MỘT SỐ KHÁI NIỆM
Giới tính là khái niệm sinh học chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ, liên quan đến sinh đẻ và di truyền Đặc trưng giới tính của mỗi người thường không thay đổi và được xác định ngay từ quá trình thụ thai Trong quá trình phát triển thai nhi, các biểu hiện giới tính dần hình thành, cho thấy thai nhi đã mang đặc điểm giới tính của mình ngay trong bụng mẹ Hiện nay, nhờ vào công nghệ hiện đại như siêu âm và chọc dò màng ối, giới tính thai nhi có thể được xác định sớm Siêu âm cho phép quan sát cấu trúc cơ quan sinh dục từ tuần thứ 14, trong khi chọc dò màng ối giúp phân tích các chỉ số di truyền ngay từ những tuần đầu của thai kỳ.
Giới tính là khái niệm phản ánh sự khác biệt giữa nam và nữ trong xã hội Dựa trên những khác biệt sinh học, xã hội thiết lập các quy định và chuẩn mực riêng cho nam giới và phụ nữ Tuy nhiên, các đặc trưng giới không phải là cố định mà có thể thay đổi theo quan niệm và nhận thức của xã hội.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ số giới tính được xác định là số bé trai sinh ra trên 100 bé gái, là một chỉ số nhân khẩu học quan trọng Chỉ số này không chỉ phản ánh cơ cấu giới tính của một quần thể dân số mà còn cung cấp thông tin về bình đẳng giới, cũng như những thách thức và trở ngại mà các nhà hoạch định chính sách dân số và xã hội phải đối mặt.
Theo quy luật sinh sản tự nhiên, khi thống kê trên một cộng đồng dân cƣ thì tỷ
HUPH số giới tính khi sinh thường giao động trong khoảng 104-106 bé trai/100 bé gái (6)
1.1.4 Tỷ số giới tính khi sinh
Tỷ số giới tính khi sinh (SBR) là tỷ lệ số trẻ trai được sinh ra so với 100 trẻ gái trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm, tại một quốc gia, vùng hoặc tỉnh.
Dữ liệu về số sinh có thể được thu thập từ ba nguồn chính: thống kê từ các cuộc điều tra, sổ sách và biểu mẫu ghi chép của cán bộ dân số cơ sở; thống kê tại cơ sở y tế; và thống kê từ việc khai sinh tại cơ quan tư pháp Tuy nhiên, việc thống kê có thể gặp nhiều sai sót, chẳng hạn như tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh có thể ảnh hưởng đến số liệu do nhiều gia đình không muốn khai báo về những đứa trẻ đã sinh ra nhưng không sống sót Ngoài ra, số liệu tại cơ sở y tế có thể bị trùng lặp khi một bà mẹ có hồ sơ thai nghén tại một cơ sở nhưng lại sinh con tại cơ sở khác.
1.1.5 Mất cân bằng giới tính khi sinh
Mất cân bằng giới tính khi sinh xảy ra khi số trẻ trai sinh ra còn sống vượt quá hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái Cụ thể, tỷ số giới tính trẻ trai khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ gái được coi là mất cân bằng.
Nhiều cặp vợ chồng áp dụng các biện pháp như chế độ dinh dưỡng, thuốc bổ, và tính ngày rụng trứng để mong muốn có thai nhi giới tính nam Họ cũng thực hiện siêu âm sớm để xác định giới tính và có thể nạo phá thai nếu thai nhi không đạt yêu cầu Nghiên cứu về tỷ số giới tính khi sinh cho thấy thông tin về giới tính trẻ em theo thứ tự sinh và số lượng con trai, con gái đã sinh trước đó là rất quan trọng Tại Việt Nam, tỷ số giới tính khi sinh của trẻ đầu lòng thường cao hơn mức trung bình, trong khi tỷ số này ở con thứ hai thấp nhất và tăng dần ở các lần sinh thứ ba và thứ tư.
THỰC TRẠNG MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
1.2.1 Thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh của thế giới và châu Á
Tính đến năm 2021, dân số nam giới toàn cầu đạt 3,970 tỷ, chiếm 50,42% tổng dân số, trong khi dân số nữ ước tính là 3,905 tỷ, tương đương 49,58%.
Tỷ số giới tính toàn cầu năm 2021 là 101,68 nam/100 nữ, với phần lớn các quốc gia có số nữ nhiều hơn nam Tuy nhiên, Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia đông dân nhất, lại có tỷ lệ nam giới cao hơn Nếu không tính dân số của hai quốc gia này, số nữ giới vượt trội hơn nam giới ở các nước khác Qatar dẫn đầu với tỷ số 3 nam/1 nữ, tiếp theo là Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất với 222 nam/100 nữ, và Oman với gần 2 nam/1 nữ Cùng với Bahrain, Maldives và Kuwait, những quốc gia này có tỷ lệ nam/nữ trên 150 Trong danh sách 10 quốc gia có tỷ lệ nam/nữ cao nhất, có tám quốc gia thuộc châu Á và hai quốc gia thuộc châu Phi.
Tỷ số giới tính khi sinh trên thế giới tính năm 2021 là 107 trẻ trai/ 100 trẻ gái
Tỷ số giới tính khi sinh ở các quốc gia dao động từ 101 đến 112 trẻ trai trên 100 trẻ gái, với bốn quốc gia có tỷ số cao nhất là Azerbaijan (112/100), Trung Quốc (111/100), Ấn Độ và Việt Nam (110/100) Đáng chú ý, tất cả bốn quốc gia này đều nằm ở châu Á.
Mất cân bằng giới tính khi sinh ở Trung Quốc lần đầu tiên được ghi nhận vào năm 1982 với tỷ lệ 108,47, sau đó tăng nhanh lên mức cao nhất 121,18 vào năm 2004 Từ đó, tỷ lệ này dao động quanh mức 120 Kể từ năm 2009, mức mất cân bằng giới tính đã giảm chậm, từ 120,56 vào năm 2008 xuống còn 113 vào năm 2020.
Dự báo đến năm 2025, tỷ suất gia tăng dân số (TSGT) có thể giảm xuống còn 103,3, và đến năm 2050 sẽ còn 100,9 Hiện tại, tỷ suất gia tăng dân số của Trung Quốc vẫn đang ở mức cao nhất thế giới và chưa có dấu hiệu dừng lại.
Sự mất cân bằng giới tính khi sinh ở Trung Quốc đã bắt đầu từ một số tỉnh và sau đó lan rộng ra toàn quốc, ảnh hưởng đến cả khu vực nông thôn lẫn thành thị.
32 tỉnh của Trung Quốc có 19 tỉnh có TSGTKS ở mức bình thường vào năm 1982 và đến năm 2015 chỉ còn 1 tỉnh (19)
Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) ở Trung Quốc đã tăng lên do phản ứng của cha mẹ với việc không sinh con trai Năm 1982, TSGTKS ở trẻ thứ nhất và thứ hai là bình thường, nhưng ở trẻ thứ ba trở lên đã đạt mức 127, cao hơn nhiều so với mức bình thường Đến năm 1990, TSGTKS ở trẻ thứ hai và trẻ thứ ba trở lên đã có sự lệch lạc, và đến năm 2010, TSGTKS ở trẻ thứ nhất cũng trở nên bất thường Tuy nhiên, đến năm 2015, TSGTKS của các lứa tuổi đã giảm đáng kể, trong đó TSGTKS của trẻ đầu tiên vẫn cao nhưng đã giảm xuống dưới 110, với tỷ số giới tính của trẻ thứ hai giảm mạnh nhất.
Nghiên cứu năm 2021 của Jiang và cộng sự tại Trung Quốc cho thấy nỗ lực sinh con trai là một chiến lược hợp lý để đối phó với tình trạng suy giảm mức sinh trong các cặp vợ chồng sống theo chế độ phụ hệ Trong bối cảnh sinh hạn chế, các cặp vợ chồng đã thích nghi bằng cách xác định giới tính thai nhi để thực hiện sở thích sinh con trai Ba điều kiện tiên quyết cho sự xuất hiện của tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh (TSGTKS) bao gồm sự cấp bách do mức sinh giảm, tâm lý ưa thích con trai và công nghệ lựa chọn giới tính Tại Ấn Độ, TSGTKS đã gia tăng đều đặn từ năm 1981 đến 2001, đặc biệt nghiêm trọng trong giai đoạn 1991-2001, với tỷ lệ lên đến 113,6 ở một số khu vực Từ 2004 đến 2006, TSGTKS của Ấn Độ là 112,1, và đến năm 2020, tỷ lệ này vẫn duy trì ở mức 110/100.
Nghiên cứu của Singh và cộng sự trên 553.461 ca sinh từ năm 2005 đến 2016 ở Ấn Độ cho thấy tỷ lệ giới tính của trẻ sơ sinh (TSGTKS) liên quan đến thứ tự sinh, giới tính của trẻ, số con trai và con gái mong muốn, cũng như khả năng sinh sản TSGTKS tăng theo thứ tự sinh, dao động từ 107,5 cho lần sinh đầu tiên đến 112,3 cho lần sinh thứ ba trở lên Đặc biệt, TSGTKS khi không có anh chị em nam còn sống là 111,4, cao hơn mức bình thường về mặt sinh học và khác biệt đáng kể so với TSGTKS khi có anh chị em nam còn sống (105,8).
Nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt đáng kể giữa các bà mẹ mong muốn có số con trai và con gái bằng nhau hoặc nhiều con gái hơn con trai (103,3) so với những bà mẹ muốn có nhiều con trai hơn con gái (130,4) TSGTKS được xác định nằm trong giới hạn bình thường khi mức sinh ở cộng đồng trên 2,8 con/phụ nữ (103,7) Tỷ lệ này tăng lên 111,9 ở các bà mẹ thuộc các cộng đồng có mức sinh trung bình là 1 con/phụ nữ (24).
Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) có sự biến đổi rõ rệt theo đặc điểm kinh tế xã hội Cụ thể, TSGTKS tăng lên khi trình độ học vấn của bà mẹ cao hơn; tỷ lệ này thấp hơn đáng kể ở những bà mẹ không có học vấn so với những bà mẹ đã hoàn thành chương trình trung học cơ sở Ngoài ra, TSGTKS cũng thay đổi theo mức độ giàu có của hộ gia đình, với sự khác biệt thống kê rõ rệt giữa nhóm nghèo nhất (105,8) và nhóm giàu nhất (116).
Tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) có sự chênh lệch rõ rệt giữa các khu vực, với TSGTKS ở thành phố đạt 111,4, cao hơn so với 108,8 ở nông thôn Theo vùng địa lý, miền Bắc ghi nhận TSGTKS cao nhất với 116,0, trong khi miền Đông Bắc có TSGTKS thấp nhất là 105,8 Ngoài ra, TSGTKS cũng tăng lên ở miền Tây (111,4) và miền Trung (109,2).
Hàn Quốc không áp dụng chính sách kế hoạch hóa gia đình nghiêm ngặt như Trung Quốc, nhưng tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) đã tăng từ những năm 1980 do sự phát triển của công nghệ y học và tỷ suất sinh giảm TSGTKS đạt đỉnh vào đầu những năm 1990 với 116,6/100, sau đó giảm dần Sự gia tăng TSGTKS ở Hàn Quốc chủ yếu do việc sử dụng kỹ thuật chẩn đoán để lựa chọn giới tính thai nhi và ảnh hưởng của thứ tự sinh Đến đầu thế kỷ 21, Hàn Quốc vẫn đứng đầu về TSGTKS cao (111,0 vào năm 2003, đứng thứ 2 thế giới) và dẫn đầu trong việc hoàn thành thời kỳ quá độ Đến năm 2007, tỷ số này giảm xuống còn 107,0, xếp hạng 20, và vào năm 2010, gần đạt mức bình thường với 106,9, tiệm cận ngưỡng chuẩn sinh học.
Tính đến thời điểm hiện tại, TSGTKS tại Hàn Quốc đã đạt ngưỡng sinh học 105, khẳng định vị thế của quốc gia này trong việc giải quyết MCBGTKS Hàn Quốc là quốc gia đầu tiên thành công trong lĩnh vực này và nhận được sự đánh giá cao từ quốc tế, mặc dù quá trình này đã kéo dài gần 20 năm với những giải pháp quyết liệt.
Theo nghiên cứu mới nhất năm 2021 của Chao, Guilmoto và cộng sự, nhóm nghiên cứu đã đưa ra các dự báo về tỷ số giới tính tại các khu vực đô thị và nông thôn từ năm 2021 đến năm 2100 Dự báo này dựa trên các kịch bản chuyển đổi tỷ số giới tính khác nhau và đánh giá tác động của chúng.
HỆ QUẢ CỦA MẤT CÂN BẰNG GIỚI TINH KHI SINH
- Khó khăn trong việc kết hôn: nam giới khó lấy đƣợc vợ, tăng khả năng sống độc thân, điều này cũng gây ra những căng thẳng tâm lý (6)
Gia tăng bạo lực và bất bình đẳng giới trong gia đình đang trở thành vấn đề nghiêm trọng, khi người vợ phải đối mặt với áp lực từ chồng và gia đình chồng nếu chưa sinh được con trai Việc phá thai do thai nhi không đạt giới tính mong muốn không chỉ ảnh hưởng tiêu cực đến thể chất và tinh thần của phụ nữ, mà còn làm tăng nguy cơ băng huyết, tổn thương cổ tử cung, nhiễm trùng, và có thể dẫn đến vô sinh.
Phụ nữ có thể trải qua sự ngược đãi, phụ tình và ruồng bỏ khi không sinh được con trai Theo nghiên cứu của UNFPA năm 2019, tại Việt Nam, 63% phụ nữ đã từng bị ít nhất một hình thức bạo lực từ chồng trong suốt cuộc đời, và 32% đang phải đối mặt với bạo lực trong 12 tháng qua Các hình thức bạo lực này bao gồm bạo lực thể xác, bạo lực tình dục, bạo lực tâm lý (bao gồm bạo lực tinh thần và kiểm soát hành vi) và bạo lực kinh tế.
Cứ ba phụ nữ thì có một phụ nữ (32%) bị chồng bạo lực thể xác và/hoặc bạo lực tình
Theo thống kê, cứ mười phụ nữ thì có một người đã trải qua bạo lực từ chồng trong vòng 12 tháng qua Đặc biệt, phụ nữ trẻ từ 20 đến 44 tuổi có nguy cơ cao hơn về bạo lực thể xác và/hoặc bạo lực tình dục so với các nhóm tuổi khác.
Việc sinh nhiều con trai có thể dẫn đến tình trạng nam giới khó khăn trong việc kết hôn, thậm chí kết hôn muộn hoặc không thể kết hôn do thiếu vợ Từ năm 1995 đến 2004, Đài Loan đã cấp 84.497 visa cho cô dâu Việt Nam và hàng chục nghìn visa cho các cô dâu từ các nước Đông Nam Á khác Hôn nhân với người nước ngoài ngày càng phổ biến, nhưng thường không dựa trên tình yêu mà chủ yếu dựa vào tiền bạc, dẫn đến nhiều bi kịch.
Nam giới đến tuổi kết hôn nhưng không tìm được vợ có thể dẫn đến gia tăng các tệ nạn xã hội như lừa đảo, bắt cóc, hiếp dâm và buôn bán phụ nữ, gây ra bất ổn cho xã hội Tại Trung Quốc, sự thiếu hụt phụ nữ đã khiến đàn ông tìm kiếm vợ ở các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam.
Trong những năm gần đây, Ấn Độ đã chứng kiến sự gia tăng đáng báo động về các vụ hãm hiếp phụ nữ, với trung bình một vụ xảy ra mỗi 22 phút Nguyên nhân chính của tình trạng này là bất bình đẳng giới, một hệ quả của việc thiếu hụt nữ giới trong xã hội.
Sở thích sinh con trai trong xã hội đang gây ra những tác động tiêu cực đến cấu trúc giới tính và độ tuổi của nhóm người trưởng thành Dự báo của UNFPA cho thấy đến năm 2040, sự dư thừa nam giới có thể đạt tới 12% Tình trạng này có thể trở nên nghiêm trọng hơn nếu tỷ số giới tính khi sinh vượt quá 120, với mức chênh lệch trên 20% trước năm 2050 Tỷ số giới tính ở những người trong độ tuổi kết hôn có thể còn cao hơn, đặc biệt tại hai khu vực cận đô thị Dự kiến, sự chênh lệch giữa số lượng nam và nữ trưởng thành vào năm 2050 sẽ dao động từ 2,3 triệu đến 4,3 triệu người.
SỞ THÍCH SINH CON TRAI VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Theo các nhà phân tích của UNFPA, sở thích sinh con trai ở các nước Châu Á và Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi ba nhóm yếu tố chính: quan niệm và chuẩn mực xã hội, áp lực từ gia đình và xã hội cùng với các chính sách của Nhà nước, và sự tiếp cận dễ dàng công nghệ.
HUPH xác định, lựa chọn giới tính thai nhi (1,47)
1.4.1 Các quan niệm, chuẩn mực xã hội và phong tục tập quán
Việt Nam là quốc gia nơi tư tưởng Nho giáo đóng vai trò quan trọng, với các giá trị cốt lõi như nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên và chăm sóc cha mẹ khi về già.
Quan niệm truyền thống cho rằng chỉ con trai mới có thể nối dõi tông đường và thờ cúng tổ tiên, trong khi con gái phải lo cho gia đình chồng Ở nông thôn, người cao tuổi thường không có lương hưu, cuộc sống phụ thuộc vào con cái, mà trách nhiệm này thường thuộc về con trai Con gái sau khi lấy chồng sẽ chăm sóc gia đình chồng và không còn lo cho bố mẹ mình Điều này khiến người già lo lắng khi không có con trai, vì lao động và thu nhập từ con trai được coi là đầu tư cho phúc lợi của cha mẹ, trong khi con gái lại phục vụ cho gia đình chồng Nhiều cặp vợ chồng ở nông thôn mong muốn có con trai để đảm bảo cả về tinh thần lẫn kinh tế cho gia đình.
Sở thích sinh con trai và mong muốn có nhiều con không phải là điều ngẫu nhiên, mà đã ăn sâu vào tâm thức của người dân Việt Nam từ lâu Quan niệm này vẫn tồn tại, khiến các cặp vợ chồng lo lắng về việc không có con trai Tư tưởng trọng nam khinh nữ là nguyên nhân chính dẫn đến tâm lý này, nhiều gia đình đã có hai con gái nhưng vẫn hy vọng sinh thêm để có được con trai.
Sở thích sinh con trai thường gắn liền với nhu cầu nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên và chăm sóc phần mộ của ông bà.
Theo nghiên cứu của UNFPA, người Việt Nam thường ưa thích con trai hơn con gái do nhiều yếu tố phức tạp, bao gồm hệ tư tưởng văn hóa và quan niệm rằng chỉ có nam giới mới có thể tiếp nối dòng tộc và thực hiện việc thờ cúng tổ tiên Con trai không chỉ đảm nhận vai trò lo tang lễ và cúng giỗ cho cha mẹ mà còn giúp củng cố uy tín gia đình trong cộng đồng Trong khi đó, con gái khi lấy chồng thường phải đảm nhận nhiệm vụ của nhà chồng, không thể trông cậy vào những công việc trọng đại như con trai Những áp lực xã hội này khiến nhiều gia đình cố gắng có con trai để nâng cao vị trí trong gia đình và xã hội.
Hệ tư tưởng văn hóa và chế độ gia trưởng đã tạo ra một xã hội có lợi cho nam giới, trong đó nhiều người tin rằng gia đình nên có ít nhất một con trai Một số khác thậm chí mong muốn có hai con trai để đảm bảo rằng ít nhất một trong số chúng sẽ sống đến tuổi trưởng thành, nhằm phòng ngừa rủi ro.
Nghiên cứu năm 2009 của Nguyễn Thị Dung chỉ ra rằng các cặp vợ chồng làm trong lĩnh vực nông nghiệp, muối, đánh bắt và nuôi trồng hải sản tại Hải Hậu, Nam Định có xu hướng muốn sinh con trai mạnh mẽ hơn so với những nghề khác, do đặc thù lao động nặng nhọc của họ.
Năm 2013, Trần Thị Xuân Thúy đã thực hiện nghiên cứu về sở thích sinh con trai trên 472 phụ nữ có chồng trong độ tuổi từ 15 đến 49 Kết quả cho thấy 74,4% phụ nữ ưa thích sinh con trai, chủ yếu vì họ muốn có cả con trai và con gái Các lý do khác như áp lực từ gia đình chồng, mong muốn có con trai để thờ cúng ông bà và làm chỗ dựa khi về già chỉ chiếm tỷ lệ thấp hơn.
Sở thích sinh con trai của phụ nữ có liên quan đến số con trai hiện có của họ, với tỷ lệ thích sinh con trai cao hơn ở những phụ nữ không có con trai (79,6%) so với những phụ nữ đã có con trai (71,0%) (p