1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại bệnh viện đa khoa tỉnh đồng nai năm 2016

138 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai năm 2016
Tác giả Ngô Đức Lễ
Người hướng dẫn PGS.TS. Lã Ngọc Quang
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

67 4.1.1 Thực trạng số lượng và tình trạng hiện tại của trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa nghiên cứu .... Chính vì vậy, mà chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưở

Trang 1

NGÔ ĐỨC LỄ

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐỒNG NAI - NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

HÀ NỘI, 2016 HUPH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

NGÔ ĐỨC LỄ

THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỬ DỤNG TRANG THIẾT BỊ CHẨN ĐOÁN

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH ĐỒNG NAI - NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01

PGS.TS Lã Ngọc Quang

HÀ NỘI, 2016 HUPH

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trang đầu tiên của luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu,

phòng Đào tạo sau Đại học, cùng quý Thầy Cô Trường Đại học Y tế Công cộng đã

truyền đạt cho tôi kiến thức thật bổ ích và đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành

chương trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Lã Ngọc Quang,

người Thầy đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến cho tôi hoàn thành luận

văn này

Với lòng kính trọng tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến các Giáo sư, Phó

Giáo sư, Tiến sĩ trong Hội đồng thông qua đề cương và Hội đồng chấm luận văn tốt

nghiệp đã đóng góp cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn

chỉnh luận văn này

Tôi xin được gởi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám đốc, ban chủ nhiệm

các khoa, phòng và toàn thể cán bộ, nhân viên Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai,

nơi tôi tiến hành nghiên cứu đã tạo điều kiện tốt nhất và giúp đỡ cho tôi hoàn thành

đề tài nghiên cứu của mình

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, các anh chị em

lớp Cao học Quản lý bệnh viện khóa 7, những người luôn bên tôi đã quan tâm, động

viên, giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm học tập và trong thời gian làm luận văn này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ ix

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT x

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU xi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Khái niệm về bệnh viện, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 4

1.1.1 Khái niệm về bệnh viện 4

1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 4

1.2 Khái niệm, phân loại, vai trò và vị trí của trang thiết bị y tế 4

1.2.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế 4

1.2.2 Phân loại trang thiết bị y tế 6

1.2.3 Vai trò và vị trí của trang thiết bị y tế 7

1.3 Quản lý trang thiết bị y tế 8

1.3.1 Khái niệm quản lý trang thiết bị y tế 8

1.3.2 Chu trình quản lý trang thiết bị y tế 8

1.4 Thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới 10

1.5 Thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế tại Việt Nam 12

1.5.1 Những thành tựu đã đạt được 12

1.5.2 Những hạn chế và tồn tại 13

HUPH

Trang 5

1.6 Nghiên cứu thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới và tại

Việt Nam 14

1.6.1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới 14

1.6.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế tại Việt Nam 15

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị y tế tại Việt Nam 18

1.7.1 Yếu tố Chính sách 18

1.7.2 Yếu tố Tài chính 19

1.7.3 Yếu tố Nhân lực 19

1.7.4 Yếu tố Cơ sở vật chất 20

1.7.5 Yếu tố Hệ thống thông tin 20

1.8 Giới thiệu về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai 21

KHUNG LÝ THUYẾT 22

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

2.1 Đối tượng nghiên cứu 24

2.1.1 Nghiên cứu định lượng 24

2.1.2 Nghiên cứu định tính 25

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu 26

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 26

2.3 Thiết kế nghiên cứu 26

2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 26

2.4.1 Cỡ mẫu 26

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 27

2.5 Phương pháp thu thập số liệu: 28

HUPH

Trang 6

2.5.1 Thủ tục hành chính tại bệnh viện 28

2.5.2 Thu thập số liệu định lượng 28

2.5.3 Thu thập số liệu định tính 29

2.6 Các biến số trong nghiên cứu 31

2.7 Tiêu chuẩn đánh giá 31

2.7.1 Cơ sở lý thuyết xây dựng bộ công cụ 31

2.7.2 Xây dựng bộ công cụ nghiên cứu 32

2.8 Xử lý và phân tích số liệu 33

2.8.1 Xử lý khi thu thập số liệu 33

2.8.2 Phân tích số liệu 33

2.9 Đạo đức nghiên cứu 33

2.10 Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số 34

2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu 34

2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số 34

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 35

3.1 Mô tả thực trạng sử dụng trang thiết bị chẩn đoán 35

3.1.1 Thực trạng số lượng và tình trạng của trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa nghiên cứu 35

3.1.2 Kinh phí dùng để mua sắm trang thiết bị chẩn đoán 50

3.1.3 Kinh phí dùng để bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị chẩn đoán 51

3.1.4 Đánh giá thực trạng sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa nghiên cứu 52

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán 59

3.2.1 Yếu tố Chính sách 60

HUPH

Trang 7

3.2.2 Yếu tố Tài chính 61

3.2.3 Yếu tố Nhân lực 63

3.2.4 Yếu tố Cơ sở vật chất 64

3.2.5 Yếu tố Hệ thống thông tin 65

CHƯƠNG 4 BÀN LU N 67

4.1 Mô tả thực trạng sử dụng trang thiết bị chẩn đoán 67

4.1.1 Thực trạng số lượng và tình trạng hiện tại của trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa nghiên cứu 67

4.1.2 Kinh phí mua sắm trang thiết bị chẩn đoán 70

4.1.3.Kinh phí dùng để bảo dưỡng, sửa chữa trang thiết bị chẩn đoán 71

4.1.4 Đánh giá thực trạng sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa nghiên cứu 71

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa nghiên cứu 76

4.2.1 Yếu tố Chính sách 76

4.2.2 Yếu tố Tài chính 77

4.2.3 Yếu tố Nhân lực 78

4.2.4 Yếu tố cơ sở vật chất 79

4.2.5 Yếu tố Hệ thống thông tin 80

4.3 Hạn chế của nghiên cứu 80

CHƯƠNG 5 KẾT LU N 83

5.1.Thực trạng sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai 83

5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại các khoa của Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai 84

HUPH

Trang 8

CHƯƠNG 6 KHUYẾN NGHỊ 85TÀI LIỆU THAM KHẢO 86PHỤ LỤC ……….90

HUPH

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện 6 Bảng 1.2: Bảng phân loại trang thiết bị y tế theo nội dung chuyên môn 7 Bảng 1.3: Tình hình sử dụng một số loại trang thiết bị y tế hiện đại tại một số quốc gia 11 Bảng 1.4: Tần suất sử dụng trang thiết bị y tế hiện đại tại một số quốc gia 11 Bảng 2.1: Phụ lục 1: thời gian sử dụng và tỷ lệ hao mòn tài sản cố định 32 Bảng 3.1: Số lƣợng trang thiết bị chẩn đoán và số giờ hoạt động trong ngày của trang thiết bị chẩn đoán 35 Bảng 3.2: Phân bố số lƣợng và chủng loại các TTBCĐ theo danh mục của Bộ Y tế 37 Bảng 3.3: Phân bố số lƣợng các TTBCĐ theo số giờ hoạt động trong ngày 38 Bảng 3.4: Tình trạng hiện tại của trang thiết bị chẩn đoán 38 Bảng 3.5: Phân bố số lƣợng các TTBCĐ theo tình trạng hiện tại………….………41

Bảng 3.6: Phân bố số lƣợng các TTBCĐ theo tỷ lệ (%) còn lại……… 41 Bảng 3.7: Thời gian đƣa vào sử dụng, số lần kiểm định , kiểm chuẩn định kỳ trong năm của trang thiết bị chẩn đoán 42 Bảng 3.8: Phân bố số lƣợng các TTBCĐ theo thời gian đƣa vào sử dụng 45 Bảng 3.9: Phân bố số lƣợng các TTBCĐ theo số lần kiểm định, kiểm chuẩn định kỳ trong năm 45 Bảng 3.10: Thời gian máy bị hƣ sau khi đƣa vào sử dụng, thời gian sửa chữa của trang thiết bị chẩn đoán 46 Bảng 3.11: Phân bố số lƣợng các TTBCĐ theo thời gian máy bị hƣ sau khi đƣa vào

sử dụng 49 Bảng 3.12: Phân bố số lƣợng các TTBCĐ theo thời gian sửa chữa máy 50 Bảng 3.13: Kinh phí dùng để mua sắm trang thiết bị chẩn đoán 50

HUPH

Trang 10

Bảng 3.14: Kinh phí dùng để bảo dƣỡng, sửa chữa trang thiết bị chẩn đoán 51

Bảng 3.15: Thực trạng đầu tƣ mua sắm trang thiết bị chẩn đoán 52

Bảng 3.16 Thực trạng hiện trạng trang thiết bị chẩn đoán 53

Bảng 3.17 Thực trạng chất lƣợng trang thiết bị chẩn đoán 55

Bảng 3.18 Thực trạng bảo quản trang thiết bị chẩn đoán 56

Bảng 3.19 Thực trạng bảo dƣỡng, sửa chữa trang thiết bị chẩn đoán 57

HUPH

Trang 11

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu………22

HUPH

Trang 12

ĐTNC : Đối tƣợng nghiên cứu

HHTM : Huyết học truyền máu

KCB : Khám chữa bệnh

KTV : Kỹ thuật viên

NCV : Nghiên cứu viên

NVYT : Nhân viên y tế

PVS : Phỏng vấn sâu

TDCN : Thăm dò chức năng

TLN : Thảo luận nhóm

TTB : Trang thiết bị

TTBCĐ : Trang thiết bị chẩn đoán

TTBYT : Trang thiết bị y tế

UBND : Ủy ban Nhân dân

VT-TBYT : Vật tƣ - Thiết bị y tế

WHO HUPH: Tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization)

Trang 13

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai là bệnh viện hạng I của tỉnh Đồng Nai, trong nhiều năm qua bệnh viện được quan tâm đầu tư nhiều TTBCĐ hiện đại đã góp phần vào việc chẩn đoán và điều trị hiệu quả cho người bệnh Mặc dù đang sở hữu rất nhiều TTBCĐ hiện đại, tuy nhiên chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu việc sử dụng TTBCĐ được tiến hành tại bệnh viện Chính vì vậy, mà chúng tôi chọn đề tài:

“Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai - năm 2016” để làm nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính được thực hiện từ tháng 02/2016 đến tháng 07/2016 Đối tượng nghiên cứu định lượng là 30 TTBCĐ hiện có tại 6 khoa nghiên cứu, được kiểm tra thực tế và được đánh giá bằng bộ bảng kiểm với 20 tiểu mục, cùng các số liệu thứ cấp Dữ liệu định tính thu được bằng cách tiến hành phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa phòng

và nhân viên đang làm việc tại các khoa, phòng nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy số lượng và chủng loại TTBCĐ đã đáp ứng đầy

đủ so với danh mục chuẩn của Bộ Y tế Các TTBCĐ được đánh giá là đã được thực hiện tốt qua 5 cấu phần: đầu tư mua sắm, hiện trạng, chất lượng, bảo quản, bảo dưỡng - sửa chữa TTBCĐ và đạt tỷ lệ từ mức 93,33% trở lên Nghiên cứu cũng phân tích và tìm hiểu một số yếu tố quan trọng được xác định có ảnh hưởng tích cực đến sử dụng TTBCĐ tại bệnh viện đó là: Yếu tố Chính sách, Yếu tố Tài chính, Yếu

tố Nhân lực, Yếu tố Cơ sở vật chất, Yếu tố Hệ thống thông tin

Do đó để thực hiện tốt việc sử dụng TTBCĐ, Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai cần phải tiếp tục thực hiện đầy đủ và chặt chẽ các nguyên tắc, quy định về quản

lý, sử dụng TTBCĐ tại đơn vị Đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ sử dụng TTBCĐ, có chính sách tuyển dụng hợp lý để thu hút cán bộ kỹ thuật chuyên ngành TTBYT đến làm việc tại bệnh viện Bên cạnh đó bệnh viện cần xây dựng văn bản quy định mang tính bắt buộc hàng năm phải dành một khoản kinh phí

từ 5-7% tính trên tổng giá trị đầu tư các thiết bị hiện đang được sử dụng dành cho công tác kiểm chuẩn, bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ

HUPH

Trang 14

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trang thiết bị y tế là phương tiện cần thiết cho người thầy thuốc chẩn đoán, theo dõi và điều trị bệnh một cách chính xác và hiệu quả Sự phát triển nhảy vọt của khoa học công nghệ trên thế giới đã tạo ra những trang thiết bị y tế hiện đại, đa chủng loại, liên tục được cải tiến, hỗ trợ thiết thực cho việc chăm sóc sức khỏe

con người[44]

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, trong những năm gần đây ngành Y tế cũng đã có những bước phát triển nhảy vọt về mặt công nghệ, các cơ sở khám chữa bệnh từ trung ương tới địa phương đã được trang bị các thiết bị hiện đại

và cập nhật với nền Y tế trong khu vực[20] Tuy nhiên trang thiết bị y tế hiện nay của các bệnh viện nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ Nhiều trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư đổi mới Trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên môn y tế chưa đủ để khai thác hết các tính năng kỹ thuật và công suất của trang thiết

bị y tế hiện có Năng lực của cán bộ kỹ thuật bảo trì, sửa chữa trang thiết bị y tế chưa theo kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ[3]

Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc và cộng sự về thực trạng đầu tư TTBCĐ tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh năm 2004, cho thấy tỷ lệ máy cũ trên 10 năm còn khá cao: khoa Vi sinh (33,33%), khoa Giải phẫu bệnh (15,75%) và tỷ lệ TTBCĐ hỏng cần sửa chữa còn khá cao: khoa Chẩn đoán hình ảnh (18,88%), khoa Hóa sinh (21,16%) [19] Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long năm 2006 cho thấy một số TTB ở một số bệnh viện còn được sử dụng hạn chế do trình độ chuyên môn, còn tỷ lệ nhất định TTB chất lượng kém, thiếu kinh phí cho bảo dưỡng, sửa chữa, mua TTB phụ trợ và vật tư tiêu hao[37]

Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai là bệnh viện hạng I, trực thuộc Sở Y tế Đồng Nai, với qui mô 1400 giường bệnh Số bệnh nhân đến khám và điều trị bệnh tại bệnh viện ngày càng tăng, năm 2015 bệnh viện đã tiếp nhận 950.688 lượt khám

bệnh và 93.837 lượt bệnh nhân điều trị nội trú[2] Tính đến năm 2015, tại Bệnh viện

đa khoa Đồng Nai đã có hơn 500 chủng loại TTBYT, trong đó có khoảng 120

HUPH

Trang 15

TTBCĐ, nhiều TTBYT có giá trị lớn, hiện đại và nhiều ứng dụng trong KCB cũng

đã được đưa vào sử dụng

Câu hỏi được đặt ra ở đây là với số lượng các TTBCĐ hiện có, việc sử dụng TTBCĐ tại bệnh viện được thực hiện như thế nào? Những yếu tố nào đã ảnh hưởng đến sử dụng TTBCĐ tại bệnh viện? Thực tế công tác tiến hành nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng TTBCĐ chưa được các cơ sở y tế đầu tư, hầu như có rất ít đề tài

đề cập vấn đề này ở Việt Nam Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai cũng chưa có nghiên cứu nào được thực hiện về lĩnh vực này Để trả lời cho câu hỏi trênchúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng và một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai - năm 2016” làm nghiên cứu với hy

vọng góp phần giúp cho Ban Giám đốc bệnh viện nâng cao hiệu quả sử dụng TTBCĐ tại đơn vị

HUPH

Trang 16

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai - năm 2016

2 Tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị chẩn đoán tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai - năm 2016

HUPH

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái niệm về bệnh viện, chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện

1.1.1 Khái niệm về bệnh viện

Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của tổ chức xã hội - y tế, chức năng của nó là chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới gia đình và môi trường cư trú Bệnh viện còn là trung tâm đào tạo cán bộ y tế và nghiên cứu khoa học, nơi xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khỏe, và ở một mức độ nào đó là nơi trợ giúp cho các nghiên cứu y sinh học[8] Bệnh viện là cơ sở chiếm phần lớn nguồn ngân sách của toàn ngành Y tế, chất lượng dịch vụ bệnh viện ảnh hưởng trực tiếp đến tính mạng

của người dân Bệnh viện đươc xem là bộ mặt của ngành Y tế[21]

1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện

Bệnh viện là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh và có các nhiệm vụ sau: Cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh; Đào tạo cán bộ y tế; Nghiên cứu khoa học; Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn, kĩ thuật; Phòng bệnh; Hợp tác quốc tế; Quản lí kinh tế y tế[8]

Theo Thông tư số 23/2005/TT-BYT ngày 25/08/2005 của Bộ Y tế về hướng dẫn xếp hạng các đơn vị sự nghiệp y tế, thì các bệnh viện được xếp thành 5 hạng: hạng đặc biệt, hạng I, II, III và IV Mục đích của việc xếp hạng bệnh viện là để hoàn chỉnh về tổ chức, nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và chất lượng công tác, đầu tư phát triển các đơn vị sự nghiệp y tế trong từng giai đoạn thích hợp, phân tuyến chuyên môn kỹ thuật y tế, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng bố trí lao động và thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, viên chức trong ngành Y tế[12]

1.2 Khái niệm, phân loại, vai trò và vị trí của trang thiết bị y tế

1.2.1 Khái niệm về trang thiết bị y tế

Trang thiết bị y tế bao gồm các loại máy, thiết bị, dụng cụ, vật tư, phương tiện vận chuyển chuyên dụng phục vụ cho công tác khám chữa bệnh, chăm sóc, bảo

vệ sức khỏe nhân dân[9],[16]

HUPH

Trang 18

- Theo Ủy ban tư vấn về tiêu chuẩn đo lường chất lượng ASEAN/nhóm công

tác về sản phẩm trang thiết bị y tế (ACCSQ - MDPWG)[36]

Trang thiết bị y tế là những dụng cụ, bộ dụng cụ, thiết bị máy móc, vật dụng,

mô cấy, thuốc thử trong phòng thí nghiệm, phần mềm, nguyên vật liệu hay các vật phẩm tương tự hoặc có liên quan khác được dùng trong ngành Y tế:

+ Chẩn đoán, phòng ngừa, theo dõi, điều trị hay làm nhẹ bệnh

+ Chẩn đoán, theo dõi, điều trị, làm dịu hay phục hồi thương tổn

+ Kiểm tra, thay thế, điều chỉnh hoặc hỗ trợ công tác giải phẫu hay các quy trình sinh lý khác

+ Thiết bị y tế: các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học và đào tạo trong lĩnh vực y tế

+ Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: phương tiện chuyển thương (xe ô tô cứu thương, xuồng máy, ghe máy chuyển thương), xe chuyên dụng lưu động cho y tế (X quang lưu động, xét nghiệm lưu động, chuyên chở vắc xin…)

+ Dụng cụ vật tư y tế bao gồm: các loại dụng cụ, vật tư, hóa chất xét nghiệm được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe

+ Các loại vật tư, dụng cụ cấy ghép trong cơ thể gồm: xương nhân tạo, vít cố định xương, van tim, ốc tai điện tử, thủy tinh thể nhân tạo,…

HUPH

Trang 19

Trang thiết bị y tế là một trong 3 nội dung cấu thành ngành Y tế: Thầy thuốc

- Thuốc - Trang thiết bị y tế; 3 lĩnh vực này gắn kết với nhau, nếu thiếu một trong 3 lĩnh vực này thì ngành Y tế không hoạt động được[9]

1.2.2 Phân loại trang thiết bị y tế

Dựa vào công dụng của TTB, ngày nay người ta có thể phân loại TTBYT bệnh viện ra 10 nhóm TTB chính như sau[9]:

Bảng 1.1.Bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện

1 Nhóm thiết bị chẩn đoán hình ảnh: máy chụp X quang các loại, máy cộng hưởng từ, máy chụp cắt lớp điện toán, máy chụp mạch máu xóa nền, máy chụp cắt lớp Positron (PET/CT), máy siêu âm…

2 Thiết bị chẩn đoán điện tử sinh lý: máy điện tâm đồ, điện não đồ, điện cơ

đồ, máy đo lưu huyết não

3 Thiết bị labo xét nghiệm: sắc ký khí, quang phổ kế, máy đếm tế bào…

4 Thiết bị cấp cứu hồi sức, gây mê, phòng mổ: máy thở, máy gây mê, máy theo dõi (monitoring), máy sốc tim, máy tạo nhịp tim, dao mổ điện…

5 Thiết bị vật lý trị liệu: máy điện phân, điện giao thoa, điều trị sóng ngắn, tia hồng ngoại, Laser trị liệu…

6 Thiết bị quang điện tử y tế như: Laser CO2, phân tích máu bằng Laser,…

7 Thiết bị đo và điều trị chuyên dùng như: máy đo chức năng hô hấp, máy đo thính giác, máy tán sỏi ngoài cơ thể, gia tốc điều trị ung thư, thiết bị cường nhiệt, máy chạy thận nhân tạo…

8 Các thiết bị điện y tế phương đông như: máy dò huyệt, máy châm cứu,…

9 Nhóm thiết bị y tế thông thường dùng ở gia đình: huyết áp kế, nhiệt kế,…

10 Nhóm các thiết bị thông dụng phục vụ cho hoạt động của bệnh viện: thiết

bị thanh tiệt trùng, máy giặt, xe ô tô cứu thương,…

Phân loại theo chuyên khoa: bao gồm thiết bị Chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Hồi sức cấp cứu, Phòng mổ, thiết bị xét nghiệm (Hóa sinh, Huyết học,

HUPH

Trang 20

Vi sinh), Giải phẫu bệnh, chuyên khoa Mắt, Răng hàm mặt, Tai mũi họng, Sản phụ khoa, Tim mạch…

Phân loại theo nội dung chuyên môn của y học, ngày nay người ta có thể phân loại TTBYT thành 4 loại[9]

Bảng 1.2 Bảng phân loại TTBYT theo nội dung chuyên môn

1

Thiết bị y tế: các loại máy, thiết bị hoặc hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ

cho công tác chẩn đoán, điều trị, phục hồi chức năng, nghiên cứu khoa học

và đào tạo trong lĩnh vực y tế

2 Phương tiện vận chuyển chuyên dụng bao gồm: phương tiện chuyển

thương (xe cứu thương, xuồng máy,…), xe chuyên dụng lưu động cho y tế

3

Dụng cụ vật tư y tế bao gồm: các loại dụng cụ, vật tư, hóa chất xét nghiệm

được sử dụng cho công tác chuyên môn trong khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe

4 Các loại vật tư, dụng cụ cấy ghép trong cơ thể gồm: xương nhân tạo, vít cố

định xương, van tim, ốc tai điện tử, thủy tinh thể nhân tạo,…

1.2.3 Vai trò và vị trí của trang thiết bị y tế

Muốn nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cần phải có đồng bộ ba yếu tố: đội ngũ bác sĩ, điều dưỡng giỏi, tận tình; đầy đủ thuốc chữa bệnh; cơ sở hạ tầng tốt

và trang thiết bị đầy đủ an toàn

- Trang thiết bị y tế đóng vai trò quan trọng trong chẩn đoán, điều trị và phục

hồi chức năng cho người bệnh Trang thiết bị y tế là một trong những yếu tố quan

trọng quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác y tế, hỗ trợ tích cực cho người thầy thuốc trong công tác phòng bệnh và chữa bệnh[44]

- Trang thiết bị y tế có vị trí quan trọng trong ba yếu tố: Thầy thuốc - Thuốc - trang thiết bị y tế (Y - Dược - Trang thiết bị y tế trong đó Y là chủ lực đóng vai trò quyết định, Dược là nòng cốt và Trang thiết bị y tế là quan trọng) Ba yếu tố đó quyết định hiệu quả, chất lượng của công tác chăm sóc bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân[44]

HUPH

Trang 21

1.3 Quản lý trang thiết bị y tế

1.3.1 Khái niệm quản lý trang thiết bị y tế

Quản lý TTBYT là chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức thuộc lĩnh vực TTBYT đảm bảo giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và đảm bảo những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó, nhằm phát triển, khai thác và sử dụng có hiệu quả TTBYT được đầu tư trong ngành.Mục tiêu của quản lý trang thiết bị y tế là sử dụng, vận hành, bảo quản, phát triển hệ thống trang thiết bị y tế của bệnh viện có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh cho nhân dân[20]

1.3.2 Chu trình quản lý trang thiết bị y tế

1.3.2.1.Quản lý đầu tư mua sắm trang thiết bị

Xét về góc độ quản lý, hoạt động mua sắm TTBYT phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau: kịp thời; đủ dùng; đúng chủng loại; chất lượng cao; chi phí thấp

nhất tại thời điểm mua; đúng thủ tục, quy chế về quản lý mua sắm Khi lên kế hoạch

đầu tư mua sắm, cần phải cân nhắc kỹ: nhu cầu sử dụng của đơn vị; khả năng tài chính, nguồn kinh phí; thế hệ công nghệ, cấu hình kỹ thuật thích hợp; điều kiện hạ tầng lắp đặt (diện tích, điện, nước, môi trường,…); cán bộ quản lý, khai thác sử

dụng; hiệu quả phối hợp chuyên môn tại đơn vị[20],[32]

1.3.2.2 Quản lý hiện trạng trang thiết bị

Một số nội dung chính trong quản lý hiện trạng TTBYT:

- Quản lý số đầu máy/ địa điểm lắp đặt/ đơn vị quản lý[20],[26],[32]

- Quản lý tài liệu kỹ thuật liên quan đến thiết bị (tài liệu hướng dẫn sử dụng

và bảo quản thiết bị)[20],[26],[32]

- Lập hướng dẫn sử dụng: đây là văn bản qui phạm kỹ thuật cần phải viết ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu in trên khổ giấy A4 và được thủ trưởng cơ quan ký duyệt, đóng dấu, treo trên từng loại máy [20],[26],[32]

- Lập nhật ký vận hành máy: sau mỗi lần sử dụng máy, người vận hành phải ghi vào nhật ký vận hành những thông tin sau: ngày, tháng, năm sử dụng, số giờ sử dụng, đối tượng thăm khám (mẫu đo, bệnh nhân khám), tình trạng thiết bị sau khi

HUPH

Trang 22

người sử dụng máy trong ngày Việc ghi nhật ký đầy đủ hàng ngày sẽ giúp cho công tác đánh giá hiệu quả khai thác sử dụng và tính được hiệu quả đầu tư[20], [32]

- Lập sổ theo dõi (quản lý) thiết bị hay gọi là lý lịch máy: mỗi cuốn lý lịch dùng cho một thiết bị, trong đó có ghi các thông tin có liên quan Ngoài ra còn có các trang để ghi: số lần hỏng hóc, ngày dừng máy để sửa chữa, bộ phận sửa chữa, chất lượng của máy sau sửa chữa, di biến động của thiết bị (bao gồm cả phần mua sắm nâng cấp, chuyển đơn vị, người sử dụng)[26]

1.3.2.3.Quản lý chất lượng trang thiết bị

Chất lượng thiết bị được đánh giá theo các chỉ số cơ bản sau: thiết bị là sản phẩm của dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn quản lý chất lượng nào? (ISO, EC, TCVN; chứng chỉ kiểm chuẩn; uy tín của nhà sản xuất)[26]

- Biên bản kiểm chuẩn: là tài liệu ghi lại các kết quả trong quá trình kiểm chuẩn, đặc biệt là các số liệu và kết quả của việc kiểm đo lường Đây là tài liệu gốc

có tính chất pháp lý quan trọng vì nó là cơ sở để đánh giá, phân tích kết quả kiểm chuẩn[26]

- Chứng chỉ kiểm chuẩn: theo định kỳ 6 tháng hoặc 12 tháng (tuỳ theo từng thiết bị) tất cả TTBYT đang sử dụng tại các cơ sở phải được cơ quan có thẩm quyền đến kiểm định và cấp chứng chỉ[26]

Ngoài 3 thông số trên chất lượng còn phụ thuộc vào: điều kiện lắp đặt, bảo quản; trình độ của người trực tiếp khai thác sử dụng; tính an toàn và hiệu quả[26]

1.3.2.4.Quản lý sử dụng, bảo quản trang thiết bị

Muốn khai thác sử dụng TTBYT có hiệu quả, chủ đầu tư cần phải:

- Xác định nhu cầu khám chữa bệnh, tần suất sử dụng thiết bị của đơn vị nhiều hay ít[20],[32]

- Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất để lắp đặt, vận hành thiết bị[20],[32]

- Đào tạo tốt đội ngũ cán bộ trực tiếp vận hành và cán bộ kỹ thuật thiết bị y tế[20],[32]

- Bảo đảm kinh phí hoạt động; cung cấp đủ vật tư tiêu hao, phụ tùng thay thế kịp thời[20],[32]

HUPH

Trang 23

1.3.2.5.Quản lý bảo dưỡng - sửa chữa trang thiết bị

- Điều kiện vật chất cho công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTB: nhân lực, dụng

cụ sửa chữa, thiết bị đo lường chuyên dụng, tài liệu kỹ thuật, phụ tùng thay thế, kinh phí cho hoạt động bảo dưỡng, sửa chữa[20],[32]

- Có đơn vị kỹ thuật đảm nhiệm công tác bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị (có thể

tự tổ chức bảo dưỡng, sửa chữa hoặc ký hợp đồng sửa chữa với một công ty bên ngoài cơ quan có trình độ, chuyên nghiệp cao về kỹ thuật TBYT)[20],[32]

- Bảo dưỡng TTB: là tiến hành bảo dưỡng theo kế hoạch Dựa vào số lượng, chủng loại TTB trong phạm vi quản lý, người phụ trách xây dựng lịch bảo dưỡng theo yêu cầu cụ thể của từng loại thiết bị và trình độ cán bộ kỹ thuật cần để tiến hành một hoạt động bảo dưỡng để làm cơ sở phân công công việc cho từng người[20],[32]

- Sửa chữa TTB: có hai hình thức sửa chữa TTBYT được áp dụng là tự sửa chữa hoặc thực hiện các hợp đồng kinh tế với đơn vị sửa chữa TTB bên ngoài[20],[32]

1.4.Thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới

Ngày nay TTBYT hiện đại là sản phẩm của việc ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến đã giúp cho việc chẩn đoán nhanh chóng, chính xác,

an toàn, hiệu quả và ít biến chứng cho người bệnh

Theo khảo sát đánh giá của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2009, có khoảng 10.500 loại TTBYT khác nhau trên thị trường toàn cầu, từ những thiết bị chẩn đoán và điều trị công nghệ cao, đắt tiền đến những dụng cụ y tế cơ bản khác, hàng ngày giúp thầy thuốc và y tá chăm sóc sức khỏe con người Hiện có trên 140 nước sử dụng các loại TTBYT nhưng còn có quá nhiều người nghèo hiện vẫn không được hưởng lợi từ đó Để sử dụng các TTBYT hiệu quả, cần phải có kế hoạch đầu tư và phân bổ hợp lý[38]

Khi so sánh tình hình đầu tư máy chụp cắt lớp CT Scanner (CTS) và chụp cộng hưởng từ MRI tại một số nước trên thế giới, có thể thấy sự chênh lệch khá lớn giữa các nước này

HUPH

Trang 24

Bảng 1.3.Tình hình sử dụng một số loại TTBYT hiện đại tại một số quốc gia

ĐVT: nghìn người

Singapore Malaysia Indonesia Canada

Số dân bình quân/ máy MRI 310 1.100 15.400 183

Số dân bình quân/ máy CTS 148 356 1.520 89

(Nguồn: [38])

Số người bình quân một máy chụp cắt lớp CT Scanner và máy chụp MRI tại Indonesia lớn hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực như: Singapore và Malaysia, hai nước có mức thu nhập bình quân đầu người (GDP) cao Nhưng khi so với Canada thì việc sử dụng TTBYT công nghệ cao của các nước này còn ở mức thấp Ở các nước phát triển, bên cạnh việc đầu tư TTBYT công nghệ cao tại các cơ

- Đầu tư mua sắm là một trong những vấn đề nan giải về kinh phí Điều này dẫn đến đầu tư không đầy đủ các loại TTBYT Tại một số nước, sự thiếu hụt những

y cụ cơ bản như kim, bơm tiêm và các thiết bị tiệt trùng dẫn đến hơn 40% tiêm chích không an toàn

- Hầu hết TTBYT sử dụng không đồng bộ được nhập khẩu hoặc là quà tặng

từ những nước có nền kỹ thuật cao, nhiều thiết bị hoạt động chập chờn

- Nguồn lực thiếu thốn: TTBYT không được sử dụng hiệu quả do thiếu nhân lực y tế, hạn chế trong năng lực đào tạo nhân viên kỹ thuật, khó tìm bộ phận thay thế, bảo dưỡng kém hoặc không đầy đủ

HUPH

Trang 25

- Không có hệ thống tên riêng, quá trình điều tiết hài hòa và các TTBYT đạt chuẩn quốc tế do thiếu năng lực quản lý hữu hiệu ở các cấp chính quyền và cơ sở y

tế

- Ở nhiều nước vẫn còn quản lý theo cách truyền thống: ghi chép trên nhiều

sổ sách, việc tra cứu và tìm kiếm thông tin về trang thiết bị mất nhiều thời gian, tốn nhân lực và dễ sai sót trong báo cáo hàng ngày, hàng tháng hay hàng kỳ, không kiểm soát được chính xác thực trạng sử dụng trang thiết bị tại bệnh viện[39],[41]

Như vậy, ta có thể thấy TTBYT có vai trò rất to lớn trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân loại Tuy nhiên việc quản lý, sử dụng TTBYT trên thế giới đang còn chưa hợp lý, chưa phát huy được hết hiệu quả nên chưa đạt được kết quả như mong muốn[9]

1.5 Thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế tại Việt Nam

1.5.1 Những thành tựu đã đạt được

Tại Việt Nam, được sự quan tâm của Ðảng và Nhà nước, trong thời gian qua

hệ thống y tế cả nước đã đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho các cơ sở thuộc các lĩnh vực: y tế dự phòng, khám chữa bệnh, y dược học cổ truyền, đào tạo nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ sản xuất thuốc và trang thiết bị y tế

Đặc biệt nhiều cơ sở y tế tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, áp dụng nhiều phương tiện hiện đại trong khám chữa bệnh Tại nhiều bệnh viện tỉnh, nhiều chuyên khoa được đầu tư đổi mới TTB như: chẩn đoán hình ảnh, xét nghiệm sinh hoá, phòng mổ và hồi sức cấp cứu Nhiều thiết bị cơ bản và công nghệ cao được mua sắm như CT Scanner, máy X quang cao tần có tăng sáng truyền hình, máy siêu âm, máy nội soi Các bệnh viện huyện đã được trang bị những thiết bị chẩn đoán thiết yếu, hầu hết đã có máy X quang với công suất phù hợp, máy siêu âm chẩn đoán và xe ô tô cứu thương Các trạm y tế xã đã được cung cấp các thiết bị, dụng cụ cần thiết để phục vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu và thực hiện các dịch vụ về dân số và kế hoạch hoá gia đình

Do được đầu tư trang thiết bị tốt, nhiều bệnh viện tuyến dưới đã có khả năng thực hiện nhiều kỹ thuật chuyên sâu mà trước đây chỉ tuyến trung ương mới thực hiện được[16]

HUPH

Trang 26

Về nhu cầu đầu tư trang thiết bị y tế, trong những năm gần đây, với sự nỗ lực đầu tư tăng dần ngân sách hàng năm cho y tế (mặc dù còn thấp so với các nước trong khu vực) cùng với giai đoạn mở cửa thị trường, TTBYT tại Việt Nam đã góp phần đem đến nhưng thành tựu to lớn trong chẩn đoán, nghiên cứu điều trị thành công những ca bệnh khó, gây tiếng vang trên thế giới [24]

Bên cạnh đầu tư từ ngân sách Nhà nước và viện trợ, ngành Y tế Việt Nam đã từng bước mở rộng xã hội hóa, cho phép một số hình thức huy động tài chính để trang bị thêm máy móc, trang bị Hiện nay hình thức phổ biến trong các bệnh viện công là huy động tài chính dưới các hình thức: liên doanh, liên kết đặt máy phân chia lợi nhuận hoặc đặt máy độc quyền cung cấp hóa chất Nhờ phương thức này, nhiều dịch vụ kỹ thuật cao đã được triển khai (mà không có nguồn vốn nhà nước) như chẩn đoán hình ảnh (MRI, CT Scanner, siêu âm), xét nghiệm, nội soi chẩn đoán

và can thiệp; nguồn thu tài chính của bệnh viện tăng lên và giúp phát triển kỹ thuật tại các bệnh viện Như vậy cùng với chủ trương tự chủ hóa, việc xã hội hóa trong thời gian qua đã thu hút được một lượng vốn tương đối lớn cho ngành Y tế, góp phần làm giảm gánh nặng đầu tư cho y tế bằng nguồn ngân sách Nhà nước[24]

1.5.2.Những hạn chế và tồn tại

Mặc dù đạt được một số kết quả ban đầu như trên, trong lĩnh vực TTBYT còn hạn chế và tồn tại nhiều vấn đề cần phải được quan tâm giải quyết trong giai

đoạn tới, cụ thể:

1.5.2.1.Thực trạng đầu tư TTBYT còn chưa đồng bộ và chưa đáp ứng nhu cầu

Hầu hết các bệnh viện ở nước ta là bệnh viện công, nên vốn để mua sắm TTBYT chủ yếu là từ ngân sách Chính phủ và viện trợ, cho tặng Tuy đã được cố gắng đầu tư, song tình trạng chung về TTBYT của Việt Nam hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa xứng tầm so với các nước trong khu vực Hầu hết trang thiết bị y tế đang sử dụng tại các cơ sở y tế chưa được định kỳ kiểm chuẩn, bảo dưỡng và sửa chữa, không đủ nguồn vốn để đầu tư và đổi mới, nhiều địa phương không có đủ kinh phí để mua vật tư tiêu hao và bảo trì, bảo dưỡng [3]

HUPH

Trang 27

1.5.2.2.Nguồn nhân lực trong lĩnh vực TTBYT chưa đáp ứng nhu cầu

Việc đào tạo, sử dụng nhân lực chuyên ngành TTBYT, điện tử y sinh còn nhiều bất cập Nội dung chương trình của các cơ sở đào tạo về TTBYT còn nghèo nàn, chưa thiết thực, chưa được cập nhật thường xuyên đáp ứng với công nghệ và TTBYT mới và yêu cầu thực tế sử dụng Căn cứ vào các đánh giá hiện tại, nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực TTBYT (sản xuất, duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT) chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế cả về số lượng và chất lượng Theo một số liệu thống kê chưa đầy đủ cuối năm 2007 về nhân lực TTBYT tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh, bệnh viện huyện, tỷ lệ cán bộ kỹ thuật đảm nhiệm, phụ trách công tác TTBYT rất thấp: chỉ có 6% là kỹ sư; 35% là kỹ thuật viên, công nhân

kỹ thuật; còn lại 59% là các cán bộ khác kiêm nhiệm[3]

1.6 Nghiên cứu thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới

và tại Việt Nam

1.6.1 Nghiên cứu thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế ở các nước trên thế giới

Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về thực trạng sử dụng trang thiết bị y

Cũng ở lĩnh vực đầu tư TTBYT trong báo cáo thường niên của công ty quản

lý Quỹ VFM (2006) cho thấy: trong khi chi phí tổng thể của các bệnh viện tại Ontario - Canada là không có sẵn, nhưng họ đã dành tổng cộng 20 triệu USD để mua trang thiết bị y tế trong năm 2005 Tuy nhiên bệnh viện đã không xem xét các tiêu chí nhất định có liên quan trong việc đánh giá các đề xuất mua sắm trang thiết

bị y tế Ví dụ, một bệnh viện mua thiết bị thí nghiệm với $ 534.000 mà không có một đánh giá tài liệu hỗ trợ cần thiết cho các thiết bị này[43]

Về chất lượng TTBYT kết quả nghiên cứu của Pradip Shahi Thakuri và

Ramila Joshi về tình hình sử dụng trang thiết bị y sinh trong bệnh viện của Nepal

HUPH

Trang 28

cũng cho thấy: chất lượng của thiết bị hoặc là không tuân thủ với các tiêu chuẩn an toàn quốc tế hoặc là quá kém gần như thiết bị bị hỏng[42]

Về sử dụng, bảo quản TTBYT theo nghiên cứu của Pradip Shahi Thakuri và

Ramila Joshi tại Nepal, các thiết bị y tế đắt tiền không sử dụng do thiếu kỹ năng xử

lý và vận hành Thiết bị lỗi thời tăng không chỉ do tuổi của thiết bị mà còn do sử

dụng sai và quá kém hoặc không có bảo dưỡng phòng ngừa và khắc phục[42]

Về bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT trong báo cáo thường niên của công ty quản

lý Quỹ VFM (2006) qua khảo sát 3 bệnh viện tại Ontario - Canada cho thấy: tất cả

ba bệnh viện dựa vào các nhà cung cấp thiết bị để duy trì hoạt động máy MRI và

CT Scanner của họ Tuy nhiên nghiên cứu ghi nhận rằng mức độ bảo trì khác nhau,

và ít thường xuyên hơn so với các tiêu chuẩn được thiết lập bởi Trường Cao đẳng

và Bác sĩ phẫu thuật Ontario dành cho các máy MRI và CT scanner nằm trong các

cơ sở y tế công lập[43]

Trang thiết bị sau thời gian đưa vào sử dụng sẽ xảy ra những hư hỏng, trục trặc cần phải có hệ thống bảo dưỡng, sửa chữa để khắc phục những hư hỏng đó Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Pradip Shahi Thakuri và Ramila Joshi về tình hình

sử dụng trang thiết bị y sinh trong bệnh viện của Nepal, kết quả cho thấy: bệnh viện

không có một đội ngũ bảo trì thích hợp hoặc sổ sách ghi chép đúng để đánh giá các chi phí/lợi ích của các dịch vụ trong tổ chức Sửa chữa và bảo trì thường do dịch vụ bên ngoài thực hiện do bệnh viện thiếu năng lực Ngay cả các sửa chữa nhỏ cũng phụ thuộc đơn vị bên ngoài là nguyên nhân làm cho chi phí bệnh viện cao hơn cần thiết [42]

1.6.2 Nghiên cứu thực trạng sử dụng trang thiết bị y tế tại Việt Nam

Tại Việt Nam đã một số nghiên cứu về quản lý, sử dụng TTBYT tại các bệnh viện và cơ sở y tế, các nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở mức đánh giá, mô tả thực trạng quản lý, sử dụng TTBYT thông qua các cấu phần: đầu tư, mua sắm; hiện trạng; chất lượng; sử dụng, bảo quản và bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT

- Về đầu tư, mua sắm TTBYT: đầu tư TTBYT là một điều cần thiết để nâng

cao chất lượng chẩn đoán và điều trị Tuy nhiên trong cơ chế chi trả theo dịch vụ

HUPH

Trang 29

nếu đầu tư quá nhiều và phân bổ không hợp lý sẽ dẫn đến tình trạng lạm dụng các

xét nghiệm cận lâm sàng

Theo nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy thực tế tại Bệnh viện đa khoa Long An, hàng năm phòng Hành chánh Quản trị đều lập kế hoạch mua sắm dựa vào phiếu đề nghị của các khoa, sau đó tổng hợp trình Ban giám đốc bệnh viện xem xét và tham mưu cho Ban giám đốc bệnh viện nhu cầu cần thiết cũng như cơ

sở vật chất, an toàn điện…để chọn ra thiết bị nào ưu tiên mua sắm[25]

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Chúc và cộng sự về kiểm kê và đánh giá thực trạng đầu tư trang thiết bị chẩn đoán tại các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh cho thấy hiệu quả đầu tư chưa cao vì có tình trạng “máy có thì không cần và máy cần thì không có”[19]

- Về hiện trạng TTBYT

Theo nghiên cứu của Lê Đăng Trung về đánh giá thực trạng quản lý sử dụng và bảo dưỡng một số trang thiết bị y tế tại Bệnh viện đa khoa thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk năm 2012 cho thấy đối với các nội dung như sổ quản lý TTB, tài liệu

kỹ thuật và tài liệu hướng dẫn sử dụng của máy, quy định sử dụng TTBYT, quy trình vận hành, bảo trì và an toàn sử dụng TTB các khoa/ phòng đều thực hiện theo đúng quy định[30]

Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long và cộng sự cho thấy phần lớn các TTB

có sổ theo dõi, bảo dưỡng định kỳ theo quy định, nhưng việc cập nhật thông tin chưa đầy đủ[37]

Trong khi đó ở nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy mỗi TTBCĐ đều có sổ lý lịch và có ghi đầy đủ thông tin có liên quan đến TTB như: tên TTB, khoa phòng đang sử dụng, hãng sản suất, năm sản suất, năm vận hành, sau mỗi ca trực hoặc sau khi sử dụng TTBCĐ thì khoa có làm tốt việc bàn giao cụ thể, sau mỗi lần bảo dưỡng có ghi tình trạng hoạt động hiện tại của TTB[25]

Trang 30

làm cho lãnh đạo các khoa phần nào sao nhãng việc giám sát chất lượng các TTBYT trong khoa[23]

Trong nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy: việc kiểm chuẩn, kiểm định chủ yếu do bệnh viện hợp đồng với đơn vị bên ngoài có chức năng về kiểm chuẩn được Nhà nước cho phép tiến hành…Hệ thống các tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng của các TTBYT chưa đầy đủ và đồng bộ gây khó khăn cho việc kiểm định đánh giá chất lượng của các TTBYT[25]

- Về bảo quản TTBYT

Năm 2006, Nguyễn Hoàng Long và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu đánh giá công nghệ y tế ở Việt Nam qua nghiên cứu trường hợp về chụp cắt lớp vi tính, siêu âm và nội soi tại 5 bệnh viện tỉnh, kết quả cho thấy: phần lớn các máy mới sử dụng trong vòng 5 năm lại đây, hoạt động tốt, trừ máy nội soi ở cả 5/5 bệnh viện đều hỏng và đã sửa chữa do lỗi sử dụng của cán bộ, nguồn điện không ổn định, quá tải; một số TTB ở một số bệnh viện còn được sử dụng hạn chế do trình độ chuyên môn [37]

Liên quan đến trình cán bộ sử dụng TTB, trong nghiên cứu của Hoàng Đình Sơn về nâng cao hiệu quả sử dụng TTBYT tại bệnh viện đa khoa Bãi Cháy (Quảng Ninh) cho thấy: trình độ của đội ngũ CBYT chưa đủ để khai thác hết công suất TTB hiện có, thậm chí chưa đáp ứng kịp những đổi mới về kỹ thuật và công nghệ Trình

độ cán bộ vận hành sử dụng các loại TTBYT còn ở mức hạn chế, dẫn đến việc sử dụng, bảo quản không đầy đủ và tuân thủ đúng quy trình Điều này dẫn đến TTB hao mòn nhanh và hay hư hỏng[29]

- Về bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT

Nghiên cứu của Huỳnh Kim Hồng (2009) về tình hình sử dụng và quản lý một số trang thiết bị phục vụ cho chẩn đoán tại các bệnh viện huyện tỉnh Cà Mau năm 2008 cho thấy thời gian sửa chữa thiết bị phụ thuộc vào mức độ hư hỏng của thiết bị, một số linh kiện thay thế dù giá trị nhỏ nhưng phải đặt hàng từ nước ngoài thì thời gian cần phải lâu, đối với các thiết bị mà nhà cung cấp từ các tỉnh phía Bắc thì thời gian càng kéo dài hơn Đối với hàng viện trợ thì việc sửa chữa càng khó

HUPH

Trang 31

khăn do không có nhà cung ứng để có những ràng buộc về bảo dưỡng, sửa chữa từ hợp đồng[22]

Tương tự ở nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Long cho thấy: còn tỷ lệ nhất định TTB chất lượng kém, thiếu kinh phí cho bảo dưỡng, sửa chữa, mua TTB phụ trợ và vật tư tiêu hao; việc bảo dưỡng, sửa chữa chủ yếu do nhà cung cấp hoặc từ các công ty sửa chữa khu vực đảm nhiệm, kinh phí bảo dưỡng, sửa chữa lớn nên gây khó khăn cho các bệnh viện[37]

Để làm tốt công tác bảo dưỡng, sửa chữa TTBYT thì cần thiết phải có đội ngũ cán bộ đủ về số lượng và trình độ chuyên môn cao Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Hà Đắc Biên với sự bùng nổ về số lượng và chất lượng của các loại TBYT đang được khai thác sử dụng trong ngành Y tế thì số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật TBYT lại là một thực tế rất khác hẳn: vừa thiếu về số lượng, rất hạn chế về chất lượng [3]

Theo nghiên cứu của Hoàng Đình Sơn thì chất lượng đội ngũ cán bộ kỹ thuật được đào tạo còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế tại đơn vị Mặt khác các bệnh viện, cơ sở y tế không có chỉ tiêu biên chế để tuyển dụng cho chức danh này, một số sinh viên đạt loại giỏi có khuynh hưởng chọn làm việc ở các công ty TTBYT

để có thu nhập tốt hơn[29]

Ở khía cạnh này nghiên cứu của Võ Thị Ngọc Hương cho thấy có đến 61,6% CBYT đánh giá quản lý chưa tốt công tác bảo dưỡng sửa chữa do số lượng và trình độ của cán bộ bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ hiện tại chưa đáp ứng với nhu cầu của khoa [25]

1.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng trang thiết bị y tế tại Việt Nam

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng trang thiết bị y tế mà các nhà quản lý bệnh viện phải tính đến Về cơ bản, đây là nhóm các yếu tố mà các tổ chức, đơn vị có thể vận dụng thực hiện hoặc xây dựng các chiến lược để điều chỉnh, kiểm soát đó là nhóm các yếu tố:

1.7.1.Yếu tố Chính sách

Tất cả các đơn vị đều phải thực hiện theo đúng đường lối, chủ trương, chính sách xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước Tùy theo đặc

HUPH

Trang 32

trưng của từng đơn vị mà các đơn vị phải thể chế hóa các chủ trương, chính sách vào hoạt động của đơn vị mình Chỉ có làm như vậy thì định hướng tổ chức quản lý KCB tại các đơn vị y tế mới được thực hiện đúng Thực tế trong những năm qua đã

có nhiều quyết định, nghị định tạo ra nhiều hướng đi mới cho các bệnh viện chủ động về đầu tư TTBYT chứ không còn chỉ trông chờ vào ngân sách nhà nước[16]

Hiện nay, bảo hiểm y tế đang là nguồn tài chính ngày một lớn đối với nguồn thu của các bệnh viện (chiếm trên 50%) do tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đang ngày một tăng lên Do bảo hiểm y tế thanh toán cho các bệnh viện dựa trên viện phí quy định nên các bệnh viện gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động và thúc đẩy đổi mới công nghệ, thiết bị y tế[24]

1.7.2.Yếu tố Tài chính

Tài chính là yếu tố vô cùng quan trọng và có tính chất ảnh hưởng đến đảm bảo nhu cầu TTBYT Muốn sử dụng tối ưu được nguồn vốn, bệnh viện cần phải xây

dựng được các kế hoạch đầu tư ngắn hạn và dài hạn Kinh phí đầu tư cho TTBYT

của bệnh viện còn hạn chế nên chi tiêu phải hợp lý và tiết kiệm Vì vậy để có được

kế hoạch tổ chức sử dụng TTBYT hợp lý và hiệu quả, mỗi đơn vị cần xác định mức

độ ảnh hưởng của TTBYT đối với đơn vị mình để có những chiến lược phát triển phù hợp theo từng giai đoạn Người cán bộ quản lý TTBYT cần phải cân nhắc trước khi ra quyết định mua sắm TTBYT mới sao cho phù hợp, trước hết đảm bảo kinh phí mua vật tư tiêu hao để TTBYT vận hành được bình thường, phải có khoản kinh phí nhất định mua sắm phụ tùng, linh kiện phục vụ cho bảo dưỡng, sửa chữa thiết bị nhằm kéo dài tuổi thọ của máy[24]

1.7.3.Yếu tố Nhân lực

Một bệnh viện dù có nguồn tài chính dồi dào, nguồn vật tư phong phú, hệ thống máy móc thiết bị hiện đại đi chăng nữa cũng sẽ trở nên vô ích, nếu không có nguồn tài nguyên nhân lực Điều đó cho thấy nhân lực được xem là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến các hoạt động của bệnh viện mà trong đó có công tác quản lý, sử dụng TTBYT

Vì vậy trước khi thiết bị được đầu tư, lãnh đạo phải có kế hoạch đào tạo người sử dụng máy để họ có kiến thức cơ bản về nguyên lý máy, khai thác hết tính

HUPH

Trang 33

năng sử dụng máy, có kỹ năng vận hành thành thạo theo đúng quy trình, có kỹ năng làm những công việc kiểm tra, bảo dưỡng trước và sau khi kết thúc công việc hàng ngày phù hợp theo yêu cầu của từng loại máy[3]

Phải đào tạo kỹ thuật cho người sửa chữa thiết bị để những công việc bảo dưỡng định kỳ theo quy định của từng máy, những hư hỏng thông thường người sửa chữa phải có kiến thức và kỹ năng giải quyết và những hư hỏng lớn phải tham mưu cho lãnh đạo phương án xử lý[3].

1.7.4 Yếu tố Cơ sở vật chất

Cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật bệnh viện có tốt mới phục vụ có hiệu quả cho công tác khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, vận hành trang thiết bị ngày một tốt hơn Điều đó cho thấy cơ sở vật chất, hạ tầng bệnh viện có tầm quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến công tác khám và chữa bệnh mà trong đó có việc sử dụng TTBYT Nhiều cơ sở y tế hiện nay có cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng được các yêu cầu về lắp đặt các trang thiết bị y tế, an ninh, thông khí Chất lượng các công trình xây dựng thường kém, nhanh xuống cấp và không hợp lý khi sử dụng[20]

Người quản lý bệnh viện cần phải kiểm tra nắm vững thực trạng công trình,

cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng hiện có trước khi lên kế hoạch đầu tư mua sắm TTBYT Ngoài việc cân nhắc kỹ: nhu cầu sử dụng của đơn vị, khả năng tải chính, cấu hình kỹ thuật thích hợp thì đòi hỏi phải tìm hiểu, nghiên cứu tính khả thi về cơ

sở vật chất như: điện, nước, môi trường, hệ thống xử lý chất thải, an toàn bức xạ…có bảo đảm điều kiện lắp đặt TTB[20]

1.7.5 Yếu tố hệ thống thông tin

Việc xây dựng hệ thống thông tin trong đơn vị sẽ giúp cung cấp giải pháp tối

ưu nhất cho nhà quản lý, có khả năng tích hợp dễ dàng, có hiệu quả cao[41] Hiện nay một số bệnh viện chưa xây dựng được hệ thống thông tin gặp nhiều khó khăn của công tác quản lý, sử dụng TTBYT theo cách truyền thống: có nhiều loại trang thiết bị được sử dụng trong bệnh viện tại các khoa phòng nên phải ghi chép trên nhiều sổ sách, khó khăn trong việc quản lý, việc tra cứu và tìm kiếm thông tin về trang thiết bị mất nhiều thời gian, tốn nhân lực và dễ sai sót trong việc tổng hợp báo

HUPH

Trang 34

cáo, không kiểm soát được chính xác tình hình sử dụng trang thiết bị tại bệnh viện[39] Vì vậy hệ thống thông tin cũng được xem là yếu tố ảnh hưởng hoạt động của bệnh viện mà trong đó có công tác quản lý, sử dụng TTBYT Đó là thông tin sử dụng cho chính sách dài hạn, ngắn hạn, cho công tác điều hành tổ chức hàng ngày

và chủ yếu phục vụ cho người giám sát hoạt động của đơn vị[41]

Vì vậy xây dựng hệ thống thông tin trong quản lý TTBYT sẽ tạo điều kiện cho các nhà lãnh đạo bệnh viện có được tầm nhìn tổng quan về TTBYT hiện có tại bệnh viện mình để từ đó có những định hướng chiến lược phát triển TTBYT phù hợp với từng giai đoạn phát triển bệnh viện

1.8 Giới thiệu về Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đồng Nai

- Bệnh viện được thành lập năm 1952 với 50 giường bệnh

- Đến năm 2010, được công nhận là bệnh viện hạng I với 960 giường bệnh nội trú và tổng số lượt khám chữa bệnh ngoại trú 64.000 lượt/năm

- Tuy nhiên trước thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế không thể đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, bệnh viện luôn bị áp lực quá tải trầm trọng Trong bối cảnh đó, UBND tỉnh Đồng Nai đã trình Thủ tướng Chính phủ xin phê duyệt đầu tư xây dựng Bệnh viện đa khoa Đồng Nai mới Ngày 25/4/2015 bệnh viện mới với quy mô 1400 giường bệnh chính thức được khánh thành và đưa vào sử dụng để khám và điều trị cho nhân dân tỉnh Đồng Nai và các tỉnh lân cận Bệnh viện hiện có 25 khoa lâm sàng, 10 khoa cận lâm sàng và 10 phòng chức năng

Tính đến năm 2015, tại Bệnh viện đa khoa Đồng Nai đã có hơn 500 chủng loại TTBYT, trong đó có hơn 120 TTBCĐ, nhiều TTBYT có giá trị lớn, hiện đại và nhiều ứng dụng trong KCB cũng đã được đưa vào sử dụng Với cơ sở vật chất khang trang và trang thiết bị hiện đại đã phát huy được hiệu quả, nhiều ứng dụng khoa học kỹ thuật được áp dụng, chất lượng khám và điều trị được nâng lên, mức

độ hài lòng của bệnh nhân được cải thiện đã góp phần trong sự nghiệp chăm lo sức khỏe cho nhân dân tỉnh nhà và các tỉnh lân cận

HUPH

Trang 35

KHUNG LÝ THUYẾT

Sơ đồ 1.1 Khung lý thuyết của nghiên cứu

Cung cấp dịch vụ

TT

Đầu tƣ mua sắm

Bảo dƣỡng, sửa chữa

Hiện trạng

HUPH

Trang 36

Trong nghiên cứu này, khung lý thuyết được xây dựng dựa trên khung lý thuyết quản lý trang thiết bị y tế của các tác giả: Nguyễn Việt Cường[20], Nguyễn Minh Tuấn[32], Lương Văn Hường[26] và một số tác giả có công trình nghiên cứu

về công tác quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế như: Mai Văn Sâm[28], Bùi Việt Hùng[23], Võ Thị Ngọc Hương[25], Lê Đăng Trung[30]

Trong khuôn khổ nghiên cứu này, do điều kiện thời gian và nguồn lực hạn chế, học viên chỉ tiến hành với 5 nội dung có liên quan đến sử dụng TTBCĐ là: đầu

tư mua sắm, hiện trạng, chất lượng, bảo quản, bảo dưỡng - sửa chữa Đồng thời nghiên cứu cũng tìm hiểu các yếu tố: Chính sách, Tài chính, Nhân lực, Cơ sở vật chất, Hệ thống thông tin đã có ảnh hưởng như thế nào đến sử dụng TTBCĐ để từ đó

có những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng TTBCĐ tại bệnh viện

HUPH

Trang 37

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các TTBCĐ và sổ sách ghi chép báo cáo về theo dõi sử dụng các TTBCĐ trên tại các khoa: Chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Nội soi, Huyết học truyền máu, Vi sinh, Hóa sinh và phòng Vật tư - Thiết bị y tế

- Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa: Chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Nội soi, Huyết học truyền máu, Vi sinh, Hóa sinh và phòng Vật tư - Thiết bị y

tế

- Cán bộ y tế trực tiếp sử dụng, bảo quản, cán bộ kỹ thuật trực tiếp bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ tại các khoa, phòng kể trên

2.1.1 Nghiên cứu định lượng

2.1.1.1 Tiêu chuẩn chọn lựa

- Trang thiết bị chẩn đoán là các loại máy, thiết bị, hệ thống thiết bị đồng bộ phục vụ cho công tác chẩn đoán trong lĩnh vực y tế thuộc nhóm 1, 2, 3 của Bảng

1.1: bảng phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện tại 6 khoa nghiên cứu Trong nghiên

cứu này chúng tôi chọn các TTBCĐ có liên quan cả trực tiếp lẫn gián tiếp đến quá trình chẩn đoán

- Các loại thiết bị trên phải qua đấu thầu mua sắm, có sổ sách ghi chép đầy

đủ về các tình trạng nhập và phân bổ sử dụng các thiết bị trên cho các khoa Các thiết bị chẩn đoán được chọn nghiên cứu được xem là tài sản cố định, chứ không phải là các thiết bị do bệnh viện liên kết lắp đặt với các Công ty cung ứng TTBYT (theo quyết định số 32/2008/QĐ-BTC ngày 29/5/2008 của Bộ Tài Chính về việc ban hành chế độ quản lý, tính hao mòn tài sản cố định trong các cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và các tổ chức có sử dụng ngân sách Nhà nước; tài sản cố định là tài sản thoả mãn đồng thời cả 2 tiêu chuẩn: có nguyên giá từ 10.000.000 VNĐ trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm [6])

- Các loại thiết bị trên có nguyên giá từ 50.000.000 VNĐ trở lên và có thời gian sử dụng trên 1 năm, có số lần sử dụng tối thiểu 1 lần/ngày Các thiết bị được

HUPH

Trang 38

chọn có giá nguyên giá 50.000.000VNĐ là các thiết bị đã được thẩm định giá theo quy định trước khi mua sắm tại Nghị định số 170/2003/NĐ-CP ngày 25/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh giá[17] và các thiết bị này có số lần sử dụng tối thiểu 1 lần/ngày để chọn các máy được sử dụng hàng ngày.

2.1.1.2.Tiêu chuẩn loại trừ

- Trang thiết bị chẩn đoán không thuộc các nhóm 1, 2, 3 của Bảng 1.1: bảng

phân loại trang thiết bị y tế bệnh viện tại 6 khoa nghiên cứu

- Các loại thiết bị không thông qua đấu thầu mua sắm, sổ sách ghi chép không đầy đủ, rõ ràng về các tình trạng nhập và phân bổ sử dụng các thiết bị trên

- Danh sách các trang thiết bị chẩn đoán hiện có tại 06 khoa nghiên cứu

- Số liệu kinh phí dành cho mua sắm, sửa chữa trang thiết bị y tế và trang thiết bị chẩn đoán tại bệnh viện từ năm 2013 đến năm 2015

- Số liệu thống kê báo cáo hoạt động chuyên môn của bệnh viện từ năm 2013 đến năm 2015

- Báo cáo hoạt động của Phòng Vật tư - Thiết bị y tế từ năm 2014 đến năm

2015

- Sổ hoạt động chuyên môn, sổ quản lý tài sản, sổ nhật ký vận hành, lý lịch máy, sổ kế hoạch kiểm chuẩn, bảo dưỡng, các tài liệu kỹ thuật liên quan đến thiết bị tại 6 khoa nghiên cứu

2.1.2 Nghiên cứu định tính

2.1.2.1 Tiêu chuẩn chọn lựa

- Nhóm lãnh đạo: Phó Giám đốc bệnh viện

- Nhóm cán bộ quản lý: Trưởng/phó khoa, phòng

HUPH

Trang 39

- Nhóm nhân viên trực tiếp sử dụng TTBCĐ tại 6 khoa: Bác sỹ, kỹ thuật viên

- Nhóm nhân viên trực tiếp bảo dưỡng, sửa chữa TTBCĐ tại phòng Vật tư - Thiết bị y tế: Kỹ sư, kỹ thuật viên

2.1.2.2 Tiêu chuẩn loại trừ

- Đối tượng nghiên cứu không đồng ý tham gia nghiên cứu

- Thời gian công tác của đối tượng nghiên cứu tại bệnh viện dưới 1 năm (tính đến thời điểm nghiên cứu)

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Nai, cụ thể tại 07 khoa, phòng: Chẩn đoán hình ảnh, Thăm dò chức năng, Nội soi, Huyết học truyền máu, Vi sinh, Hóa sinh và phòng Vật tư - Thiết bị y tế

2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2/2016 đến tháng 7/2016

2.3 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định tính

2.4 Cỡ mẫu và Phương pháp chọn mẫu

2.4.1 Cỡ mẫu

2.4.1.1 Cỡ mẫu đối với nghiên cứu định lượng

Cỡ mẫu đối với nghiên cứu định lượng:

- Chọn 30/126 trang thiết bị chẩn đoán hiện có tại 6 khoa nghiên cứu theo tiêu chuẩn lựa chọn

- Số liệu thứ cấp: chọn số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại 07 khoa, phòng bao gồm: sổ quản lý tài sản cố định và vật tư thiết bị của phòng VT-TBYT; báo cáo kiểm kê TTBCĐ hàng năm của các khoa từ năm 2013 - 2015; sổ theo dõi quản lý thiết bị (lý lịch máy); sổ nhật ký vận hành máy; sổ hoạt động chuyên môn; kế hoạch và kết quả kiểm định, bảo dưỡng TTBCĐ hàng năm của các khoa để tìm hiểu nhóm biến số về: thực trạng số lượng, số giờ hoạt động của TTBCĐ, tình trạng hiện tại của TTBCĐ, thời gian đưa vào sử dụng, số lần kiểm

HUPH

Trang 40

chuẩn, kiểm định định kỳ trong năm, thời gian thiết bị bị hƣ sau khi đƣa vào sử dụng, thời gian sửa chữa thiết bị, kinh phí mua sắm, kinh phí bảo dƣỡng, sửa chữa TTBCĐ và đánh giá thực trạng sử dụng TTBCĐ tại các khoa nghiên cứu (nhóm biến số từ biến I.1 – VII.5 trong phụ lục 1: các biến số trong nghiên cứu)

2.4.1.2 Cỡ mẫu đối với nghiên cứu định tính

Cỡ mẫu đối với nghiên cứu định tính:

- Phỏng vấn sâu, chọn mẫu chủ đích bao gồm 2 nhóm đối tƣợng:

+ Nhóm lãnh đạo bệnh viện: Phó Giám đốc (1PVS)

- Thảo luận nhóm, chọn mẫu chủ đích bao gồm 3 nhóm đối tƣợng:

+ Nhân viên trực tiếp sử dụng trang thiết bị chẩn đoán của 06 khoa nghiên cứu, đối tƣợng là Bác sĩ (1TLN), Kỹ thuật viên (1TLN)

+ Nhân viên trực tiếp bảo dƣỡng, sửa chữa trang thiết bị của phòng Vật tƣ - Thiết bị y tế đối tƣợng là Kỹ sƣ, kỹ thuật viên (1TLN)

Tổng cộng là 03 cuộc thảo luận nhóm

2.4.2 Phương pháp chọn mẫu

2.4.2.1 Chọn mẫu đối với nghiên cứu định lượng

- Mỗi khoa nghiên cứu chọn 5 thiết bị chẩn đoán, tổng cộng chọn đƣợc 30 thiết bị chẩn đoán hiện có tại 6 khoa, theo tiêu chuẩn lựa chọn đã đƣa ra

- Số liệu thứ cấp: chọn toàn bộ số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu tại

07 khoa, phòng bao gồm: sổ quản lý tài sản cố định và vật tƣ thiết bị của phòng TBYT; báo cáo kiểm kê TTBCĐ hàng năm của các khoa từ năm 2013 - 2015; sổ theo dõi quản lý thiết bị (lý lịch máy); sổ nhật ký vận hành máy; sổ hoạt động chuyên môn; kế hoạch và kết quả kiểm định, bảo dƣỡng TTBCĐ hàng năm của các khoa để tìm hiểu nhóm biến số từ biến I.1 – VII.5 trong phụ lục 1: các biến số trong nghiên cứu

VT-HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w