Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố nguy cơ liên quan dến tình trạng ăn bổ sung không đúng cách của trẻ là do thiếu nguyên liệu thực phẩm cẩn thiết, thiếu thời gian để nấu cháo/bột
Trang 1TRẦN VĂN LONG
THỰC TRẠNG ĂN BỔ SUNG CỦA TRẺ 6 – 23
THÁNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 2 XÃ BẢN PHỐ VÀ THÀO CHƯ PHÌN TỈNH LÀO CAI
Trang 2TRẦN VĂN LONG
THỰC TRẠNG ĂN BỔ SUNG CỦA TRẺ 6 – 23 THÁNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI 2 XÃ BẢN PHỐ VÀ THÀO CHƯ PHÌN TỈNH LÀO CAI
NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Giáo viên hướng dẫn:
TS Huỳnh Nam Phương
Giáo viên hỗ trợ:
ThS Phạm Công Tuấn
Hà Nội-2014
HUPH
Trang 3Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tôi đã nhận được nhiều sự giúp đỡ, hỗ trợ tận tình từ các thầy cô trong và ngoài trường Đại học Y tế công cộng, địa phương triển khai nghiên cứu, cơ quan công tác, bạn bè và gia đình
Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Huỳnh Nam Phương, cô giáo hướng dẫn luận văn tốt nghiệp của tôi, một người thầy tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, góp ý về chuyên môn, phương pháp, cũng như động viên khích lệ tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới Ths Phạm Công Tuấn, thầy đã giúp đỡ và hỗ trợ tôi rất nhiều về mặt phương pháp và góp ý tận tình để tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ths Hoàng Thị Đức Ngàn người đồng nghiệp đã giúp đỡ tạo điều kiện cho tôi tham gia nghiên cứu và hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Trung tâm CSSKSS tỉnh Lào Cai; Trung tâm Y tế huyện Bắc Hà, huyện Simacai; Trạm Y tế xã bản phố và Thào Chư Phìn đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình tiến hành nghiên cứu tại địa phương
Tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu và các Thầy cô trường Đại học Y tế công cộng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và tiến hành nghiên cứu trong thời gian theo học tại trường
Tôi sẽ luôn ghi nhớ sự giúp đỡ nhiệt tình, tạo mọi điều kiện tốt nhất của Lãnh đạo Viện Dinh dưỡng và những đồng nghiệp đang công tác tại Khoa Dinh dưỡng học đường và Ngành nghề đã hỗ trợ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới tập thể cơ quan, người thân và gia đình, những người đã luôn ủng hộ, hỗ trợ và động viên tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành tốt chương trình học tập cũng như luận văn tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2014
Trần Văn Long
HUPH
Trang 4Nội dung Trang DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
1.1 Tìm hiểu về ăn bổ sung: Khái niệm, tầm quan trọng của thực hành ăn
1.2 Thực trạng ăn bổ sung và các yếu tố liên quan 13
1.2.1 Thực trạng ăn bổ sung trên thế giới và Việt Nam 13
1.2.2 Các yếu tố liên quan đến thực hành ăn bổ sung 20
HUPH
Trang 52.9.1 Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về ăn bổ sung 31
2.9.2 Tiêu chuẩn đánh giá thực hành về ăn bổ sung và cách tính 31
3.2 Mô tả kiến thức, thực hành của bà mẹ về ăn bổ sung 38
3.3 Một số yếu tố liên quan đến thực hành ăn bổ sung ở trẻ 6 – 23 tháng 52
4.2 Thực trạng ăn bổ sung của trẻ 6 – 23 tháng tại 2 xã nghiên cứu 62
4.3 Các yếu tố liên quan đến thực hành ăn bổ sung ở trẻ 6 – 23 tháng 69
5.1 Thực trạng ABS của trẻ 6 – 23 tháng tại 2 xã nghiên cứu 77
5.2 Các mối liên quan đến thực hành ăn bổ sung ở trẻ 6 – 23 tháng 77
Trang 6Từ viết tắt Nghĩa
DHS (Demographic and Health Survey) Điều tra nhân khẩu học và sức khỏe
dưỡng trẻ em
USAID (United States Agency for
International Development) Cơ quan phát triển Quốc tế Hoa Kỳ
WHO (World Health Organization ) Tổ chức Y tế thế giới
UNICEF( United Nations Children's Fund)HUPHQuỹ nhi đồng Liên hợp quốc
Trang 7Tên bảng Trang
Bảng 1.1: Nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng 12
Bảng 2.1: Lượng sữa mẹ trung bình cho trẻ 6 – 23 tháng ăn bổ sung 29
Bảng 3.1: Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 35
Bảng 3.2: Bảng thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 36
Bảng 3.3: Thông tin về trẻ tham gia nghiên cứu 37
Bảng 3.4: Kiến thức về ăn bổ sung của bà mẹ 38
Bảng 3.5: Bảng mô tả các tiêu chí thực hành ABS của trẻ theo WHO 2008 41
Bảng 3.6: Đánh giá thực hành ăn bổ sung ở trẻ 6 – 23 tháng 42
Bảng 3.7: Thực phẩm thường dùng để nấu bột, cháo cho trẻ được điều tra 44
Bảng 3.8: Giá trị dinh dưỡng từ khẩu phần trong nhóm trẻ điều tra 45
Bảng 3.9: Đặc điểm khẩu phần của trẻ được điều tra 47
Bảng 3.10: Đặc điểm khẩu phần của trẻ được điều tra 48
Bảng 3.11: Bảng mô tả người đóng vai trò quyết định trong việc chăm sóc
Bảng 3.12: Tiếp nhận thông tin về ăn bổ sung trong 3 tháng qua 50
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa kiến thức và thực hành Ăn bổ sung 52
Bảng 3.14: Mối liên quan giữa trình độ học vấn của mẹ và thực hành ABS 52
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa giới tính trẻ và thực hành ABS 53
Bảng 3.16: Mối liên quan giữa thiếu nguyên liệu thực phẩm cần thiết và
Bảng 3.17: Mối liên quan giữa việc không có sẵn bột ngô/bột gạo, không
có bếp thích hợp và thiểu dụng cụ để nấu cháo/bột cho trẻ với
thực hành ăn bổ sung
54
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa thiều thời gian nấu cháo/bột và biết cách
Bảng 3.19: Mối liên quan giữa một số đặc tính gia đình và thực hành ABS 56
Bảng 3.20: Mối liên quan giữa khoảng cách nơi làm việc và thực hành ăn
Bảng 3.21: Mối liên quan giữa thời gian đi làm sau sinh và thực hành ăn 57
HUPH
Trang 8Bảng 3.22: Mối liên quan việc chăm sóc con khi đi làm và thực hành ăn
Bảng 3.23: Mối liên quan giữa các nguồn cung cấp thông tin về ABS
Bảng 3.24: Xác định mối liên quan hiệu chỉnh của một số yếu tố với thực
hành ABS qua phân tích mô hình Hồi quy Logistics đa biến 59
Bảng 4.1: So sánh các tiêu chí về thực hành ăn bổ sung giữa nghiên cứu
HUPH
Trang 9Tên biểu đồ Trang Biểu đồ 3.1 Thông tin về tháng tuổi của trẻ tham gia nghiên cứu 38
Biểu đồ 3.2 Đánh giá kiến thức về ăn bổ sung của bà mẹ 39
Biểu đồ 3.3 Thời điểm ăn bổ sung của trẻ trong lứa tuổi điều tra 40
Biểu đồ 3.4 Mô tả các nhóm thực phẩm trẻ ăn ngày hôm qua 43
Biểu đồ 3.5 Dạng thức ăn của trẻ khi bắt đầu ăn bổ sung 44
Biểu đồ 3.6 Những khó khăn của bà mẹ khi nấu bột/cháo cho trẻ 51
HUPH
Trang 10Thực hành ăn bổ sung đúng cách cho trẻ 6 – 23 tháng luôn là một trong những giải pháp hiệu quả trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em Trẻ không được ăn bổ sung đúng cách trong khoảng thời gian này, sự phát triển của trẻ
có thể bị ảnh hưởng Mục tiêu: Xác định thực trạng ăn bổ sung của trẻ 6 – 23 tháng
tại hai xã khó khăn của của Lào Cai và một số yếu tố liên quan Nghiên cứu được triển khai tại 2 xã Bản Phố huyện Bắc Hà và Thào Chư Phìn huyện Simacai tỉnh
Lào Cai năm 2014 với sự tham gia của 129 cặp bà mẹ - trẻ 6 – 23 tháng Phương pháp mô tả cắt ngang có phân tích Kết quả: Tỷ lệ trẻ 6 – 23 tháng được ăn đúng
thời điểm là 52%, 44% trẻ 6 – 23 tháng được ăn bổ sung sớm trước 6 tháng; tỷ lệ trẻ được ăn đủ bữa theo khuyến nghị là 79,1% Tỷ lệ thực hành ăn bổ sung đạt (trẻ ăn đúng thời điểm, đủ bữa và đa dạng) trong nghiên cứu này rất thấp (14,7%) Mức tiêu thụ năng lượng hàng ngày từ bữa ăn bổ sung của nhóm 6-8 tháng là 379,9 kcal, nhóm 9 – 11 tháng là 354,9 kcal, nhóm 12-23 tháng là 514,7 kcal/ngày Tỷ lệ P:L:G
ở nhóm 6-8 tháng là 11:10:79, nhóm 9 – 11 tháng là 12:10:78, nhóm 12-23 tháng là 11:11:78, kết quả này cho thấy trẻ em 6-23 tháng tại địa bàn nghiên cứu chủ yếu được ăn tinh bột, tỷ lệ tiêu thụ thực phẩm giàu lipid và protein rất thấp, điều này sẽ kéo theo những hậu quả về dinh dưỡng sau này do sự mất cân bằng các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức đúng về thời điểm bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung là 43,4% trong đó 10,1% bà mẹ kể được đầy đủ 4 nhóm thực phẩm cho trẻ ăn Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố nguy cơ liên quan dến tình trạng ăn bổ sung không đúng cách của trẻ là do thiếu nguyên liệu thực phẩm cẩn thiết, thiếu thời gian để nấu cháo/bột, bà mẹ chưa biết cách nấu cháo/bột, trình độ học vấn của mẹ thấp, không nhận được các thông tin về ăn bổ sung trong 3 tháng
qua, bà mẹ đi làm sớm sau khi sinh Khuyến nghị: Hỗ trợ người dân nguyên liệu,
thực phẩm cần thiết để giảm tình trạng thiếu nguyên liệu thực phẩm cần thiết cho trẻ; Hỗ trợ và khuyến khích người dân tạo nguồn thực phẩm tại chỗ thông qua hỗ trợ cây giống, vật nuôi và hướng dẫn kỹ thuật; Tăng cường truyền thông nhóm nhỏ, truyền thông tại hộ gia đình, hướng dẫn bà mẹ và người chăm sóc trẻ thực hành nuôi dưỡng trẻ hợp lý
HUPH
Trang 11ĐẶT VẤN ĐỀ
Trẻ em là lứa tuổi mà cơ thể phát triển mạnh, thời gian trong bụng mẹ và hai năm đầu sau khi sinh là thời gian quan trọng quyết định mọi tiềm lực về sức khỏe, tư duy, sự phát triển bộ não của trẻ Đây là giai đoạn phát triển cơ thể nhanh nhất và có nguy cơ suy dinh dưỡng (SDD) cao nhất Trẻ em mắc SDD trong 2 năm đầu đời có nguy cơ chậm phát triển cả về thể lực và trí tuệ, dễ mắc các bệnh nhiễm trùng, tăng nguy cơ tử vong trẻ dưới 5 tuổi Trong tương lai, những trẻ này cũng có khả năng mắc các bệnh về dinh dưỡng, chuyển hóa và giảm khả năng thích ứng với xã hội [3],[27]
Hiện nay, trên thế giới, đặc biệt là ở các nước đang phát triển tỷ lệ SDD vẫn
ở mức cao Theo ước tính của WHO, hàng năm có tới 60% trường hợp tử vong ở trẻ
em có nguyên nhân trực tiếp hoặc gián tiếp do SDD [2] Tại Việt Nam, với những
nỗ lực không ngừng trong hơn một thập niên qua, tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi thể nhẹ cân đã giảm từ 33,8% năm 2000 xuống còn 15,3% năm 2013 và tỷ lệ thấp còi giảm từ 36,5% năm 2000 xuống còn 25,9% năm 2013[4] Tuy nhiên, Việt Nam vẫn nằm trong số 13 quốc gia có tỷ lệ trẻ SDD thể thấp còi cao trên phạm vi toàn cầu[3]
Tình trạng SDD của trẻ thông thường bắt nguồn từ việc trẻ không được nuôi dưỡng tốt trong những năm tháng đầu đời Từ tháng thứ 6 trở đi, nhu cầu năng lượng của một trẻ sơ sinh có thể lớn hơn so với những gì sữa mẹ có thể cung cấp, do
đó, ăn bổ sung (ABS) là cần thiết để bù đắp khoảng thiếu hụt này [37] Nếu trẻ không được ăn bổ sung trong khoảng thời gian này, sự phát triển của trẻ có thể bị ảnh hưởng Khoảng thời gian cho trẻ ABS từ 6-23 tháng là khoảng thời gian quan trọng về thay đổi tốc độ phát triển, thiếu các vi chất và mắc các bệnh nhiễm trùng [19] Các thực phẩm dùng cho ABS của trẻ cần phải cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng, an toàn và cho trẻ ăn theo cách phù hợp để đáp ứng các nhu cầu về năng lượng và dinh dưỡng của trẻ Tuy nhiên, thực hành ABS thường gặp các khó khăn như thức ăn được nấu quá loãng, hoặc quá ít hoặc thay thế sữa mẹ bằng loại sữa khác kém chất lượng hơn Loại thực phẩm và thực hành chăm sóc dinh dưỡng đều ảnh đến chất lượng ABS của trẻ, do vậy bà mẹ và gia đình cần đẩy mạnh thực hành cho trẻ ABS đúng cách
HUPH
Trang 12Trên thế giới thực hành ăn bổ sung ở trẻ 6 – 23 tháng khác nhau ở từng vùng,
ở những nước đang phát triển như Tazania, Sudan trẻ được ăn bổ sung từ khá sớm trung bình là tháng thứ 3 Tại Việt Nam một số nghiên cứu cũng cho thấy thời điểm trẻ được ăn bổ sung từ tháng thứ 2 đến thứ 4 khá phổ biến đặc biệt là ở vùng núi có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống có điều kiện kinh tế khó khăn cùng nhiều phong tục tập quán lạc hậu[10],[20],[29]
Nguyên nhân của tình trạng ABS sớm ở trẻ đã được nhiều tác giả chỉ ra trong
đó việc thiếu kiến thức của bà mẹ hay người chăm sóc được tìm thấy ở hầu hết các nghiên cứu, bên cạnh đó những nguyên nhân như tình trạng kinh tế khó khăn, thiếu lương thực, phong tục tập quán, trình độ học vấn, tiếp cận thông tin về ABS… cũng
là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tỷ lệ trẻ được ABS đúng cách thấp[10], [35]
Lào Cai là tỉnh miền núi phía Bắc khó khăn về điều kiện tự nhiên và kinh tế tập trung nhiều dân tộc cùng sinh sống, đây cũng là tỉnh trọng điểm về suy dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 trong những năm qua luôn đứng trong 10 tỉnh có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi và nhẹ cân cao nhất nước [4] Hai xã Bản Phố
và Thào Chư Phìn của huyện Bắc Hà và Simacai là hai xã thuộc diện nghèo của chính phủ có điều kiện kinh tế khó khăn, 99% dân cư là người dân tộc H’Mông cùng nhiều phong tục tập quán lạc hậu Đây cũng là hai xã trọng điểm về suy dinh dưỡng của tỉnh Lào Cai, tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân trên 25% và thấp còi trên 32%, và được UNICEF lựa chọn để tiến hành các can thiệp về dinh dưỡng của tỉnh Lào Cai Bên cạnh đó trên địa bàn hai xã trên chưa có nghiên cứu nào tìm hiểu về thực trạng ABS của trẻ dưới 2 tuổi cũng như các yếu tố liên quan
Vì vậy, để tìm hiểu rõ hơn thực trạng về ABS tại đây, cũng như có cơ sở xây dựng kế hoạch can thiệp trước mắt và chiến lược phòng chống SDD trẻ em lâu dài,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng ăn bổ sung của trẻ từ 6 – 23 tháng và một số yếu tố liên quan tại hai xã Bản Phố và Thào Chư Phìn tỉnh Lào Cai năm 2014” nhằm trả lời cho câu thực trạng ABS tại Lào Cai như thế nào và Yếu tố liên
quan đến thực trạng này là gì?
HUPH
Trang 13MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tả kiến thức, thực hành cho trẻ ăn bổ sung của bà mẹ có con 6 – 23 tháng
và khẩu phần ăn của trẻ 6 – 23 tháng tại xã Bản Phố và Thào Chƣ Phìn tỉnh Lào Cai năm 2014
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành ăn bổ sung của trẻ 6 – 23 tháng tại xã Bản Phố và Thào Chƣ Phìn tỉnh Lào Cai năm 2014
HUPH
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tìm hiểu về ăn bổ sung: Khái niệm, tầm quan trọng của thực hành ăn
bổ sung đúng cách
1.1.1 Hiểu biết cơ bản về ăn bổ sung
Thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trực tiếp ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới hai tuổi và có tác động đến sự sống còn của trẻ
em Cải thiện thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trong độ tuổi từ 6-23 tháng tuổi là rất quan trọng trong việc cải thiện dinh dưỡng, sức khỏe và sự phát triển của trẻ em Tổ chức Y tế thế giới đã khuyến cáo rằng trẻ em nên được nuôi bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và bắt đầu cho ăn bổ sung từ sau 6 tháng
vì từ thời điểm này sữa mẹ không còn cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu của trẻ [38]
Ăn bổ sung (hay còn gọi là ăn sam/ăn dặm) là ăn/uống thêm các thức ăn/đồ
uống khác (như bột, cháo, cơm, rau, hoa quả, sữa đậu nành, sữa bò, trứng, thịt, cá, tôm,… ) ngoài bú sữa mẹ [9]
Ăn bổ sung hợp lý là cho trẻ ăn các loại thức ăn khác ngoài bú sữa mẹ theo
đúng độ tuổi (từ sau 6 tháng, tức là từ tròn 180 ngày trở đi); đủ về số lượng, chất lượng; cân đối giữa thành phần các chất dinh dưỡng và được chế biến theo đúng phương pháp[9]
Tần suất bữa ăn/số lượng bữa ăn (tối thiểu): Trẻ 6 – 23 tháng nhận được
thức ăn rắn, mềm tối thiểu hoặc hơn ngày hôm qua [29]
- Trẻ 6 – 8 tháng còn bú mẹ ăn 2 bữa/ngày
- Trẻ từ 9 – 23 tháng còn bú mẹ ăn 3 bữa/ngày
- Trẻ 6 – 23 tháng không bú mẹ ăn 4 bữa/ngày
Khẩu phần ăn đa dạng(tối thiểu): trẻ 6 – 23 tháng nhận được 4/7 nhóm thực
phầm hoặc hơn trong ngày hôm qua trong tổng số trẻ 6 – 23 tháng [29]
Khẩu phần ăn tối thiểu (vừa đủ bữa vừa đa dạng): Trẻ 6 – 23 tháng có khẩu
phần ăn đa dạng tối thiểu và tần số bữa ăn tối thiểu ngày hôm qua [29]
HUPH
Trang 15Trẻ nhỏ đặc biệt dễ bị tổn thương trong giai đoạn chuyển tiếp từ giai đoạn bú
mẹ sang giai đoạn ăn bổ sung Do vậy việc đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng của trẻ cần phải đáp ứng một số yêu cầu [38]:
Kịp thời - trẻ bắt đầu được ăn bổ sung khi nhu cầu năng lượng và chất dinh
dưỡng vượt quá những gì có thể được cung cấp thông qua bú mẹ hoàn toàn.[39]
Đầy đủ - bữa ăn bổ sung cung cấp đầy đủ năng lượng, protein, lipid, glucid
và vi chất dinh dưỡng để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của trẻ em ngày càng tăng[39]
An toàn - thực phẩm giành cho trẻ ăn bổ sung cần được lưu trữ và chế biến
hợp vệ sinh, vệ sinh bàn tay trước khi ăn, sử dụng các dụng cụ sạch sẽ và thực hiện không cho trẻ bú bình.[39]
Cho ăn đúng cách - bữa ăn phù hợp với đứa trẻ khi có các tín hiệu cho thấy
trẻ có cảm giác ngon miệng và cảm giác no, tần số bữa ăn và cách cho ăn cũng phải phù hợp theo lứa tuổi Bên cạnh đó tích cực khuyến khích đứa trẻ tiêu thụ thức ăn bằng cách sử dụng tay, thìa hoặc tự ăn theo từng lứa tuổi, cho trẻ ăn ngay cả khi trẻ
bị bệnh [39]
1.1.2 Tầm quan trọng của ăn bổ sung hợp lý
Suy dinh dưỡng được cho là có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến khoảng 30% trường hợp tử vong trẻ em hàng năm Hơn hai phần ba các ca tử vong thường liên quan tới thực hành nuôi dưỡng không phù hợp và xảy ra trong năm đầu tiên của cuộc sống [2] Có dưới 35% trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ trên toàn thế giới trong bốn tháng đầu tiên sau khi sinh, việc cho ăn bổ sung thường bắt đầu quá sớm hoặc quá muộn và các loại thực phẩm thường không đầy đủ dinh dưỡng và không an toàn Những trẻ em bị suy dinh dưỡng thường xuyên bị bệnh hơn những trẻ không bị suy dinh dưỡng và phải chịu hậu quả lâu dài của sự chậm phát triển về trí tuệ và thể chất sau này Tăng tỷ lệ mắc thừa cân và béo phì ở trẻ em cũng là một vấn đề đáng quan tâm[2],[3]
Một chế độ ăn uống thích hợp là rất quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của trẻ đặc biệt là trong hai năm đầu tiên Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo cho con bú hoàn toàn trong sáu tháng đầu đời, bổ sung các loại thức ăn
HUPH
Trang 16bổ sung khi trẻ được tròn sáu tháng kết hợp với việc tiếp tục cho bú cho đến khi ít nhất là hai tuổi[38] Trẻ em có nguy cơ gia tăng suy dinh dưỡng từ sáu tháng tuổi trở
đi, khi sữa mẹ không còn đủ để đáp ứng tất cả các nhu cầu dinh dưỡng và cho ăn bổ sung nên được bắt đầu Bắt đầu ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn sẽ dẫn đến suy dinh dưỡng Trẻ được ăn bổ sung trước sáu tháng tuổi có thể dẫn đến tăng nguy cơ nhiễm trùng như tiêu chảy và suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cũng như thấp còi Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu cũng cho rằng cơ thể trẻ sơ sinh dưới 6 tháng tuổi chưa sẵn sàng tiếp nhận thức ăn bổ sung do sự non nớt của đường tiêu hóa, hệ thần kinh
và thận chưa phát triển đầy đủ[38]
Trong thời kỳ ăn bổ sung của trẻ lượng sữa mẹ vẫn tiếp tục có những đóng góp đáng kể cho năng lượng và khẩu phần dinh dưỡng của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ ở các nước đang phát triển sau 6 tháng tuổi, tuy nhiên nhu cầu chất dinh dưỡng từ thực phẩm bổ sung ngày càng tăng lên khi lượng sữa mẹ giảm theo độ tuổi Tổng nhu cầu năng lượng trung bình hàng ngày cho trẻ em khỏe mạnh dưới 6 tháng không phân biệt trai gái là 505 kcal, 6 – 8 tháng là 769 kcal, trẻ 9 - 11 tháng là 858 kcal và 12-
23 tháng là 1.118 kcal [9] Ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, nhu cầu năng lượng trung bình được cung cấp từ thức ăn bổ sung vào khoảng 356 kcal cho trẻ 6-8 tháng, 479 kcal cho trẻ 9-11 tháng và 772 kcal cho trẻ 12-23 tháng Các mức năng lượng này tương đương với 46,3%, 55,8% và 69,1 % tổng nhu cầu năng lượng hàng ngày của trẻ khi lượng sữa mẹ ở mức trung bình[9]
Bên cạnh việc đảm bảo nhu cầu năng lượng theo khuyến nghị thì việc cung cấp thực phẩm sinh năng lượng cho trẻ như protein, lipid, glucid cũng rất quan trọng Theo khuyến cáo của WHO trẻ em bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ được cung cấp đủ lượng protein cần thiết Từ sau 6 tháng thức ăn bổ sung cần phải cung cấp thêm protein do sữa mẹ không còn cung cấp đủ Nhu cầu protein của trẻ 7 – 11 tháng là 20 g/ngày, của trẻ từ 12 – 23 tháng là 23/ngày[9] Sữa mẹ rất giàu chất béo (khoảng 50 – 60% năng lượng ), do vậy việc bổ sung chất béo trong 6 tháng đầu
là chưa cần thiết khi lượng sữa mẹ vẫn còn đủ[25] Tuy nhiên khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung hoặc cai sữa cần phải chú ý đến việc ngăn ngừa tình trạng giảm lipid đột ngột
do trẻ được bú mẹ ít hơn hoặc không còn được bú mẹ nữa Thiếu hụt lipid trong bữa
HUPH
Trang 17ăn hàng ngày ảnh hưởng đến nhiều chức phận của cơ thể đặc biệt là não bộ và thần kinh[9], tại Việt Nam theo khuyến nghị trẻ em dưới 6 tháng năng lượng lipid cung cấp phải đảm bảo 45 – 50% năng lượng tổng số, trẻ 6 – 11 tháng năng lượng do lipid cung cấp là 40%, trẻ 12 – 36 tháng là 35 – 40%, trẻ nhỏ bú mẹ và đang ăn bổ sung lượng lipid từ thức ăn bổ sung phải đảm bảo 30 – 40% năng lượng khẩu phần chung, trong đó trẻ 6 – 8 tháng cần từ 21 – 43g lipid, trẻ 9 – 11 tháng cần từ 25 – 44g lipid, trẻ 12 – 23 tháng cần từ 28 – 45g lipid [9] Đối với những trẻ bắt buộc phải sử dụng thức ăn thay thế ngoài sữa mẹ trước 6 tháng cũng phải đảm bảo năng lượng từ lipid
là 40% có thể tối đa tới 75%, tỷ lệ cân đối lipid động vật và thực vật được khuyến nghị là 70% và 30%, mặc dù trong bữa ăn hàng ngày của trẻ có bổ sung thêm thịt, trứng, cá đã có lipid động vật tuy nhiên lượng cung cấp không đủ nhu cầu cho lứa tuổi này do vậy trong bữa ăn hàng ngày cần bổ sung thêm dầu ăn hoặc mỡ theo tỷ lệ một bữa dầu một bữa mỡ[9] Nhu cầu glucid hàng ngày theo khuyến nghị cho người Việt Nam nên đảm bảo từ 61 – 70% năng lượng tổng số Tỷ lệ giữa các thành phần sinh năng lượng trong bữa ăn hàng ngày của trẻ nên là đạm 15%: chất béo 30%: đường bột 55%[16]
Ngoài việc cung cấp năng lượng theo nhu cầu hàng ngày của trẻ thì khẩu phẩn ăn cũng phải đảm bảo các nhu cầu về vitamin va khoáng chất Nhu cầu vi chất dinh dưỡng trong hai năm đầu tiên của cuộc sống rất cao, để hỗ trợ cho sự tăng trưởng và phát triển của trẻ trong giai đoạn này Tỷ lệ chất dinh dưỡng cần thiết khuyến nghị từ thực phẩm bổ sung rất khác nhau và tùy thuộc vào nồng độ của từng chất dinh dưỡng trong sữa mẹ Các chất vi chất dinh dưỡng cần thiết ít nhất 75% phải đến từ thực phẩm bổ sung như sắt (97-98 %), kẽm (80-87%) và vitamin B6 (80-90%)[25] Do đó, thực phẩm bổ sung chế độ ăn cần phải có loại thực phẩm giàu các chất dinh dưỡng (thực phẩm có nguồn gốc động vật)
Cho ăn bổ sung nếu không thực hiện đúng cách có thể kéo theo những hậu quả sau này như tiêu chảy và tháng chậm phát triển dẫn đến Kwashiorkor, gia tăng tình trạng ốm và suy giảm miễn dịch được thể hiện thông qua việc nhiễm trùng thường xuyên và dai dẳng có thể là lượng thức ăn không đầy dinh dưỡng đủ là yếu
tố chính cho suy dinh dưỡng Dinh dưỡng kém dẫn đến trẻ sơ sinh nhẹ cân và thấp
HUPH
Trang 18còi việc cho con bú đúng cách và thực hành cho ăn bổ sung hợp lý có thể ngăn chặn 19% tỷ lệ tử vong hàng năm thích hợp cho ăn bổ sung phụ thuộc vào thông tin chính xác và hỗ trợ từ các gia đình, cộng đồng và hệ thống y tế [24], [30]
Trong những tháng đầu đời, trẻ em Việt Nam phát triển về mặt thể lực không khác so với trẻ em ở các nước phát triển Từ tháng thứ sáu tốc độ phát triển kém đi
và tình trạng suy dinh dưỡng bắt đầu tăng lên Điều này có thể phán ánh nhân tố nguy cơ cho ăn bổ sung không hợp lý, các yếu tố đó bao gồm:
Sự nghèo về chất lượng và số lượng thức ăn bổ sung (nhất là năng lượng và các chất dinh dưỡng cơ bản)
Sự không phù hợp về chế biến và loại thực phẩm có thể sẽ dẫn đến rối loạn tiêu hóa
Không đảm bảo vệ sinh trong quá trình chế biến và nấu ăn cho trẻ có thể gây nên bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy là nguy cơ dẫn đến suy dinh dưỡng
Như vậy việc thực hành ăn bổ sung đúng cách ở trẻ em đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ sau này
1.1.3 Các khuyến cáo về ăn bổ sung hợp lý:
Thời điểm trẻ bắt đầu được ăn bổ sung: Trẻ nhỏ cần được ăn bổ sung vào đúng
thời điểm, theo khuyến cáo của WHO trẻ nhỏ bắt đầu nhận các thức ăn ngoài sữa mẹ khi được tròn 6 tháng (180) ngày [39]
Trẻ nhỏ cần được cho ăn đủ số bữa mỗi ngày theo khuyến nghị : Đối với trẻ
đang bú mẹ và không bú mẹ số bữa ăn mỗi ngày theo khuyến nghị của WHO có sự khác nhau:
2 lần/ngày cho trẻ 6 – 8 tháng còn bú mẹ [34]
3 lần/ngày cho trẻ 9 – 23 tháng còn bú mẹ [34]
4 lần/ngày cho trẻ 6- 23 tháng không bú mẹ [34]
Trẻ nhỏ cần được đáp ứng các yêu cầu về năng lượng hàng ngày theo khuyến nghị : Trẻ nhỏ cần nhiều năng lượng cho sự phát triển của cơ thể do vậy nhu cầu năng
lượng hàng ngày đối với từng nhóm trẻ từ 6 – 23 tháng có sự khác nhau Theo bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam năm 2012 nhu cầu năng lượng
từ thức ăn bổ sung của trẻ 6 – 23 tháng tuổi (lượng sữa mẹ trung bình) như sau [9]:
HUPH
Trang 19Trẻ từ 6 tháng – 8 tháng: 356 Kcal/ ngày Trẻ từ 9 tháng – 11 tháng: 479 Kcal/ngày Trẻ từ 12 tháng – 23 tháng: 772 kcal/ngày
Cho trẻ ăn đa dạng các loại thực phẩm: người lớn và trẻ lớn thường ăn nhiều
loại thực phẩm trong một bữa ăn, tương tự như vậy, trẻ nhỏ cũng cần ăn nhiều loại thực phẩm cho bữa ăn bổ sung
Chuẩn bị một bữa ăn bổ sung giàu dinh dưỡng cho trẻ bằng thức ăn hàng ngày của gia đình sẽ dễ dàng và tiết kiệm hơn Theo khuyến cáo bữa ăn bổ sung của trẻ cần đảm bảo bốn nhóm thực phẩm sau [7]
Nhóm thức ăn cơ bản: Đó là nhóm thức ăn cung cấp nhiệt lượng chủ yếu
trong khẩu phần ăn Ở nước ta thường dùng gạo, ngô, khoai được chế biến dưới
dạng bột để sử dụng cho trẻ.[7]
Nhóm thức ăn giàu đạm (protein)
Thức ăn có nguồn gốc động vật: là các loại thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao
như: Trứng , sữa , thịt , cá , tôm, cua, lươn, phủ tạng (gan, tim, bầu dục) Các loại thịt: lợn, bò, gà, chim… đều cho trẻ ăn được, không nhất thiết phải ăn toàn thịt nạc,
mà nên sử dụng cả nạc lẫn mỡ.[7]
Thức ăn nguồn gốc thực vật: Đậu đỗ các loại: đậu đen, đậu xanh, đậu
nành Trong đó đậu nành (đậu tương) có hàm lượng protein và lipid cao nhất Đây
là loại thức ăn khi phối hợp với ngũ cốc sẽ trở thành những thức ăn giàu dinh dưỡng
như thức ăn động vật và thường rẻ tiền hơn.[7]
Nhóm thức ăn giàu năng lượng:
Gồm dầu, bơ, mỡ Dầu và mỡ bổ sung năng lượng cho bữa ăn của trẻ
Chúng còn làm cho thức ăn mềm hơn và dễ nuốt
Ngoài mỡ động vật nên cho trẻ ăn dầu lạc, dầu vừng, dầu đậu nành Vì dầu
có các tỉ lệ các axít béo không no cao hơn mỡ nên dễ hấp thu
Cho trẻ ăn dầu mỡ ngoài việc tăng năng lượng của khẩu phần ăn còn giúp trẻ
hấp thu dễ dàng các loại vitamin tan trong dầu như : Vitamin A,D, E, K [7]
Nhóm thức ăn giàu vitamin, chất khoáng và chất xơ:
HUPH
Trang 20Rau xanh và quả chín là nguồn cung cấp vitamin và chất khoáng vô cùng phong phú Đây là loại thức ăn rất tốt đối với trẻ
Các loại rau có lá màu xanh đậm như: rau ngót, rau muống, rau dền, mồng tơi, rau cải đều chứa nhiều vitamin C và các vi chất như beta-caroten (tiền vitamin
A), và sắt giúp trẻ phòng chống khô mắt và thiếu máu
Các loại trái cây: Đu đủ, xoài, chuối, cam, quýt, hồng xiêm cũng chứa
nhiều vi chất khi ăn lại không bị hao hụt do không phải nấu nướng.[7]
Bên cạnh việc ăn đủ bốn nhóm thực phẩm thì trẻ cần được bú mẹ đến 24 tháng tuổi
Cho trẻ ăn những thực phẩm giàu sắt hàng ngày : các vi chất rất cần thiết cho
sự phát triển của trẻ đặt biệt là sắt Sắt là một yếu tố vi lượng đã được nghiên cứu từ lâu, đây là một trong 3 vi chất dinh dưỡng (vitamin A, sắt, iốt) đang được quan tâm
vì sự thiếu hụt các vi chất này ở các nước đang phát triển đã và đang trở thành vấn
đề có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng Sắt cần thiết cho tất cả mọi người, nhưng đối với trẻ em sắt vô cùng quan trọng, vì trẻ em là đối tượng dễ bị thiếu Sắt nhất do nhu cầu tăng cao, nhu cầu Sắt ở trẻ còn bú mẹ tăng gấp 7 lần so với người lớn tính theo trọng lượng cơ thể
Thiếu Sắt dẫn đến thiếu máu dinh dưỡng là bệnh phổ biến ở trẻ em Thiếu Sắt còn ảnh hưởng đến các bộ phận khác của cơ thể: ảnh hưởng đến hệ tiêu hóa : trẻ biếng ăn, viêm teo gai lưỡi, khó nuốt, kém hấp thu, độ toan dạ dày giảm, ảnh hưởng đến hệ thần kinh : mệt mỏi, kích thích, rối loạn dẫn truyền thần kinh
Do vai trò quan trọng của sắt đối với cơ thể của trẻ các bà mẹ cần phải cho trẻ bú hoàn toàn trong 6 tháng đầu Đối với trẻ ăn bổ sung theo tác giả Kathryn G Dewey and Bineti S Vitta thì bên cạnh lượng sắt được cung cấp qua lượng sữa mẹ, thực phẩm bổ sung hàng ngày cho trẻ cần phải đáp ứng được nhu cầu sắt cho trẻ Trẻ em từ 6 - 8 tháng vẫn còn bú mẹ nhu cầu năng lượng từ khẩu phần là 200 Kcal
và lượng sắt trong khẩu phẩn cần đáp ứng là 4,5mg/100kcal, trẻ 9 – 11 tháng vẫn còn bú mẹ năng lượng cung cấp từ khẩu phần là 300 kcal và nhu cầu sắt trong khẩu phần là 3 mg/100kcal, trẻ từ 12- 23 tháng vẫn còn bú mẹ nhu cầu năng lượng từ khẩu phần ăn bổ sung là 550 kcal và nhu cầu sắt từ khẩu phần là 1mg/100kcal [23]
HUPH
Trang 21Tại Việt Nam theo khuyến nghị nhu cầu dinh dưỡng người Việt Nam năm
2012 nhu cầu sắt cho trẻ từ 6 – 36 tháng tuổi trung bình như sau: trẻ dưới 6 tháng 0,93 mg/ngày, trẻ từ 6- 11 tháng 12,4mg/ngày, trẻ từ 12- 36 tháng là 7,7mg/ngày [9]
Cho trẻ ăn thịt, cá và thịt gia cầm hàng ngày để đảm bảo lượng protein theo
khuyến nghị: Protein hay còn gọi là chất đạm là thành phần cơ bản của cơ thể sống Nó
tham gia vào thành phần mối tế bào và là yếu tố tạo hình chính của các cơ quan, bộ phận trong cơ thể Một số protein đặc hiệu có vai trò đặc biệt quan trọng, chúng tham gia vào các thành phần các men, nội tiết tố, kháng thể và các hợp chất khác Các acid amin là thành phần chính của phân tử protein, chúng liên kết với nhau trong những liên kết khác nhau Giá trị dinh dưỡng của protein được quyết định bởi mối liên quan về số lượng và chất lượng của các acid amin khác nhau trong cấu trúc protein đó Các acid amin cần thiết gồm Methionin, lysintrytophan, phenylalanine, loxin, Isoloxin, treonin, valin Đối với trẻ em, Arginin và Histidin cũng là acid amin cần thiết Các acid amin này rất quan trọng không chỉ giới hạn ở sự tham gia của chúng vào tổng hợp đạm trong
cơ thể Mỗi acid amin cần hoàn thành nhiều chức phận phức tạp và quan trọng khác, một số tham gia vào chức phận tuyến nội tiết như tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận, tuyến sinh dục, một số acid amin có liên quan đến quá trình tạo máu Các acid amin không cần thiết (hay còn gọi là acid amin có thể thay thế được) chiếm một tỷ lệ quan trọng trong thành phần thức ăn Cơ thể có thể tổng hợp được các acid amin này nhưng quá trình tổng hợp bên trong chỉ đáp ứng được nhu cầu tối thiểu của cơ thể do đó cần đưa vào cơ thể hợp lý các acid amin trong thành phần đạm của chế độ ăn Nhìn chung đạm thực vật (đạm trong đậu đỗ, ngũ cốc, khoai củ,…) có giá trị sinh học kém hơn đạm động vật do thiếu một hay nhiều acid amin cần thiết hoặc sự sắp xếp các acid amin không cân đối Tuy nhiên đạm động vật (đạm trong thịt, cá, trứng, hải sản…) không ở dưới dạng đơn thuần mà ở dưới dạng liên hợp như nucleoprotein (là phức hợp của protein với chất béo như photolipid, cholesterol…) Do vậy quá trình chuyển hóa sẽ tạo
ra các sản phẩm độc hại cho cơ thể như ure, acid uric, nitrat, cholesterol… Nếu nồng
độ acid uric tăng cao trong máu là tăng nguy cơ mắc bệnh Goute Nếu lượng nitrit, nitrat cao trong máu sẽ phối hợp với các gốc oxy tự do sẵn có trong cơ thể tạo thành
HUPH
Trang 22nitrosamin là chất gây ung thư Nếu cholesterol tăng cao trong máu là yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch dẫn đến các tai biến nghiêm trọng như cao huyết áp, nhồi máu
cơ tim, vỡ mạch máu não gây tử vong cao…Do đó cần thực hiện chế độ ăn cân đối giữa đạm động vật và đạm thực vật sẽ hạn chế việc sinh ra các yếu tố không có lợi cho sức khỏe và nâng cao vai trò của chất đạm Trước hết cần có sự cân đối về thành phần các chất sinh năng lượng (protein, lipid, glucid trong khẩu phần) đối với trẻ em tỷ lệ P:L:G là 15:30:55[16]
Hỗ trợ và chăm cho trẻ ăn no trong các bữa ăn: đây là một việc có vai trò hết sức quan
trọng đối với trẻ Việc tạo bầu không khí vui vẻ khi ăn cho trẻ, kiên nhẫn cho trẻ ăn từ
từ sẽ giúp cho trẻ thấy ngon miệng và ăn no hơn
Bảng 1.1 : Nhu cầu năng lượng và các chất dinh dưỡng cho trẻ từ 6 – 23 tháng [9]
Các chất dinh dưỡng bình quân
đầu trẻ/ngày
Trẻ 6 – 8 tháng
Trẻ 9 - 11 tháng
Trẻ từ 12 – 23 tháng
Trang 23Các chất dinh dưỡng bình quân
đầu trẻ/ngày
Trẻ 6 – 8 tháng
Trẻ 9 - 11 tháng
Trẻ từ 12 – 23 tháng
Tỷ lệ các chất sinh năng lượng P:L:G 15:30:55
1.2 Thực trạng ăn bổ sung và các yếu tố liên quan
1.2.1 Thực trạng ăn bổ sung trên thế giới và Việt Nam
1.2.1.1 Trên thế giới
Hiện nay, trên thế giới, nhất là ở các nước đang phát triển, SDD trẻ em vẫn còn khá phổ biến Theo ước tính của WHO, hàng năm có 10,9 triệu trường hợp tử vong, trong đó có tới 60% trường hợp bị ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp do SDD WHO đã khuyến cáo rằng trẻ em cần được bú mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu và bắt đầu ăn bổ sung từ tháng thứ bảy tuy nhiên hiện nay các bà mẹ thường có xu hướng cho con ăn bổ sung sớm hơn so với khuyến nghị [2] Trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu tìm hiểu về thực hành chăm sóc trẻ nhỏ trong đó có thực hành ăn bổ sung và xu hướng thường cho thấy trẻ được ăn bổ sung trước 6 tháng tuổi khá phổ biến ở nhiều nước Bên cạnh việc trẻ được ăn bổ sung sớm thì số lượng cũng như chất lượng bữa ăn bổ sung của trẻ chưa đáp ứng được nhu cầu năng lượng và các vi chất dinh dưỡng theo khuyến nghị của WHO[2]
Thời điểm ăn bổ sung
Theo nghiên cứu Peter S Mamiro tiến hành năm 2005 trên trẻ em từ 3 - 23 tháng tuổi về thực hành chăm sóc trẻ và các yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng, thấp còi, còm còi và thiếu sắt tại vùng nông thôn Tazania cho thấy trẻ em được ăn
bổ sung khá sớm trung bình từ tháng thứ 3[29]
Tại Sudan có tình trạng kinh tế khá giống với Tazania tỷ lệ ăn bổ sung sớm ở trẻ dưới 23 tháng khá cao, theo nghiên cứu trong 2 năm từ 2008 – 2010 trên nhóm trẻ từ 6 -59 tháng cho thấy có 6,9% trẻ được ăn bổ sung trước 4 tháng, 63,5% trẻ em
ăn bổ sung từ tháng thứ 4 – 5, và 29,6% trẻ em được ăn bổ sung từ tháng thứ 6 trở đi[20] Tại Ấn Độ có tỷ lệ ăn bổ sung đúng thời điểm khá cao có tới 77,5% bà mẹ sống tại vùng biển cho con ăn bổ sung đúng thời điểm theo như khuyến nghị, tuy
HUPH
Trang 24nhiên chỉ có 32% trẻ được ăn bổ sung đa dạng các loại thực phẩm[30] Khi nghiên cứu tiến hành so sánh với một số nghiên cứu khác trước đó cho kết quả tỷ lệ ăn bổ sung đúng thời điểm ở các vùng khác khá thấp như Dehi chỉ có 16,5% [26], nghiên cứu theo dõi trên 539 bà mẹ từ lúc mang thai đến khi con của họ được 6 tháng tuổi tại Ireland cho thấy có 22,6% trẻ cai sữa sớm và được ăn bổ sung dưới 12 tuần [33] Một nghiên cứu từ Brazil cũng cho thấy độ tuổi trung bình cho việc giới thiệu thức
ăn bổ sung là bốn tháng [21]
Giá trị dinh dưỡng và sự đa dạng từ bữa ăn bổ sung
Bên cạnh việc thực hành ăn bổ sung đúng thời điểm theo khuyến nghị của WHO thì bữa ăn bổ sung của trẻ cũng phải đảm bảo sự đa dạng đáp ứng được nhu cầu năng lượng hàng ngày cũng như các nhu cầu về các chất dinh dưỡng có trong thức ăn bổ sung Tuy nhiên việc thực hiện của các bà mẹ lại chưa đúng theo như khuyến cáo Theo kết quả phân tích dựa trên số liệu khẩu phần 24 giờ qua trên nghiên cứu ở trẻ em Tazania cho thấy mức đáp ứng năng lượng từ khẩu phần ăn hàng ngày của trẻ lần lượt là 55%, 61%, và 60% tương ứng với trẻ em trong độ tuổi
từ 6-8 tháng, 9-11 tháng và 12-23 tháng [29] So với khuyến nghị của WHO về mức đáp ứng năng lượng tối thiểu từ khẩu phần cho trẻ trong độ tuổi từ 6-8, 9-11 và 12-23-tháng tuổi lần lượt là 81%, 75%, và 66% cho thấy khẩu phần ăn của trẻ em vùng nông thôn Tazania chưa đáp ứng được nhu cầu năng lượng hàng ngày[29] Các thực phẩm bổ sung chỉ đáp ứng được 15%, 20%, và 27% lượng sắt được khuyến cáo cho trẻ em tuổi từ 6-8, 9-11 và 12-23 tháng theo khuyến nghị của WHO, kết quả phân tích các loại thực phẩm ăn vào hàng ngày cho thấy hầu hết thức ăn bổ sung đáp ứng hàm lượng sắt trung bình là 4,5mg, các loại thực phẩm chính là gạo, đậu phộng, ngô,
cá mòi[29] Tại Nepal kết quả từ điều tra y tế với quy mô quốc gia khi so sánh với khuyến nghị về các tiêu chí đánh giá thực hành chăm sóc trẻ nhỏ cho thấy chỉ có 30,4% trẻ em từ 6 – 23 tháng đáp ứng được tiêu chí về ăn bổ sung đa dạng, 76,6% trẻ 6 – 23 tháng đảm bảo số lượng bữa ăn tối thiểu hàng ngày trong đó ở nhóm tuổi
6 – 23 tháng vẫn còn bú mẹ là 76,1% và không bú mẹ là 89,7%, tỷ lệ trẻ 6- 23 tháng tuổi đáp ứng được chế độ ăn chấp nhận tối thiểu là 26,5%[36] Tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi 6-11 tháng có chế độ ăn bổ sung đa dạng là 17,6% thấp hơn so với trẻ em từ
HUPH
Trang 2512-17 tháng (36,6%), và trẻ em từ 18-23 tháng (38,0 % ) Xu hướng này khi so sánh các tiêu chí đánh giá về tần số bữa ăn tối thiểu và chế độ ăn uống chấp nhận tối thiểu đều cho thấy trẻ em 6-11 tháng có tỷ lệ thấp hơn những nhóm còn lại[36] Nghiên cứu cũng tiến hành so sánh các tiêu chí đánh giá thực hành ăn bổ sung cho trẻ giữa các nước trong khu vực cho thấy tỷ lệ đáp ứng các tiêu chí thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ thay có sự khác nhau ở các nước khu vực Nam Á Các tiêu chí về đa dạng bữa
ăn bổ sung của Nepal cao hơn so với Ấn Độ (15,2%) nhưng thấp hơn so với Bangladesh (41,9%) và Sri Lanka (71,1%) Tương tự như vậy, tần số bữa ăn tối thiểu cũng thấp hơn ở Bangladesh (81,1%) và Sri Lanka (88,3%)[31] Một phát hiện đáng chú ý là sự thay đổi lớn trong khẩu phần ăn trên các nhóm tuổi khác nhau
mà được cải thiện theo thời gian Bên cạnh đó nghiên cứu cũng phát hiện ra rằng nhóm trẻ em 6-11 tháng tuổi có tỷ lệ nhận được thực phẩm từ 4 nhóm cơ bản và 7 loại thực phẩm theo khuyến nghị của WHO là thấp nhất[36] Nhóm tuổi này cũng ít
có khả năng có thể đáp ứng các tiêu chí về tần số bữa ăn tối thiểu, bữa ăn đa dạng và tiêu chuẩn chế độ ăn uống có thể chấp nhận so với trẻ lớn hơn (12-23 tháng) Điều này cho thấy rằng trẻ em 6-11 tháng còn có nguy cơ suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng cao hơn những nhóm còn lại
Ở khu vực Đông Nam Á, khi phân tích các kết quả của điều tra toàn quốc về sức khỏe (DHS) ở Indonesia trên nhóm trẻ 6 – 23 tháng sử dụng các tiêu chí đánh giá chăm sóc nuôi dưỡng trẻ nhỏ của WHO năm 2007 đã cho một số kết quả: 87,3% trẻ từ 6 – 8 tháng được nhận thức ăn bổ sung [22] Tỷ lệ trẻ nhận được bốn loại thực phẩm hoặc hơn trong bữa ăn hàng ngày là 47,7% ở nhóm trẻ 6- 8 tháng và tăng lên 84,2% ở nhóm trẻ 18-23 tháng[22] Đối với trẻ không còn bú mẹ có 60,2% trẻ từ 6 –
8 tháng có khẩu phần ăn đa dạng tối thiểu theo tiêu chí của WHO, tỷ lệ này trong nhóm 12 – 17 tháng và 18 – 23 tháng lần lượt là 79,6% và 88,4% Về số lượng bữa
ăn hàng ngày có khoảng một nửa số trẻ 6 – 23 tháng (53%) được nhận từ 2 đến 4 bữa ăn hoặc hơn trong một ngày, với trẻ không bú mẹ tỷ lệ trẻ nhận được số lượng bữa ăn tối thiểu hàng ngày theo khuyến nghị khá thấp ở nhóm trẻ 6 – 8 tháng với 5,7% và 13,7% ở trẻ 12 – 17 tháng, 13,5% ở trẻ 18 – 23 tháng[22] Tuy nhiên khi kết hợp hai tiêu chí về đa dạng bữa ăn bổ sung và tần số bữa ăn hàng ngày để tính tỷ
HUPH
Trang 26lệ trẻ có bữa ăn tối thiểu chấp nhận được thì chỉ có 44,9% trẻ em 6 – 23 tháng đáp ứng tiêu chí này Điều này cho thấy còn khá nhiều trẻ chưa được ăn đủ các loại thực phẩm hoặc đủ số bữa hàng ngày theo như khuyến cáo của WHO
Loại thực phẩm được bổ sung và cách cho trẻ ăn
Bữa ăn bổ sung không chỉ cung cấp đủ năng lượng cho trẻ hàng ngày mà phải đảm bảo đủ bốn loại thực phẩm bên cạnh việc duy trì bú mẹ hoặc uống sữa Tuy nhiên việc trẻ em không được ăn đa dạng các loại thực phẩm khá phổ biến, tùy thuộc vào từng điều kiện sống mà thực phẩm trẻ nhận được trọng quá trình ăn bổ sung khác nhau, theo điều tra y tế tại Srilanka năm 2007 cho thấy cho 84% trẻ từ 6 -
8 tháng được ăn bổ sung Tỷ lệ trẻ em được ăn trứng là 7,5%, hoa quả và những loại rau giàu vitamin A là 29,6%, tuy nhiên tỷ lệ trẻ được ăn thịt là rất thấp chỉ với 35,2%[32] Bên cạnh đó kết quả cũng chỉ ra rằng có 71% trẻ em có khẩu phần ăn đa dạng, 88% trẻ có có số lượng bữa ăn tối thiểu và 68% trẻ có khẩu phần ăn tối thiểu chấp nhận được [32]
1.2.1.2 Tại Việt Nam
Thời điểm ăn bổ sung
Tại Việt Nam nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra kết quả tương tự trên thế giới về thực hành ăn bổ sung của trẻ 6 – 23 tháng tuổi Theo nghiên cứu của Huỳnh Nam Phương và cộng sự tiến hành trên nhóm trẻ 6 -23 tháng tuổi tại 3 xã nông thôn của Phú Thọ năm 2007 cho thấy 98,7% trẻ được ăn bổ sung trước khi bước sang tháng thứ 7 trong đó có tới 40,7% trẻ được ăn bổ sung từ tháng thứ 2 và khi trẻ được 3 tháng thì tỷ lệ ăn bổ sung khá cao đạt 73,7%.[10]
Nghiên cứu của Đặng Oanh tìm hiểu tập quán nuôi con của các bà mẹ dân tộc thiểu số của Tây Nguyên cũng cho thấy một số kết quả về thực hành ăn bổ sung sớm ở trẻ nhỏ khi có tới 34,1% bà mẹ cho trẻ ăn bổ sung trước 3 tháng tuổi trong đó
có tới 8,8% trẻ được ăn bổ sung trong tháng đầu tiên, 25,3% trẻ được ăn bổ sung trong tháng thứ 2 hoặc thứ 3, có 65,9% trẻ được ăn bổ sung từ tháng thứ 4 [5], tập quán ăn bổ sung sớm cũng đã tồn tại ở Tây Nguyên từ trước đây khá lâu khi nghiên cứu của Trương Bút cũng cho thấy tỷ lệ ăn bổ sung sớm của trẻ em Tây Nguyên là 34,2% [5] Nghiên cứu can thiệp của Nguyễn Lân tại Phổ Yên Thái Nguyên cho
HUPH
Trang 27thấy, tỷ lệ các bà mẹ cho con ăn bổ sung sớm rất cao: có tới 4,5% số trẻ ăn bổ sung trong tháng đầu, 13,5% ăn trong thời gian 1-2 tháng tuổi, trong 4 tháng đầu có tới 88,9% số trẻ đã ăn bổ sung Chỉ có 2/322 bà mẹ (0,7%) cho con ăn bổ sung trong thời gian từ 5-6 tháng tuổi [13] Thời điểm bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung trung bình là 3,4 tháng tuổi Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Thu Hậu trên trẻ 6 -24 tháng đến khám dinh dưỡng tại bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2010 cho thấy đa số trẻ được ăn bổ sung từ tháng thứ bốn đến thứ sáu, tuy nhiên vẫn còn 10,7% trẻ được ăn bổ sung sớm trước 4 tháng tuổi và chỉ có 4,4% trẻ được ăn bổ sung đúng thời điểm và 19,4% trẻ được ăn cơm theo như khuyến nghị của WHO [14] Nghiên cứu của Lê Thị Hương tại Quảng Trị năm 2008 cho thấy 31,9% trẻ được ăn bổ sung sớm trước
4 tháng tuổi, hầu hết trẻ ăn bột khoảng 5 tháng tuổi, ăn cháo lúc 9 tháng tuổi và ăn cơm khoảng 13 tháng Số bữa ăn trung bình của trẻ là 2,6 ± 1,1[11] Số bữa ăn trung bình của trẻ tăng dần theo tuổi Tại Thanh Hóa năm 2009 theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Hương cho thấy 53,7% trẻ được ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi, 27,9% trẻ được ăn bổ sung 4- 6 tháng và 18,4% trẻ được ăn bổ sung sau 6 tháng Loại thức
ăn đầu tiên phổ biến nhất là cơm nhai và bột gạo (47,9% và 46,3%), số bữa ăn trung bình của trẻ là 3,1 ± 0,6[12] Nghiên cứu của Lương Ngọc Trương tại 3 huyện của Thanh Hóa năm 2011 cho thấy tỷ lệ trẻ được ăn từ tháng thứ 6 -7 là 60,2%, trước 6 tháng là 39,8%, tuy nhiên tỷ lệ nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong 6 tháng đầu chỉ đạt 5% [17]
Nghiên cứu can thiệp về Hiệu quả của truyền thông giáo dục dinh dưỡng lên kiến thức, thực hành của người chăm sóc trẻ góp phần giảm suy dinh dưỡng thấp còi ở huyện Tam nông, Phú Thọ từ năm 2011 – 2014 cho thấy tỷ lệ trẻ 6 – 23 tháng được ăn đúng thời điểm theo khuyến nghị của WHO là 23,3%, còn lại 76,7% trẻ được cho ăn sớm trước 6 tháng [15]
Giá trị dinh dưỡng từ bữa ăn bổ sung
Tại Việt Nam theo nghiên cứu tiến hành tại Phú Thọ trên trẻ em từ 6 – 23 tháng cho thấy mức tiêu thụ năng lượng của trẻ 6 -11 tháng là 580,7 Kcal/ngày đạt 70,8% so với nhu cầu khuyến nghị, tỷ lệ các chất sinh nhiệt là P:L:G là 13,6:29,1:57,3 (theo khuyến nghị là 14:20:66)[10] Tỷ lệ Protein động vật trên
HUPH
Trang 28Protein tổng số chỉ đạt 73,1%, Lipid thực vật trên tổng số chỉ đạt 3,6% Ở trẻ 12 –
23 năng lƣợng khẩu phần là 592 Kcal/ngày chỉ đáp ứng đƣợc 45,5% so với nhu cầu khuyến nghị cho nhóm 1 -3 tuổi, tỷ lệ 3 chất sinh nhiệt là 15,2:24,2:60,4, tỷ lệ lipid động vật trên tổng số cũng chỉ đạt 6,4%[10] Bên cạnh đó kết quả phân tích giá trị dinh dƣỡng từ số liệu hỏi ghi khẩu phần 24h cũng cho thấy lƣợng Protein chỉ đáp ứng 80% nhu cầu Lƣợng canci đạt 50% và lƣợng sắt trong khẩu phẩn chỉ đạt từ 10% đến 30% so với khuyến nghị cho trẻ trong độ tuổi này Các loại vitamin B1, B2 và PP trong khẩu phần của trẻ đều không đáp ứng đƣợc nhu cầu khuyến nghị cho trẻ[10]
Theo kết quả của nghiên cứu mới đây nhất của Viện Nghiên cứu Y xã hội học kết hợp với tổ chức Alive & Thrive tiến hành tại 11 tỉnh của Việt Nam năm
2011 về thực hành nuôi dƣỡng chăm sóc trẻ nhỏ cho thấy 82,6% trẻ trong độ tuổi 6 – 23,9 tháng có khẩu phần ăn đa dạng, 94,4% trẻ trong độ tuổi này đƣợc ăn đủ số bữa theo khuyến nghị, 87,2% trẻ đƣợc ăn các thức ăn giàu sắt hoặc bổ sung sắt [1] Tuy nhiên vẫn còn hơn một phần tƣ số trẻ (29,1%) không có khẩu phần ăn đủ bữa
và đa dạng và một phần ba số trẻ (31,5%) không có chế độ ăn đáp ứng tất cá các tiêu chí về ăn đủ bữa, đa dạng về thức ăn và ăn thức ăn giàu sắt Nghiên cứu cũng cho thấy chất lƣợng bữa ăn bổ sung của trẻ khác nhau đáng kể tùy theo từng tỉnh[1]
Tỷ lệ đạt khẩu phần đa dạng cao nhất là ở Đà Nẵng với 91%, các tỉnh có tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với trung bình đó là Đắk Lắk (71,1%), Cà Mau (73,7%) và Đắk Nông (76,3%)[1] Ngƣợc lại, số lần cho ăn đủ bữa đều cao ở tất cả các tỉnh, từ 90% trở lên Tỷ lệ trẻ đƣợc cho ăn khẩu phần đa dạng và đủ bữa còn biến động hơn Các tỉnh có tỷ lệ trẻ có khẩu phần đủ bữa và đa dạng thấp gồm có: Cà Mau (53,9%), Đắk Lắk (61,6%), Đắk Nông (64,5%), Tiền Giang (65,8%), và Quảng Bình (69,6%) Tỷ
lệ trẻ đƣợc cho ăn khẩu phần đa dạng và đủ bữa cao nhất là ở Đà Nẵng, 86,5%[1] Bên cạnh đó kết quả nghiên cứu cũng cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống
kê giữa suy dinh dƣỡng thể thấp còi và khẩu phần ăn đủ bữa và đa dạng Trẻ đƣợc cho ăn khẩu phần đủ bữa và đa dạng ít có nguy cơ bị thấp còi hơn so với trẻ không đƣợc nuôi dƣỡng bằng khẩu phần đủ bữa và đa dạng Do vậy ngoài việc cho trẻ ăn đúng thời gian, đủ số bữa thì cũng phải kết hợp các nhóm thực phẩm theo khuyến
HUPH
Trang 29nghị để đảm bảo dinh dưỡng và năng lượng hàng ngày cho trẻ[1] Nghiên cứu tại Tam Nông, Phú Thọ từ năm 2011 – 2014 cho thấy trẻ 6-23 tháng cho thấy hầu hết trẻ được nuôi đạt tần suất bữa tối thiểu theo đúng nhóm tuổi (97,4%), bữa ăn đảm bảo được đa dạng tối thiểu (70,6%), có chế độ ăn chấp nhận tối thiểu (vừa đa dạng
và đủ bữa: 69,2%) Tỷ lệ trẻ được ăn thực phẩm giàu sắt hàng ngày là 83,2% và chủ yếu là từ các loại thịt [15]
Loại thực phẩm được bổ sung và cách cho trẻ ăn
Tại Việt Nam khi tìm hiểu thêm về những thực phẩm bổ sung đầu tiên cho trẻ trong nghiên cứu của Đặng Oanh thấy rằng có 4,7% trẻ được uống sữa, 34,8% trẻ được ăn cháo, 26,6% ăn bột các loại có 22,9% trẻ được ăn cơm ngay từ lần ăn đầu tiên trong đó có 18,5% được ăn cơm hạt, trong số trẻ được ăn cơm thì có 33,5% trẻ được ăn cơm nhai [5] Theo nghiên cứu tại Phổ Yên, Thái Nguyên các thực phẩm được các gia đình sử dụng trong nghiên cứu này cho trẻ ăn bổ sung là các loại bột gạo, bột ăn liền (70,3%), các loại thịt, cá, trứng chỉ chiếm (32,8%) nhưng khi nấu thường ít cho thêm các loại thịt, dầu mỡ [13] Khi tìm hiểu sâu hơn về tập quán
ăn bổ sung của trẻ em Tây Nguyên ngoài việc trẻ được ăn những thức ăn nghèo dinh dưỡng như cháo, nước cháo, nước cơm thì việc sử dụng dầu, mỡ cũng rất hạn chế, có tới 62,7% bà mẹ được hỏi trả lời rằng không có thói quen cho dầu hoặc mỡ vào thức ăn bổ sung của con, 54,5% bà mẹ trả lời rằng không biết sự cần thiết phải dùng dầu mỡ [5] Nghiên cứu tại Phú Thọ của Phạm Thị Thúy Hòa cho kết quả bữa
ăn bổ sung của trẻ khá đa dạng, tỷ lệ ngũ cốc, khoai củ chiếm đa phần (95%), tỷ lệ trẻ được ăn thịt cá cũng rất cao (83,2%), sữa và chế phẩm từ sữa chiếm 63,7%, đậu
đỗ chiếm 43,9%, trứng chiếm 40,8% Tiêu thụ rau quả ở mức dưới trung bình với rau quả giàu vitamin 42%, rau quả khác 46,9%
Như vậy thực trạng ăn bổ sung cho trẻ dưới 24 tháng tuổi tại Việt Nam và một số nước phát triển trong khu vực cũng như trên thế giới khá tương đồng nhau Trẻ thường được ăn bổ sung sớm trung bình là tháng thứ 3 hoặc thứ 4 Loại thức ăn
mà trẻ nhận được cũng khác nhau ở từng vùng, tại các tỉnh miền núi của Việt Nam trẻ thường được cho ăn cơm khi bắt đầu ăn bổ sung Chất lượng bữa ăn bổ sung và
số lượng các bữa ăn của trẻ chưa đáp ứng theo khuyến nghị, trẻ không được ăn đa
HUPH
Trang 30dạng các loại thực phẩm thường là chỉ một đến hai loại trong bữa ăn bổ sung tình trạng này khá phổ biến ở Việt Nam và các nước đang phát triển khác Do đó cần phải có những giải pháp để tăng số lượng và chất lượng bữa ăn bổ sung bên cạnh việc tăng tỷ lệ nuôi con bằng sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu
1.2.2 Các yếu tố liên quan đến thực hành ăn bổ sung
Trên thế giới cũng như Việt Nam cũng có khá nhiều nghiên cứu tìm hiểu về
ăn bổ sung của trẻ em dưới hai tuổi và các yếu tố liên quan Xu hướng chung cho thấy nguyên nhân chủ yếu của việc thực hành ăn bổ sung của trẻ kém là do bà mẹ không có thời gian do phải đi làm, kiến thức của bà mẹ về ăn bổ sung còn nhiều hạn chế, tình trạng khó khăn về kinh tế, thiếu lương thực và khó tiếp cận được với các loại thực phẩm khuyến nghị cũng được đề cập khá phổ biến, ngoài ra phong tục tập quán về nuôi dưỡng trẻ nhỏ, quan niệm của người dân, tác động từ phía người thân trong gia đình về ăn bổ sung ở mỗi vùng khác nhau cũng có liên quan đến việc trẻ được ăn bổ sung sớm hơn so với khuyến nghị của WHO [13],[10], [5], [24], [30]
Bên cạnh nguyên nhân về tình trạng kinh tế xã hội thì một số nguyên nhân khác như trình độ văn hóa thấp của bố và mẹ, người mẹ thiếu kiến thức về ăn bổ sung, bố và mẹ thất nghiệp, nơi sinh, phong tục chăm sóc trẻ tại từng vùng, người
mẹ không tham gia các dịch vụ hỗ trợ sức khỏe, hạn chế việc tiếp cận thông tin từ báo chí, ti vi, radio của người mẹ cũng được cho là có liên quan đến việc chỉ có 44,9% trẻ 6 - 23 tháng đáp ứng tiêu chí ăn bổ sung của WHO[22]
Yếu tố cá nhân
Các yếu tố cá nhân đóng vai trò khá quan trọng trong thực hành ăn bổ sung ở trẻ Tại Ấn Độ, 71% bà mẹ nghĩ rằng mình không đủ sữa cho con nên phải ăn thêm thức ăn ngoài, 13% bà mẹ không biết khi nào thì nên cho trẻ ăn bổ sung, còn lại 16%
là do những nguyên nhân về phía gia đình khi những người lớn tuổi hơn khuyên cho trẻ ăn bổ sung sớm[30]
Nghiên cứu tại Phú Thọ của Huỳnh Nam Phương cũng cho thấy có tới 50% các bà mẹ cho rằng họ thiếu thời gian để chăm sóc con mình khi phải đi làm sớm, ngoài ra có tới 38,3% bà mẹ cho rằng họ thiếu kiến thức về thực hành ăn bổ sung đúng cách cho trẻ mặc dù họ đã có một số kiến thức nhất định về nuôi con bằng sữa
HUPH
Trang 31mẹ, thời điểm ăn bổ sung và kể tên được một số nhóm thực phẩm tuy nhiên việc thực hành cho trẻ ăn bổ sung lại chưa đúng[10]
Nghiên cứu của Lê Ngọc Bảo tiến hành tại Thái Nguyên trên nhóm trẻ em thuộc dân tộc Sán Chay cũng cho một số kết quả tương tự, nghiên cứu tập trung tìm hiểu các tập quán dinh dưỡng của người Sán Cháy và mối liên quan tới tình trạng dinh dưỡng của trẻ [8] Kết quả phân tích đã chỉ ra rằng kiến thức về ăn bổ sung của người dân tộc Sán Chay khá thấp khi có tới 72,6% bà mẹ người Sán Cháy không kể tên được 4 nhóm thực phẩm, 97,5% bà mẹ không vẽ được ô vuông thức ăn và 78,7% không mô tả được cách tô màu bát bột và có sự liên quan giữa việc ăn bổ sung đúng cách với tình trạng dinh dưỡng của trẻ nếu trẻ được ăn bổ sung không đúng cách có nguy cơ bị suy dinh dưỡng cao gấp 2,3 lần trẻ được ăn bổ sung đúng cách[8] Nghiên cứu cũng cho thấy các bà mẹ thường có xu hướng cho con mình ăn sớm nguyên nhân ở đây là do công việc nhà nông vất vả do vậy mẹ phải đi làm sớm không có thời gian cho con bú hoàn toàn tỷ lệ cai sữa trước 18 tháng trong nghiên cứu này là 25% và làm tăng nguy cơ suy dinh dưỡng lên 2,39 lần, bên cạnh đó nhiều người mẹ chỉ nuôi con theo kinh nghiệm của bản thân, của những người trong gia đình và vẫn tồn tại quan niệm rằng cho trẻ ăn bột sớm cho cứng cáp và 40,6% bà mẹ cho răng suy dinh dưỡng là do di truyền [8] Khi xem xét các yếu tố liên quan tới việc thực hành ăn bổ sung sớm của trẻ em dân tộc thiểu số khu vực Tây Nguyên tác giả Đặng Oanh đã chỉ ra rằng có 14,9% các bà mẹ cho rằng mình không đủ sữa hoặc sữa không còn tốt cho trẻ nữa, 59,8% bà mẹ cho rằng trẻ cần phải được ăn thêm để nhanh lớn Khi phân tích số liệu thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu kết quả cũng chỉ
ra tương tự so với kết quả định lượng khi nhiều bà mẹ vẫn cho rằng ăn bổ sung sớm
sẽ tốt cho trẻ và mẹ Trẻ được ăn sớm sẽ ít quấy khóc, nhanh lớn nhanh biết đi hơn bên cạnh đó người mẹ sẽ có nhiều thời gian đề đi làm tăng thêm thu nhập cho gia đình vì không phải giành nhiều thời gian cho trẻ bú nữa Kết quả định lượng của nghiên cứu khi so sánh với kết quả định tính cũng khá tương đồng khi các bà mẹ được phỏng vấn sâu cho rằng không cho trẻ ăn dầu, mỡ không phải là lý do kinh tế
mà hoàn toàn là do không biết phải dùng và do thói quen ăn uống hàng ngày của họ Thậm chí một số bà mẹ còn cho biết rằng cho trẻ ăn thêm dầu, mỡ không có hại gì
HUPH
Trang 32cho trẻ mà còn có lợi tuy nhiên họ vẫn không cho trẻ ăn dầu mỡ vì “đã quen rồi”
hoặc ông bà khuyên không nên cho ăn Kết quả của nghiên cứu cũng gợi mở các can thiệp nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ em ở vùng khó khăn là truyền thông giáo dục dinh dưỡng mở rộng các đối tượng ngoài các bà mẹ là các ông bố và người thân trong gia đình[5] Ngoài ra một số nghiên cứu cũng đưa ra lý do trẻ được
ăn bổ sung sớm là do mẹ sợ con đói, mẹ phải đi làm, mẹ nghĩ ăn thêm tốt hơn, và các nguyên nhân khác liên quan đến phong tục và áp lực từ phía người thân
Tình trạng kinh tế, thiếu nguyên liệu thực phẩm
Nghiên cứu của Mokori A về tình trạng dinh dưỡng, thực hành ăn bổ sung và các chiến lược khả thi để thúc đẩy dinh dưỡng ở trẻ em từ 6-23 tháng ở miền bắc Uganda đã cho thấy một số rào cản chính trong thực hành ăn bổ sung của trẻ em là tình trạng bệnh tật thường xuyên ở trẻ em, thiếu sữa mẹ, gia đình không đủ thức ăn
để cho trẻ ăn và thiếu tiền để mua thức ăn, thiếu nước sạch và các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe cho người nghèo chưa phát triển [28] Tại Ấn Độ theo nghiên cứu S Rao, PM Swathi, Unnikrishnan, và A Hegde trên nhóm trẻ 6 – 23 tháng tuổi tại vùng biển phía nam của Ấn Độ cho thấy có mối liên quan giữa tình trạng kinh tế
xã hội, thứ tự sinh của trẻ, trình độ học vấn của mẹ với thực hành ăn bổ sung đúng cách[30] Trong đó những trẻ em được sinh ra trong gia đình kinh tế khá giả có tới 49,5% trẻ được ăn bổ sung theo khuyến nghị, ở những trẻ sống trong gia đình có mức thu nhập trung bình chỉ có 13,5% trẻ được ăn bổ sung đúng thời điểm và 14,5% trẻ được ăn bổ sung theo khuyến nghị trong các gia đình nghèo[30]
Các yếu tố liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội và thực hành ăn bổ sung ở trẻ không đúng cách cũng được tìm thấy ở Kenya [35], việc thiếu khả năng về tài chính để mua thức ăn, tỷ lệ thất nghiệp cao công việc không ổn định đã làm cho bữa
ăn của trẻ em Kenya không đáp ứng tiêu chí về đa dạng cũng như an toàn của WHO [35]
Tại Indonesia các nguyên nhân liên quan đến thực hành ăn bổ sung đã được phân tích theo điều tra DHS trong đó yếu tố liên quan đến tình trạng kinh tế gia đình được cho là yếu tố mạnh nhất có thể dự báo được khả năng thực hành ăn bổ sung đúng thời điểm cũng như bữa ăn tối thiểu chấp nhận được ở trẻ 6 – 23 tháng [22], tỷ
HUPH
Trang 33lệ nhận được đủ 4 loại thực phẩm và 2 – 4 bữa ăn hoặc hơn hàng ngày ở nhóm trẻ
em trong gia đình nghèo là 36,4% thấp hơn khá nhiều so với nhóm trẻ em trong các gia đình khá giả, giàu có với 54,7% trẻ có bữa ăn tối thiểu chấp nhận được[22]
Tại Việt Nam theo nghiên cứu của Huỳnh Nam Phương và cộng sự tại Phú Thọ cho thấy kết quả phân tích từ các cuộc phỏng vấn sâu và bộ câu hỏi phỏng vấn
cá nhân cho thấy một số cản trở trong việc thực hành ăn bổ sung của trẻ đúng cách trong đó việc kinh tế kém là một cản trở lớn nhất khi có tới 70% bà mẹ cho rằng họ không có khả năng về kinh tế để có thể cho con mình ăn bổ sung đúng cách [10],
Yếu tố liên quan tới gia đình và cộng đồng
Nghiên cứu tại Kenya cho thấy khi các bà mẹ được hỏi về cách chăm sóc con
họ đều cho biết rằng các yếu tố có ảnh hưởng nhất như áp lực từ phía gia đình và cộng đồng buộc họ phải cho con ăn sớm, thiếu các hỗ trợ tại cộng đồng trong thực hành nuôi dưỡng trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, tình trạng bạo lực gia đình, căng thẳng khiến
họ không thể thực hành ăn bổ sung đúng cách cho con mình được [35]
Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Lân có rất nhiều lí do các bà mẹ đưa ra
để giải thích vì sao lại cho con họ ăn bổ sung sớm như vậy Trong các lí do, có đến 54,9% bà mẹ nói rằng do bận nhiều công việc phải đi làm xa hoặc không về nhà theo đúng giờ cho trẻ bú được, 16,9% bà mẹ cho rằng mình không đủ sữa cho con
bú [13] Đây là một thực tế hiện nay không chỉ ở các vùng thành thị, mà cả ở các vùng nông thôn, khi mà các bà mẹ phải đi làm sớm và không có điều kiện về nhà đúng giờ cho con bú được Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng khi mẹ đi làm thì người chăm sóc trẻ chính là ông bà chiếm hơn 69%, các ông bố chăm sóc con khi mẹ vắng nhà chỉ có 15,5% điều này cũng cho thấy việc tuyên truyền giáo dục NCBSM và ăn
bổ sung hợp lí cần phải chú trọng đến các đối tượng là các ông/bà của trẻ, bên cạnh các bà mẹ trẻ là những đối tượng đích [13]
Nghiên cứu tại Tây Nguyên của tác giả Đặng Oanh cho thấy có tới gần một phần tư (24,2%) các bà mẹ cho rằng việc cho trẻ ăn bổ sung sớm là do nhận được sự khuyên bảo của ông bà hoặc do phong tục của địa phương[5]
Như vậy các nguyên nhân dẫn đến tình trạng ăn bổ sung của trẻ chưa đúng cách khá nhiều trong đó nổi bật nên những nguyên nhân liên quan đến kiến thức của
HUPH
Trang 34người mẹ về thực hành ăn bổ sung, phong tục tập quán về cách chăm sóc trẻ, hạn chế tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ chăm sóc sức khỏe, tình trạng công việc, và nổi bật hơn cả là yếu tố liên quan đến tình trạng kinh tế xã hội của gia đình làm cho bữa ăn của trẻ thiếu chất dinh dưỡng và không đa dạng các loại thực phẩm.
1.3 Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Lào Cai là một tỉnh miền núi phía Bắc với tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi đều vào loại cao nhất ở Việt Nam Các tỷ lệ này lần lượt là 23,2 % và 37,8,0 %, cao hơn tỷ lệ chung của vùng trung du và miền núi phía bắc 20,9% và 31,9% và của toàn quốc lần lượt là 16,2% và 26,7% [5]
Do tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi ở mức cao ở cả thể nhẹ cân và thấp còi nên Lào Cai đang phải đối mặt với gánh nặng bệnh tật và chăm sóc y tế đối với trẻ suy dinh dưỡng trong khi Việt Nam đã đạt được thành tựu đáng kể trong việc giảm suy dinh dưỡng trong khoảng một thập kỷ gần đây Điều này cũng đặt ra một yêu cầu cần phải nghiên cứu, tìm hiểu và từng bước khắc phục được những nguyên nhân đặc thù của Lào Cai
Bản Phố và Thào Chư Phìn là hai xã đăc biệt khó khăn và là xã trọng điểm
về suy dinh dưỡng, mặc dù phạm vi của nghiên cứu này không tìm hiểu đánh giá tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi tuy nhiên theo báo cáo của trạm y tế của hai xã
tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi khá cao, trên 25% trẻ dưới 5 tuổi bị nhẹ cân và thấp còi là trên 32% Trên địa bàn hai xã chủ yếu là người Mông sinh sống (99%), tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn, người Mông thường trông chờ nhiều vào các chính sách hỗ trợ của nhà nước Các phong tục tập quán lạc hậu hiện vẫn còn tồn tại trong cộng đồng trong đó có các phong tục về chăm sóc nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Nghiên cứu này là một phần trong điều tra ban đầu về “Thực trạng nuôi con
bằng sữa mẹ, ăn bổ sung và các yếu tố liên quan” do nhóm nghiên cứu của chương
trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em kết hợp với TTCSSKSS Lào Cai dưới dự tài trợ kinh phí từ phía UNICEF Việt Nam Do vậy kết quả của nghiên cứu này sẽ cung cấp các dữ liệu ban đầu quan trong trong việc thiết kế các giải pháp can thiệp hữu hiệu nhất để cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em vùng khó khăn trong tương
HUPH
Trang 35lai Các kết quả từ nghiên cứu này sẽ cung cấp các thông tin cần thiết định hướng hướng đi cho các giai đoạn tiếp theo, đặc biệt cho việc lựa chọn các lương thực phẩm tại địa phương để phát triển các công thức ăn bổ sung cho trẻ nhỏ Bên cạnh
đó nghiên cứu mang lại ý nghĩa thực tiễn cho trẻ em của hai xã tham gia nghiên cứu thông qua việc cung cấp những thông tin cần thiết về cách chăm sóc nuôi dưỡng trẻ nhỏ, những phong tục chăm sóc con chưa đúng cách của người dân tộc thiểu số đặc biệt là người Mông của hai xã nghiên cứu cũng như tỉnh Lào Cai và vùng núi phía Bắc, đây sẽ là những bằng chứng và thông tin quan trọng trong việc tiến hành các can thiệp dinh dưỡng trên nhóm đối tượng này vốn chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức
HUPH
Trang 36- Thời điểm cho trẻ ăn bổ sung
- Số lượng bữa ăn mỗi ngày
- Các loại thực phẩm trẻ được ăn ngày hôm qua
- Mức đáp ứng NCKN
- Tính cân đối của khẩu phần
Yếu tố liên quan khác
Điều kiện làm việc: gần nhà, xa nhà, tại nhà, thời gian đi làm sau sinh
Tình trạng kinh tế hộ gia đình: phải vay tiền hàng tháng, thiếu ăn
Phong tục tập quán về nuôi dưỡng trẻ nhỏ
Hỗ trợ từ gia đình: người chăm sóc trẻ khi
bố mẹ đi làm
Yếu tố cá nhân
Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi, giới, nghề nghiệp, số
lượng con, trình độ học vấn, chi tiêu cho gia đình
hàng tháng, số người trong gia đình
Kiến thức về ABS
- Thời gian bắt đầu cho trẻ ăn các loại thức ăn ngoài sữa
mẹ: chất lỏng/thức ăn lỏng; thức ăn nguồn gốc động
vật
- Loại thực phẩm khi cho trẻ ăn bổ sung
Tiếp cận thông tin về ABS
- Thông tin về ABS nhận được từ cán bộ y
tế
- Thông tin nhận ABS nhận được các phương tiện truyền thông đại chúng: TV, loa/đài
HUPH
Trang 37CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trẻ 6 – 23 tháng và các bà mẹ có con từ 6 – 23 tháng tuổi và sống tại xã Bản Phố huyện Bắc Hà và Thào Chư Phìn huyện Simacai tỉnh Lào Cai
2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn đối tượng nghiên cứu
- Trẻ 6 – 23 tháng và bà mẹ có con từ 6 đến 23 tháng tuổi hiện đang sống tại
xã Bản Phố huyện Bắc Hà và Thào Chư Phìn huyện Simacai tỉnh Lào Cai
- Trẻ sinh từ ngày 05 tháng 7 năm 2012 đến ngày 01 tháng 1 năm 2014 được chọn vào nghiên cứu
- Tất cả các đối tượng đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ
- Người gặp khó khăn về nghe, nói như: câm điếc
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích
2.4 Cỡ mẫu nghiên cứu
Chọn toàn bộ bà mẹ có con 6 – 23 tháng và trẻ 6 – 23 tháng tại xã Thào Chư Phìn huyện Simacai và xã Bản Phố huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai
2.5 Phương pháp chọn mẫu
Lập danh sách bà mẹ và trẻ: danh sách trẻ 6-23 tháng tuổi (trẻ sinh từ ngày 05
tháng 7 năm 2012 đến ngày 01 tháng 1 năm 2014) và các bà mẹ tại các bản được
lập với sự giúp đỡ của cán bộ Trạm Y tế ( dựa trên danh sách theo dõi cân nặng và
tiêm chủng của trẻ tại các thôn và xã) Danh sách này bao gồm: tên của trẻ, ngày
tháng năm sinh, tên của bà mẹ và địa chỉ
HUPH
Trang 38Nghiên cứu này sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ, tuy nhiên trên thực tế chỉ có 129 cặp bà mẹ có con trong độ tuổi 6 - 23 tháng và trẻ 6 – 23 tháng đang
sống trên địa bàn xã Bản Phố và Thào Chư Phìn đã tham gia nghiên cứu (02 xã
được chọn là xã trọng điểm về suy dinh dưỡng trẻ em và được UNICEF chọn làm
xã điểm để tiến hành can thiệp trong giai đoạn tới)
Các bà mẹ tham gia nghiên cứu được phỏng vấn về tình trạng ABS của trẻ theo
bộ câu hỏi định lượng
2.6 Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 C ng c thu th p số liệu
Bộ câu hỏi định lượng
Bộ câu hỏi bao gồm các thông tin nhân khẩu học, kiến thức và thực hành
ABS và, các yếu tố có liên quan đến thực hành ABS: (chi tiết về bộ câu hỏi xem phụ
lục 1)
Bộ câu hỏi được thử nghiệm trên đối tượng bà mẹ có con 6 – 23 tháng tại xã Bản Phố thuộc huyện Bắc Hà vào tháng 10/2013 Sau giai đoạn thử nghiệm, bộ câu hỏi đã được chỉnh sửa và hoàn thiện cho hoạt động điều tra vào tháng 1/2014
Số liệu khẩu phần 24h qua của trẻ
Các bà mẹ cung cấp những thông tin về ăn uống của trẻ trong vòng 24h qua, các thông tin cần thu thập bao gồm: bữa ăn, tên món ăn, tên thực phẩm, số lượng
ăn Mỗi ngày ăn của trẻ được chia làm 6 khoảng thời gian khác nhau (bữa sáng; bữa giữa sáng và trưa; bữa trưa; bữa chiều; bữa tối; bữa giữa tối cho đến trước khi thức dậy của ngày hôm sau) để giúp gợi lại trí nhớ của đối tượng, tránh bỏ sót các bữa ăn thêm
Điều tra viên sử dụng album ảnh các món ăn Việt Nam và các vật dụng sẵn có được mượn từ bếp của các gia đình có con tham gia nghiên cứu như bát, thìa, đũa, đĩa để hỏi bà mẹ lần lượt mỗi bữa ăn của trẻ và mỗi món ăn của từng bữa (Không hỏi đối với trẻ ăn vào ngày lễ, ngày giỗ, ăn cỗ ) Đối với mỗi món ăn, từng thực phẩm thành phần để chế biến ra món ăn đó cùng với trọng lượng sử dụng sẽ được hỏi và ghi vào phiếu Nếu thực phẩm bao gồm cả phần thải bỏ thì trọng lượng phần thải bỏ và tỷ lệ thải bỏ cũng được hỏi và ghi lại Đối với thức ăn chín, chế biến sẵn,
HUPH
Trang 39sản phẩm truyền thống của địa phương được nhiều đối tượng sử dụng mà không có trong “ Bảng thành phần thực phẩm Việt Nam” cần được quy về thức ăn sống riêng biệt của từng loại thực phẩm dùng để chế biến lên thức ăn đó Có thể thu thập giá tiền của một đơn vị đo lường được sử dụng trong trao đổi hàng hóa tại địa phương Trên cơ sở đó cán bộ phụ trách điều tra sẽ tiến hành quan sát giá cả tại chợ địa phương, mua và cân kiểm tra để quy đổi ra đơn vị đo lường chung[6]
Dựa vào bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam năm 2007 và nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam của Viện Dinh dưỡng năm 2012 để đánh giá mức tiêu thụ lương thực thực phẩm, cân đối khẩu phần và mức đáp ứng nhu cầu khuyến nghị về dinh dưỡng Công cụ là bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn, album ảnh món ăn, cốc chén, thìa, cân thực phẩm Sử dụng bảng quy đổi được chuẩn thức của Viện Dinh dưỡng[6]
Trẻ từ 6 – 23 tháng tuổi được chia nhỏ theo các nhóm tuổi: 6 – 8 tháng, 9-11 tháng và từ 12 – 23 tháng để phù hợp với tra bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho người Việt Nam [9]
Nghiên cứu không tiến hành tìm hiểu về thực hành nuôi con bằng sữa mẹ, tuy nhiên hiện nay chưa có khuyến nghị riêng về nhu cầu dinh dưỡng cho bữa ăn
bổ sung Do vậy nghiên cứu này khẩu phần ăn một ngày của trẻ được cộng thêm phần sữa mẹ trung bình theo từng nhóm tuổi để tính toán các thành phần dinh dưỡng và so sánh với khuyến nghị về nhu cầu dinh dưỡng năm 2012
Bảng 2.1 Lượng sữa mẹ trung bình cho trẻ 6 – 23 tháng ăn bổ sung
Nhóm tuổi Năng lượng TB từ sữa mẹ Tính ra ml
2.6.2 Phương pháp thu th p số liệu
- Bà mẹ được phỏng vấn trực tiếp tại điểm tập trung đông các bà mẹ (nhà trưởng
bản, trạm y tế xã, nhà y tế bản, nhà của người có uy tín trong bản) dựa trên bộ câu hỏi định lượng được thiết kế sẵn
HUPH
Trang 40Các bà mẹ không nói được tiếng kinh có điều tra viên là người tại địa phương thông thạo cả tiếng Mông và tiếng Kinh được tập huấn về bộ câu hỏi dịch từ tiếng kinh sang tiếng Mông cho bà mẹ hiểu và trả lời
Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 Kết quả phân tích đƣợc chia thành 2 phần:
Phần mô tả: thể hiện tần suất của các biến trong nghiên cứu
Phần phân tích: đƣa ra những mối liên quan giữa việc thực hành ăn bổ sung đúng cách theo khuyến nghị của WHO với các yếu tố khác bằng kiểm định X2
2.8 Các biến số sử dụng trong nghiên cứu
Nhóm biến số th ng tin chung và các đặc điểm của hộ gia đình: Tuổi mẹ,
Trình độ học vấn của mẹ, nghề nghiệp của mẹ, số con trong gia đình, thứ tự trẻ đƣợc chọn trong gia đình, tháng tuổi của trẻ, giới tính trẻ, số tiền chi trung bình hàng tháng, tình trạng bú mẹ của trẻ
Nhóm biến số về thực hành ăn bổ sung: Thời điểm trẻ đƣợc ăn bổ sung, loại
thức ăn trẻ đƣợc ăn thêm, thực phẩm dùng để nấu cháo/bột, khó khăn khi nấu cháo/bột, các loại thực phẩm trẻ đƣợc ăn ngày hôm qua, số bữa ăn ngày hôm qua
Nhóm biến số về kiến thức ăn bổ sung: thời điểm trẻ bắt đầu ăn bổ sung, loại
thực phẩm khi bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung, tiếp nhận thông tin về ăn bổ sung trong 3 tháng qua
Nhóm biến số về điều kiện làm việc của mẹ: thời gian đi làm trở lại sau sinh,
chăm sóc con khi đi làm, khoảng cách từ nhà đến nơi làm việc (Chi tiết xin xem
tại phụ lục 3 trang 90)
HUPH