 6 bước sau khi đụng chạm vào những vùng xung quanh NB
Trong 51 cơ hội quan sát, chỉ có 15 lần điều dưỡng thực hiện rửa tay bằng nước và xà phòng hoặc dung dịch rửa tay có chứa cồn Hầu hết các điều dưỡng vẫn chưa chú trọng việc rửa tay sau khi tiếp xúc với vật dụng và khu vực xung quanh bệnh nhân.
Có 6 cơ hội được điều dưỡng viên rửa tay bằng nước với xà phòng, trong đó, tuân thủ 100% ở các bước 1, bước 4, bước 6; còn lại 83.3% ở các bước 2, bước 3 và bước 5; có 9 cơ hội được điều dưỡng viên chà tay bằng cồn/dung dịch có chứa cồn,
HUPH tuân thủ 100% ở các bước 1, bước 2, bước 3, bước 6 và thấp nhất ở bước 4: 44.4%, bước 5: 55.6%
Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành rửa tay thường quy của điều dưỡng
3.4.1 Mối liên quan đến kiến thức rửa tay thường quy của điều dưỡng
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa nhóm tuổi với kiến thức RTTQ của điều dưỡng
Kiến thức chưa đạt OR
Theo bảng 3.13, không có mối liên hệ giữa tuổi tác và kiến thức RTTQ của điều dưỡng với giá trị p = 0.72 Cụ thể, trong nhóm tuổi từ 30 trở lên, tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức đạt 86.8% (n = 66), trong khi tỷ lệ không đạt là 13.2% (n = 10) Đối với nhóm tuổi dưới 30, tỷ lệ có kiến thức đạt 84.4% (n = 38) và tỷ lệ không đạt là 15.6% (n = 7).
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa giới tính với kiến thức RTTQ của điều dưỡng
Kiến thức chưa đạt OR
Giới tính không ảnh hưởng đến kiến thức của đối tượng nghiên cứu với giá trị p = 0.85 Tỷ lệ kiến thức đạt ở nữ giới là 85.7% (n = 90) và ở nam giới là 87.5% (n = 14) Tỷ lệ kiến thức chưa đạt ở nữ giới là 14.3% (n = 15) và ở nam giới là 12.5% (n = 2).
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa trình độ học vấn với kiến thức RTTQ của điều dưỡng
Kiến thức chưa đạt OR
Theo bảng 3.14, trình độ học vấn không ảnh hưởng đến kiến thức của điều dưỡng, khi mà tỷ lệ điều dưỡng có trình độ đại học và cao đẳng đạt kiến thức lên tới 96.7% (n = 29), cao hơn nhiều so với tỷ lệ 82.4% (n = 75) của điều dưỡng trung cấp Tỷ lệ điều dưỡng có kiến thức chưa đạt là 3.3% (n = 1) đối với trình độ cao đẳng và đại học, trong khi đó, con số này là 17.6% (n = 16) đối với điều dưỡng trung cấp.
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa thâm niên công tác với kiến thức RTTQ của điều dưỡng
Kiến thức chưa đạt OR
Thâm niên công tác không ảnh hưởng đến kiến thức của điều dưỡng về RTTQ Cụ thể, đối với những người có thâm niên trên 10 năm, tỷ lệ kiến thức đạt là 90.2% (n = 37), trong khi tỷ lệ chưa đạt là 9.8% (n = 4) Đối với nhóm có thâm niên 10 năm trở xuống, tỷ lệ kiến thức đạt là 83.8% (n = 67) và chưa đạt là 16.2% (n = 13).
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa khoa làm việc với kiến thức RTTQ của điều dưỡng
Kiến thức chưa đạt OR
Mặc dù hai khối khoa có tính chất làm việc khác nhau, nhưng điều này không ảnh hưởng đến kiến thức của đối tượng điều dưỡng Tỉ lệ kiến thức đạt ở khối nội là 83.3% (n = 70) và ở khối ngoại là 91.9% (n = 34) Tỉ lệ kiến thức chưa đạt lần lượt ở hai khối này là 16.7% (n = 14) và 8.1% (n = 3).
Nghiên cứu cho thấy rằng các yếu tố như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thâm niên công tác và khoa làm việc đều có sự khác biệt về kiến thức, tuy nhiên không đạt ý nghĩa thống kê (p > 0.05).
3.4.2 Mối liên quan đến thực hành rửa tay thường quy của điều dưỡng
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa nhóm tuổi với tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng
Nhóm tuổi ≥ 30 tuổi, tỉ lệ không tuân thủ RTTQ 26.3% (n = 20), tuân thủ RTTQ 73.7% (n = 56); nhóm tuổi < 30 tuổi các tỉ lệ trên lần lượt là 28.9% (n = 13) và 71.1% (n = 32) với p = 0.76
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa nhóm giới với tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng
Giới tính không ảnh hưởng đến việc tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng, với tỷ lệ không tuân thủ RTTQ ở nữ là 27.6% và ở nam là 25% Tỷ lệ tuân thủ RTTQ tương ứng là 72.4% cho nữ và 75% cho nam.
Bảng 3.20: Mối liên quan giữa trình độ học vấn với tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng
Yếu tố tuổi, giới tính và trình độ học vấn không ảnh hưởng đến thực hành RTTQ với p > 0.05 Tỉ lệ tuân thủ RTTQ ở nhóm có trình độ đại học và cao đẳng đạt 73.3% (n") và 72.5% (nf) so với nhóm có trình độ trung cấp.
Bảng 3.21: Mối liên quan giữa thâm niên công tác với tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng
Thâm niên công tác của đối tượng nghiên cứu không ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ RTTQ của điều dưỡng Cụ thể, tỉ lệ tuân thủ RTTQ ở nhóm có thâm niên công tác trên 10 năm đạt 78% (n = 32), trong khi nhóm có thâm niên ≤ 10 năm là 70% (n = 56) Ngược lại, tỉ lệ không tuân thủ RTTQ lần lượt là 22% (n = 9) và 30% (n = 24).
Bảng 3.22: Mối liên quan giữa khoa làm việc với tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng
Kết quả nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa khoa làm việc của điều dưỡng và tỷ lệ tuân thủ quy trình điều trị (RTTQ) là không đáng kể Cụ thể, tỷ lệ tuân thủ RTTQ của điều dưỡng tại khối nội đạt 73.8% (n = 62) và tại khối ngoại là 70.3% (n = 26) Ngược lại, tỷ lệ không tuân thủ RTTQ lần lượt là 26.2% (n = 22) và 29.7% (n = 11).
Bảng 3.23: Mối liên quan giữa kiến thức với tuân thủ thực hành RTTQ của điều dưỡng
Nghiên cứu cho thấy kiến thức của điều dưỡng có mối liên quan thống kê đáng kể với tuân thủ RTTQ, với p < 0.001 và 2 = 44.56 Cụ thể, điều dưỡng có kiến thức đạt tuân thủ RTTQ cao hơn 80 lần so với điều dưỡng có kiến thức không đạt, với tỷ lệ lần lượt là 83.7% (n = 87) và 5.9% (n = 1) Ngược lại, tỷ lệ không tuân thủ RTTQ ở điều dưỡng có kiến thức không đạt rất cao, lên tới 94.1% (n = 16), so với 16.3% (n = 17) ở điều dưỡng có kiến thức đạt.
3.4.2.1 Các yếu tố thúc đẩy tuân thủ rửa tay thường quy
Nghiên cứu chỉ ra rằng để nâng cao sự tuân thủ quy định về RTTQ trong điều dưỡng, cần chú trọng vào các quy định cụ thể, công tác kiểm tra và giám sát thực hiện các quy định về KSNK, cũng như tổ chức tập huấn cho nhân viên y tế Theo thông tư 18/2009/TT-BYT, Hội đồng KSNK bệnh viện đã tư vấn cho Ban Giám đốc ban hành quy định bắt buộc cho tất cả nhân viên y tế trong việc khám, chữa bệnh và chăm sóc người bệnh, nhằm đảm bảo tuân thủ đúng chỉ định và kỹ thuật, từ đó giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện, đặc biệt là trong việc thực hiện RTTQ.
Theo quy định hiện hành của bệnh viện, nhân viên y tế, đặc biệt là điều dưỡng, phải tuân thủ quy trình rửa tay khi thực hiện chuyên môn.
Việc tuân thủ các quy định trong công việc trở nên rõ ràng và dễ dàng hơn Công tác kiểm tra và giám sát việc thực hiện các quy định về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) được Phòng Điều dưỡng phối hợp với Khoa KSNK thực hiện thường xuyên tại bệnh viện, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Giám đốc bệnh viện.
Hàng ngày, khoa tôi cử một nhân viên phối hợp với Phòng Điều dưỡng để kiểm tra các khoa, trong đó khoa tôi tập trung vào vệ sinh, còn Phòng Điều dưỡng kiểm tra chuyên môn Mặc dù công tác này diễn ra hàng tuần, chúng tôi thường thực hiện kiểm tra đột xuất để đảm bảo nhân viên tuân thủ tốt các quy định chuyên môn Tuy nhiên, hiện tại, nhân lực của khoa không đủ để giám sát công tác kiểm soát nhiễm khuẩn chung của toàn viện, điều này tạo ra một hạn chế trong công tác quản lý.