Đặc trưng ngành công nghiệp dệt may lao động gò bó cộng với ảnh hưởng của tiếng ồn khi vận hành máy móc, nồng độ bụi cao trong môi trường lao động, yếu tố vi khí hậu bất lợi đã ảnh hưởng
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NỮ CÔNG NHÂN NGÀNH DỆT MAY TẠI MỘT SỐ
KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
HÀ NỘI – 2015 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
NGUYỄN THỊ VÂN ANH
THỰC TRẠNG SỨC KHỎE VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NỮ CÔNG NHÂN NGÀNH DỆT MAY TẠI MỘT SỐ
KHU CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 60.72.03.01
TS NGUYỄN THÚY QUỲNH
HÀ NỘI - 2015HUPH
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của các thầy
giáo, cô giáo, các anh chị và các bạn
Tôi xin trân trọng cảm ơn: Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo các bộ môn, phòng
ban Trường Đại học Y tế Công cộng đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập và
hoàn thành luận văn
Tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sỹ Nguyễn Thúy
Quỳnh, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và cung cấp những kiến thức khoa học
cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin trân trọng cảm ơn:
Các anh chị nghiên cứu viên của đề tài cấp Bộ “Tình trạng sức khỏe của công
nhân nữ ở một số khu công nghiệp Việt Nam và một số yếu tố liên quan” Người thầy,
cô đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tôi trong trong suốt quá trình thu thập số liệu, rèn
luyện và hoàn thành đề tài nghiên cứu
Cuối cùng tôi xin gửi lòng biết ơn tới toàn thể gia đình, những người yêu quý
của tôi đã luôn động viên, chia sẻ với tôi về tinh thần, thời gian và công sức để có thể
vượt qua mọi khó khăn, trở ngại trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, Ngày 1 tháng 7 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Vân Anh
HUPH
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU viii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm liên quan 4
1.1.1 Sức khỏe 4
1.1.2 Nâng cao sức khỏe 4
1.1.3 Bệnh nghề nghiệp 4
1.1.4 Điều kiện lao động 4
1.2 Sức khỏe và bệnh tật của nữ công nhân dệt may 9
1.3 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động 12
1.4 Điều kiện làm việc của nữ công nhân dệt may tại khu công nghiệp 17
1.5 Một số nghiên cứu liên quan 22
1.6 Mô tả ngành công nghiệp dệt may 28
1.7 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 29
1.8 Giới thiệu về đề tài cấp Bộ 32
1.9 Khung lý thuyết 33
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
2.1 Đối tượng nghiên cứu 36
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 36
2.3.Thiết kế nghiên cứu 36
2.4 Cỡ mẫu: 37
2.5 Phương pháp chọn mẫu 37
HUPH
Trang 52.6 Phương pháp thu thập thông tin 38
2.7 Biến số nghiên cứu 41
2.8 Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu……… 41
2.9 Xử lý, phân tích số liệu: 43
2.10.Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 44
2.11.Hạn chế nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục 44
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Thông tin chung của nữ công nhân dệt may 46
3.2 Thực trạng sức khỏe bệnh tật của nữ công nhân dệt may: 48
3.2.1.Biểu hiện/ triệu chứng sau ca làm việc của nữ công nhân dệt may 48
3.2.2 Thực trạng mắc bệnh trong 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu của nữ công nhân dệt may 59
3.2.3 Thực trạng mắc bệnh mãn tính của nữ công nhân dệt may 60
3.3 Thực trạng điều kiện làm việc của nữ công nhân dệt may và một số yếu tố liên quan đến dấu hiệu hô hấp, dấu hiệu cơ xương khớp sau ca làm việc của nữ công nhân dệt may 62
3.3.1 Thực trạng điều kiện làm việc của nữ công nhân dệt may 62
3.3.2 Mối liên quan giữa một số yếu tố nguy cơ với dấu hiệu hô hấp, cơ xương khớp sau ca làm việc của nữ công nhân dệt may……… ………68
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 74
KẾT LUẬN 87
KHUYẾN NGHỊ 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 1: 95
QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP DỆT MAY THEO CHIẾN LƯỢC ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 95
HUPH
Trang 6PHỤ LỤC 2: ĐƠN XIN THỰC HIỆN LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC Y
TẾ CÔNG CỘNG KẾT HỢP VỚI ĐỀ TÀI ĐANG TRIỂN KHAI 99
PHỤ LỤC 3: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VẤN NỮ CÔNG NHÂN 98
PHỤ LỤC 4: 105
HƯỚNG DẪN THẢO LUẬN NHÓM NỮ CÔNG NHÂN DỆT MAY 105
PHỤ LỤC 5 111
HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁN BỘ YTLĐ/ATLĐ TẠI CÔNG TY 111
PHỤ LỤC 6 115
HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 115
PHỤ LỤC 7 : BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 118
PHỤ LỤC 8: MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 128
PHỤ LỤC 9 132
VAI TRÒ CỦA HỌC VIÊN, ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI LUẬN VĂN 132
SO VỚI ĐỀ TÀI CẤP BỘ 132
HUPH
Trang 7ILO Tổ chức lao động quốc tế
ISO Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế
LLĐKĐT Lưu lượng đỉnh kế điện tử
MTLĐ Môi trường lao động
TCCP Tiêu chuẩn cho phép
RLCXNN Rối loạn cơ xương nghề nghiệp
VPQM Viêm phế quản mạn
VSLĐ Vệ sinh lao động
YTNC HUPHYếu tố nguy cơ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Tỷ lệ nữ công nhân phân theo khu vực 46
Bảng 3.2 Thông tin cá nhân của nữ công nhân dệt may 46
Bảng 3.3 Thông tin thời gian làm việc của nữ công nhân dệt may 47
Bảng 3.4: Thực trạng các dấu hiệu sau ca làm việc của nữ công nhân dệt may 48
Bảng 3.5 Biểu hiện/triệu chứng cơ xương khớp sau ca làm việc của nữ công nhân dệt may theo 3 công ty……… 49
Bảng 3.6 Biểu hiện tiêu hóa của nữ công nhân sau ca làm việc theo 3 công ty 53
Bảng 3.7 Dấu hiệu về thần kinh của nữ công nhân gặp phải sau ca làm việc 55
Bảng 3.8 Biểu hiện của nữ công nhân về các triệu chứng gặp phải ở da sau ca làm việc theo 3 công ty 58
Bảng 3.9 Thực trạng mắc bệnh trong 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu của nữ công nhân dệt may 59
Bảng 3.10 Tỷ lệ bệnh mãn tính của nữ công nhân dệt may theo 3 công ty 60
Bảng 3.11 Thực trạng tiếp xúc các yếu tố Éc-gô-nô-mi của NCN dệt may 62
Bảng 3.12 Thực trạng các yếu tố tác hại nghề nghiệp khác của nữ công nhân dệt may 65
Bảng 3.13: Cảm nhận của nữ công nhân dệt may khi tiếp xúc với yếu tố điều kiện làm việc……….66
HUPH
Trang 9Bảng 3.14: Mối liên quan giữa một số yếu tố với dấu hiệu hô hấp của nữ công nhân dệt may 67Bảng 3.15: Mối liên quan giữa một số yếu tố với dấu hiệu cơ xương khớp của NCN dệt may 69Bảng 3.16: Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan đến dấu hiệu hô hấp của NCN dệt may 71 Bảng 3.17: Phân tích hồi quy đa biến các yếu tố liên quan đến dấu hiệu cơ xương khớp của NCN dệt may……… … 72
HUPH
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Tỷ lệ nữ công nhân có triệu chứng hô hấp sau ca làm việc 52Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ nữ công nhân có triệu chứng về mắt sau ca làm việc 53Biểu đồ 3.3: Tỷ lệ nữ công nhân hoa mắt chóng mặt gặp sau ca làm việc 54Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ nữ công nhân có triệu chứng tim đập nhanh sau ca làm việc 55Biểu đồ 3.5 Tỷ lệ nữ công nhân có triệu chứng về thính giác sau ca làm việc 57
HUPH
Trang 11TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Trong sự phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt trong giai đoạn kinh tế phát triển hội nhập như hiện nay Các ngành công nghiệp nói chung và ngành công nghiệp dệt may nói riêng chịu sự cạnh tranh lớn của thị trường, đòi hỏi tăng chất lượng sản phẩm nhưng giảm giá thành sản xuất Việc tăng năng suất lao động, cường độ lao động, tăng ca kíp kết hợp làm việc trong tư thế gò bó, cộng với tác động của các yếu tố như bụi, ánh sáng, tiếng ồn…là căn nguyên gây sức ép, căng thẳng tâm lý và ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động Với ngành dệt may lao
động nữ là chủ yếu Chính vì vậy chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu:”Thực trạng
sức khỏe và một số yếu tố liên quan của nữ công nhân ngành dệt may tại một số khu công nghiệp Việt Nam năm 2014 “
Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 8/2014 đến tháng 5/2015 tại CTM Hưng Yên, CTDM Đà Nẵng, CTM Đồng Nai Với 2 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng sức khỏe của nữ công nhân dệt may tại 3 khu công nghiệp Việt Nam năm 2014 (2) Xác định một số yếu tố liên quan đến dấu hiệu cơ xương khớp và hô hấp của nữ công nhân dệt may sau ca làm việc tại 3 khu công nghiệp Việt Nam năm 2014 Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính Công cụ nghiên cứu là bảng hỏi cấu trúc đã được thiết kế sẵn và hướng dẫn thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu, các biểu mẫu Mẫu nghiên cứu định lượng là 912
nữ công nhân tham gia sản xuất trực tiếp, được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn Mẫu định tính là 15 nữ công nhân tham gia thảo luận nhóm, 3 lãnh đạo công ty, 3 cán bộ y tế lao động/ an toàn lao động tham gia phỏng vấn sâu Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả định tính, kết quả hồi cứu số liệu đo kiểm môi trường
được sử dụng để mô tả và giải thích rõ hơn kết quả định lượng
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thực trạng sức khỏe của NCN dệt may: Dấu hiệu sức khỏe sau ca làm việc nữ công nhân mắc phải như dấu hiệu cơ xương khớp chiếm 73,9%, dấu hiệu về tâm thần kinh 65,2%, dấu hiệu về hô hấp 51,6%, dấu hiệu
về thính giác 37,1%, dấu hiệu về tiêu hóa 36,3%; dấu hiệu về da 22,4% Vấn đề sức
HUPH
Trang 12khỏe trong 3 tháng trước thời điểm nghiên cứu: viêm họng chiếm tỷ lệ cao nhất (35,4%), đau nửa đầu (23,5%), viêm phế quản (13,2%), bệnh phụ khoa (11,8%), giảm thính lực (9%) Bệnh mãn tính của nữ công nhân: bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng (9,4%); bệnh huyết áp (5,3%); khớp mãn tính (4,8%); bệnh viêm phế quản mạn tính (3,5%); viêm đại tràng (3,2%); hen phế quản (1,9%); bệnh trầm cảm, lo âu
(1,6%); điếc nghề nghiệp 1,3% Thực trạng điều kiện làm việc nữ công nhân: 61,5%
nữ công nhân có tiếp xúc với vi khí hậu nóng; 65,5% nữ công nhân có tiếp xúc với yếu tố bụi; 61,2% nữ công nhân tiếp xúc với tiếng ồn; 13,2% nữ công nhân tiếp xúc với ánh sáng tối; 12,5% nữ công nhân tiếp xúc với ánh sáng chói Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối liên quan trình độ học vấn, công việc gò bó với tình trạng mắc dấu hiệu cơ xương khớp sau ca làm việc của nữ công nhân, với p < 0,05 Có mối liên quan giữa tuổi nghề, trình độ học vấn với tình trạng mắc dấu hiệu hô hấp sau ca làm việc, p< 0,05
Kết quả nghiên cứu là bằng chứng để đưa ra các khuyến nghị về giải pháp cải thiện điều kiện môi trường, bảo đảm sức khỏe người lao động: Truyền thông nâng cao nhận thức của NCN về ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ đến sức khỏe,
an toàn lao động Duy trì hệ thống quạt thông hút gió, máy xịt bụi, hút bụi, cung cấp
đủ bảo hộ lao động cho nữ công nhân, tăng thêm thời gian nghỉ giữa giờ, bố trí thời
gian làm việc phù hợp với công nhân làm việc tại khu vực tiếng ồn
HUPH
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, lao động sản xuất trong nền công nghiệp luôn là vấn đề mang tính nền tảng Ngành công nghiệp dệt may chiếm một vị trí quan trọng của nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng dệt may trong giai đoạn 2008 – 2013 đạt 14,5%/năm đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kim ngạch dệt may nhanh nhất thế giới Năm 2013 dệt may là ngành xuất khẩu lớn thứ 2 cả nước Hiện có 6000 doanh nghiệp trên cả nước với 62% doanh nghiệp thuộc miền Nam, 30% miền Bắc, 8% miền Trung và cao nguyên Các doanh nghiệp may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành[34]
Sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may đóng góp một phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, thu hút khoảng hơn 2,5 triệu lao động (với 80% là nữ), chiếm 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam[34] Bên cạnh sự phát triển nhanh của nền công nghiệp dệt may, nhiều doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận, không ngừng tăng ca, tăng cường độ và thời gian làm việc với tư thế lao động gò bó, không thoải mái…làm cho người lao động mất sức, tiêu hao năng lượng, gây stress ảnh hưởng đến tâm sinh lý người lao động Đặc trưng ngành công nghiệp dệt may lao động gò bó cộng với ảnh hưởng của tiếng ồn khi vận hành máy móc, nồng độ bụi cao trong môi trường lao động, yếu tố vi khí hậu bất lợi
đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người lao động, đặc biệt là lao động nữ, làm tăng tỷ lệ ốm đau, bệnh nghề nghiệp[12] Theo số liệu báo cáo của tổng cục thống kê (2013), lao động nữ trong các ngành công nghiệp có xu hướng tăng theo thời gian, cụ thể năm 2009 có 23.666.4 nghìn lao động nữ, năm 2013 tăng thành 25.875 nghìn lao động nữ[13] Trong đó, tỷ lệ lao động nữ trong ngành dệt may chiếm tỷ lệ cao (80%), 2,5 triệu người (2013) phần lớn ở độ tuổi lao động trẻ 20 – 35 tuổi Bệnh nghề nghiệp trên thế giới đã được quan tâm và có nhiều nghiên cứu đề cập tới Tại Việt Nam chưa có con số chính xác thống kê thực trạng bệnh nghề nghiệp
Một số khảo sát nghiên cứu cho thấy môi trường lao động không thuận lợi ảnh hưởng đến sức khỏe công nhân, người lao động sản xuất trực tiếp thường mắc
HUPH
Trang 14các bệnh cấp tính như: Bệnh tai mũi họng (45%), giảm thị lực (37,8%), bệnh ngoài
da (25,9%), bệnh suy nhược thần kinh (8,7%)[5]
Lao động nữ có vai trò quan trọng trong nhiều ngành kinh tế, đóng góp không nhỏ cho sự phát triển kinh tế xã hội Đồng thời nữ mang nhiều đặc điểm nhạy cảm hơn nam giới, dễ bị tổn thương, với thiên chức bẩm sinh: thụ thai, sinh nở, nuôi dạy con cái cùng với gánh nặng cuộc sống gia đình Nữ công nhân là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt Trong ngành dệt may, nữ công nhân là lực lượng chủ yếu trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất và điều kiện, môi trường lao động được xem như yếu tố quan trọng hàng đầu ảnh hưởng đến sức khỏe của họ Môi trường lao động là nơi người lao động thực hiện các hoạt động lao động sản xuất Ở đó họ phải chịu những gánh nặng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ các yếu tố như: điều kiện vi khí hậu, bụi, tiếng ồn, hơi khí độc… đến sức khỏe, lâu dần trở thành bệnh nghề nghiệp, ảnh hưởng lâu dài đến chất lượng cuộc sống Điều này đòi hỏi cần có
sự quan tâm đặc biệt đến điều kiện làm việc của nữ công nhân và nghiên cứu chứng, bệnh đặc thù nghề nghiệp của công nhân dệt may để từ đó có những biện pháp kịp thời bảo vệ sức khỏe của nữ công nhân
Xuất phát từ nhu cầu đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng sức
khỏe và một số yếu tố liên quan của nữ công nhân ngành dệt may tại một số khu
công nghiệp Việt Nam năm 2014” Nghiên cứu tiến hành nhằm xây dựng bức tranh
thực trạng điều kiện làm việc, sức khỏe của nữ công nhân để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ đến sức khỏe nữ công
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.Mô tả thực trạng sức khỏe của nữ công nhân dệt may tại 3 khu công nghiệp Việt Nam năm 2014
2.Xác định một số yếu tố liên quan đến dấu hiệu cơ xương khớp và hô hấp của nữ công nhân dệt may sau ca làm việc tại 3 khu công nghiệp Việt Nam năm 2014
HUPH
Trang 16+ Thoải mái xã hội: hoà hợp trong quan hệ gia đình, cộng đồng mà ta sống
1.1.2 Nâng cao sức khỏe
Nâng cao sức khỏe là quá trình giúp cho con người kiểm soát sức khỏe và cải thiện sức khỏe của họ để đạt được trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất tinh thần và xã hội, mỗi cá thể có khả năng xác định và nhận biết những mong muốn của
họ để thỏa mãn các nhu cầu và để thay đổi các hành vi không làm ảnh hưởng đến môi trường làm ảnh hưởng tới sức khỏe Do đó sức khỏe phải được nhìn nhận là tài sản của cuộc sống hàng ngày chứ không phải là đối tượng của cuộc sống Công tác chăm sóc sức khỏe không chỉ thuộc phạm vi trách nhiệm của lĩnh vực y tế mà còn là việc phải xây dựng lối sống lành mạnh để có được hạnh phúc[42]
1.1.3 Bệnh nghề nghiệp
Bệnh nghề nghiệp (BNN) là một hiện trạng bệnh lý mang tính chất đặc trưng
nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân sinh bệnh do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động xấu Và hiện nay ở Việt Nam đã có
30 BNN được bảo hiểm[45]
1.1.4 Điều kiện lao động
Điều kiện lao động (ĐKLĐ) là tổng thể các yếu tố về tự nhiên, xã hội, kinh
tế, kỹ thuật được biểu hiện thông qua các công cụ và phương tiện lao động, đối tượng lao động, quá trình công nghệ, môi trường lao động và sự sắp xếp, bố trí chúng trong không gian và thời gian, sự tác động qua lại của chúng trong mối quan
HUPH
Trang 17hệ với người lao động tại chỗ làm việc, tạo nên một điều kiện nhất định cho con người trong quá trình lao động Tình trạng tâm sinh lý của con người trong khi lao động tại chỗ làm việc cũng được coi như một yếu tố gắn liền với điều kiện lao động[44]
Trong một ĐKLĐ cụ thể, bao giờ cũng xuất hiện những yếu tố vật chất ở một mức độ nhất định (vượt giới hạn cho phép) có ảnh hưởng xấu, có hại và nguy hiểm, có nguy cơ gây ra tai nạn lao động hoặc BNN cho người lao động Và những yếu tố này được gọi là những yếu tố nguy hiểm và có hại
Các yếu tố nguy hiểm và có hại phát sinh trong sản xuất thường đa dạng và nhiều loại Đó có thể là:
Các yếu tố vật lý (tiếng ồn, nhiệt độ ẩm, vận tốc gió, ánh sáng, phóng xạ )
Các yếu tố hoá học (hơi khí độc, bụi, hoá chất )
Các yếu tố sinh vật (vi khuẩn, nấm mốc, bào tử )
Các yếu tố bất lợi về tư thế lao động (cường độ, nhịp điệu lao động, mang vác nặng, vươn với ngoài tầm tay )[45]
1.1.5 Yếu tố nguy cơ, tác hại nghề nghiệp
Yếu tố nguy cơ (YTNC) là một điều kiện hoặc tình trạng nguy hiểm hoặc có
hại, có thể gây ra các nguy cơ cho sức khỏe con người nếu như có phơi nhiễm[54]
Tác hại nghề nghiệp (THNN) là điều kiện hoặc tình trạng nguy hiểm hoặc có
hại tại nơi làm việc, có thể gây ra các nguy cơ cho sức khỏe con người nếu như có phơi nhiễm
Tác hại nghề nghiệp chủ yếu trong sản xuất được chia thành 4 loại:
Tác hại nghề nghiệp liên quan đến quá trình công nghệ sản xuất
Tác hại nghề nghiệp liên quan đến tổ chức lao động
Tác hại nghề nghiệp liên quan đến điều kiện vệ sinh nơi làm việc
Tác hại nghề nghiệp liên quan đến tâm sinh lý người lao động[43]
1.3.2 Vi khí hậu môi trường lao động
Vi khí hậu trong lao động sản xuất hay còn gọi là điều kiện khí tượng trong môi trường sản xuất bao gồm độ nóng, độ ẩm, tốc độ vận chuyển không khí, và đặc
HUPH
Trang 18biệt là bức xạ nhiệt ở môi trường lao động nóng Điều kiện khí tượng đó có thể ảnh hưởng tới các quá trình sinh học trong điều kiện nhiệt độ của cơ thể và có thể gây bệnh tật cho người lao động khi mà các phản ứng sinh lý sinh hóa bị rối loạn[9]
Trong thực tế sản xuất điều kiện khí hậu khác thường như nóng quá hoặc lạnh quá đều có ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động, cụ thể sẽ ảnh hưởng đến
cơ quan điều hòa thân nhiệt, quá trình sinh lý Tuy vậy, điều kiện vi khí hậu nóng sẽ nguy hiểm hơn quá lạnh Đặc điểm cơ bản của vi khí hậu nóng là vấn đề nhiệt độ và bức xạ lớn, vượt qua cảm giác dễ chịu của cơ thể, ảnh hưởng đến khả năng điều nhiệt của cơ thể Ngoài ra, các yếu tố vi khí hậu khác như vận tốc gió, độ ẩm không khí, các yếu tố khác của môi trường cũng làm thay đổi sức nóng của môi trường Đôi khi vi khí hậu nóng có thể gây nên những rối loạn bệnh lý như say nóng, say nắng [9]
Các yếu tố của vi khí hậu MTLĐ là tổng hợp các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, tốc
độ chuyển động của không khí và bức xạ nhiệt[46] Những yếu tố này có ảnh hưởng một cách phối hợp tới quá trình điều hòa thân nhiệt của cơ thể con người, tới sức khỏe và bệnh tật[27]
1.3.3 Nhiệt nóng
Làm việc trong điều kiện vi khí hậu nóng, cơ thể tích lũy quá nhiều nhiệt NLĐ có thể bị say nóng, nặng hơn là choáng nhiệt Choáng nhiệt thường do cơ thể làm việc cường độ nặng ở nơi nhiệt độ không khí rất cao, hoặc vừa nhiệt độ cao, vừa có bức xạ mặt Trời mạnh, độ ẩm không khí cao, kín gió, khi làm việc quá lâu dưới trời nắng, hoặc khi do quần áo mặc quá bức, không thoát được nhiệt và mồ hôi
Ngoài những triệu chứng và biến chứng đặc hiệu, công nhân làm việc với điều kiện môi trường có nhiệt độ cao trong thời gian nhất định có thể mắc các bệnh như:
Nhóm bệnh đường tiêu hóa như: rối loạn tiêu hóa, táo bón, viêm loét dạ dày – tá tràng, viêm ruột, viêm đại tràng mãn tính, trĩ Các bệnh trên do ảnh hưởng của nhiệt độ không khí cao
HUPH
Trang 191.3.4 Yếu tố tâm sinh lý lao động và Éc-gô-nô-mi
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa Éc-gô-nô-mi là “Sự áp
dụng khoa học sinh học kết hợp với khoa học công nghệ vào người lao động và môi trường của họ để được sự thỏa mãn tối đa cho người lao động đồng thời tăng năng suất lao động” Éc-gô-nô-mi là khoa học nghiên cứu về lao động và sự phù hợp với sức khỏe người lao động Như vậy mỗi loại hình lao động cần có một sự phù hợp tương ứng về sức khỏe con người
Đề cập đến vấn đề thiết kế vị trí lao động, tư thế gò bó, thiết bị lao động, không gian làm việc, ca lao động…trong quá trình lao động mà người lao động tâm sinh lý không thoải mái có thể dẫn đến mất tập trung, sao nhãng, mệt mỏi gây tai nạn lao động Tư thế lao động không phù hợp với máy móc hoặc phương thức, phương tiện lao động sẽ gây lên sự bất thường cho các hoạt động chức năng Vì thế, các rối loạn bệnh lý dễ xảy ra hoặc quá trình mệt mỏi tế bào dễ đến sớm
Do yêu cầu của công nghệ và tổ chức lao động mà người lao động có thể phải lao động ở cường độ lao động quá mức theo ca, kíp, tư thế làm việc gò bó trong thời gian dài, động tác lao động đơn điệu buồn tẻ hoặc với trách nhiệm cao gây căng thẳng về thần kinh tâm lý, mệt mỏi[3]
Mệt mỏi là trạng thái sinh lý tạm thời được coi như hiện tượng bắt đầu mất cân bằng các phản ứng sinh lý, sinh hóa của cơ thể trong lao động Song, nếu được nghỉ ngơi sẽ trở lại bình thường không để lại di chứng gì Trạng thái mệt mỏi được biểu hiện bằng dấu hiệu khó chịu, uể oải, chức năng sinh lý mất cân bằng, năng suất lao động giảm dễ xảy ra tai nạn lao động[9]
1.3.5 Tiếng ồn
HUPH
Trang 20Tiếng ồn là âm thanh gây khó chịu cho con người, nó phát sinh do sự chuyển động của các chi tiết hoặc bộ phận của máy do va chạm Rung sóc thường do các dụng cụ cầm tay bằng khí nén, do các động cơ nổ tạo ra Đây là yếu tố thường gặp phổ biến trong các ngành công nghiệp Mức ảnh hưởng của tiếng ồn còn phụ thuộc vào cường độ và tần số của bản thân tiếng ồn và phụ thuộc vào thời gian tiếp xúc
Tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép với tiếng ồn tại nơi sản xuất:
Theo tổ chức tiêu chuẩn quốc tế ISO (International Standard Organization) [1967] mức gây hại là: 90 ± 2,5 dB Dựa vào đó, các nước xây dựng tiêu chuẩn giới hạn tối đa cho phép với tiếng ồn Giới hạn này ở các nước Đức, Hoa Kỳ là 90 dBA;
ở Anh, Nga là 85 dBA[36]
Ở Việt Nam, mức tiếng ồn cho phép áp dụng cho 8 giờ làm việc/ ngày không vượt quá 85 dBA [33]
Người lao động làm việc trong điều kiện có tiếng ồn và rung sóc quá giới hạn cho phép dễ gây ảnh hưởng đến cơ quan thính giác, gây tác hại về thần kinh, các bệnh nghề nghiệp như: điếc, viêm thần kinh thực vật, rối loạn cảm giác, tổn thương về xương khớp và cơ; hoặc làm giảm khả năng tập trung trong lao động sản xuất, giảm khả năng nhạy bén Người mệt mỏi, cáu gắt, buồn ngủ Tiếp xúc với tiếng ồn lâu sẽ bị giảm thính lực, điếc nghề nghiệp hoặc bệnh thần kinh Hơn nữa, tình trạng này dễ dẫn đến tai nạn lao động[41]
1.3.6 Bụi
Bụi là những phần tử nhỏ bé, đa số ở thể rắn tập hợp rải rác trong môi trường, là tác hại phổ biến nhất trong các tác hại nghề nghiệp của môi trường không những bởi tính độc hại của nó mà còn do chúng rất phổ biến, có mặt ở mọi nơi, mọi chỗ trong môi trường lao động, môi trường sống
Hiện nay, các ngành công nghiệp hầm mỏ, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng và may mặc là những ngành công nghiệp có nhiều người lao động chịu tác động của bụi với các mức độ khác nhau như viêm nhiễm, co thắt hoặc xơ hóa các
tế bào nhu mô phổi…[9]
HUPH
Trang 211.2 Sức khỏe và bệnh tật của nữ công nhân dệt may
Sức khỏe luôn gắn liền với các tác động của môi trường Sức khỏe môi trường là trạng thái sức khỏe của con người liên quan và chịu tác động của các yếu
tố môi trường sinh thái bao quanh Có nhiều yếu tố tác động đến sức khỏe của mỗi người Với mỗi môi trường làm việc khác nhau có đặc thù bệnh tật khác nhau
Lao động của công nhân ngành dệt may nhìn chung là loại lao động không nặng nhọc, nhịp độ lao động nhanh hoặc ở tư thế gò bó không thuận lợi Người công nhân dệt may thường phải làm việc theo dây chuyền đơn điệu với thời gian làm việc nhiều hơn 8h/ngày và 5 ngày/tuần Sự đòi hỏi về điều kiện của lao động đòi hỏi người công nhân thường xuyên chịu đựng ở tư thế gò bó mệt mỏi trường diễn Có nhiều công đoạn sản xuất công nhân phải làm việc ở tư thế gò bó như: công đoạn may ngồi lâu, công đoạn là hơi, công đoạn đóng gói thành phẩm Thời gian lao động và nghỉ ngơi không hợp lý sẽ gây nên sự xáo trộn các hoạt động tâm, sinh lý của người lao động gây nên các rối loạn bệnh lý và stress nghề nghiệp
Thông thường người lao động trong ngành dệt may thường mắc một số rối loạn chứng bệnh đặc thù hoặc gia tăng một số bệnh thông thường so với các cộng đồng khác
Đầu tiên phải kể đến là dấu hiệu cơ xương khớp Đây là vấn đề sức khỏe rất phổ biến và có xu hướng ngày một gia tăng Triệu chứng thường xuất hiện ở những người lao động thủ công nặng nhọc và tư thế lao động không hợp lý (tư thế ngồi, quỳ, đứng) Công nhân dệt may cũng thường phải làm việc trong những điều kiện như vậy Công nhân dệt lao động chủ yếu tư thế đứng, công nhân may lao động thời gian dài trong tư thế ngồi gò bó, hạn chế di chuyển trong thời gian làm việc Với thân hình nhỏ bé của người Việt Nam cộng với sự không phù hợp với máy móc sản xuất Hơn nữa tính chất công việc đơn điệu, tư thế làm việc cố định trong thời gian dài, áp lực đơn hàng thời vụ ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của công nhân, thậm trí ảnh hưởng đến vấn đề cơ xương khớp Một nghiên cứu trên đối tượng công nhân may tại Đồng Nai của tác giả Trịnh Hồng Lân về rối loạn cơ xương nghề nghiệp cũng chỉ ra rằng: Tỷ lệ rối loạn cơ xương nghề nghiệp (RLCXNN) là 83% trong đó đau thắt lưng chiếm tỷ lệ cao nhất 54,3% Những công nhân ngồi máy may
HUPH
Trang 22công nghiệp trong các dây chuyền may có tỉ lệ RLCXNN 88%, cao hơn so với công nhân lao động gián tiếp (73%) và công nhân cắt vải (64%) Những công nhân làm việc luôn thay đổi tư thế ít bị rối loạn cơ xương hơn công nhân phải ngồi liên tục hay đứng liên tục Nghiên cứu cũng chỉ ra mối liên quan rối loạn cơ xương với tư thế lao động và tính chất công việc với p = 0,004 và p < 0,001 Tỷ lệ RLCXNN làm việc ở tư thế luôn thay đổi thấp hơn so với những người phải duy trì liên tục công việc trong tư thế đứng và ngồi Với tính chất công việc, nghiên cứu chỉ ra có sự khác biệt rõ ràng giữa những công nhân làm công việc đa dạng và công việc đơn điệu Cụ thể, công nhân làm công việc đa dạng có nguy cơ bị RLCX ít hơn những công nhân làm công việc đơn điệu, lặp lại 0,28 lần[17, 21] Một nghiên cứu khác của tác giả Nguyễn Đình Dũng cũng chỉ ra có sự khác biệt bệnh cơ xương khớp giữa công nhân trực tiếp và công nhân gián tiếp trong nghề dệt – sợi[4] Theo tác giả Nguyễn Thế Công có nhiều yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến vấn đề cơ xương khớp
Số lần lặp lại càng cao thì nguy cơ cơ xương khớp càng lớn, tư thế làm việc liên quan đến vị trí của cơ thể và các bộ phận trong không gian thao tác, tác động phối hợp của yếu tố môi trường xấu (rung động, tiếng ồn, nhiệt độ, ánh sáng…) làm tăng nguy cơ mắc dấu hiệu cơ xương khớp Thiếu thời gian nghỉ ngơi và phục hồi cần thiết cho hoạt động cơ bắp cũng trở thành nguy cơ mắc dấu hiệu cơ xương khớp Tổ chức công việc khoa học cũng góp phần làm giảm cường độ lao động, thay đổi hoạt động cơ, cơ có điều kiện hồi phục…góp phần giảm nguy cơ mắc dấu hiệu cơ xương khớp Các yếu tố khác như tuổi, giới tính, bệnh mãn tính và các chấn thương nghiêm trọng là các yếu tố ảnh hưởng đến nguy cơ mắc dấu hiệu cơ xương khớp Các hoạt động giải trí như: quần vợt, golf, trò chơi điện tử… cũng làm tăng nguy cơ mắc dấu hiệu cơ xương khớp[1]
Nhìn chung, nhóm bệnh cơ xương khớp liên quan đến đặc điểm phải di chuyển nhiều trong một ca lao động, tư thế không hợp lý trong thao tác, thời gian nghỉ ngơi hồi phục, tính chất lặp lại của công việc, tổ chức công việc, tuổi, giới, bệnh mãn tính
Tiếp theo là nhóm bệnh liên quan đến đường hô hấp Kết quả khảo sát nghiên cứu của nhóm tác giả Lê Trung và cộng sự cho thấy tỷ lệ công nhân dệt có
HUPH
Trang 23các biểu hiện viêm phế quản mạn giai đoạn I là 19%, giai đoạn II (ho, khạc đờm từ 2 tháng/ năm trở lên) là 5% Cũng theo nhóm tác giả trên số lượng bệnh bụi phổi bông giai đoạn I là 19% và Bệnh bụi phổi bông qua nghiên cứu ở 408 công nhân dệt tỷ lệ
là 8,9% [37] Nghiên cứu thực trạng chức năng hô hấp của công nhân May - Thái Nguyên tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang, sử dụng kỹ thuật đo chức năng
hô hấp trên 200 nữ công nhân May Thái Nguyên có tuổi đời từ 2 năm trở lên Kết quả thu được: Tỷ lệ nữ công nhân may suy giảm chức năng hô hấp khá cao (13% đến 14%) và đa số là thể tắc nghẽn (24/27 trường hợp) Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy mối liên quan giữa tuổi đời, tuổi nghề với suy giảm chức năng hô hấp ở công nhân may Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan rõ rệt giữa thực hành đảm bảo ATVSLĐ với hiện tượng suy giảm chức năng hô hấp ở công nhân may[8]
Những nhóm bệnh liên quan đến ô nhiễm bụi có tính dị ứng cao như bụi bông là viêm phế quản, hen, viêm đường hô hấp trên với tần suất cao hơn ở nhóm tiếp xúc so với nhóm nhân viên hành chính, ảnh hưởng của bụi đối với đường hô hấp khá rõ rệt[4] Theo Lê Thị Tuyết Lan, Lê Khắc Bảo khảo sát giá trị chuẩn đoán hen trên 130 công nhân may bằng lưu lượng đỉnh kế điện tử (3/2003 – 9/2003) Với thiết
kế đoàn hệ tiền cứu Công nhân tham gia vào nghiên cứu được hỏi và thăm khám lâm sàng hô hấp, chụp X quang lồng ngực thẳng, đo hô hấp kế (HHK) có làm test dãn phế quản trên HHK tiêu chuẩn Công nhân được đo PEF bằng lưu lượng đỉnh kế điện tử (LLĐKĐT) tại công ty trong 4 tuần liên tiếp với 4 thời điểm/ngày: đầu, giữa, cuối ca làm việc và buổi tối tại nhà Kết quả chỉ ra: xét nghiệm sử dụng là HHK cho
tỷ lệ hen 20%; 24,4% (sử dụng LLĐKĐT) Khi phối hợp cả 2 xét nghiệm tỷ lệ bệnh
là 30,2% Tỷ lệ như vậy là cao hơn so với dân số bình thường một cách có ý nghĩa Kết quả cũng cho thấy LLĐKĐT gợi ý khả năng hen nghề nghiệp là 10,5%[15] Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ ra hạn chế với cỡ mẫu 130 công nhân còn là quá nhỏ để đại diện cho quần thể công nhân May Cần nghiên cứu khác có cỡ mẫu lớn hơn để xác định lại tỷ lệ này
Nhóm cần kể đến khi nghiên cứu sức khỏe công nhân May là nhóm bệnh hệ thống thần kinh- tâm thần Đây là nhóm bệnh liên quan đến tác hại tổng hợp của nhiều yếu tố tác hại nghề nghiệp, trong đó có tác hại của tiếng ồn quá mức cho phép
HUPH
Trang 24Mặt khác tiếng ồn là yếu tố tác hại nghề nghiệp thường xuyên phát sinh của ngành dệt may trong quá trình vận hành máy móc Biểu hiện thường gặp sớm do tác hại của tiếng ồn thường thấy ở hệ thống thần kinh và tim mạch Các dấu hiệu xuất hiện ban đầu là ù tai sau đó xuất hiện các triệu chứng kèm theo như đau đầu, chóng mặt, mệt mỏi, khả năng nhạy cảm về thần kinh giảm, ngủ không ngon giấc, lo âu Theo Nguyễn Đình Dũng công nhân chưa có sự khác biệt nhóm bệnh này giữa nhóm công nhân trực tiếp và gián tiếp sản xuất Tác giả giải thích rằng công nhân có tuổi nghề dưới 10 năm chưa đủ thời gian tích lũy tiếng ồn để dẫn đến hậu quả có thể nhận thấy được trong quần thể tiếp xúc[4]
1.3 Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe người lao động
Sức khỏe con người có mối liên quan mật thiết với môi trường và chịu ảnh hưởng rất nhiều của môi trường bên ngoài Các yếu tố của môi trường (đất, nước, không khí, thực phẩm ) là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp của hầu hết bệnh tật hay các rối loạn cơ thể Bên cạnh đó các yếu tố xã hội và tinh thần cũng gây ảnh
hưởng lên sức khoẻ con người kể cả thể chất và tinh thần
Các yếu tố môi trường gây ảnh hưởng sức khỏe hoặc bệnh tật như sau:
Các yếu tố tâm lý bao gồm: Yếu tố căng thẳng thần kinh, công việc lặp đi lặp lại, thu nhập, các mối quan hệ cá nhân
Các yếu tố về tai nạn bao gồm: Các tai nạn lao động, tai nạn xe cộ và các trường hợp nguy hiểm khác
Các yếu tố vật lý bao gồm: Tiếng ồn, vi khí hậu, bụi, tia xạ, ánh sáng, cường độ lao động
Các yếu tố hoá học bao gồm: Hoá chất, thuốc, thực phẩm
Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lao động rất khác nhau trên mỗi cá thể, và phụ thuộc vào tuổi, giới, đặc điểm sinh lý của mỗi người[35] [51] [55]
Theo Tổ chức Y tế thế giới, 80% bệnh tật là có liên quan đến các yếu tố môi trường Chính vì vậy việc xác định các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ như thế nào là điều cơ bản cho việc tăng cường sức khoẻ con người
HUPH
Trang 25Dịch vụ y tế Chăm sóc sức khỏe ban đầu
Các yếu tố môi trường sống ở gia đình và cộng đồng, điều kiện kinh tế -
xã hội
Tình trạng sức khỏe bệnh tật và TNLĐ ở người lao động
Trang 26
Hình 2: Sức khỏe người lao động tại nơi làm việc trong mối quan hệ với các yếu tố tác hại nghề nghiệp[32]
Yếu tố cá nhân: Tuổi, giới, thể chất, ý
thức kỷ luật, nếp sống, thói quen
Yếu tố tâm, sinh
Yếu tố lý học: Vi
khí hậu, nóng, lạnh,
áp suất không khí bất thường, tiếng
ồn, rung xóc, ánh sáng, bức xạ ion hóa, bức xạ điện từ trường
Yếu tố gây tai nạn chấn thương: Tốc độ,
ánh sáng, điện, cháy nổ, sự cố hóa chất, ảnh hưởng rượu thuốc ……
Tình trạng sức khỏe bệnh tật, TNLĐ của người lao động ở nơi làm việc
HUPH
Trang 271.3.1 Sơ đồ quy trình sản xuất
Nghiên cứu các yếu tố nguy cơ trong môi trường lao động ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động căn cứ vào các yếu tố tác hại nghề nghiệp phát sinh trong quá trình sản xuất để phân tích nguy cơ sức khỏe của người lao động từ các yếu tố đó Quy trình sản xuất may mặc chung đều gồm 4 công đoạn chính: Công đoạn 1 (xếp vải, ráp mẫu, cắt), công đoạn 2 (may, kết), công đoạn 3 (là hơi), công đoạn 4 (kiểm hàng, đóng gói) Quy trình sản xuất được thể hiện dưới sơ đồ sau:
(Nguồn: Quy trình sản xuất tập đoàn dệt may Việt Nam)
Bụi, ồn, hơi khí , chất thải rắn, ánh sáng, tư thế đứng là chủ yếu
Bụi, ồn, hơi khí , ánh sáng
Tư thế ngồi là chủ yếu
Trang 28Dựa vào sơ đồ quy trình sản xuất trên ta thấy:
Nguyên liệu đầu vào là các loại vải của sản phẩm sẽ được cắt theo quy cách, khuôn mẫu, các chi tiết của sản phẩm sau khi được cắt xong sẽ được chuyển sang khâu ráp thành sản phẩm hoặc ráp để kết nối một số phụ kiện của sản phẩm Như sản phẩm mũ, được ráp vào các vải chi tiết như ruy băng, đệm lót, nhãn Một số chi tiết
sẽ được qua công đoạn thêu để làm đẹp sản phẩm và theo yêu cầu của khách hàng hoặc thiết kế
Sau khi các chi tiết vải đã được hoàn chỉnh sẽ được chuyển qua công đoạn may, sau khi may xong thành phẩm sẽ được ủi thẳng bằng các máy ủi Tiếp đó sản phẩm được đưa đến bộ phận kiểm tra trước khi đóng gói và nhập kho chờ xuất hàng sang thị trường nước ngoài xuất khẩu hoặc xuất ra thị trường tiêu thụ
Thực tế, các yếu tố phát sinh trong quy trình sản xuất của ngành may và dệt tương tự nhau Tuy nhiên, mức độ phát sinh các yếu tố tác hại nghề nghiệp ở ngành may và ngành dệt có thể khác nhau tùy quy mô sản xuất dẫn đến mô hình bệnh tật công nhân đặc thù theo từng ngành Nghiên cứu nguy cơ sức khỏe của người lao động gặp phải trong môi trường lao động sẽ quan tâm đến các yếu tố tác hại nghề nghiệp phát sinh trong môi trường lao động
Các yếu tố phát sinh trong quá trình hoạt động của các phân xưởng sản xuất:
Với mỗi quy trình sản xuất có những yếu tố nguy cơ khác nhau Nhìn chung, trong ngành công nghiệp dệt may có các yếu tố nguy cơ như: vi khí hậu, nhiệt độ, tiếng ồn, hơi khí, bụi Cụ thể:
Vi khí hậu: chủ yếu là nhiệt nóng phát sinh từ các khu vực sản xuất và vị trí
làm việc trong xưởng sản xuất, khác nhau theo mùa
Ồn: Nguồn tiếng ồn phát sinh do quá trình vận hành các thiết bị máy móc
Hơi khí: Hơi khí CO2 phát sinh từ quá trình sản xuất, công đoạn là hơi
Bụi: Chủ yếu là bụi vải phát sinh từ công đoạn xếp vải, cắt, may thành phẩm,
kéo sợi (quy trình dệt sợi)
Éc- gô-nô-mi và tư thế lao động: Mỗi một công đoạn sản xuất đặc trưng với
tư thế lao động riêng Công nhân trực tiếp may sản phẩm làm việc tư thế ngồi
là chủ yếu, công nhân làm việc các công đoạn phụ trợ cho may mặc như là
HUPH
Trang 29hơi, xếp ráp cắt mẫu thường làm việc tư thế đứng, công nhân dệt sợi làm việc
tư thế đứng và thường di chuyển nhiều Máy móc trang thiết bị thiết kế chung chưa phù hợp với từng cá nhân công nhân
Các yếu tố tác hại nghề nghiệp này là nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp làm rối loạn các bộ phận cơ thể, ảnh hưởng đến sức khỏe, làm giảm khả năng lao động Vì vậy trong môi trường lao động Bộ Y tế xây dựng tiêu chuẩn cho phép (TCCP) về vệ sinh lao động (VSLĐ) đối với các yếu tố THNN quy định rõ tại quyết định 3733/2002/QĐ – BYT Quyết định về việc ban hành 21 tiêu chuẩn vệ sinh lao động,
05 nguyên tắc và 07 thông số về vệ sinh lao động Nếu các yếu tố này vượt quá TCCP sẽ có tác động xấu đến sức khoẻ của người lao động, phát sinh ra những biến đổi bệnh lý dẫn đến xuất hiện các bệnh nghề nghiệp, thậm chí biểu hiện trầm trọng
1.4 Điều kiện làm việc của nữ công nhân dệt may tại khu công nghiệp
Cùng với sự phát triển nhanh của các khu công nghiệp là sự gia tăng nhanh chóng của số lượng công nhân đang làm việc ở các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Trong đó, tỷ lệ lớn là lao động nữ Theo tổng cục thống kê năm 2013, nữ giới chiếm 48,85 % lực lượng lao động, ba ngành nghề tập trung nhiều lao động nữ
là dệt may (75%), da giày (85%) và linh kiện điện tử (85%)[14] Trong thời gian gần đây, điều kiện lao động và môi trường dệt may cũng như sức khỏe người lao động đã được nhiều tác giả nghiên cứu Người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng, chủ yếu là lao động trẻ tuổi và chưa kết hôn, trong các khu công nghiệp xuất khẩu luôn phải làm việc trong điều kiện áp lực cao về tinh thần và thể chất[22] [28] Theo nghiên cứu của Trịnh Hồng Lân và cộng sự năm 2008, môi trường lao động của công ty may khu công nghiệp Đồng Nai còn có nhiều vị trí có các yếu tố môi trường chưa đảm bảo và có thể ảnh hưởng không tốt tới sức khỏe người lao động[17] Đặc trưng của ngành dệt may là chịu tác động của điều kiện nhiệt nóng Qua tài liệu hồi cứu kết quả đo kiểm môi trường ở 8/15 DN trên cả nước tham gia khảo sát cho thấy, nhiệt độ tại các thời điểm đo ở các doanh nghiệp miền Bắc, miền Trung, miền Nam trung bình 28,80C đều nằm trong giới hạn cho phép, cao nhất cũng chỉ 31,7oC Nhiệt độ miền Bắc cao hơn miền Trung và miền Nam[29] Nhưng theo kết quả nghiên cứu năm 2007, đánh giá cảm quan của người lao động tại môi
HUPH
Trang 30trường dệt sợi cho thấy có 80,8% người lao động cho là môi trường làm việc nóng
và rất nóng Ngoài điều kiện vi khí hậu nóng, môi trường làm việc ngành dệt may phát sinh nhiều bụi tại nhiều công đoạn điển hình là công đoạn cắt trong ngành may,
se sợi trong ngành dệt Lượng bụi phát sinh phụ thuộc vào loại vật liệu, tính chất của vật liệu sản xuất Cụ thể, với loại vải mềm sẽ phát sinh nhiều bụi trong công đoạn cắt hơn những loại vải cứng Tính chất bụi trong môi trường dệt sợi là bụi hữu
cơ từ vật liệu sản xuất Bụi khuếch tán trong không khí theo quy luật khác nhau, phụ thuộc vào cấu trúc nhà xưởng, biến đổi vi khí hậu Người lao động sản xuất trong môi trường nhiều bụi nếu không được bảo vệ sẽ có nguy cơ dễ nhiễm khuẩn, kết hợp với tác dụng cơ giới dễ gây viêm mũi họng, viêm thanh quản, viêm khí quản Không chỉ bụi, vi khí hậu nóng, tiếng ồn là yếu tố nguy cơ đến bệnh điếc nghề nghiệp Năm 2002, nghiên cứu đánh giá ảnh hưởng chất lượng môi trường đến sức khỏe người lao động trong các doanh nghiệp tại Hà Nội cho thấy: bệnh điếc nghề nghiệp từ 5,5% - 10,1% và lứa tuổi mắc bệnh thường gặp là 33 – 53 tuổi với thâm niên nghề nghiệp ít nhất là 12 năm Một nghiên cứu tại Pakistan, nghiên cứu tác động của tiếng ồn đến nguy cơ giảm thính lực đã chỉ ra: mức độ tiếng ồn trong môi trường may ở phạm vi 88,4 dB – 104 dB Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa mất thính lực với tuổi nghề hơn 10 năm[53] Điều này cho thấy việc tiếp xúc với tiếng ồn càng lâu nguy cơ mắc bệnh điếc càng cao Yếu tố tâm sinh lý lao động và Éc-gô-nô-mi là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe NCN cần đề cập đến Éc-gô-nô-mi là khoa học nghiên cứu mối liên quan giữa con người và môi trường lao động Mà NCN nước ta ngoại hình nhỏ bé, chiều cao trung bình 152,4 4,22 (cm), chiều cao ngồi 81,7 28 (cm), ngồi trên ghế đẩu làm việc Kích thước cơ thể không phù hợp với máy và phương tiện làm việc, thời gian làm việc không phải 8 giờ/ca, thực tế làm việc kéo dài tới 10- 12 giờ/ngày dẫn đến sự đau mỏi các bộ phận của cơ thể Một cuộc khảo sát đã chỉ ra rằng tỷ lệ đau mỏi các bộ phận sau
ca làm việc ở nhóm công nhân trực tiếp sản xuất may cao hơn nhóm làm việc văn phòng Riêng hội chứng đau mỏi ngón tay gặp ở nhóm làm việc văn phòng cao hơn do đặc điểm công việc sử dụng ngón tay bấm máy vi tính, viết lách nhiều, động tác đơn điệu lại lặp đi lặp lại gây mỏi ngón tay nhiều hơn Trong môi trường sản xuất của
HUPH
Trang 31công nhân dệt may, với mỗi công đoạn của quy trình sản xuất có tư thế đặc trưng riêng Kết quả khảo sát trên 15 doanh nghiệp may mặc trên cả nước năm 2004 số ng-ười trả lời làm việc trong tư thế ngồi chiếm tới 70,3%, đứng làm việc 16,3% và đi lại là 12,7%, đa số là nữ [29] Như vậy, môi trường làm việc của người lao động không an toàn, người lao động thường xuyên phơi nhiễm với tiếng ồn, bụi, hóa chất sản xuất nhưng lại không được cung cấp trang thiết bị bảo hộ thiết yếu, phù hợp Các quy trình sản xuất chưa được cơ giới hóa toàn bộ, chủ yếu dựa vào sức người, dẫn đến một số lượng lớn người lao động đối mặt với các yếu tố nguy cơ sức khỏe[47] Điều kiện môi trường lao động ngành dệt sợi, theo Bùi Hoài Nam nghiên cứu môi trường dệt sợi tại Hà Đông (2007) đặc thù môi trường lao động ngành dệt sợi là nóng, ồn, bụi cao[25] Nghiên cứu môi trường dệt sợi khác tại một số doanh nghiệp TP Hồ Chí Minh năm 2003 cho kết quả tương tự, môi trường lao động trong các phân xưởng dệt sợi nói chung là chưa tốt, ngoại trừ độ ẩm Nhiệt độ gió quá cao, tốc độ gió quá thấp, có 65% vị trí lao động tiếng ồn vượt TCCP và 41% vị trí lao động có bụi vượt TCCP[19] Kết quả nghiên cứu của trung tâm kiểm soát và phòng chống bệnh tật Trung Quốc năm 2008 nghiên cứu về tình hình sức khỏe nữ công nhân tại các khu công nghiệp cho thấy 47,8% nữ công nhân phơi nhiễm với bụi; 42,5% phơi nhiễm với hóa chất độc hại; 33,4% phơi nhiễm với các tác nhân vật lý, và nhiều nữ công nhân trong số đó phơi nhiễm với các yếu tố sinh học Trung bình có khoảng 51,9% nữ công nhân bị phơi nhiễm với nhiều hơn một yếu tố nguy hiểm ảnh hưởng đến sức khỏe trong môi trường làm việc[59] Rõ ràng, điều kiện môi trường làm việc chưa đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh sẽ tác động tiêu cực đến sức khỏe người lao động Điều này đã được chứng minh dựa vào những biểu hiện ngay sau ca làm việc của công nhân qua khảo sát đánh giá thực trạng an toàn vệ sinh lao động và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong ngành May Việt Nam Khảo sát tiến hành trên nhóm điều tra là nhóm công nhân trực tiếp sản xuất dây chuyền May và nhóm chứng là nhóm nhân viên văn phòng không tham gia sản xuất trực tiếp Khảo sát thu thập thông tin bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn dựa trên đánh giá chủ quan của người lao động về tình trạng sức khỏe của họ Kết quả chỉ rõ ảnh hưởng của điều kiện môi trường làm việc sau ca làm việc của nhóm điều tra Nổi
HUPH
Trang 32cổ 37,4%, nữ chiếm 33,91%; đau mỏi vai 28,21%, nữ chiếm 23,6%; đau mỏi cổ tay 14,58%, nữ 11,57%; đau mỏi thắt lưng 10,3%, nữ 8,71% Nữ chiếm tỷ lệ rất cao so với nam giới ( P< 0,05)[29] So với công nhân May, nghiên cứu trên ngành Dệt sợi
“thực trạng điều kiện lao động và tình hình sức khỏe của nữ công nhân phân xưởng Dệt Hà Đông (2007)” của tác giả Bùi Hoài Nam chỉ ra kết quả các triệu chứng công nhân gặp phải sau ca làm việc: triệu chứng mờ mắt chiếm tỷ lệ cao nhất (75%), đau đầu, ngứa ngạt mũi (67,3%), ù tai (59,6%), tức ngực (38,5%); đau mỏi bộ phận cao nhất là đau vai (46,2%), tiếp đến đau mỏi lưng (42,3%), đau mỏi các khớp (38,5%), đau mỏi cổ (36,5%), đau mỏi cột sống (34,6%); Tê nhức các bộ phận cơ thể: chiếm cao nhất là tê mỏi tay (32,7%), căng tức bắp chân (21,2%), tê mỏi chân (11,5%) Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thế Công nghiên cứu trên lĩnh vực da giầy, tỉ lệ đau mỏi cổ 51,4%, đau mỏi vai 35,7%, đau mỏi lưng 56,7%, đau mỏi thắt lưng 39,3% Sức khỏe của công nhân nữ phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng, ngoài điều kiện làm việc, công nhân nói chung còn ảnh hưởng bởi điều kiện sống, dịch vụ y tế Vì vậy, để đánh giá mức độ ảnh hưởng của tác hại nghề nghiệp tới sức khỏe công nhân thì những dấu hiệu/ triệu chứng, đau mỏi sau ca mà công nhân gặp phải sau làm việc là những minh chứng đặc thù sức khỏe nghề nghiệp của ngành
Như vậy, điều kiện làm việc là chủ đề được nhiều tác giả nghiên cứu từ trước đến nay Và qua tổng quan y văn nhận thấy điều kiện làm việc đã được đánh giá thông qua chỉ số đo kiểm môi trường Tiêu chuẩn đánh giá dựa trên cơ
sở “tiêu chuẩn vệ sinh lao động” do Bộ Y tế quy định và ban hành tháng 10/2002
HUPH
Trang 33kèm theo quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT ngày 10/10/2002 của Bộ trưởng Bộ
Y tế Không chỉ vậy, đánh giá điều kiện làm việc còn dựa vào bảng hệ thống chỉ tiêu về điều kiện lao động (gồm 22 yếu tố) Các yếu tố này được phân thành hai nhóm, nhóm thứ nhất về MTLĐ, nhóm thứ hai về tâm sinh lý lao động Trong đó nhóm thứ nhất gồm 10 yếu tố, nhóm thứ hai gồm 12 yếu tố Mỗi yếu tố MTLĐ được chia thành 6 bậc và được cho điểm theo thứ tự từ 1 đến 6 theo mức độ khắc nghiệt của từng yếu tố lên NLĐ, để tính mức độ khắc nghiệt tác động đồng thời của nhiều yếu tố ĐKLĐ Viện khoa học lao động và các vấn đề xã hội Việt Nam đã đưa
ra cách tính cho trường hợp các yếu tố của ĐKLĐ vượt TCVSCP nghĩa là số điểm khắc nghiệt từ 3 trở lên và dựa vào sự tác động của các yếu tố điều kiện khác nhau
mà chia ra các bậc điểm là 3,4,5,6 Yếu tố nhỏ hơn tiêu chuẩn có điểm là 1, bằng tiêu chuẩn có số điểm là 2, điểm 6 là mức độ khắc nghiệt nhất của yếu tố ĐKLĐ Mức độ khắc nghiệt tác động đồng thời của nhiều yếu tố điều kiện lao động bằng công thức có sẵn Hình thức thu thập thông tin về điều kiện môi trường thông qua
đo kiểm trực tiếp hoặc hồi sức số liệu thứ cấp về điều kiện làm việc, phát vấn hoặc phỏng vấn NLĐ sử dụng bộ câu hỏi thiết kế sẵn nhằm thu thập đánh giá khách quan
từ người lao động trực tiếp về môi trường làm việc của họ Nghiên cứu của Bùi Hoài Nam[25] tiến hành lấy mẫu đo kiểm môi trường theo thường quy kỹ thuật của Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường Đồng thời kết hợp với phát vấn các đối tượng nghiên cứu bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn tìm hiểu cảm nhận của đối tượng nghiên cứu về các yếu tố tác hại nghề nghiệp, điều kiện nhà xưởng, máy móc, trang thiết bị Mai Tuấn Hưng[10] cũng đánh giá môi trường công ty cổ phần Giầy Hải Dương (2010) qua đo kiểm môi trường lao động, phỏng vấn công nhân bằng bộ câu hỏi Điều kiện môi trường được đánh giá qua kết quả đo kiểm, tỷ lệ công nhân cảm nhận về các yếu tố độc hại trong môi trường, mức độ cảm nhận của công nhân
Đánh giá điều kiện làm việc thì như vây, còn tình trạng sức khỏe lại được đánh giá thông qua khám lâm sàng, khám cận lâm sàng, khám sức khỏe định kỳ, khám phát hiện bệnh nghề nghiệp, phỏng phấn phát vấn NLĐ dựa vào
bộ câu hỏi thiết kế sẵn Nghiên cứu Hoàng Thị Thúy Hà[7] đánh giá thực trạng sức khỏe của công nhân May Thái nguyên thông qua khám và phân loại bệnh
HUPH
Trang 341.5 Một số nghiên cứu liên quan
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa điều kiện làm việc - sức khoẻ của người lao động và năng suất, chất lượng của hoạt động lao động Những nghiên cứu này càng nhiều hơn và
đa dạng hơn bởi lẽ các yếu tố điều kiện ngày càng phức tạp, đa dạng do sự phát triển và ứng dụng nhanh chóng các thành tựu của khoa học kỹ thuật tiên tiến và hiện đại Bên cạnh đó là sự hội nhập quốc tế, cũng đồng nghĩa với cạnh tranh gay gắt Vấn đề sức khỏe công nhân lao động sản xuất đứng trước nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe nhiều hơn Chính vì vậy, có nhiều nghiên cứu trên công nhân khu công nghiệp nói chung, công nhân dệt may nói riêng, tiến hành theo nhiều hướng tiếp cận
và trên nhiều đối tượng khác nhau Dưới đây là một vài nghiên cứu minh chứng
1.5.1 Nghiên cứu ngoài nước
Trước tiên nghiên cứu về tác hại nghề nghiệp vấn đề sức khỏe đối với công nhân may tại nhà ở Thái Lan của nhóm tác giả Wanpen SongKham,Thanee Kaewthummanukul, Rujpas Poosawang nghiên cứu cho thấy tác hại nghề nghiệp của công nhân may gồm: nhiệt, bụi, chiếu sáng kém và yếu tố Éc-gô-nô-mi Những vấn
đề sức khỏe bao gồm thị giác (55,5%), hô hấp (12,6%) và thần kinh (10,9%)[56]
Theo kết quả nghiên cứu khác tại Philippin, đánh giá chỉ số nguy cơ tiếp xúc tác hại trong ngành may mặc của tác giả Jinky Leilanielu cho thấy 62% ngành may mặc có yếu tố độc hại tại nơi làm việc Yếu tố tổ chức có ảnh hưởng đến sức khỏe của nữ công nhân Đối với những công nhân có khả năng tự tổ chức công việc một cách phù hợp thì có sức khỏe tốt hơn[57]
HUPH
Trang 35Tại Pakistan (2009), nghiên cứu mô hình và những dự báo cho các triệu chứng, bệnh đường hô hấp, chức năng phổi ở các công nhân dệt may ở Karachi, Pakistan của tác giả Nafees AA1, Fatmi Z, Kadir MM, Sathiakumar N Với thiết kế nghiên cứu điều tra cắt ngang 372 nam công nhân dệt may bộ phận sợi và dệt của 15 nhà máy dệt sợi từ Karachi Thông tin thu thập bằng bảng hỏi và đo phế dung Kết quả cho thấy tỷ lệ bụi phổi bông (10,5%), ho mạn tính 7,5%, đờm mạn tính 12,9%, khò khè khó thở 22,3%, khó thở (giai đoạn II) 21%, tức ngực 33,3%, hen suyễn (4%) Nghiên cứu cũng chỉ ra nhóm yếu tố nguy cơ đến triệu chứng, bệnh hô hấp của công nhân dệt may Karachi: vị trí làm việc (cụ thể tại công đoạn dệt), trình độ học vấn thấp, thời gian làm việc kéo dài, nhóm dân tộc Sindhi[49]
Một nghiên cứu khác cũng tại Pakistan, Với mục tiêu xác định giảm thính lực của công nhân dệt sợi ở Karachi, Pakistan Nghiên cứu ghi lại mức độ tiếng ồn trong môi trường dệt so sánh với tiêu chuẩn quốc tế Nghiên cứu cắt ngang 248 công nhân tiếp xúc với tiếng ồn, tình trạng nghe của công nhân được đánh giá qua bảng hỏi và thử nghiệm lâm sàng Kết quả cho thấy mức độ tiếng ồn trong phạm vi 88,4
dB – 104 dB Có tới 92,7% công nhân nhận ra mức độ tiếng ồn cao; 57,2% không nhận thấy tác động của tiếng ồn đến sức khỏe; có 54,8% công nhân sử dụng thiết bị bảo vệ tai; 22,5% công nhân không đáp ứng tốt với thử nghiệm lâm sàng Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa mất thính lực với tuổi nghề hơn 10 năm ( 25%) và có làm thêm giờ (28,8%)[53]
Nghiên cứu tìm hiểu mối liên hệ giữa mất thính giác, huyết áp, động mạch của người lao động nữ tiếp xúc với tiếng ồn nghề nghiệp trong nhà máy dệt cho kết quả mức tiếng ồn trong môi trường làm việc từ 80.1dB - 113.5dB, trong đó có 92,5%
vị trí đo vượt tiêu chuẩn quốc gia Tỷ lệ mất thính giác tần số cao (HFHL) là 24,43%
và khiếm thính tần số ngôn ngữ (LFHI) là 0,81% Tỷ lệ mắc bệnh cao huyết áp là 7,93% Cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương trong nhóm mất thính giác tần
số cao là cao hơn so với những người trong nhóm nghe bình thường (p<0,05) Ngưỡng nghe tần số cao (HFHT) của nhóm tăng huyết áp là cao hơn so với nhóm huyết áp bình thường (p <0,05) đáng kể Kết quả nghiên cứu cho thấy ô nhiễm tiếng
HUPH
Trang 36vì bệnh hô hấp (37,3%), nghỉ để điều dưỡng (17,0%), tai nạn thương tích (9,3%), rối loạn cơ xương và mô liên kết (7,9%) Dữ liệu được phân loại liên quan đến giới tính, nghề nghiệp, và các loại bệnh tật Tuổi đã được nhóm lại theo nhóm: dưới 29 tuổi, 30-39 tuổi, 40-49 tuổi, và hơn 50 tuổi Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ mắc bệnh tăng theo tuổi và giới tính cụ thể tỷ lệ mắc bệnh ở nữ giới cao hơn nam giới 1,5 lần[58]
HUPH
Trang 371.5.2 Nghiên cứu trong nước
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Trinh Hương khảo sát đánh giá các yếu tố môi trường và điều kiện đối với công nhân ngành may đã chỉ ra có ba yếu tố có khả năng gây ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường không khí trong xưởng may là : nhiệt, bụi, hơi khí độc, nhất là khu vực là hơi có hơi nóng ẩm, thông gió là giải pháp khắc phục khả thi nhất[11]
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đình Dũng và cộng sự cho thấy rằng tuổi đời
và tuổi nghề của người lao động ngành may còn tương đối trẻ Các bệnh cấp tính thường mắc như: Bệnh tai mũi họng (45%), giảm thị lực (37,8%), bệnh ngoài da (25,9%), bệnh suy nhược thần kinh (8,7%)[6]
Dự án cải thiện điều kiện môi trường của trung tâm y tế Dệt may đã đưa ra nhận định trong môi trường lao động xấu như nhiệt độ không khí trong xưởng nóng,
độ thông thoáng kém, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe có nhiều khả năng là một trong những nguyên nhân làm tăng nhanh quá trình giảm sự minh mẫn, sức dẻo dai của cơ thể và năng suất làm việc của người lao động[23] [24]
Nghiên cứu sức khỏe của công nhân nữ phân xưởng dệt Hà Đông Hà Tây (2007) của tác giả Bùi Hoài Nam Nghiên cứu mô tả cắt ngang, chọn toàn bộ nữ công nhân Dệt (52 người) được phát vấn thu thập thông tin và khám sức khỏe Kết quả nghiên cứu cho thấy 100% mẫu đo trong phân xưởng dệt có nhiệt độ, tốc độ gió, ánh sáng không đảm bảo TCCP; 2/3 khu vực máy có tiếng ồn và nồng độ bụi toàn phần vượt TCCP đó là khu vực máy mắc và khu máy dệt Sức khỏe của người lao động chiếm nhiều nhất là sức khỏe loại II và loại III Có 5,8% người lao động có sức khỏe loại IV (sức khỏe yếu), các bệnh công nhân gặp phải nhóm bệnh răng hàm mặt chiếm chủ yếu (63,5%), Tai mũi họng (25%), mắt (23,1%), tiêu hóa (13,5%), phụ khoa (11,5%), sinh học (11,5%) Triệu chứng bệnh, đau mỏi sau ca lao động chủ yếu mờ mắt (75%), ngứa ngạt mũi (67,3%), ù tai (59.6%), đau mỏi vai (46,2%), đau mỏi lưng (42,3%), đau mỏi các khớp (38,5%), tê mỏi tay (32,7%)[25]
Kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thanh Ngọc cho thấy hầu hết các phân xưởng và mẫu đo nhiệt độ không đạt tiêu chuẩn cho phép: Thao tác lao động đơn điệu (64,7%), công việc bị thúc bách về thời gian (60,9%)[30]
HUPH
Trang 38Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thúy Hà về thực trạng một số chứng bệnh thường gặp và yếu tố liên quan ở công nhân công ty may Thái Nguyên Nghiên cứu tiến hành khảo sát trên công nhân may, lao động trực tiếp tại các công đoạn dây chuyền may được chia làm 2 nhóm: nhóm công nhân may dây chuyền tiếp xúc với công việc, môi trường đặc thù của ngành may Nhóm nghề khác cũng làm việc trong môi trường song chỉ là những công việc phụ trợ cho dây chuyền như: là, ủi, sửa chữa máy, kho, vật tư và vận chuyển…Kết quả đã chỉ ra rằng : Tỷ lệ mắc các chứng, bệnh mạn tính ở mũi họng, phế quản, tuần hoàn tương đối cao: Tỷ lệ bệnh viêm mũi họng mạn tính là 9.5%, viêm phế quản mạn tính là 4.5%, hệ tuần hoàn là 6.8%, các bệnh
về mắt là 4.75% Đặc biệt có 2 trường hợp mắc bệnh bụi phổi bông nghề nghiệp Các bệnh mũi họng, phế quản mạn tính mắc với tỷ lệ cao và mắc sớm khi công nhân mới vào nghề Bệnh viêm phế quản mạn tính tăng theo tuổi nghề Tỷ lệ khó thở, ho khạc đờm trong viêm phế quản mạn tính phụ thuộc vào các hoạt động gắng sức và theo mùa tương đối rõ rệt Nghiên cứu cũng chỉ ra có mối liên quan giữa công nhân
sử dụng khẩu trang, học các nội quy ATVSLĐ và các chứng, bệnh Tỷ lệ mắc bệnh mũi họng ở nhóm công nhân không sử dụng khẩu trang hoặc sử dụng khẩu trang không đúng cách cao gấp 3 lần nhóm sử dụng khẩu trang hợp cách Tỷ lệ mắc bệnh
da trong bộ phận may dây chuyền cao gấp 3 lần nhóm không được học hoặc học không đầy đủ các quy trình vệ sinh an toàn lao động Tỷ lệ bệnh mắt ở nhóm có sử dụng kính bảo hộ lao động thấp hơn nhóm không sử dụng kính bảo hộ lao động[7]
Theo kết quả nghiên cứu mệt mỏi trong lao động của công nhân ngành may công nghiệp tại một số tỉnh phía Nam của tác giả Trịnh Hồng Lân: Công nhân may
đa số là công nhân trẻ, có 65% công nhân có độ tuổi dưới 35, với 89% là nữ Nhóm công nhân làm các công việc đơn điệu mệt mỏi hơn những công nhân làm những công việc đa dạng và công nhân làm việc gián tiếp bị mệt mỏi ít hơn những công nhân trực tiếp vận hành máy may công nghiệp[20]
Một nghiên cứu khác của tác giả Trịnh Hồng Lân chỉ ra ghế ngồi cho công nhân may chưa phù hợp với các nguyên tắc phù hợp với Éc-gô-nô-mi, tạo ra nguy cơ đau thắt lưng cho công nhân khi phải ngồi liên lục, kéo dài Cường độ lao động rất cao thời gian lao động kéo dài, không có các khoảng thời gian nghỉ ngắn trong suốt
HUPH
Trang 39ca lao động tạo nguy cơ căng thẳng, mệt mỏi và rối loạn cơ xương cho người lao động Môi trường lao động tại các phân xưởng may vào các thời điểm khảo sát tồn tại chủ yếu là gánh nặng nhiệt nhất là vào buổi chiều và mùa khô Dễ gây cảm giác mệt mỏi căng thẳng cho người lao động, gây “stress nhiệt” [16]
Nghiên cứu stress nghề nghiệp ở công nhân ngành may công nghiệp tại một
số tỉnh phía nam cho thấy tỷ lệ công nhân có biểu hiện stress nghề nghiệp dưới nhiều mức độ khác nhau là 71% Nhóm công nhân trẻ dưới 31 tuổi có tỉ lệ bị stress nghề nghiệp cao hơn hẳn nhóm công nhân có tuổi đời ≥ 31 tuổi, công nhân có tuổi nghề thấp bị stress nhiều hơn công nhân có tuổi nghề cao Có sự khác biệt về tỉ lệ stress nghề nghiệp ở nhóm công nhân làm việc ở công ty nước ngoài và công ty trong nước, công nhân làm việc ở công ty[18]
Theo tác giả Nguyễn Đình Dũng nghiên cứu môi trường lao động gây nguy
cơ đến sức khỏe công nhân và đáp ứng dịch vụ y tế trong ngành Dệt sợi Tác giả dựa vào phân tích kết quả khám sức khỏe định kỳ công nhân các công ty trên 3 miền trong năm 1998 cho thấy có 5 nhóm bệnh thường gặp nhất sắp xếp từ cao đến thấp là bệnh đường hô hấp, bệnh đường tiêu hóa, bệnh da liễu, bệnh phụ khoa và bệnh cơ – xương – khớp Bệnh nghề nghiệp điển hình của ngành dệt sợi là bụi phổi bông và điếc nghề nghiệp[4]
Tổng quan y văn kết quả nghiên cứu về sức khỏe công nhân làm việc trong môi trường may công nghiệp:
Môi trường có các yếu tố nguy cơ sức khỏe: nhiệt, bụi, tiếng ồn, chiếu sáng kém, hơi khí, Éc-gô-nô-mi, gánh nặng nhiệt
Công việc đơn điệu, tư thế gò bó, căng thẳng
Các nhóm bệnh đặc trưng của công nhân dệt may: Bệnh cơ xương khớp,
bệnh đường hô hấp
Nhìn chung, ngành công nghiệp dệt may là ngành công nghiệp đóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam Thời gian qua đã có không ít nghiên cứu triển khai trong ngành công nghiệp này, đã ít nhiều cho chúng ta thấy mô hình bệnh tật của từng ngành, phân loại sức khỏe công nhân lao động, bệnh nghề nghiệp, đặc điểm điều kiện lao động Phương pháp nghiên cứu cứu chủ yếu là khám
HUPH
Trang 40sức khỏe, đo kiểm điều kiện lao động, hồi cứu số liệu thứ cấp về kết quả khám sức khỏe định kỳ, số ngày nghỉ ốm Tuy nhiên, các nghiên cứu thường triển khai với cỡ mẫu nhỏ, từng ngành, hay phạm vi nghiên cứu thường trong 1 công ty một vùng Ít nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng của điều kiện lao động đến sức khỏe của công nhân
Xuất phát từ những lỗ hổng trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng sức
khỏe và một số yếu tố liên quan của nữ công nhân ngành dệt may tại một số khu
công nghiệp Việt Nam năm 2014” Nghiên cứu xây dựng với cỡ mẫu lớn trên đối
tượng nữ công nhân dệt và nữ công nhân may tại 3 công ty của 3 khu công nghiệp Phố Nối (Hưng Yên), Phú Bài (Đà Nẵng), Long Thành (Đồng Nai) đại diện 3 miền Bắc, miền Trung, miền Nam Nghiên cứu triển khai nhằm khái quát về tình hình sức khỏe ngành dệt may tại một số khu công nghiệp Việt Nam và tìm hiểu ảnh hưởng của điều kiện làm việc đến sức khỏe của người lao động đặc biệt là đối tượng nữ công nhân đồng thời nghiên cứu so sánh tình hình sức khỏe, thực trạng điều kiện làm việc giữa 3 công ty đại diện 3 miền Nghiên cứu triển khai với cỡ mẫu lớn ở công nhân dệt và công nhân may trên phạm vi 3 công ty đại diện cho 3 vùng miền Việt Nam
1.6 Mô tả ngành công nghiệp dệt may
Ngành công nghiệp dệt may với tốc độ tăng trưởng trung bình 14,5%/năm giai đoạn 2008 – 2013 đưa Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng ngành dệt may lớn nhất thế giới Năm 2013, dệt may là ngành xuất khẩu lớn thứ 2 cả nước Sản phẩm dệt may Việt Nam xuất khẩu đến hơn 180 quốc gia và vùng lãnh thổ với giá trị xuất khẩu đạt 17,9 tỷ USD, kim ngạch xuất khẩu đạt 13,6%
tổng kim ngạch xuất khẩu Việt Nam và 10,5% GDP của cả nước [34]
Hiện nay ở Việt Nam có trên 6000 doanh nghiệp dệt may thu hút khoảng 2,5 triệu lao động chiếm khoảng 25% lao động của khu vực kinh tế công nghiệp Việt Nam Phần lớn các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân (84%), tập trung ở Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Hồng (60%) Các doanh nghiệp may chiếm khoảng 70% tổng số doanh nghiệp trong ngành, se sợi chiếm 6%, dệt đan chiếm 17%, nhuộm chiếm 4%, công nghiệp phụ trợ chiếm 3%[34]
HUPH