Công tác phân loại chất thải tại các trạm y tế ở Iran , chất thải thông thường và chất thải lây nhiễm được để chung với nhau trong thùng chứa CTRYT thông thường, việc tuân thủ các quy đị
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HỒ THỊ THANH TÚ
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720802
Hà Nội – 2020
HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HỒ THỊ THANH TÚ
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TẠI VIỆN Y DƯỢC HỌC DÂN TỘC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giới thiệu chung về chất thải rắn y tế 4
1.1.1Một số khái niệm 4
1.1.2Phân loại CTYT 4
1.1.3Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế 5
1.1.4Các yêu cầu về quản lý chất thải rắn y tế theo thông tư số 58/2015/TTLT-YT_BTNMT: 8
* Mã màu sắc 8
* Phân loại chất thải y tế 8
* Thu gom chất thải y tế 8
* Lưu giữ chất thải y tế 9
* Vận chuyển CTRYT 9
* Giảm thiểu chất thải y tế 10
* Quản lý CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế 10
1.1.5Một số văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam 10 1.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam 11
1.2.1Thực trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới 11
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT 17
1.3.1 Cơ chế chính sách và quản lý điều hành 17
1.3.2 Công tác kiểm tra, giám sát 19
1.3.3 Về kinh phí 20
HUPH
Trang 41.3.4 Nguồn nhân lực cho công tác quản lý CTRYT 21
1.3.5 Cơ sở vật chất và trang thiết bị 22
1.4 Một số thông tin về Viện và quản lý CTRYT tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh 23
1.4.1 Thông tin chung của đơn vị 23
1.4.2 Một số nội dung về hệ thống quản lý chất thải rắn y tế tại Viện Y dược học dân tộc 24 1.5 Khung lý thuyết 25
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
2.1 Đối tượng nghiên cứu 27
2.1.1Đối tượng nghiên cứu định lượng 27
2.1.2Đối tượng nghiên cứu định tính 27
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 27
2.3 Thiết kế nghiên cứu 28
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 28
2.4.1Nghiên cứu định lượng 28
2.4.2Chọn mẫu cho nghiên cứu định tính 32
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 32
Giai đoạn chuẩn bị: 32
2.5.1Thu thập số liệu định lượng 32
2.5.2Thu thập thông tin định tính 36
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 37
2.6.1Số liệu định lượng 37
2.6.2Thông tin định tính 38
2.7 Đạo đức trong nghiên cứu 38
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39 3.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Viện Y dược học dân tộc thành phố
HUPH
Trang 5Hồ Chí Minh 39
3.1.1Phân loại chất thải rắn y tế 39
Bảng 3.1 Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh (n=130) 39
3.1.2Thu gom chất thải rắn y tế 40
Bảng 3.2 Thực trạng thu gom chất thải rắn y tế (n=130) 40
3.1.3Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế 42
Bảng 3.3 Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế (n=52) 42
3.1.4Thực trạng về lưu giữ CTRYT 43
Bảng 3.4 Kết quả thực hành đạt về lưu giữ chất thải rắn y tế (n=16) 43
3.1.5Trang thiết bị phục vụ cho Quản lý CTRYT 44
Bảng 3.5 Thực trang thiết bị cho quản lý CTRYT ( n=13) 44
3.1.6Tiêu chí về xử lý chất thải rắn y tế 46
Bảng 3.6 Tiêu chí về xử lý chất thải rắn y tế 46
3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại Viện Y Dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh 47
3.2.1Yếu tố thuộc về chính sách và lãnh đạo 47
3.2.2Yếu tố về công tác kiểm tra giám sát 48
3.2.3Yếu tố về kinh phí 49
3.2.4Yếu tố thuộc về cán bộ nhân viên y tế 50
3.2.5Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ quản lý CTRYT 52
3.2.6Yếu tố mạng lưới xử lý chất thải y tế tại Viện 53
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 54
4.1 Thực trạng quản lý CTRYT tại Viện Y Dược học dân tộc TP HCM 54
4.1.1Phân loại CTRYT tại Bệnh viện 54
4.1.2Thu gom CTRYT tại Bệnh viện 56
4.1.3Vận chuyển CTRYT tại Bệnh viện 57
4.1.4Lưu giữ CTRYT tại Bệnh viện 58
HUPH
Trang 64.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT tại Bệnh viện 59
4.2.1Yếu tố về chính sách và lãnh đạo 59
4.2.2Yếu tố về công tác kiểm tra giám sát 60
4.2.3Yếu tố về kinh phí 61
4.2.4Yếu tố về cán bộ NVYT 62
4.2.5Yếu tố về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ QL CTRYT 63
4.2.6Yếu tố mạng lưới xử lý chất thải y tế tại Viện 63
4.3 Hạn chế của nghiên cứu 64
KẾT LUẬN 65
1 Thực trạng Quản lý chất thải rắn y tế 65
2 Yếu tố liên quan đến Quản lý chất thải rắn y tế 65
KHUYẾN NGHỊ 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
PHỤ LỤC 74
Phụ lục 1: Bảng kiểm quan sát thực hành phân loại, thu gom, vận chuyển lưu giữ CTRYT 74
Phụ lục 2: Bảng kiểm thống kê trang thiết bị quản lý chất thải rắn y tế 77
Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sau lãnh đạo Bệnh viện về quản lý chất thải rắn y tế trong bệnh viện 78
Phụ lục 4: Biến số nghiên cứu 81
Phụ lục 5: BẢNG ĐÁNH GIÁ ĐẠT VỀ THỰC HÀNH QUẢN LÝ CTRYT 83
Phụ lục 6: Bảng kiểm quan sát thực hành phân loại CTRYT 84
HUPH
Trang 7CTRYTLN Chất thải rắn y tế lây nhiễm
CTRYTNH Chất thải rắn y tế nguy hại
CTRYTTT Chất thải rắn y tế thông thường
QLCTRYT Quản lý chất thải rắn y tế
QLCTYT Quản lý chất thải y tế
TCVSLĐ Tiêu chuẩn vệ sinh lao động
TT58 Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT
ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên và môi trường Quy định về quản lý chất thải y tế
Viện YDHDT Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh
HUPH
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1 Cỡ mẫu đối với nghiên cứu định lượng… ………28
Bảng 3.1 Thực trạng phân loại chất thải rắn y tế tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh (n=130) 39
Bảng 3.2 Thực trạng thu gom chất thải rắn y tế (n=130) 40
Bảng 3.3 Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế (n=52) 42
Bảng 3.4 Kết quả thực hành đạt về lưu giữ chất thải rắn y tế (n=16) 43
Bảng 3.5 Thực trang thiết bị cho quản lý CTRYT ( n=13) 44
Bảng 3.6 Tiêu chí về xử lý chất thải rắn y tế 46
HUPH
Trang 9TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Chất thải rắn y tế là một trong những loại chất thải nguy hại có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe con người nếu không được xử lý tốt Vì vậy công tác quản lý CTRYT cần được quan tâm đúng mức Đề tài “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 2020” được thực hiện với 2 mục tiêu: Mô tả thực trạng quản lý CTRYT tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 2020; Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
Đề tài sử dụng phương pháp thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính Dùng công cụ bản kiểm ghi lại kết quả quan sát để đánh giá đối tượng nghiên cứu là túi, thùng lưu giữ CTRYT, xe vận chuyển CTRYT, khu vực lưu giữ CTRYT tại 13 khoa lâm sàng và cận lâm sàng với 130 lượt quan sát ở giai đoạn phân loại và thu gom, 52 lượt quan sát vận chuyển, 16 lượt ở giai đoạn lưu trữ và 13 lượt về trang thiết bị dụng cụ y tế Thu thập thông tin qua 4 cuộc phỏng vấn sâu với
4 đại diện lãnh đạo Viện, phòng, khoa và 3 cuộc thảo luận nhóm với 21 NVYT
Kết quảnghiên cứu cho thấy: phân loại CTRYT ngay tại nguồn và CTRYTNH không lây nhiễm phải được bỏ vào túi/ thùng màu đen đạt 90%;ở giai đoạnthu gom CTRYT: nội dung không thu gom chung túi CTRYT với nhau đạt 92,3%; CTRYT được vận chuyển theo đường quy định đạt 92,3%; nội dung CTRYT không chứa chung thùng với nhau và trong kho chứa CTRYT phải có thùng chứa chất thải tập trung có nắp đậy theo đúng quy định đều đạt 93,7% Viện
có 4 nhà kho chứa CTRYT tuân thủ đầy đủ các quy định về công tác quản lý CTRYT, chỉ không đạt về diện tích kho
Viện đã tuân thủ các quy định chính sách của Nhà nước về CTRYT, có các quy định, kế hoạch, quy trình QLCTRYT, đã thành lập Ban an toàn môi trường và
an ninh trật tự có chức năng giám sát các hoạt động trong đó có quản lý chất thải Viện có tổ chức đào tạo tập huấn về kiến thức, nghiệp vụ liên quan đến quản lý chất
HUPH
Trang 10thải Viện đã ký hợp đồng thu gom và xử lý chất thải với Công ty Môi trường Đô thị thành phố Hồ Chí Minh,
Tuy nhiên Viện vẫn còn tồn tại một số nội dung: Công tác kiểm tra, giám sát
có thực hiện nhưng chưa thường xuyên nên hiệu quả chưa cao,có đầu tư trang thiết
bị nhưng chưa đủ cầntrang bị thêm,cần kết hợp công nghệ thông tin trong hỗ trợ các vấn đề liên quan đến QLCTRYT, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các quy định về thực hiện QLCTRYT tại Viện
HUPH
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ Chất thải Y tế là chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y
tế bao gồm chất thải y tế nguy hại, chất thải y tế thông thường CTYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như: lây bệnh qua đường máu cho NVYT, đặc biệt là sự cố thương tích do chất thải sắc nhọn, phổ biến nhất là nhân viên y tế bị thương do các kim tiêm lây nhiễm trong quá trình thực hiện quản lý chất thải Chất thải y tế còn có thể tác động xấu tới môi trường đất, nước, không khí Mặt khác, xử lý CTYT không đúng phương pháp có thể gây ra vấn đề lãng phí tài nguyên thiên nhiên [1]
Theo số liệu điều tra năm 2015, tổng lượng CTRYT phát sinh trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTRYT nguy hại Tuy nhiên, vấn đề thu gom và xử lý CTRYT chưa được quan tâm đúng mức, hiện có 32% khối lượng CTRYT nguy hại được xử lý không đạt tiêu chuẩn Các dụng cụ, thiết bị dùng để phân loại, thu gom, vận chuyển chất thải còn thiếu, chưa đảm bảo được về mặt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định Bên cạnh đó việc nhận thức về thực hành quản lý chất thải y tế trong cán bộ y tế, nhân viên đang làm công tác xử lý chất thải và người bệnh còn chưa cao Tính đến cuối năm 2015, CTRYTNH và CTRYT được thu gom và xử lý lần lượt đạt tỷ lệ là 75% và 65% Đến năm 2016, tính chung tỷ lệ bệnh viện có hệ thống xử lý CTRYT là 37% và chỉ có 30% trong số này đạt tiêu chuẩn cho phép; có 90,9% bệnh viện thực hiện thu gom CTRYT hàng ngày, nhưng chỉ có 50% bệnh viện trong số này phân loại và thu gom CTRYT đạt yêu cầu [2]
Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh (sau đây gọi tắt là Viện) là Bệnh viện hạng 1, Bệnh viện phụ trách đầu ngành khám và chữa bệnh bằng phương pháp y, dược cổ truyền.Hiện tại công tác QLCTRYT tại Viện tuân thủ theo Thông
tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMTngày 31/12/2015 của Bộ Y Tế và Bộ Tài nguyên và Môi trường Điểm quản lý chất lượng về chất thải theo tiêu chí C4.5 năm 2018 chỉ đạt 4/5 điểm Theo kết quả quan trắc môi trường của Viện năm 2019, lượng CTRYTTT phát sinh trung bình là 800 kg trong một ngày và lượng CTRYT nguy hại sinh ra trung bình là 60 kg trong một ngày Sau nhiều lần nâng cấp, hiện
HUPH
Trang 12nay Viện đã có quy mô lớn với hơn 300 giường bệnh, mỗi ngày tiếp đón gần 1.000 lượt người đến khám và điều trị Trong năm 2019, Viện tiến hành xây dựng khu nhà Khám và điều trị ban ngày có quy mô 7 tầng với diện tích sử dụng khoảng là 6.000 m2 Với sự phát triển của Viện trong thời gian tới, số lượng chất thải y tế sẽ tăng lên trong đó có CTRYT, vì vậy việc quản lý, kiểm soát và xử lý nguồn chất thải rắn y tế phát sinh cần phải được theo dõi để nâng điểm quản lý chất lượng bệnh viện, đảm bảo sự phát triển bền vững của Viện [3]
Trong quá trình thực hiện công tác QLCTRYT tại Viện nhận thấy vẫn còn một số nội dung bất cập trong vấn đề QLCTRYT, cần xác định rõ thực trạng của khâu nào trong công tác QLCTRYT là chưa hợp lý; tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLCTRYT như thái độ, kiến thức vể CTRYT, cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ QLCTRYT được quan tâm và đầu tư đúng mức như thế nào cho phù hợp với đà phát triển của Viện Đến nay Viện chưa từng có nghiên cứu nào về chất thải rắn
Từ các yếu tố đề cập trên, tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và một số yếu tố ảnh hưởng tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 2020” nhằm góp phần giúp công tác QLCTRYT tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh ngày càng tốt hơn
HUPH
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả thực trạng quản lý chất thải rắn y tế tại Viện Y dược học dân tộc thành phố
Hồ Chí Minh năm 2020
2 Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng đến quản lý chất thải rắn y tế tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh năm 2020
HUPH
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu chung về chất thải rắn y tế
1.1.1 Một số khái niệm
- Chất thải y tế: là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, chuẩn đoán, xét nghiệm, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu, đào tạo CTYT có thể ở dạng rắn, lỏng và dạng khí
- Chất thải rắn y tế: là chất thải dạng rắn, phát sinh trong quá trình hoạt động của các cơ sở y tế, bao gồm chất thải rắn y tế nguy hại không lây nhiễm, chất thải rắn y tế lây nhiễm và chất thải rắn y tế thông thường
- CTYT nguy hại: CTYT chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người, môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu hủy an toàn
- Quản lý CTYT: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy CTYT và kiểm tra, giám sát việc thực hiện
- Giảm thiểu CTYT là các hoạt động làm hạn chế tối đa sự phát thải CTYT
- Thu gom CTYT là quá trình tập hợp CTYT từ nơi phát sinh là vận chuyển
về khu vực lưu giữ, xử lý CTYT trong khuôn viên CSYT
- Vận chuyển CTYT là quá trình chuyên chở CTYT từ nơi lưu giữ CT trong CSYT đến nơi lưu giữ, xử lý CT của cơ sở xử lý CTYT cho cụm CSYT, cơ sở xử lý CTYTNH tập trung hoặc cơ sở xử lý CT nguy hại tập trung có hạng mục xử lý CTYT[4]
1.1.2 Phân loại CTYT
- Chất thải rắn y tế lây nhiễm:
+ Chất thải lây nhiễm sắc nhọn: Chất thải lây nhiễm có thể gây ra vết cắt hoặc chọc dò (kiêm tiêm, kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh; cưa dùng trong phẫu thuật )
+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn bao gồm: chất thải thấm, dính, chứa máu hoặc dịch sinh học của cơ thể; các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
HUPH
Trang 15+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao bao gồm: mẫu bệnh phẩm, dụng cụ đựng dính mẫu bệnh phẩm, chất thải dính mẫu bệnh phẩm phát sinh từ các phòng xét nghiệm an toàn sinh học Cấp 3 trở lên
+ Chất thải giải phẫu bao gồm: Mô, bộ phận cơ thể thải bỏ và xác động vật thí nghiệm
- Chất thải rắn y tế nguy hại không lây nhiễm:
Hóa chất thải bỏ bao gồm hoặc có các thành phần nguy hại; dược phẩm thải
bỏ thuộc nhóm gây độc tế bào hoặc có cảnh báo nguy hại từ nhà sản xuất, thiết bị y
tế bị vỡ, hỏng, đã qua sử dụng thải bỏ có chứa thủy ngân và các kim loại nặng, chất hàn răng amalgam thải bỏ [4]
- Chất thải rắn y tế thông thường là chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người và chất thải ngoại cảnh trong cơ sở y tế, Chất thải rắn phát sinh từ cơ sở y tế không chứa các yếu tố lây nhiễm, cháy, nổ, phóng xạ, hóa học, sản phẩm thải lỏng không nguy hại
1.1.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế
1.1.3.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đối với môi trường
Bất kỳ một loại chất thải nào cũng có những tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến các thành phần môi trường và sức khỏe con người, trong đó CTRYT đặc biệt là rác thải nguy hại ảnh hưởng không nhỏ đến môi trường và sức khỏe của người dân Trong tình hình quản lý rác chưa được tốt như nước ta hiện nay thì việc tác động của nó lên các thành phần môi trường là điều không thể tránh khỏi
Gây ô nhiễm môi trường nước: Rác sinh hoạt, nếu rác hữu cơ trong môi trường nước nó sẽ bị phân hủy nhanh chóng Phần nổi lên mặt nước sẽ có quá trình hóa chất hữu cơ để tạo ra các sản phẩm trung gian cuối cùng là khoáng chất và nước Phần chìm trong nước sẽ có quá trình phân giải yếm khí tạo ra các hợp chất trung gian và các sản phẩm cuối cùng CH4, H2S, H2O, CO2 có nguy cơ gây ô nhiễm nước, làm nước có mùi khó chịu, tăng độc tính Ngoài ra, rác sinh hoạt còn chứa một lượng lớn các vi sinh vật và vi trùng gây ô nhiễm nguồn nước Đối với CTYT nguy hại thì nghiêm trọng hơn vì đặc tính chứa nhiều mầm bệnh và các hóa chất độc hại nếu không quản lý tốt khi vào nguồn nước sẽ gây ra những tác động cực kỳ nghiêm trọng Các loại chất độc hại lan truyền vào nguồn nước làm suy giảm
HUPH
Trang 16chất lượng nước mặt, nếu xâm nhập vào nước ngầm sẽ đặt ra nhiều thách thức đối với việc quản lý tài nguyên nước Bên cạnh đó, nếu nơi tập trung không có mái che, nhà lưu giữ rác không có nền đảm bảo vệ sinh thì nước mưa sẽ hòa tan, vận chuyển các chất đi xa gây ô nhiễm nước, ô nhiễm đất[5]
Tác động đến môi trường đất: Các mầm bệnh, các ký sinh trùng, hóa chất độc hại trong rác thải y tế nếu xử lý chôn lấp không hợp vệ sinh gây ô nhiễm đất, suy thoái đất, làm cho đất không canh tác được và gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe con người thông qua nguồn nước, các sản phẩm nuôi trồng Nếu rác thải hữu cơ được phân hủy trong môi trường đất, nó cũng có thể là nguồn cung cấp dinh dưỡng nhưng nếu lượng rác quá lớn thì đất sẽ thành nơi chứa rác[6]
Tác động đến môi trường không khí: Các loại mầm bệnh, vi khuẩn, ký sinh trùng trong rác có thể phát tán trong không khí, lan truyền bệnh cho con người và động vật Mặt khác quá trình phân giải rác thải tạo ra nhiều mùi hôi thối, khó chịu Chất thải phóng xạ còn phát ra các loại tia phóng xạ ảnh hưởng đến sức khỏe con người nếu không được quản lý tốt Khí thải thoát ra từ quá trình đốt CTRYT nguy hại ở một số lò đốt trong các cơ sở y tế không đảm bảo tiêu chuẩn gây ảnh hưởng đến không khí nhiều nhất Khí thải này gây ra nhiều khói bụi và mùi hôi ảnh hưởng nhiều đến môi trường sống xung quanh, trong số đó có các chất đặc biệt nguy hiểm như Furan, Dioxin là những chất gây nên quái thai [7]
1.1.3.2 Tác động của chất thải rắn y tế đến sức khỏe con người
Tác động trực tiếp đến sức khỏe:
CTYT là môi trường có khả năng chứa đựng các loại vi sinh vật gây bệnh, các chất độc hại như hóa chất, chất gây độc tế bào, chất phóng xạ… Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh các chất thải BV có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cán bộ, nhân viên y tế, cộng đồng dân cư nếu CTYT không được quản lý đúng cách Các tác nhân gây bệnh có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua các đường: vết da bị xây xát hoặc bị thương, đường hô hấp…
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người đó là thông qua hoạt động thu gom, phân loại, vận chuyển và xử lý rác thải y tế trong các BV, cơ sở y tế Tất cả những người thường phơi nhiễm với rác thải đều có nguy cơ bị mắc bệnh: bác sĩ, y
HUPH
Trang 17tá, hộ lý và các nhân viên hành chính BV, người bệnh, người nhà người bệnh và khách thăm người bệnh, người làm trong các khu vực lưu giữ, xử lý các chất thải, với các mức độ khác nhau tùy theo từng loại CTYT
Tác động gián tiếp đến sức khỏe: Do ô nhiễm môi trường hoặc tiếp xúc với các tác nhân trung gian như ruồi, muỗi, chuột hoặc ô nhiễm môi trường không khí
do phát sinh mùi hôi thối khó chịu.Rác nếu không được thu dọn kịp thời sẽ tạo thành nơi phát sinh muỗi, ruồi, gián, chuột, các trung gian truyền bệnh này sẽ có nguy cơ dẫn đến lan tràn dịch bệnh nhanh chóng từ các BV, từ CTYT không được
xử lý đúng cách
Ảnh hưởng của CTYT đến sức khỏe cộng đồng:
Các nghiên cứu ở Việt Nam đã có đánh giá về tình hình thương tích của cán
bộ, nhân viên BV do các vật sắc nhọn gây ra Một số nghiên cứu đã đề cập đến những ảnh hưởng của CTYT đối với cộng đồng nhưng chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào đánh giá thực trạng của CTYT đối với sức khỏe con người
+ Các nguy cơ về mặt y tế công cộng: HIV/AIDS,Viêm gan B và C, các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột, các bệnh nhiễm khuẩn đường hô hấp, viêm nhiễm qua truyền máu, viêm nhiễm da, ảnh hưởng phóng xạ
+ Gây phát sinh và lây lan các loại dịch bệnh đến cộng đồng: Các mầm bệnh
và hóa chất gây độc hại đi vào môi trường đất, nước, không khí nếu không được quản lý tốt [8],[9]
1.1.3.3 Tác động của chất thải rắn y tế đến kinh tế - xã hội
Lượng CTRYT của cả nước trong những năm qua không ngừng gia tăng về khối lượng, đa dạng về thành phần Chi phí chi cho việc xử lý CTRYT, chi phí chi cho việc xử lý ô nhiễm môi trường liên quan đếnCTRYT vì thế cũng tăng lên đáng
HUPH
Trang 18Chi phí chi cho công việc vận hành lò đốt CTRYT đối với các bệnh viện hiện nay vẫn còn là quá cao, mỗi tháng BV tuyến trung ương tốn khoảng 26 triệu đồng
BV tuyến tỉnh khoảng 20 triệu đồng, BV tuyến huyện khoảng 5 triệu đồng Đối với một số bệnh viện lớn,riêng việc xử lý CTRYT có thể tiêu tốn khoảng kinh phí trên dưới 100 triệu đồng/ tháng[11]
1.1.4 Các yêu cầu về quản lý chất thải rắn y tế theo thông tư số
58/2015/TTLT-BYT-BTNMT:
* Mã màu sắc
- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm
- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm
- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT thông thường
- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế
* Phân loại chất thải y tế
- CTRYT phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh
- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải
- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế và có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải
* Thu gom chất thải y tế
- Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải có nắp đậy kín, bảođảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày
HUPH
Trang 19- Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng
* Lưu giữ chất thải y tế
- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại tại khu lưu giữ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:
+ Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ CT + Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định
+ Dụng cụ, thiết bị lưuchứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín và chống được sự xâm nhập của các loài động vật
- CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế
- CT lây nhiễm và CT nguy hại không lây nhiễm phải lưugiữ riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý
- CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường không phục vụ mục đích tái chế đượclưu giữ riêng
- Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày
Trang 20+ Được lắp cố định hoặc có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển và bảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải
+ Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển
* Giảm thiểu chất thải y tế
- Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế
- Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải y tế
- Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả
* Quản lý CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế
- Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồ dùng, bao gói sử dụng trong lĩnh vực thực phẩm
- Chất thải lây nhiễm sau khi xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường được quản lý như chất thải y tế thông thường
- Bao bì lưu chứa chất thải phải được buộc kín và có biểu tượng chất thải tái chế theo quy định
1.1.5 Một số văn bản quy phạm pháp luật về quản lý chất thải y tế tại Việt Nam
Ở nước ta CTRYT đã được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật do Quốc hội, Chính phủ và Bộ nghành ban hành, cụ thể bao gồm một số văn bản sau:
- Bộ Tài nguyên & Môi trường (2006), Danh mục chất thải nguy hại, (Ban hành kèm theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT;
- Công văn số 911/TTrB ngày 07/12/2012 về việc Tăng cường công tác Quản lý chất thải y tế, Bộ Y tế;
- Quy trình thanh tra về quản lý chất thải y tế, (Ban hành kèm theo Quyết định số 277/2013/QĐ-BYT ngày 24/01/2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
- Chỉ thị 08/CT-BYT ngày 29/07/2019 của Bộ Y tế về giảm thiểu chất thải nhựa trong ngành Y tế nhằm tăng cường giảm thiểu ô nhiễm môi trường;
HUPH
Trang 21- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 Phê duyệt Đề án tổng thể
xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến năm 2020, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
- Chỉ thị số 26/2007/CT-TTg ngày 26/11/2007, Về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
- Quyết định số170/QĐ-TTg ngày 08/02/2012Về việc Phê duyệt quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại đến năm 2025,Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam;
- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 ngày 23/06/2014;
- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 củ Chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu;
- Thông tư 36/2015/TT-BTNMT ngày 30/6/2015 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;
- Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của
Bộ Y tế và Bộ Tài nguyên & Môi trường ban hành quy định về quản lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế khám bệnh, chữa bệnh Thông tư quy định rõ trách nhiệm thực hiện công tác đào tạo về quản lý CTYT hằng năm cho nhân viên y tế của người đứng đầu cơ sở y tế Đồng thời, công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức cho nhân viên y tế về quản lý CTRYT cũng được nêu rõ trong Thông tư Đây là một yêu cầu và nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp thiết hiện nay đối với các bệnh viện
1.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam 1.2.1 Thực trạng quản lý chất thải rắn trên thế giới
Chất thải bệnh viện đang là mối quan tâm hàng đầu ở nhiều nước trên thế giới Số lượng CTYT phát sinh tăng theo công suất và giảm theo số giường tại bệnh viện Tổng số 12 bệnh viện khác nhau đãđược chọn cho cuộc khảo sát liên quan đến việc định lượng tỷ lệ phát sinh chất thải vàđiều tra các thực hành quản lý chất thải tại Pakistan (2016), tổng tỷ lệ phát sinh chất thải bệnh viện nói chung và truyền nhiễm trung bình có trọng số lần lượt là 0,667, 0,497 và 0,17 kg/giường/ngày Trong tổng số, 73,85% CTYT bao gồm 25,8% CTYT truyền nhiễm nguy hại và 0,87%
HUPH
Trang 22chất thải sắc nhọn Rác thải chung bao gồm 15,76% giấy, 13,41% nhựa, 21,77% dệt, 6,47% thủy tinh, 1,99% cao su, 0,44% kim loại và 40,17% khác.[12] Một nghiên cứu tại Cairo-Ai Cập(2017) về quản lý chất thải rắn cho biết Ai Cập đã thải ra gần 4 triệu tấn chất thải y tế mỗi năm [13]
Về mối liên quan giữa các loại chất thải y tế và cách thức quản lý CTYT dựa trên diện tích giường bệnh, tỷ lệ sử dụng giường bình quân, số lượng nhân viên và bệnh nhân Nghiên cứu ở Nigeriacho thấy lượng chất thải trung bình phát sinh (gồm chất thải nguy hại và không nguy hại) lần lượt là 17,66 kg, 7,89kg và 2,36 kg/ngày đối với bệnh viện lớn, vừa và nhỏ Tỷ lệ phát sinh chất thải của các bệnh viện lớn là 41% đối với chất thải nguy hại, 33% làCTYT không nguy hại; ở bệnh viện quy mô vừa, 35% chất thải nguy hại và không nguy hại là 35%; bệnh viện quy mô nhỏ, chất thải kết hợp là loại chất thải chiếm ưu thế với 51%, tiếp theo là không nguy hại 31%
và nguy hại ít nhất 18% [14]
Quản lý và phân loại chất thải y tế là điều cần thiết để đảm bảo an toàn, bảo
vệ môi trường và kiểm soát chi phí Quản lý NVYT kém làm tăng rủi ro và chi phí cho các cơ sở y tế Nghiên cứu thực hiện một cuộc khảo sát kiến thức trước và sau khi đào tạo về quản lý chất thải tại Bệnh viện Bloom, El Salvador Trước đào tạo, phân loại chất thải trong các túi đựng chất thải nguy hại có 61% chất thải là chất thải thông thường, nhân viên không biết về chi phí của việc phân loại sai chất thải y
tế Sau khi đào tạo về quản lý CTRYT, các câu trả lời đúng tăng 44% và việc xử lý chất thải nguy hại sinh học tại bệnh viện giảm 48% [15]
Chất thải sắc nhọn cụ thể là kim tiêm được coi là vật nguy hiểm trong nhóm CTRYT đối với NVYT bởi nguy cơ nhiễm trùng từ vết thương do kim tiêm [16] Công tác phân loại chất thải tại các trạm y tế ở Iran , chất thải thông thường và chất thải lây nhiễm được để chung với nhau trong thùng chứa CTRYT thông thường, việc tuân thủ các quy định về vận chuyển ở mức thấp dưới 25%, không có nơi lưu trữ CTRYT tạm thời[17]
Nhiều nước trên thế giới đã và đang loại bỏ dần các lò đốt CTRYT quy mô nhỏ trong các bệnh viện chuyển sang mô hình xử lý tập trung, áp dụng công nghệ không đốt nhằm hạn chế thải dioxin và furan ra ngoài môi trường không khí Ở Mỹ,
HUPH
Trang 23từ 1988-2006 đã giảm số lò đốt từ 6.200 lò xuống 62 lò; tương tự ở Canada, từ 1995 đến 2003, giảm từ 219 xuống 56 lò Nổi bật nhất là ở Đức và Ailen từ 2005 không còn lò đốt nào được vận hành [18]
Để quản lý tốt hơn chất thải y tế cần ban hành một văn bản pháp luật và chính sách cụ thể và toàn diện về chất thải y tế trong đóphân định rõ ràng trách nhiệm cho các bên liên quan khác nhau Một nghiên cứu ở Ethiopia cho thấy trong việc chỉ ra các nghĩa vụ pháp lý của các cơ sở y tế trong việc xử lý, vận chuyển, điều trị và tiêu hủy hất thải y tế, lưu giữ hồ sơ và báo cáo Ở đấy có sự chồng chéo
về nhiệm vụ và thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chính phủ khác nhau chịu trách nhiệm về quản lý chất thải y tế Các hoạt động quản lý chất thải y tế cũng không phù hợp với các nguyên tắc quản lý chất thải nói chung và quản lý chất thải y tế nói riêng [19]
Ở nhiều nước Đông Nam Á, lượng chất thải y tế ở các nước này liên tục tăng lên do sự mở rộng của các hệ thống và dịch vụ y tế Trước đây, chất thải y tế nếu được xử lý toàn bộ thì chủ yếu là đốt Trong thập kỷ trước, các hệ thống quản lý chất thải toàn diện hơn đã được phát triển bao gồm việc thiết lập các hệ thống xử lý chất thải y tế thay thế, các khoản đầu tư lớn đã được lên kế hoạch Các dự án bao gồm: Ở Lào: phát triển hệ thống đào tạo sức khỏe môi trường quốc gia để hỗ trợ việc áp dụng các tiêu chuẩn sức khỏe môi trường và cải thiện xử lý chất thải y tế tại bảy bệnh viện chính bằng cách giới thiệu công nghệ xử lý dựa trên hơi nước; Indonesia: xây dựng chiến lược quản lý chất thải y tế cấp tỉnh cho Tỉnh Nanggroe Aceh Darussalam và giới thiệu hệ thống xử lý chất thải tiên tiến tại bệnh viện cấp ba
ở Makassar; Việt Nam: xây dựng chiến lược xử lý rác thải y tế cho 5 tỉnh ở Việt Nam và dự án về rác thải y tế do Ngân hàng Thế giới tài trợ tại Việt Nam [20] 1.2.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế năm 2017, lượng CTYRYT phát sinh tại các bệnh viện, các cơ sở y tế là khoảng 450 tấn/ngày, trong đó có khoảng 47-50 tấn/ngày là CTRYTNH, mức độ tăng là 7.5%/năm [21] Nguồn phát sinh CTRYT chủ yếu là từ bệnh viện, phòng khám, nhà hộ sinh, trung tâm xét nghiệm hầu hết các nguồn chất thải này đước đánh giá có độc tính cao, có tính đặc thù, CTRYTNH
HUPH
Trang 24phát sinh ở những nơi này tính trung bình 0.14-0.2 kg/gường/ngày CTYT phát sinh tăng từ một số nguyên nhân như dân số tăng, gia tăng số giường bệnh, người dân ngày càng tiếp cận nhiều hơn với dịch vụ y tế, tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế [21],[22].Một số thống kê về lượng CTYT trên địa bàn một
số tỉnh tại Việt Nam:
- Khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Lai Châu từ ước tính khoảng 395 kg/ngày, tương đương 144,175 tấn/năm Lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh chủ yếu từ các cơ sở khám chữa bệnh, khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh trên địa bàn tỉnh có xu hướng ngày càng tăng
do các đơn vị khám chữa bệnh không ngừng phát triển, mở rộng dịch vụ kỹ thuật cao, kỹ thuật mới và nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng cao [23]
- Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ các bệnh viện trên địa bàn tỉnh Kiên Giang khoảng 8.091,66 kg/ngày Trong đó, chất thải rắn sinh hoạt là 6.743,05 kg/ngày và chất thải rắn y tế nguy hại là 1.348,61 kg/ngày Khối lượng chất thải rắn
y tế nguy hại phát sinh từ các cơ sở y tế khác trong tỉnh là 355 kg/ngày Đến năm
2020, Kiên Giang đã hoàn chỉnh cơ bản về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị và lập lộ trình thu gom, xử lý chất thải y tế nguy hại đảm bảo 100% chất thải y tế nguy hại được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường [24]
- Theo số liệu thống kê và tính toán sơ bộ năm 2015 tại Thừa Thiên Huế, tổng khối lượng chất thải y tế phát sinh từ các bệnh viện trên địa bàn là 6.832 kg/ ngày (2.494 tấn/năm) trong đó 1.079 kg/ngày (394 tấn/năm) là chất thải rắn y tế nguy hại và 5.772 kg/ngày (2.107 tấn/năm) là chất thải thông thường Mô hình xử lý chất thải y tế nguy hại tập trung cho cả tỉnh đến nay vẫn chưa được thực hiện Các bệnh viện chưa có lòđốt chất thải phải hợp đồng với Công ty môi trường đô thị để thu gom và xử lý tập trung [25]
Nghiên cứu của Lê Phú Gia tại Bệnh Viện Lao và bệnh phổi tỉnh Hà Nam năm 2016, kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phân loại đạt 36.5%, thu gom đạt 71.4%, vận chuyển đúng CTRYT đạt khá thấp, trang thiết bị về vận chuyển CTYT còn thiếu và chưa đồng bộ, 100% các khoa chưa có xe vận chuyển chuyên dụng
HUPH
Trang 25Trong nghiên cứu đã đưa ra các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành của nhân viên y tế như cơ sở vật chất không đủ về số lượng và quy cách, hoạt động giám sát chưa hiệu quả, thiếu nhân viên thu gom, vận chuyển dẫn đến trong một số thời điểm quá tải dẫn đến sai sót trong công việc; kinh phí cho hoạt động QLCTRYT không đủ [26]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hà tại Bệnh viện Việt Đức-Hà Nội năm 2018, kết quả nghiên cứu cho thấy trong công tác quản lý chất thải y tế tại bệnh viện còn nhiều hạn chế: Trong giai đoạn phân loại và thu gom thì phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn mà nguyên nhân sâu xa nhất đó là thiếu kinh phí, nguồn hỗ trợ cho công tác này còn hạn hẹp Trong giai đoạn vận chuyển chưa thực hiện đúng qui trình vận chuyển chất thải y tế Công tác quản lý chất thải y tế cần phải tăng cường các trang thiết bị và phương tiện thu gom chất thải y tế, tăng cường việc kiểm tra giám sát việc thu gom
và vận chuyển chất thải y tế [27]
Cũng theo báo cáo môi trường quốc gia 2017, tại Hà Tĩnh 100% bệnh viện sử dụng lò đốt 2 buồng hoặc thuê xử lý CTYTNH;Nghệ An: tại các cơ sở khám chữa bệnh tỷ lệ xử lý CTYT đạt theo quy định 97% đối với CTYTNH và 87% đối với nước thải; Cà Mau: 100% bệnh viện, trung tâm y tế chưa được xác nhận hoàn thành công trình bảo vệ môi trường [22]
Qua thực tế kiểm tra, Bộ Y tế đã chỉ ra bất cập tại ở các bệnh viện trong vấn
đề quản lý chất thải đó là:
- Việc phân loại CTRYT còn chưa đúng quy định: Cho đến nay ở hầu hết các bệnh viện, công tác quản lý CTRYT đều chưa hợp lý từ khâu thu gom, phân loại cho đến khâu xử lý Sự phân công trách nhiệm còn chồng chéo, chưa cụ thể, thiếu nhân viên được đào tạo về quản lý CTYT [28]
- Phương tiện thu gom như túi, thùng đựng chất thải còn thiếu và chưa đồng
bộ, hầu hết chưa đạt tiêu chuẩn mà nguyên nhân sâu xa nhất đó là thiếu kinh phí, nguồn hỗ trợ cho công tác này còn hạn hẹp [26]
- Việc xử lý và tiêu hủy chất thải gặp nhiều khó khăn: giá các lò đốt rác thải quá đắt để có thể trang bị cho các bệnh viện và chi phí xử lý quá cao cho dù có lò đốt đi nữa thì việc hoạt động thường xuyên cũng hiếm vì nó không mang lại hiệu
HUPH
Trang 26quả kinh tế Bên cạnh đó, còn có nhiều khó khăn về nguồn nhân lực, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho việc xử lý rác thải [26]
- Về hiện trạng quản lý CTYT, một báo cáo cho biết: 73.3% BV đã xử lý CTRYT nguy hại bằng lò đốt tại chỗ hoặc bằng lò đốt tập trung; 95,6% BV đã thực hiện phân loại rác thải; 80,4% BV có hệ thống cống thu gom nước thải [5]
Ngày 15 tháng 11 năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã ký phê duyệt Đề án tổng thể xử lý CTYT giai đoạn 2011- 2015 và định hướng đến 2020 (tại Quyết định
số 2038/QĐ-TTg) Bộ Y tế phối hợp với Bộ Xây dựng để xây dựng quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến năm 2025 (đã được phê duyệt tại Quyết định số 170/QĐ-TTg ngày 8 tháng 2 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ) Đồng thời cũng phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ xây dựng dự án: “Nghiên cứu khoa học nhằm tăng cường ứng dụng và chuyển giao công nghệ xử lý CTYT tiên tiến, thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam
1.2.3 Công tác quản lý chất thải rắn y tế tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thông tin từ Sở Y tế TPHCM cho biết, năm 2019 trên địa bàn thành phố hiện
có 6.548 cơ sở y tế Theo đó, lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các cơ
sở y tế trên toàn thành phố ước khoảng gần 30 tấn/ngày Khảo sát gần đây của Trung tâm Y tế dự phòng TPHCM cho thấy, hầu hết các bệnh viện trong thành phố đều thực hiện phân loại và thu gom rác thải từ các khoa, phòng theo quy định của
Bộ Y tế Tuy nhiên tại một số bệnh viện, các phương tiện dùng cho phân loại (túi, thùng chứa) chưa được trang bị đầy đủ, đúng tiêu chuẩn Riêng tại các trạm y tế xã phường và phòng khám tư nhân, việc phân loại chất thải y tế còn chưa được quan tâm đúng mức và thường bị bỏ chung cùng với rác thải sinh hoạt Liên quan đến vấn
đề này, về phía Sở Y tế TPHCM đã đề nghị các cơ sở y tế thực hiện phân loại rác thải tại nguồn trước khi chuyển giao cho đơn vị liên quan Sở Tài nguyên - Môi trường đã yêu cầu đơn vị có chức năng thu gom rác thải y tế là Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật trong quá trình thu gom Toàn
bộ lượng rác thải y tế thu gom được sẽ giao cho Công ty TNHH MTV Môi trường
đô thị xử lý bằng công nghệ đốt tiêu hủy, với 2 lò đốt đang hoạt động: Lò đốt Hoval
HUPH
Trang 27công suất 7 tấn/ngày tại Bình Hưng Hòa (quận Bình Tân) và lò đốt công suất 21 tấn/ngày hoạt động tại công trường Đông Thạnh (huyện Hóc Môn) Hiện trạng thu gom, vận chuyển, tỷ lệ thu gom chất thải rắn y tế trên địa bàn toàn thành phố Hồ Chí Minh đạt 95,6% Tỷ lệ 4,4% chất thải y tế không được thu gom tập trung vào các phòng khám nhỏ lẻ Lượng chất thải y tế này được thu gom chung với chất thải rắn sinh hoạt và được vận chuyển về bãi chôn lấp để xử lý [29]
Hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTYTNH tại các cơ sở y tế công lập được Thành phố chi trả Đối với cơ sở y tế tư nhân, công tác thu gom, vận chuyển và xử lý CTYTNH đã được xã hội hóa Trên cơ sở các con số thống kê cho thấy, khối lượng chất thải y tế nguy hại không ngừng gia tăng trong suốt 10 năm qua Nếu như năm 2006, bình quân mỗi ngày ở Thành phố Hồ Chí Minh phát sinh 9 tấn chất thải y tế, thì năm 2007, con số tăng lên 10,5 tấn/ ngày Năm 2008 là 11,4 tấn/ ngày, năm 2010 là 13 tấn/ ngày, năm 2013 là 17,2 tấn/ngày và năm 2016 là 22,2 tấn/ ngày Vẫn theo đánh giá của UBND Thành phố Hồ Chí Minh 2017, giai đoạn từ năm 2017 -2030, bình quân mỗi năm, khối lượng rác thải y tế sẽ tăng 10%/ năm Cụ thể: nếu như năm 2017, mỗi ngày Thành phố Hồ Chí Minh thải ra 22 tấn rác y tế, thì năm 2020, con số sẽ tăng 30 tấn/ ngày, năm 2025 là 50,5 tấn/ ngày và năm 2030 sẽ tăng 85,2 tấn/ ngày, so với rác thải nguy hại (tăng 8%/ năm), chất thải rắn công nghiệp ( tăng 6%/ năm) và chất thải rắn sinh hoạt (tăng 5%/ năm), thì CTRYT có tỷ
lệ tăng cao nhất (10%/năm) Thành phố đã có nhà máy xử lý bằng công nghệ đốt hiện đại, nhưng lại thiếu bãi chôn lấp an toàn để xử lý tro sau khi đốt Chính vì vậy Công ty Môi trường Đô thị đang kiến nghị UBND sớm phê duyệt chủ trương, cho phép Công ty Môi trường Đô thị Thành phố Hồ Chí Minh đầu tư một bãi chôn lấp
an toàn dành riêng cho việc chôn lấp tro đốt từ CTRYTNH, đây là giải pháp là hợp
lý, đáp ứng nhu cầu của ngành y tế và người dân Thành phố Hồ Chí Minh [30]
1.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT
1.3.1 Cơ chế chính sách và quản lý điều hành
Theo Nghị định 38/2015/NĐ-CP ngày 24/04/2015 của Chính phủ quy định
về trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong quản lý CTRYT, trách nhiệm của
HUPH
Trang 28Bộ Y tế, Bộ Tài nguyên Môi trường, Sở Y tế, Sở Tài nguyên Môi trường và Ủy ban nhân dân các cấp[31] Tuy nhiên việc thực hiện nghị định chưa cụ thể hóa, nhiều nơi chưa thông hiểu đặc biệt các cơ sở y tế tư nhân
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính của Nguyễn Thị Thanh Hương về thực trạng quản lý CTRYT và một số các yếu tố ảnh hưởng tại Trung tâm y tế Sóc Sơn 2017 về kiến thức của nhân viên y
tế và thực hành tuân thủ quy định về quản lý, phân loại CTRYT cho thấy việc thiếu kiểm tra giám sát của bệnh viện có ảnh hưởng đến phân loại, thu gom, lưu trữ CTRYT[32]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính của Đinh Tiến Hùng về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2013 có kết quả việc tổ chức thực hiện quy chế, quyết định, văn bản pháp quy cũng như việc sớm ban hành các quyết định liên quan và hành lang pháp lý vững chắc là điều kiện tốt để thực hiện hoạt động quản lý CTRYT [33]
Theo Thông tư 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT ngày 31/12/2015 của Bộ Y tế
và Bộ Tài nguyên và Môi trường và các văn bản pháp luật liên quan khác phân công
01 lãnh đạo phụ trách về công tác quản lý chất thải y tế và 01 khoa, phòng hoặc cán
bộ chuyên trách về công tác quản lý chất thải y tế của cơ sở Tuy nhiên, một số nơi làm chưa tốt đặc biệt các y tế tư nhân hay các trạm y tế[34]
Sự quan tâm của lãnh đạo
Nâng cao nhận thức về trách nhiệm chỉ đạo của lãnh đạo ngành y tế và các đơn vị liên quan đến công tác quản lý CTRYT Để thực hiện được mục tiêu này, lãnh đạo ngành y tế chỉ đạo, phê duyệt kế hoạch xây dựng, bảo đảm nguồn lực cho các cơ sở y tế thực hiện quản lý CTRYT và xây dựng cơ sở y tế xanh – sạch – đẹp; đồng thời thực hiện việc kiểm tra giám sát công tác quản lý CTYT của các cơ sở y
tế
Nghiên cứu của Nguyễn Bá Tòng về Thực trạng QLCTRYT tại các trạm y tế thuộc huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp năm 2015 cho thấy sự điều hành quyết liệt
HUPH
Trang 29của Trung tâm y tế, vai trò đầu tàu của Trưởng trạm y tế có tác động trực tiếp đến hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT [35]
Theo nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính của Đinh Tiến Hùng về về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2013, sự quan tâm của lãnh đạo cũng như nhận thức của nhân viên y tế có ý nghĩa thực sự quan trọng đối với công tác quản lý, phân loại CTRYT[33]
Tương tự, nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính của Hồ Thị Nga về thực trạng quản lý CTRYT và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc tình Hải Dương năm 2013 cũng có kết quả sự quan tâm điều hành của lãnh đạo được đánh giá là yếu tố quan trọng nhất tác động đến thực trạng quản lý CTRYT tại bệnh viện [36]
1.3.2 Công tác kiểm tra, giám sát
Tăng cường sự tham gia giám sát thực hiện quản lý chất thải y tế của cộng đồng người dân đối với các cơ sở y tế nhằm đẩy mạnh giảm thiểu chất thải y tế và tăng hiệu quả bảo vệ môi trường Các cơ sở y tế thực hiện thường xuyên chế độ báo cáo với các cơ quan quản lý cấp trên về kết quả quản lý chất thải y tế, xây dựng cơ
sở y tế xanh - sạch - đẹp
Nâng cao nhận thức về trách nhiệm quản lý chất thải y tế, lãnh đạo các khoa, phòng của các cơ sở y tế cần thực hiện kiểm tra, giám sát việc tuân thủ quy định về quản lý chất thải y tế; ngoài ra tất cả các cơ sở y tế áp dụng các hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với lãnh đạo, cán bộ, nhân viên trong việc thực hiện các quy định về quản lý chất thải y tế
Tuy nhiên, thực tế qua công tác thanh tra, kiểm tra về tình hình quản lý CTYT, bảo vệ môi trường trong các cơ sở cho thấy việc giám sát của các cấp quản
lý về CTYT tại các địa phương còn hạn chế, lãnh đạo một số cơ sở y tế chưa nhận thức đúng về công tác quản lý CTYT, công tác thanh tra, xử lý các vi phạm cũng như chế tài chưa đủ sức răn đe nên nhiều cơ sở y tế vẫn vi phạm các qui định trong quản lý CTYT
HUPH
Trang 301.3.3 Về kinh phí
Việc đầu ra kinh phí cho quản lý CTRYT tại các cơ sở y tế còn gặp rất nhiều khó khăn Các cơ sở y tế phần lớn là các đơn vị sự nghiệp, không có khả năng tự cân đối kinh phí đầu ra các công trình xử lý chất thải Kinh phí cho xử lý CTRYT chưa được tính đúng và tính đủ vào giá thành trong khám, chữa bệnh nên đã và đang gặp nhiều khó khăn cho các cơ sở y tế trong việc duy trì hoạt động xử lý CTRYT
Để thu gom và xử lý số chất thải y tế phát sinh, chỉ tính riêng trong số 1.250 bệnh viện đã và đang phải chi ra hơn 500 tỷ đồng mỗi năm (theo số liệu báo cáo của các bệnh viện để xử lý 1 kg chất thải rắn nguy hại cần ít nhất là 15.000 đồng chưa tính đến kinh phí đầu ra các thiết bị, dụng cụ và xây dựng các hệ thống xử lý chất thải rắn y tế nguy hại và hệ thống xử lý nước thải bệnh viện Trong khi đó, các bệnh viện không được cấp nguồn kinh phí riêng để chi trả cho việc xử lý chất thải và cũng theo các quy định hiện hành thì các bệnh viện cũng chưa được thu phí xử lý chất thải y tế theo giường bệnh hoặc theo các dịch vụ khám, chữa bệnh Thực trạng trên kéo dài đã nhiều năm Tuy nhiên, các bệnh viện công lập trong những năm gần đây đều phải tự chủ một phần (và tiến tới sẽ tự chủ hoàn toàn) nguồn ngân sách nhà nước cấp theo giường bệnh cho các bệnh viện để chi trả tiền lương cho cán bộ, nhân viên y tế, chi phí vận hành toàn bộ các hoạt động của bệnh viện chỉ đáp ứng được một phần nhỏ, phần lớn kinh phí để vận hành các hoạt động của bệnh viện đều phải lấy từ nguồn thu viện phí [10]
Tại Việt Nam từ năm 2004, Bộ chính trị đã ban hành Nghị quyết 41-NQ-TW ngày 15/11/2004 về bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết nêu rõ: “Thực hiện nguyên tắc người gây thiệt hại đối với môi trường phải khắc phục, bồi thường, buộc bồi thường thiệt hại về môi trường” [37] Tại Thông tư số 97/2006/TT-BTC ngày 16/10/2006 của Bộ tài chính hướng dẫn phí
và lệ phí quy định phí vệ sinh là khoản thu nhằm bù đắp một phần hoặc toàn bộ chi phí đầu tư cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn địa phương, như chi phí cho tổ chức hoạt động của đơn vị thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải theo quy trình kỹ thuật của cơ quan có thẩm quyền quy định Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 của Chính phủ, về cơ chế hoạt động, cơ chế tài
HUPH
Trang 31chính của các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh của các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công lập đã quy định rõ chi phí xử lý chất thải
y tế là chi phí trực tiếp Theo lộ trình được quy định tại Nghị định này, đầu năm
2018 chi phí khám, chữa bệnh được tính đúng, tính đủ sẽ bao gồm cấu phần kinh phí để chi trả cho vệ sinh môi trường và xử lý chất thải y tế
Việc khoán chi ở BV, đã làm cho các BV phần lớn chỉ quan tâm đến việc đầu
tư máy móc thiết bị, vật tư chuyên môn, ít quan tâm đầu ra cho công tác quản lý, xử
lý CTRYT Đây cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến công tác quản lý, xử lý CTRYT tại các BV còn nhiều hạn chế và bất cập [10]
1.3.4 Nguồn nhân lực cho công tác quản lý CTRYT
Hầu hết các cơ sở y tế việc thực hiện quản lý chất thải đều chưa tốt và không thường xuyên vì nguồn nhân lực chuyên trách không có, đa số là kiêm nhiệm cùng với công tác chuyên môn hoặc bán thời gian Nhiều BV hiện nay đã áp dụng xã hội hóa công tác quản lý CTRYT cho các công ty có đủ điều kiện về lĩnh vực này song vẫn còn nhiều tồn tại và bất cập vì trong quản lý CTRYT việc áp dụng nguyên tắc phân loại CTRYT ngay tại nguồn là vô cùng quan trọng, trong khi chính cán bộ NVYT là người trực tiếp thực hiện phân loại Thực trạng dẫn đến quản lý CTRYT gặp nhiều khó khăn
Hiện nay theo khuyến cáo của Bộ Y tế - Cục quản lý môi trường y tế, việc quản lý CTRYT nên giao cho bộ phận hoặc Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn là phù hợp và đúng với chuyên môn vì quá trình kiểm tra giám sát đi cùng với kiểm soát nhiễm khuẩn BV [38]
Hiểu biết của cán bộ, nhân viên y tế về quản lý CTRYT
Tăng cường truyền thông thay đổi hành vi đến với tất cả các nhân viên y tế, nhân viên vệ sinh môi trường, nhân viên vận hành hệ thống xử lý chất thải y tế tại các cơ sở y tế thực hiện hành vi quản lý chất thải y tế trong các cơ sở y tế đúng quy định Đồng thời vận động lãnh đạo ngành y tế, lãnh đạo địa phương và các cơ quan,
bộ, ngành có liên quan chỉ đạo và bảo đảm các điều kiện về thể chế, nguồn lực cho công tác quản lý chất thải y tế, xây dựng cơ sở y tế xanh - sạch - đẹp Ngoài ra, phải
tổ chức hệ thống quản lý thông tin về quản lý chất thải y tế; tổ chức thực hiện công
HUPH
Trang 32tác truyền thông về quản lý chất thải y tế trong cơ sở y tế và nâng cao năng lực truyền thông cho đội ngũ thực hiện công tác truyền thông [38]
Công tác đào tạo
Để giúp các cơ sở y tế đào tạo đúng các yêu cầu về quản lý chất thải Bộ Y tế
đã ban hành tài liệu hướng dẫn đào tạo quản lý CTYT nhằm nâng cao nhận thức của nhân viên y tế về CTYT Nội dung đào tạo được biên soạn phù hợp cho từng nhóm đối tượng của cơ sở y tế Trong đó đã được biên soạn chi tiết các nội dung trong qui định về phân loại, thu gom, lưu giữ, vận chuyển và xử lý CTYT Qua đó giúp các nhân viên y tế hiểu và thực hiện đúng các quy định về quản lý CTYT đặc biệt là trong công tác giảm thiểu phát sinh CTYT, an toàn và phòng ngừa các rủi ro từ CTYT [39]
Năm 2014, cục quản lý môi trường, Bộ Y tế đã ban hành sổ tay hướng dẫn quản lý CTRYT trong bệnh viện nhằm mục đích giúp các cơ sở y tế thực hiện tốt công tác quản lý CTYT theo đúng các qui định hiện hành, góp phần cải thiện môi trường trong các bệnh viện
1.3.5 Cơ sở vật chất và trang thiết bị
Cơ sở vật chất và trang thiết bị ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động quản lý CTRYT của các cơ sở khám chữa bệnh
Một nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp nghiên cứu định lượng
và định tính của Phan Thị Thu về thực trạng, kiến thức, thực hành của nhân viên y tế
về phân loại, thu gom, CTRYT và một số yếu tố liên quan tại các trạm y tế trên địa bàn thị xã Hoàng Mai, Nghệ An năm 2015 cho thấy toàn bộ các cơ sở nghiên cứu đều không có đầy đủ phương tiện, dụng cụ hỗ trợ cho công tác phân loại, thu gom CTRYT Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đó cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng xấu đến thực hành phân loại CTRYT[40]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng với phương pháp nghiên cứu định tính của Nguyễn Bá Tòng về thực trạng quản lý CTRYT tại các trạm y tế thuộc huyện Châu Thành tỉnh Đồng Tháp năm 2015 cho rằng cơ sở hạ tầng chưa đồng bộ, vật tư tiêu hao cho công tác phân loại, thu gom thiếu số lượng, quy cách, mã màu…về tài chính, tuy được tự chủ nhưng không đủ và không có
HUPH
Trang 33nguồn bổ sung là các yếu tố khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động quản lý CTRYT[35]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính của Đinh Tiến Hùng về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Khánh Hòa năm 2013 cũng cho thấy nếu trang thiết bị, kinh phí đầu tư cho công tác quản lý CTRYT không được bổ sung, nâng cấp thường xuyên thì các yếu tố khác dù tốt đến đâu cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng [33]
1.4 Một số thông tin về Viện và quản lý CTRYT tại Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh
1.4.1 Thông tin chung của đơn vị
Viện Y dược học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh thành lập theo Quyết định
số 43/YTXH-TB-TC ngày 24/12/1975 Hiện nay Viện có 385 cán bộ công nhân viên, 10 Phòng chức năng, 16 Khoa chuyên môn, 01 Trung tâm Nghiên cứu Ứng dụng Khoa học Công nghệ Đông y – Đông dược.Khoa Dược Viện có nhiệm vụ cung ứng thuốc, sản xuất, bào chế Đông dược đáp ứng cho nhu cầu khám và điều trị bệnh nhân ngoại trú và nội trú.Theo số liệu thống kê năm 2019 về hoạt động khám
và chữa bệnh, Viện có 26 khoa/phòng, 365 giường bệnh, tiếp đón điều trị cho 149.952 lượt khám và điều trị bệnh (nằm điều trị nội trú là 7.341 người).Trong đó số lần thực hiện phẫu thuật là 204 lần, chụp X.quang là 956 lần , nội soi là 313 lần và làm xét nghiệm là 360.859 lần (Nguồn: Viện Y dược học thành phố Hồ Chí Minh) [41]
Đặc thù của Viện là Viện nghiên cứu có giường bệnh, thực hiện khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và phục hồi chức năng bằng Y học cổ truyền, kết hợp Y học cổ truyền với Y học hiện đại; Viện không có hoạt động phẫu thuật, chỉ có các thủ thuật nhỏ
Sử dụng các phương pháp Y học cổ truyền kỹ thuật cao mang lại hiệu quả như: Châm cứu, Cấy chỉ Việt, Đại trường châm, Bó thuốc Y học cổ truyền, Điều trị trĩ bằng PG60
HUPH
Trang 341.4.2 Một số nội dung về hệ thống quản lý chất thải rắn y tế tại Viện Y dược học
dân tộc
Viện YDHDT đã thành lập Ban an toàn môi trường và An ninh trật tự trong Viện, có nhiệm vụ quản lý, xây dựng kế hoạch, qui định, giám sát, cơ chế khen thưởng và chế tài về QL CTYT trong Viện, thành phần gồm phòng Hành Chánh quản trị, Phòng Điều dưỡng, Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn của Viện Bên cạnh việc thực hiện theo quy chế quản lý chất thải y tế của BYT thì Viện cũng đã xây dựng những quy định riêng để phù hợp với nhu cầu thực tế của Viện [42]
Theo báo cáo kết quả quan trắc môi trường của Viện năm 2019, lượng chất thải rắn thông thường phát sinh trung bình là 800 kg trong một ngày và lượng CTRYT nguy hại sinh ra trung bình là 60 kg trong một ngày Do đặc thù của Viện YDHDT là điều trị theo y học cổ truyền không tiến hành thủ thuật giải phẩu nên không có chất thải giải phẩu, Viện chuyên về châm cứuvà các thủ thuật không dùng thuốc nên các vật sắc nhọn như kim châm cứu thải ra rất nhiều, theo thống kê số lượng kim châm cứu phát sinh năm 2018 là 3.136.280 cây, năm 2019 là 2.540.660 cây và 6 tháng đầu năm 2020 là 853.550 cây, đây là vấn đề cần phải chú trọng quan tâm
Viện có Trung tâm sản xuất thuốc đông y đông dược, phần rác thải đông y đông dược chủ yếu là cây thuốc dược liệu nên rác thải này chủ yếu là rác thải thông thường, do đó số lượng rác thải y tế của Viện không quá nhiều so với các bệnh viện khác
Việc thu gom, vận chuyển chất thải trong Viện do hộ lý Phòng Hành chính quản trị và Phòng Điều dưỡng đảm nhiệm dưới sự giám sát của Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn
Viện có hợp đồng với công ty TNHH MTV Môi trường Đô thị đến thu gom theo lịch định kỳ đã có sẵn
Điểm quản lý chất lượng năm 2018 và 2019 của Viện chỉ đạt 4/5 điểm nên cần tìm ra các vấn đề còn tồn tại để có hướng khắc phục để nâng điểm quản lý chất lượng bệnh viện trong thời gian tới
HUPH
Trang 351.5 Khung lý thuyết
Vấn đề quản lý chất thải rắn ở các bệnh viện điều trị theo hướng y học hiện đại (Tây y) có rất nhiều khía cạnh phức tạp cần phải được hiểu rõ và phân tích để đưa ra các giải pháp hoàn thiện phù hợp với hoạt động của đơn vị.Bên cạnh đó, mô hình quản lý chất thải rắn Đông y lại khá đơn giản và nằm hoàn toàn trong mô hình
xử lý chất thải rắn của các bệnh viện Tây y.Viện YDHDT là đơn vị đầu ngành về y học cổ truyền và kết hợp điều trị y học cổ truyền và y học hiện đại Trong chức năng
và nhiệm vụ được Bộ Y tế và Sở Y tế thành phố Hồ Chí Minh giao, bên cạnh các dịch vụ kỹ thuật không dùng thuốc như các đơn vị bệnh viện Y học cổ truyền, Viện
đã được phê duyệt và triển khai thực hiện 1.048 danh mục kỹ thuật hồi sức tích cực, nội khoa, ngoại khoa (trong đó có thực hiện hơn 10 loại phẫu thuật ngoại khoa loại
II, loại III) Do đó, việc lựa chọn mô hình phải đảm bảo tính toàn diện của Viện chứ không đơn thuần là quản lý chất thải ở một đơn vị bằng đông y đơn thuần như các phòng khám y học cổ truyền hay phòng chẩn trị
Từ các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước thì việc quản lý CTRYT của các bệnh viện được khái quát gồm 4 giai đoạn:
Trang 36- Cơ chế, chính sách và quản lý
điều hành
Sự đầy đủ, hợp lý của các quy
định, quy trình về QLCTRYT tại
Viện YDHDT, sự quan tâm của
Phân loại CTRYT tại chỗ
- Có túi, thùng đựng chất thải riêng biệt
- CTYT thực hiện phân loại ngay tại nguồn
Thu gom CTRYT
- Thu gom khi đầy túi
- Không thu gom lẫn CTRYT với nhau
- Lưu giữ chất thải tạm thời riêng biệt
Lưu giữ chất thải tại Viện
- Thời gian lưu giữ chất thải đảm bảo
- Kho chứa CTRYT phải riêng biệt
Vận chuyển CTRYT
- Xe vận chuyển chất thải riêng biệt
- Vận chuyển theo đường riêng
- Không rơi vãi trên đường
HUPH
Trang 37CHƯƠNG 2.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu định lượng
- Tất cả cơ sở vật chất trang thiết bị QL CTRYT bao gồm: Các túi, hộp, thùng rác để phân loại CTRYT, thùng rác tổng ở khu vực để tạm ở mỗi khoa, xe vận chuyển, đường vận chuyển và nhà lưu chứa chất thải y tế của Viện
- Quan sát các loại CTRYT được lưu trữ tạm thời trong túi, hộp, thùng tại các Khoa
Thực hiện tại 13 khoa có phát sinh nhiều CTRYT trong Viện Y dược học dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh, gồm:
08 khoa lâm sàng nội trú: Khoa Nội Tim mạch và Thần kinh; Khoa Nội Ung bướu (hỗ trợ, điều trị); Khoa Hỗ trợ điều trị bệnh lý Nữ giới (Khoa Phụ); Khoa Ngoại tổng hợp; Khoa Nội Cơ Xương Khớp; Khoa Hồi sức tích cực, chống độc; Khoa Nội Tổng hợp; Khoa Châm cứu - Dưỡng sinh
02 khoa lâm sàng ngoại trú: Khoa Khám bệnh đa khoa; Khoa Vật lý trị liệu – Phục hồi chức năng
03 khoa cận lâm sàng: Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn, Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Thăm dò chức năng; Khoa Xét Nghiệm
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu định tính
- Thành viên Ban giám đốc quản lý bộ phận phụ trách CTRYT, Lãnh đạo phòng Hành chánh quản trị, Phòng Điều Dưỡng và Khoa kiểm soát nhiễn khuẩn vì đây là 3 đơn vị có trách nhiệm quản lý hoạt động CTRYT tại Viện
- Bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên làm việc tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng có nhiều CTRYT phát sinh nhất
- Hộ lý của Viện
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian tiến hành: Từ tháng 01/2020 đến tháng 06/2020
- Địa điểm nghiên cứu: Tại 10 khoa lâm sàng và 03 khoa cận lâm sàng thuộc Viện Y dược học dân tộc, 273 Nguyễn Văn Trỗi, phường 10, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh
HUPH
Trang 382.3 Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính
Phương pháp nghiên cứu định lượng: quan sát đánh giá 4 giai đoạn: Phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT nhằm đánh giá thực trạng công tác quản lý CTRYT tại Viện YDHDT
Các số liệu thứ cấp: Các tài liệu, báo cáo liên quan đến công tác quản lý CTRYT, báo cáo quan trắc môi trường của Viện YDHDT Thành phố Hồ Chí Minh
từ tháng 01/2019 đến tháng 06/2020 nhằm làm rõ thực trạng công tác quản lý CTRYT hiện có tại Viện
Phương pháp nghiên cứu định tính: gồm các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý CTRYT tại Viện YDHDT
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
2.4.1 Nghiên cứu định lượng
Thực hiện quan sát các túi, hộp, thùng rác, xe vận chuyển, đường vận chuyển
và nhà lưu chứa chất thải y tế phục vụ cho công tác quản lý CTRYT tại 13 khoa lâm sàng và cận lâm sàng để trả lời các vấn đề liên quan đến 4 nội dung: phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ CTRYT
Bảng 1.Cỡ mẫu đối với nghiên cứu định lượng
Đối tượng
quan sát Nội dung quan sát Cỡ mẫu
Thời gian quan sát nghiên cứu
BTNMT
Các dụng cụ, TTB cố định,
vì vậy quan sát 1 lượt tại mỗi khoa nên có 13 lượt quan sát
Quan sát 01 trong ngày
Bảng kiểm (phụ lục 2)
HUPH
Trang 39Quan sát 13 khoa x 2 lần/
ngày x 5 ngày = 130 lượt
Từ 9 giờ 30 đến 10 giờ
và từ 14 giờ
30 đến 15 giờ
Bảng kiểm (phụ lục 1)
Quan sát 13 khoa x 2 lần/
ngày x 5 ngày = 130 lượt
10 giờ và 15 giờ
Bảng kiểm (phụ lục 1)
Quan sát 13 khoa x 2 lần/
ngày x 2 ngày = 52 lượt
Từ 10giờ - 10giờ 30 và
từ 15giờ 30 - 17giờ
Bảng kiểm (phụ lục 1)
Lưu giữ Nhà rác,
thùng rác
tập trung
Đánh giá đạt các tiêu chí về lưu giữ CTRYT theo TTLT 58/TTLT-BYT-BTNMT
Quan sát 2 lần/ tuần x 2 tuần x 4 kho
= 16 lượt
Từ 10 giờ 30- 11giờ 30
Bảng kiểm (phụ lục 1)
Giai đoạn phân loại – thu gom CTRYT
Đối với CTRYT được lưu trữ tạm thời tại mỗi khoa, nghiên cứu viên thực hiện quan sát các thùng/túi/hộp chứa đựng CTRYT tại các vị trí cố định theo bảng kiểm (phụ lục 6)
Chọn mẫu ngẫu nhiên trong quan sát phân loại CTRYT
HUPH
Trang 40Cỡ mẫu cho số lượt quan sát tối thiểu được ước tính theo công thức ước lượng cỡ mẫu cho 1 tỷ lệ:
𝑝(1 − 𝑝)𝑑Trong đó:
n: Cỡ mẫu cần quan sát
𝑍 ∝= 1,96 là hệ số từ phân phối chuẩn với xác suất sai lầm loại 1 α = 0,05
d = 0,05 là sai số cho phép (5%)
P: là tỷ lệ phân loại CTYT đạt yêu cầu của nghiên cứu trước
Ta chọn p = 0,0897 là tỷ lệ thực hiện phân loại CTRYT ngay tại nguồn đạt 89,7% trong nghiên cứu của Võ Văn Hải tại bệnh viện quận Thủ Đức thành phố Hồ Chí Minh năm 2019có đối tượng nghiên cứu định lượng là bao bì /túi/ hộp/ thùng để phân loại CTRYT và có phương pháp thu thập số liệu định lượng giống nhau[43]
Vậy số lượt quan sát tối thiểu là 125 lượt quan sát Số lượng khoa thực hiện nghiên cứu tại Viện là 13 Khoa lâm sàng và cận lâm sàng, để thuận tiện cho tính toán thống kê, mỗi khoa sẽ được thực hiện quan sát 10 lượt Như vậy tổng cộng có
130 lượt quan sát CTRYT được phân loại
Một lượt quan sát phân loại: một lần quan sát tất cả các túi, thùng rác ở một khoa tính thành 1 lượt quan sát
Giai đoạn thu gom CTRYT :
CTRYT được thu gom từ các túi, hộp, thùng tại các vị trí trong khoa về thùng rác tổng đặt tại nơi lưu trữ tạm thời ở mỗi khoa theo quy định Quá trình quan sát của NCV ở giai đọạn phân loại tiến hành ngay trước giờ tiến hành thu gom rác theo quy định
Do mỗi ngày chỉ thực hiện thu gom 2 lần tại mỗi khoa nên sẽ có 26 lượt quan sát thu gom/ ngày Để bảo đảm tính đại diện nghiên cứu sẽ thực hiện quan sát quá trình thu gom CTRYT tại 13 khoa trong 5 ngày làm việc nêncỡ mẫu đối với giai đoạn thu gom là 130 lượt quan sát thu gom CTRYT
Ở giai đoạn thu gom cỡ mẫu sẽ giống nhau về số lượt quan sát với giai đoạn phân loại là 130 lượt, nhưng tiêu chí đánh giá ở mỗi giai đoạn là khác nhau
HUPH