Đại cương về căng thẳng
Căng thẳng (stress): là tổng thể nói chung những rối loạn tâm lý xảy ra đột ngột do nhiều nguyên nhân khác nhau nhƣ sốc, xúc động, quá tải…[12]
Căng thẳng nghề nghiệp là sự tương tác giữa điều kiện lao động và đặc điểm của người lao động, dẫn đến sự thay đổi trong các chức năng tâm lý hoặc sinh lý Nói cách khác, căng thẳng nghề nghiệp xảy ra khi yêu cầu công việc vượt quá khả năng ứng phó của người lao động.
1.1.2 Biểu hiện của căng thẳng
Các nghiên cứu chỉ ra rằng căng thẳng có thể dẫn đến ba biểu hiện chính: rối nhiễu tâm lý, rối loạn sinh lý và lệch lạc ứng xử.
Căng thẳng có thể gây ra nhiều rối nhiễu tâm lý như lo âu, cảm giác hụt hẫng, nhạy cảm quá mức với cảm xúc, giảm hiệu quả giao tiếp, cảm giác bị xa lánh và ghét bỏ, cũng như mất tập trung và tính tự chủ.
Những triệu chứng thực tổn bao gồm tăng nhịp tim và huyết áp, các vấn đề về đường tiêu hóa như loét dạ dày và tá tràng, cảm giác mệt mỏi thể xác, bệnh tim mạch, các chứng bệnh hô hấp, nhức đầu, và đau mỏi cơ xương.
Triệu chứng ứng xử bao gồm việc chần trừ và né tránh công việc, gia tăng lạm dụng rượu và ma túy, ăn uống kém và giảm trọng lượng đột ngột, cũng như sự suy giảm trong các mối quan hệ với bạn bè và gia đình Ngoài ra, còn có nguy cơ tự sát và các mưu toan tự sát.
1.1.3 Ảnh hưởng của căng thẳng
Căng thẳng không chỉ tác động tiêu cực đến sức khỏe cá nhân mà còn làm giảm năng suất lao động, gia tăng chi phí điều trị và tạo ra gánh nặng cho toàn xã hội.
Căng thẳng, lo âu và trầm cảm kéo dài có thể gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe toàn thân, bao gồm hệ tuần hoàn, tim mạch, hô hấp, thần kinh và tiêu hóa Tuy nhiên, căng thẳng nhẹ có thể có vai trò tích cực, giúp cá nhân thích nghi với hoàn cảnh.
Căng thẳng kéo dài có thể dẫn đến nhiều rối loạn phức tạp và hậu quả nghiêm trọng như thiếu máu, thoái hóa mô, và các bệnh tim mạch như đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim Điều tra về sức khỏe nghề nghiệp của nhân viên y tế tại Việt Nam cho thấy công việc căng thẳng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe, với các triệu chứng như mệt mỏi, đau nhức cơ xương khớp, rối loạn giấc ngủ, và cảm giác lo âu Căng thẳng không chỉ làm giảm năng suất lao động mà còn gia tăng chi phí điều trị cho xã hội Tại Anh, có tới 12,8 triệu ngày công lao động bị mất mỗi năm do nghỉ ốm liên quan đến căng thẳng, lo âu và trầm cảm.
Các nguyên nhân gây ra tình trạng căng thẳng
1.2.1 Nguyên nhân gây ra tình trạng căn thẳng: gồm nguyên nhân mang tính cá nhân và nguyên nhân do điều kiện môi trường[9]
Nguyên nhân mang tính cá nhân:
Những thay đổi trong cuộc sống có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, đặc biệt khi sự thay đổi diễn ra quá nhiều Để thích nghi với các yêu cầu mới, con người cần có những điều chỉnh phù hợp Nếu cơ thể không thể đáp ứng với điều kiện mới, điều này sẽ dẫn đến căng thẳng cả về thể chất lẫn tinh thần Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng căng thẳng thường là hệ quả của những thay đổi hoặc sự kiện quan trọng trong cuộc sống.
Tình trạng tích lũy những điều ấm ức và hụt hẫng có thể dẫn đến căng thẳng nhiều hơn so với những sự kiện gây choáng váng mạnh.
N u ki ng: thảm họa tự nhiên, thảm họa xã hội
Các yếu tố nghề nghiệp gây căng thẳng cho nhân viên y tế bao gồm điều kiện lao động kém và làm việc trong môi trường căng thẳng.
Điều kiện lao động kém, như làm việc quá sức, thiếu biên chế, lịch làm việc dày đặc, và thiết bị hoạt động kém, đã dẫn đến tình trạng căng thẳng cho nhân viên y tế Sự tổ chức lao động không hợp lý và tình trạng quan liêu trong các bệnh viện lớn khiến nhân viên cảm thấy cô độc, mệt mỏi và bất lực Những áp lực từ yêu cầu của bệnh nhân và tinh thần trách nhiệm cao càng làm gia tăng cảm giác bực bội trong công việc.
Lao động trong môi trường dễ gây căng thẳng thường gặp phải nhiều yếu tố như khối lượng công việc lớn, tiếp xúc với nhiều bệnh nhân và người nhà họ, cũng như phải đối mặt với các loại bệnh nguy hiểm Những người làm việc trong lĩnh vực này thường xuyên lo lắng về nguy cơ lây nhiễm bệnh, rủi ro tai nạn nghề nghiệp và khả năng bị bạo lực từ bệnh nhân hoặc người nhà bệnh nhân.
Tổng quan về các thang đo căng thẳng
Trên toàn cầu, có nhiều thang trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá mức độ căng thẳng của cá nhân Tất cả các thang đánh giá này đều sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm tự điền.
Bộ câu hỏi đánh giá căng thẳng của Hội quản lý căng thẳng quốc tế (International Stress Management Association) gồm 25 câu hỏi trắc nghiệm dạng có/không, với mỗi câu trả lời đúng được 1 điểm và sai là 0 điểm Tổng điểm từ 25 câu hỏi sẽ giúp đánh giá mức độ căng thẳng của từng cá nhân: từ 4 điểm trở xuống là ít căng thẳng, từ 5-13 điểm cho thấy có mối liên hệ giữa căng thẳng và tình trạng sức khỏe thể chất, tinh thần, và từ 14 điểm trở lên là những người dễ bị căng thẳng Tuy nhiên, thang đo này vẫn chưa được Việt hóa và chưa được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam.
Thang đo tự đánh giá căng thẳng nghề nghiệp bao gồm 57 câu hỏi trắc nghiệm với thang điểm từ 1 đến 5 Nó giúp tìm hiểu mối liên quan giữa tình trạng căng thẳng nghề nghiệp và các yếu tố như mối quan hệ cá nhân (27 câu), điều kiện sức khỏe (22 câu) và hứng thú nghề nghiệp (9 câu) Kết quả được phân loại thành 3 mức độ: thấp, trung bình và cao.
HUPH giá căng thẳng nghề nghiệp tương đối dài và khó sử dụng nên ít được dùng trong các nghiên cứu về căng thẳng nghề nghiệp tại Việt Nam
Bảng hỏi nội dung công việc (Job content questionnaire) đánh giá mức độ căng thẳng do công việc gây ra, bao gồm 27 câu hỏi với thang điểm từ
Mô hình căng thẳng của Karasek được đánh giá qua bảng hỏi với 4 mức độ tăng dần, phản ánh áp lực tâm lý trong công việc, quyền tự chủ và sự ủng hộ từ đồng nghiệp cũng như cấp trên Tuy nhiên, do khó sử dụng, bảng hỏi này ít được áp dụng trong các nghiên cứu tại Việt Nam.
Ngoài thang đánh giá tình trạng căng thẳng, còn có nhiều thang đo khác để đánh giá các trạng thái tâm lý như thang đánh giá lo âu của Zung, thang đánh giá trầm cảm Hamilton và thang đánh giá trầm cảm Beck.
Thang đánh giá Lovibond (DASS 42 và DASS 21) đo lường ba vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến: căng thẳng, lo âu và trầm cảm DASS 21 đã được xác nhận về tính giá trị và độ tin cậy, cho thấy khả năng áp dụng tại Việt Nam mà không có sự khác biệt văn hóa đáng kể Với tính thuận tiện và dễ sử dụng, thang đo này được lựa chọn cho nghiên cứu của chúng tôi Nhiều nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đã sử dụng các thang đo căng thẳng để đánh giá tình trạng căng thẳng ở nhiều nhóm đối tượng, bao gồm cả nhân viên y tế.
Bảng 1.1 Công cụ đƣợc sử dụng trong các nghiên cứu về căng thẳng
Bộ công cụ đánh giá căng thẳng
Tác giả (năm) nghiên cứu Đối tƣợng
Phạm Minh Khuê, Hoàng Thị Giang (2011)
Thang đa tự đánh giá stress nghề nghiệp Đặng Phương Kiệt (2004) 275 cán bộ tâm lý học đường
Nguyễn Thu Hà và cộng sự (2005) 527 bác sĩ, y tá, hộ lý Nguyễn Thu Hà và cộng sự (2007) 3250 nhân viên y tế Thang đánh giá của
Saini N K và cộng sự (2007) 930 bác sỹ nội trú Khalid và cộng sự (2009) 304 bác sỹ
Sharifah Zainiyah SY và cộng sự
Lê Thành Tài, Trần Xuân Ngọc, Trần Trúc Linh (2008)
Trận Thị Thúy (2011) có 111 bác sỹ và điều dưỡng, trong khi Đậu Thị Tuyết (2013) ghi nhận 221 nhân viên y tế Ngô Thị Kiều My (2014) báo cáo 370 điều dưỡng và hộ sinh, Mai Hòa Nhung (2014) có 147 điều dưỡng và hộ sinh, và Dương Thành Hiệp (2014) có 246 điều dưỡng và hộ sinh.
Thực trạng căng thẳng nhân viên y tế nói chung và nhân viên điều dƣỡng nói riêng
Theo báo cáo, trong giai đoạn 2013 - 2014 tại Anh, có 487.000 trường hợp liên quan đến căng thẳng, lo âu và trầm cảm, chiếm 39% trong tổng số 1.241.000 trường hợp vấn đề sức khỏe liên quan đến công việc Tổng số ngày làm việc bị mất do những vấn đề này lên tới 11,3 triệu ngày Ngành y tế, đặc biệt là điều dưỡng, là một trong những lĩnh vực có tỷ lệ mắc căng thẳng, lo âu và trầm cảm cao nhất liên quan đến công việc.
Nghiên cứu về căng thẳng trong nhân viên y tế thường chỉ tập trung vào bác sĩ và điều dưỡng Một nghiên cứu tại Ấn Độ của Saini N K và cộng sự (2007) đã khảo sát 930 bác sĩ nội trú bằng cách sử dụng thang đánh giá DASS.
Theo nghiên cứu, tỷ lệ căng thẳng trong một nhóm 42 người là 32,8%, trong đó có 165 người (17,7%) gặp căng thẳng nhẹ, 113 người (12,2%) có căng thẳng vừa phải, và 27 người (2,9%) bị căng thẳng nặng Một nghiên cứu khác tại Ả Rập Xê út do Khalid và cộng sự (2009) thực hiện trên 304 bác sĩ cho thấy tỷ lệ trầm cảm, lo âu và căng thẳng lần lượt là 7,6%, 8,6% và 7,2%.
Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah SY và cộng sự (2011) cho thấy khoảng 23,6% nhân viên điều dưỡng gặp phải căng thẳng nghề nghiệp, với tỷ lệ phân loại theo mức độ nhẹ, vừa, nặng và rất nặng lần lượt là 13,6%, 5,5%, 0,9% và 3,6% Nghiên cứu này được thực hiện trên 114 điều dưỡng, bao gồm cả nữ điều dưỡng mang thai và nam điều dưỡng, tại 5 khoa/phòng khác nhau trong một bệnh viện công ở Malaysia Một nghiên cứu khác tại Ethiopia (2012) ghi nhận tỷ lệ căng thẳng của điều dưỡng lên tới 37,8% Ngược lại, tại bệnh viện Sousse (Tunisia), tỷ lệ căng thẳng của điều dưỡng chỉ là 13,0% khi đánh giá 70 điều dưỡng.
Một nghiên cứu tại Iran (2008-2009) đã sử dụng bộ công cụ DASS 21 để đánh giá tình trạng căng thẳng, lo âu và trầm cảm ở 272 điều dưỡng viên thuộc các bệnh xá quân đội, cho thấy tỷ lệ căng thẳng đạt 23,8%.
Mặc dù chưa có thống kê chính thức về số lượng nhân viên y tế gặp vấn đề sức khỏe tinh thần trên toàn quốc, nhưng đã có một số nghiên cứu chỉ ra tình trạng stress nghề nghiệp của nhân viên y tế, bao gồm cả nhân viên điều dưỡng tại một số đơn vị.
Tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp trong đối tượng nhân viên y tế đạt khoảng 41% theo nghiên cứu của Nguyễn Thu Hà và cộng sự (2005) tại ba bệnh viện tuyến trung ương, sử dụng công cụ đánh giá căng thẳng nghề nghiệp đã được chuẩn hóa Đáng chú ý, trong các nhóm có biểu hiện stress, bác sĩ là nhóm có tỷ lệ stress cao nhất.
HUPH khi đánh giá tình trạng căng thẳng nghề nghiệp của 3520 NVYT thì 10,7% có điểm stress cao, 37,9% có điểm stress ở mức trung bình và 51,4% có điểm stress ở mức thấp[4]
Một nghiên cứu của Phạm Minh Khuê và Hoàng Thị Giang (2011) sử dụng bộ công cụ Job Content Questionnaire (JCQ-V) đã xác định tỷ lệ căng thẳng nghề nghiệp trên nhân viên y tế tại bệnh viện Kiến An, Hải Phòng, với kết quả cho thấy tỷ lệ căng thẳng là 6,39%, trong đó nhóm bác sỹ có tỷ lệ cao nhất khoảng 14,9%, trong khi điều dưỡng chỉ khoảng 3,8% Ngược lại, nghiên cứu của Đậu Thị Tuyết (2013) tại thành phố Vinh cho thấy tỷ lệ stress, lo âu và trầm cảm của cán bộ y tế lâm sàng lần lượt là 20,4%, 29,0% và 13,6% Tương tự, nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2011) tại bệnh viện ung bướu cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế khối lâm sàng bị stress lên tới 36,9%.
Nghiên cứu của Đỗ Nguyễn Nhựt Trần và cộng sự năm 2008 tại huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cho thấy 27% nhân viên y tế thường xuyên gặp phải tình trạng stress.
Nghiên cứu về tình trạng căng thẳng nghề nghiệp không chỉ tập trung vào nhân viên y tế nói chung mà còn đặc biệt chú trọng đến nhân viên điều dưỡng Lê Thành Tài và cộng sự đã thực hiện các nghiên cứu liên quan đến vấn đề này.
Nghiên cứu năm 2008 về tình hình stress nghề nghiệp của nhân viên điều dưỡng tại các bệnh viện đa khoa Trung ương Cần Thơ, bệnh viện đa khoa thành phố Cần Thơ và bệnh viện đa khoa Châu Thành – Hậu Giang cho thấy tỷ lệ stress nghề nghiệp trong nhóm nghiên cứu là 45,2%, với hầu hết stress ở mức trung bình (42,8%) Mức độ stress nghề nghiệp giảm dần từ bệnh viện tuyến trung ương đến bệnh viện thành phố và cuối cùng là bệnh viện huyện, với tỷ lệ lần lượt là 53,1%, 33,9% và 32,5% Một nghiên cứu khác của Ngô Thị Kiều My và cộng sự năm 2014 tại bệnh viện Phụ sản Nhi Đà Nẵng cho thấy tỷ lệ stress trong nhóm điều dưỡng là 20,2%.
Tỷ lệ căng thẳng trong nhóm hộ sinh tại HUPH là 15,4%, trong khi tỷ lệ stress chung là 18,1%[10] Nghiên cứu của Mai Hòa Nhung năm 2014 tại bệnh viện Giao thông vận tải trung ương cho thấy 40,8% điều dưỡng khối lâm sàng gặp phải căng thẳng[11] Cùng năm, Dương Thành Hiệp tại bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu (Bến Tre) ghi nhận 56,4% điều dưỡng bị căng thẳng[7].
Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng căng thẳng nhân viên y tế nói chung và nhân viên điều dƣỡng nói riêng
và nhân viên điều dƣỡng nói riêng
Tại các bệnh viện và cơ sở chăm sóc sức khỏe, nhân viên điều dưỡng chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số nhân viên Các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến nhân viên y tế nói chung cũng tác động đến nhân viên điều dưỡng một cách riêng biệt.
1.5.1 Yếu tố liên quan đến nghề nghiệp
Các yếu tố liên quan đến nghề nghiệp gây căng thẳng cho nhân viên y tế bao gồm điều kiện lao động, vai trò trong công việc, môi trường làm việc và mối quan hệ giữa các cá nhân.
Căng thẳng trong môi trường làm việc có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như quá tải công việc, làm việc theo ca, mức độ hứng thú với công việc và các hình thức động viên khuyến khích Những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý và hiệu suất làm việc của nhân viên.
Lao động ca kíp và trực đêm là đặc thù của nhân viên y tế, nhưng nếu không được tổ chức hợp lý, dễ dẫn đến mệt mỏi, nhầm lẫn và sai sót trong công việc Áp lực thời gian và làm việc ca kíp là nguyên nhân chính gây căng thẳng, khiến nhân viên dễ buồn ngủ và không tập trung, từ đó gia tăng nguy cơ tai nạn Tình trạng căng thẳng này không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân viên mà còn có thể làm trầm trọng thêm các bệnh lý như tim mạch và rối loạn tiêu hóa Nghiên cứu tại phòng khám nha khoa cho thấy nhân viên y tế thường xuyên phải đối mặt với môi trường làm việc căng thẳng do áp lực từ thời gian và bệnh nhân nặng Mức độ căng thẳng cũng khác nhau tùy thuộc vào vị trí công việc và khối lượng công việc.
Nghiên cứu của Sharifah Zainiyah SY và cộng sự cho thấy có mối quan hệ thống kê giữa tỷ lệ căng thẳng và bộ phận làm việc của 114 điều dưỡng thuộc 5 khoa khác nhau (p