Nghiên cứu cắt ngang “Kiến thức, thái độ và thực hành về hút thuốc lá trong nhóm nam học sinh PTTH tại Lương Tài, Bắc Ninh, 2012” được tiến hành từ tháng 12 năm 2011 đến hết tháng 5 năm
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
Nguyễn Đình Quân
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH VỀ HÚT THUỐC LÁ TRONG
NHÓM NAM HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC
TẠI LƯƠNG TÀI, BẮC NINH, 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60720301
Hà Nội, 2012 HUPH
Trang 2Nguyễn Đình Quân
KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH VỀ HÚT THUỐC LÁ TRONG
NHÓM NAM HỌC SINH PHỔ THÔNG TRUNG HỌC
TẠI LƯƠNG TÀI, BẮC NINH, 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60720301
Hà Nội, 2012HUPH
Trang 3HUPH
Trang 4CDC Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ
KAP Kiến thức, thái độ và thực hành
UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
WHO Tổ chức Sức khỏe thế giới
HUPH
Trang 5trì hành vi trong suốt giai đoạn trưởng thành Nghiên cứu cắt ngang “Kiến thức, thái độ và thực hành về hút thuốc lá trong nhóm nam học sinh PTTH tại Lương Tài, Bắc Ninh, 2012” được tiến hành từ tháng 12 năm 2011 đến hết
tháng 5 năm 2012 trên địa bàn huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh nhằm tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố có liên quan đến hút thuốc lá trên nhóm nam học sinh phổ thông trung học Các yếu tố liên quan được xác định bao gồm các yếu tố ảnh hưởng (Predisposing factors), các yếu tố tăng cường (Reinforcing factors) và các yếu tố tạo điều kiện (Enabling factors) được đề cập đến trong mô hình PRECEDE – PROCEED Nghiên cứu được tiến hành trên
408 học sinh nam với công cụ thu thập số liệu là bộ câu hỏi khuyết danh tự điền.Kết quả nghiên cứucho thấy tỷ lệ hút thuốc lá trong nhóm học sinh nam tại đây là 24%.Gần một nửa số học sinh nam tham gia nghiên cứu có kiến thức trung bình về hút thuốc lá, Không có mối liên quan giữa kiến thức và hành vì hút thuốc lá trong nhóm học sinh nam Hầu hết học sinh đều phản đối hành vi hút thuốc lá và tỷ lệ học sinh ủng hộ hành vi hút thuốc lá rất thấp (chỉ chiếm 2,5%) Thái độ đối với hành vi hút thuốc lá có mối liến quan rất chặt chẽ đến hành vi hút thuốc lá của học sinh nam.Kết quả từ nghiên cứu này cũng chỉ ra tác động mạnh mẽ của gia đình (bố, anh/chị) hay bạn bè tới hành vi hút thuốc lá của học sinh nam đặc biệt là từ nhóm bạn thân
HUPH
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
TÓM TẮT ii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
Phần 1.Một số định nghĩa cơ bản 4
Phần 2.Tổng quan nghiên cứu 5
1 Tỷ lệ hút thuốc lá 5
2 Hành vi hút thuốc lá 7
3 Kiến thức về hút thuốc lá 8
4 Một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá 9
Phần 3.Khung lý thuyết về hành vi hút thuốc lá và các yếu tố liên quan 11 Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
1 Đối tượng nghiên cứu 13
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 13
3 Thiết kế nghiên cứu 14
4 Phương pháp chọn mẫu 14
5 Phương pháp thu thập thông tin 15
6 Các biến số trong nghiên cứu 15
7 Tiêu chuẩn đánh giá 21
8 Phương pháp phân tích số liệu 24
Quản lý số liệu 24
Phân tích số liệu 24
9 Đạo đức nghiên cứu 25
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
Phần 1.Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học của ĐTNC 26
1 Thông tin chung 26
2 Thông tin gia đình 27
Phần 2.Kiến thức, thái độ và thực hành về hút thuốc lá của ĐTNC 30
1 Kiến thức về hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 30
1.1 Kiến thức về ảnh hưởng của hút thuốc lá đến sức khỏe con người 30
HUPH
Trang 71.2 Kiến thức về thành phần độc hại của thuốc lá 34
1.3 Kiến thức về Luật Phòng chống tác hại thuốc lá tại Việt Nam 35
1.4 Đánh giá kiến thức về thuốc lá 37
2 Thái độ về hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 39
2.1 Thái độ đối với hành vi hút thuốc lá 39
2.2 Thái độ đối với tác hại của hành vi hút thuốc lá 40
2.3 Thái độ đối với những quan niệm sai lầm về lợi ích của hành vi hút thuốc lá 41
2.4 Thái độ đối với những quan niệm sai lầm về việc bỏ hút thuốc lá 42
2.5 Đánh giá thái độ về hút thuốc lá 43
3 Hành vi hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 45
3.1 Tỷ lệ hút thuốc lá 45
3.2 Tuổi bắt đầu hút thuốc lá 48
3.3 Số điếu thuốc lá hút mỗi ngày 50
3.4 Tần suất hút thuốc lá trong một tháng trước cuộc điều tra 50
3.5 Địa điểm thường hút thuốc lá 51
3.6 Lý do hút thuốc lá 52
3.7 Mua thuốc lá 53
3.8 Bỏ hút thuốc lá 54
Phần 3 Một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu 56
1 Các yếu tố ảnh hưởng (Predisposing factors) và hành vi hút thuốc lá 56
1.1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học 56
1.2 Kiến thức về hút thuốc lá 56
1.3 Thái độ về hút thuốc lá 59
1.4 Quảng cáo thuốc lá 61
2 Các yếu tố tăng cường (Reinforcing factors) và hành vi hút thuốc lá 61
2.1 Yếu tố gia đình 62
2.2 Yếu tố xã hội 63
3 Các yếu tố tạo điều kiện (Enabling factors) và hành vi hút thuốc lá 64
4 Mô hình các yếu tố tác động tới hành vi hút thuốc lá 65
Chương 4 BÀN LUẬN 69
Chương 5 KẾT LUẬN 78
HUPH
Trang 8PHỤ LỤC 84
Phụ lục 1: Thỏa thuận tham gia nghiên cứu 84 Phụ lục 2: Bộ câu hỏi nghiên cứu 86
HUPH
Trang 9Biểu đồ 7 Phân bố tỷ lệ phần trăm học sinh nam thường mua thuốc để hút
theo địa điểm mua thuốc lá
53
Biểu đồ 8 Phân bố tỷ lệ phần trăm học sinh đã từng cố gắng bỏ thuốc lá
theo lý do chính thúc đẩy việc bỏ thuốc lá
54 HUPH
Trang 10Bảng 1 Nội dung và thang điểm với các câu hỏi liên quan đến kiến thức
Bảng 4 Thông tin chung về gia đình của đối tượng nghiên cứu 27 Bảng 5a Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu biết rằng hút
thuốc lá gây ra các bệnh nghiêm trọngtheo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 408)
29
Bảng 5b Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu biết rằng hút
thuốc lá gây ra các bệnh nghiêm trọngtheo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 408)
30
Bảng 6 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu biết ảnh hưởng
của hút thuốc lá thụ động tới những người xung quanhtheo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 408)
31
Bảng 7 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu biết ảnh hưởng
của hút thuốc lá tới phụ nữ mang thaitheo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 408)
31
Bảng 8 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu biết thành phần
độc hại trong (khói) thuốc lá tới phụ nữ mang thai theo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 408)
33
Bảng 9 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu biết về một số 34
HUPH
Trang 11điều trong Luật phòng chống tác hại thuốc lá tại Việt Nam theo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá
Bảng 10 Phân bố điểm kiến thức về thuốc lá của đối tượng nghiên cứu
theo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N
= 408)
36
Bảng 11 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu có thái độ phản
đối hành vi hút thuốc látheo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 407)
38
Bảng 12 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu có thái độ phản
đối quan điểm sai lầm về tác hại của hút thuốc lá theo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 407)
39
Bảng 13 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu có thái độ phản
đối quan điểm sai lầm về lợi ích của hút thuốc lá theo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 407)
40
Bảng 14 Tần số và tỷ lệ phần trăm đối tượng nghiên cứu có thái độ phản
đối quan điểm sai lầm về việc bỏ hút thuốc lá theo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N = 407)
42
Bảng 15 Phân bố điểm thái độ về hút thuốc lá của đối tượng nghiên cứu
theo một số đặc điểm nhân khẩu học và tình trạng hút thuốc lá (N
= 408)
43
Bảng 16 Tần số và tỷ lệ phần trăm học sinh nam có hút thuốc lá và không
hút thuốc lá theo một số đặc điểm nhân khẩu học và yếu tố gia đình – xã hội (N = 408)
45
Bảng 17 Phân bốtuổi bắt đầu hút thuốc lá của học sinh nam hút thuốc lá
theo một số đặc điểm nhân khẩu học và yếu tố gia đình (N = 94)
47
Bảng 18 Phân bố tần suất và tỷ lệ phần trăm học sinh nam đang hút thuốc 49
HUPH
Trang 12Bảng 19 Phân bố tần suất và tỷ lệ phần trăm học sinh nam đang hút thuốc
lá theo số điếu thuốc hút trung bình một ngày và một số đặc điểm nhân khẩu học (N = 64)
50
Bảng 20 Phân bố tần suất và tỷ lệ phần trăm học sinh nam hút thuốc lá
theo địa điểm thường hút thuốc lá và một số đặc điểm nhân khẩu học, yếu tố gia đình – xã hội (N = 98)
50
Bảng 21 Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu – xã hội và hành vi hút
thuốc lá của đối tượng nghiên cứu (N = 408)
55
Bảng 22 Mối liên quan giữa kiến thức về hút thuốc lá và hành vi hút thuốc
lá của đối tượng nghiên cứu (N = 408)
56
Bảng 23 Mối liên quan giữa thái độ về hút thuốc lá và hành vi hút thuốc lá
của đối tượng nghiên cứu (N = 408)
58
Bảng 24 Mối liên quan giữa quảng cáo thuốc lá và hành vi hút thuốc lá của
đối tượng nghiên cứu (N = 408)
60
Bảng 25 Mối liên quan giữa các yếu tố gia đình và hành vi hút thuốc lá của
đối tượng nghiên cứu (N = 408)
61
Bảng 26 Mối liên quan giữa các yếu tố gia đình và hành vi hút thuốc lá của
đối tượng nghiên cứu (N = 408)
63
Bảng 27 Mối liên quan giữa các yếu tố tạo điều kiện và hành vi hút thuốc
lá trong nhóm học sinh nam đã từng hút thuốc lá tham gia nghiên cứu (N = 98)
64
Bảng 28 Mô hình các yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá của đối
tượng nghiên cứu
67 HUPH
Trang 13ĐẶT VẤN ĐỀ
Hút thuốc lá được biết đến như là nguyên nhân tử vong có thể phòng tránh được hàng đầu trên thế giới hiện nay.Hơn 10 triệu đã đã tử vong do các nguyên nhân có liên quan đến hút thuốc lá Cứ 6 giây lại có một người tử vong do thuốc lá[25] Hút thuốc lá là nguyên nhân gây tử vong cho hơn 5 triệu người mỗi năm và sẽ tăng lên hơn 8 triệu người vào năm 2030[14] Trên thế giới, khoảng 1,3 tỷ người hiện đang hút thuốc lá, trong đó hơn 1 tỷ người hút thuốc lá là nam giới Khoảng 900 triệu người đang hút thuốc lá sống ở các nước đang phát triển Hầu hết những người hút thuốc lá bắt đầu hút thuốc lá trước năm 18 tuổi[31] Với xu hướng hiện tại, phần lớn các ca tử vong do hút thuốc lá sẽ tiếp tục xảy ra tại các nước đang phát triển
Là một trong những quốc gia có tỷ lệ hút thuốc lá cao nhất thế giới, tại Việt Nam hút thuốc lá cũng được coi là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu.Năm 2010, tỷ lệ hút thuốc lá trong thanh thiếu niên từ 15 tuổi trở lên tại Việt Nam vào khoảng 47,4% ở nam và 1,4% ở nữ, tỷ lệ chung khoảng 23,8% (tương đương với 15,3 triệu thanh thiếu niên trưởng thành) [27]
Theo mô hình ước tính tình hình dịch thuốc lá tại Việt Nam, có gần 40.000 người đã
tử vong do các nguyên nhân liên quan đến hút thuốc lá vào năm 2008 và sẽ tiếp tục tăng lên 50.000 người vào năm 2023[28] Trong một nghiên cứu gần đây, Norman
và cộng sự cho rằng có khoảng 66,000-76,000 ca tử vong có liên quan đến hút thuốc
lá vào năm 2005, chiếm từ 9.7% đến 11.1% tổng số trường hợp tử vongvà đóng góp khoảng 6.8% đến 7.7% DALYs mất đi tại Việt Nam năm 2006 Bệnh tim mạch và chứng tắc nghẽn phổi mãn tính chiếm tỷ trọng lớn trong gánh nặng bệnh tật do hút thuốc lá gây ra ở cả nam và nữ[24] Nếu không hút thuốc lá, chỉ tính riêng chi phí của 3 bệnh có liên quan đến hút thuốc lá là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, thiếu máu mạch vành, ung thư phổi và phế quản, xã hội có thể tiết kiệm được tới 50% chi phí, tương đương 804 tỷ đồng/năm, chiếm khoảng 18% chi phí cho y tế của nhà nước [8]
HUPH
Trang 14cho cả 2 giới[27].Ở lứa tuổi này, cơ thể đang trong giai đoạn phát triển về thể chất
và tinh thần, việc bắt đầu hút thuốc lá sớm sẽ gây ra những ảnh hưởng đến sức khoẻ nặng nề và lâu dài hơn so với việc bắt đầu hút thuốc lá từ những giai đoạn phát triển sau Bên cạnh đó, những người bắt đầu hút thuốc lá thường xuyên từ khi vị thành niên thường có xu hướng duy trì hành vi trong suốt giai đoạn trưởng thành[15] Lương Tài là một huyện đồng bằng nằm ở phía Đông Nam tỉnh Bắc Ninh, dân số khoảng 109 nghìn người (2010), trong đó số thanh thiếu niên từ 14 – 17 tuổi chiếm khoảng 5% dân số (khoảng 5000 người) Tỷ lệ học sinh đi học lớp 12 trên địa bàn huyện đạt trên 70%.Sự phát triển về kinh tế, văn hoá và xã hội kéo theo những thay đổi nhanh chóng về lối sống của người dân, đặc biệt là thanh thiếu niên với những hành vi không đúng như uống rượu, hút thuốc lá hay sử dụng các chất kích thích Các biện pháp can thiệp đúng, có trọng tâm và từ lứa tuổi trẻ sẽ giúp cho thanh thiếu niên có kiến thức và thái độ đúng đắn về các hành vi nguy cơ (hút thuốc lá ).Mặc dù chưa có thống kê nào về tỷ lệ hút thuốc lá và các thông tin liên quan trên địa bàn huyện nhưng qua tìm hiểu thông tin ban đầu thì đây là một vấn đề nổi cộm và được lãnh đạo y tế tại địa phương hết sức quan tâm Do đó, nhu cầu cần có thông tin hỗ trợ cho quá trình lập kế hoạch và xác định ưu tiên cho chương trình phòng chống tác hại thuốc lá tại địa phương là hết sức cấp thiết
Xuất phát từ bối cảnh thực tế và trong khuôn khổ giới hạn về nguồn lực và thời
gian, nghiên cứu “Kiến thức, thái độ và thực hành về hút thuốc lá trong nhóm nam học sinh PTTH tại Lương Tài, Bắc Ninh, 2012” được tiến hành nhằm mục
đích tìm hiểu kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá của học sinh PTTH trên địa bàn huyện Lương Tài, Bắc Ninh Kết quả của nghiên cứu sẽ là nguồn thông tin hữu ích cho các chương trình can thiệp trong tương laihướng tới thay đổi hành vi, kiểm soát và phòng ngừa tác hại thuốc lá trên nhóm học sinh PTTH nói riêng và thanh thiếu niên trên địa bàn huyện Lương Tài nói chung
HUPH
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1 Mô tảkiến thức, thái độ và thực hành về hút thuốc lá ở học sinh phổ thông
trung học trên địa bàn huyện Lương Tài, Bắc Ninh năm 2012;
2 Xác định một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá ở học sinh phổ
thông trung học trên địa bàn huyện Lương Tài, Bắc Ninh năm 2012
HUPH
Trang 16Phần 1.Một số định nghĩa cơ bản
1 Thành phần của thuốc lá
Khi đốt cháy một điếu thuốc lá thì tạo ra hai luồng khói thuốc chính và khói thuốc phụ.Khói thuốc chính là khói thuốc người hút hít vào và thở ra Trong khói thuốc chính chứa hơn 4000 chất độc khác nhau dưới dạng bụi nhỏ hay khí và 43 chất gây bệnh ung thư Ngoài các chất hoá học như Nitơ, Oxy, Cacbonic thì Nicotin là một trong những thành phần chính trong mỗi điếu thuốc lá (mỗi điếu thuốc lá chứa từ 1-
3 mg Nicotin) Theo các nhà khoa học chung Hoa Kỳ (1988) tính chất dược lý của Nicotin gây nghiện thuốc lá tương tự như các chất ma tuý, heroin, cần sa [7]
Khói thuốc lá phụ là khói toả ra ở đầu thuốc để cháy tự nhiên.Làn khói thuốc phụ
nguy hiểm hơn nhiều lần khói thuốc lá chính
2 Hút thuốc lá
Hút thuốc lá được chia ra làm 02 loại là hút thuốc lá chủ động và hút thuốc lá bị động
Hút thuốc lá chủ động là hành vi người hút trực tiếp hút thuốc
Hút thuốc lá bị động là hành vi một người không trực tiếp hút thuốc mà hít thở trong môi trường có khói thuốc
Hiện nay, trên thị trường Việt Nam có rất nhiều loại thuốc lá của trong nước và nước ngoài như: White Horse, Vinataba, Thăng Long, Era, Sông Cầu, thuốc lào
Vĩnh Bảo, thuốc rê, Dunhill, Midseven Light, 555, Zet, Hero, Xì gà
3 Người hút thuốc lá
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, người hút thuốc lá là những người đã từng hút thuốc lá (dù chỉ một vài hơi) từ trước đến thời điểm điều tra, bao gồm:
Người đang hút thuốc lá: Là người có hút thuốc lá ít nhất là 1 lần trong vòng
30 ngày trước cuộc điều tra;
HUPH
Trang 17 Người đã bỏ thuốc lá: Là những đã từng hút nhiều hơn một điếu thuốc lá nhưng trong vòng 30 ngày trước cuộc điều tra không hút bất cứ điều thuốc lá nào;
Người thử hút thuốc lá: Là những người chỉ hút vài hơi thuốc lá (ít hơn 1 điếu thuốc lá) tính đến thời điểm điều tra
4 Người không hút thuốc lá
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, người không hút thuốc lá là những người chưa bao giờ hút bất kỳ điếu thuốc lá nào (dù chỉ một vài hơi) tính đến thời điểm điều tra
Phần 2 Tổng quan nghiên cứu
1 Tỷ lệ hút thuốc lá
Một nghiên cứu do Lazaros T Sichletidis và cộng sự thực hiện tại Hy Lạp năm
2002 nhằm tìm hiểu tỷ lệ hút thuốc và yếu tố nguy cơ liên quan đến hút thuốc látrong nhóm đối tượng học sinh trong độ tuổi từ 15 – 18 Kết quả nghiên cứu tỷ lệ hút cho thấy 29,6% học sinh hút thuốc lá, tỷ lệ này ở học sinh nam và học sinh nữ lần lượt là 32,6% và 26,7%[29]
Cơ sở dữ liệu Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở thanh thiếu niên (GYTS) là một nguồn số liệu được rất nhiều tác giả sử dụng để nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hút thuốc lá trên thanh thiếu niên.Dựa trên cơ sở dữ liệu Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở thanh thiếu niên tại Mỹ (GYTS) năm 2004, Andrea Villanti và cộng sự
đã tiến hành một nghiên cứu nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của bạn bè, gia đình và phương tiện truyền thông tới hành vi hút thuốc lá của học sinh từ 10 – 17 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ đang hút thuốc lá trong nhóm học sinh từ 10 – 13 tuổi
là 6% (KTC 95% từ 5,1 – 7%) so với tỷ lệ 18,8%(KTC 95% từ 16,9 – 20,đang hút thuốc lá trong nhóm học sinh từ 14 – 17 tuổi[30]
Nghiên cứu do tác giả Yue Qing và công sự thực hiện năm 2009 tại Trung Quốc nhằm tìm hiểu một số yếu tố ảnh hưởng đến hút thuốc lá ở học sinh trong nhóm từ
HUPH
Trang 18Điều tra "Điều tra toàn cầu về hút thuốc lá ở người trưởng thành tại Việt Nam (GATS), 2010" tiến hành trên63 tỉnh thành ở Việt Nam năm 2009 cho thấy47,4%
nam và 1,4% nữ và 23,8% người trưởng thành nói chung (15,3 triệu ngườilớn) đang hút thuốc lá Tỷ lệ hút thuốc chung cao nhất ở nhóm tuổi 45-64 (29,7%) và thấp nhất ở nhóm tuổi 15-24(13,3%) Mô hình hút thuốc theo độ tuổi khá giống nhau ở nam giới Với nam giới, tỷ lệ hút thuốc cao nhất ở những người thuộc nhóm tuổi 45-64 (59,5%) và thấp nhất ở nhóm tuổi 15-24(26,1%) Ở nữ giới, tỷ lệ hút thuốc cao nhất ở nhóm người thuộc độ tuổi 45 trở lên (2,9% ) vàthấp nhất ở độ tuổi từ 15-
24 (0,3%) [6]
Một nghiên cứu khác có quy mô lớn và toàn diện nhất của thanh, thiếu niên ở Việt
Nam từ trước đến nay là “Điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY)” do Bộ Y tế, Tổng cục thống kê, UNICEF, WHO phối hợp thực hiện
năm từ năm 2003 Kết quả điều tra vòng 2 được thực hiện vào năm 2009 cho biết có 20,4% thanh niên được hỏi đã từng hút thuốc lá hoặc thuốc lào, trong đó tỉ lệ nam là 39,5% và nữ là 0,6% Kết quả phân tích theo nhóm tuổi cho thấy tỷ lệ hút thuốc cao nhất ở những người thuộc nhóm tuổi 22 – 25 (34%) và thấp nhất ở nhóm tuổi 14-17 (10%)[10]
Nếu như cuộc tổng điều tra y tế quốc gia và điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (SAVY) tiến hành tìm hiểu tình trạng hút thuốc lá của đối
tượng thanh, thiếu niên trên địa bàn nghiên cứu rộng thì “Nghiên cứu thực trạng hút thuốc lá trong học sinh từ 13 - 15 tuổi tại 4 thành phố Việt Nam, 2007” lại được-
thực hiện với quy mô nhỏ hơn tại 4 tỉnh/thành phố đại diện cho 4 vùng kinh tế- xã hội là: thành phố Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu đã chỉ ra rằng: tỷ lệ hút thuốc của học sinh nam trong độ tuổi 13-
15 tuổi tại các tỉnh/thành từ9,1%- 24,7% vànữ giới là từ 2,8%- 8,8% [3] Nghiên cứu của Lỗ Việt Phương (2009) cho biết tỷ lệ hút thuốc lá trong nhóm vị thành niên
HUPH
Trang 19từ 15 – 17 tuổi là 19,1%, trong đó 47,4% vị thành niên hiện đang còn hút thuốc lá [9]
Trong báo cáo "Vận dụng và bước đầu đánh giá hiệu quả của phương pháp giáo dục chủ động trong lĩnh vực phòng chống hút thuốc lá ở học sinh trung học phổ thông" tác giả Lê Thành Tài đã cho biết tỷ lệ hút thuốc lá tăng dần theo số tuổi và số
lớp (25,1% học sinh lớp 10 hút thuốc lá, tỷ lệ này ở học sinh lớp 11 và lớp 12 lần lượt là 27,5% và 34,3%) [11]
Một nghiên cứu của Randy M Page và cộng sự tiến hành năm 2010 tại Việt Nam cho biết tỷ lệ đã từng hút thuốc lá ở nam học sinh cấp 3 là 28,6%, tỷ lệ này tương ứng với nam học sinh lớp 10, lớp 11 và lớp 12 là 29,1%, 22,6% và 28,6%[22]
2 Hành vi hút thuốc lá
Rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết những người hút thuốc lá bắt đầu hút thuốc lá từ độ tuổi rất sớm.Kết quả hai nghiên cứu được thực hiện năm 2009 tại Việt Nam cho thấy tuổi trung bình bắt đầu hút thuốc lá của nhóm thanh thiếu niên trong khoảng từ 17,2 – 17,3 tuổi [9], [10]
Kết quả nghiên cứu do Mizanur RahmanMd và cộng sự (2011) báo cáo tỷ lệ học sinh hút trung bình ít hơn 1 điếu thuốc (chỉ vài hơi) mỗi ngày chiếm 62,3%, so với 34,8% học sinh hút trung bình từ 1 – 4 điếu thuốc mỗi ngày [26] Theo Lazaros T Sichletidis và cộng sự (2009), tỷ lệ học sinh nam hút từ 1 – 5 điếu thuốc mỗi ngày
HUPH
Trang 20hút từ 2 – 5 điếu thuốc mỗi ngày; 14,5% hút từ 6 – 10 điếu mỗi ngày và 7,8% hút trên 10 điếu mỗi ngày [9] Có đến 42% hút thuốc lá hàng ngày, tỷ lệ có hút thuốc lá trong khoảng 1 – 2 ngày chiếm tỷ lệ 16,3% [9]
Một số lý do chính dẫn đến hành vi hút thuốc lá bao gồm “bị bố mẹ thầy cô mắng – 33,6%”; “thần tượng/hình mẫu cũng hút thuốc lá – 26,5%” [29]; “tò mò, hút thử - 35,9%”; hay “bạn bè xung quanh đều hút – 30,9%” Một số lý do khác cũng cần quan tâm đó là “quá căng thẳng” (14,7% nam thanh niên); “mọi người xung quanh đều hút” (6,4%)[10]
Theo GATS (2010), nơi mua thuốc chủ yếu của người trong nhóm tuổi từ 15 – 24 là cửa hàng (57,6%), hàng nước/người bán rong (39,6%) [6] Đa số thanh niên (98,3%) khẳng định rằng dễ dàng mua thuốc tại nơi ở[10] và chi tiêu trung bình cho thuốc lá hàng tháng vào khoảng 119 nghìn đồng (KTC 95% từ 92,8 – 145,2 nghìn đồng) ở nhóm 15 – 24 tuổi [6]
Theo kết quả điều tra SAVY 2, trong số những người hiện đang hút thuốc, một bộ phận đã từng cố gắng bỏ thuốc nhưng chưa làm được Khoảng 74% nam thanh niên hút thuốc lá và 94% nữ thanh niên hút thuốc lá đã từng cố gắng bỏ nhưng chưa thực hiện được[10].GATS 2010 cũng cho thấy, trong số những người từ 15 – 24 tuổi, tỷ
lệ có kế hoạch bỏ thuốc sau 1 tháng là 11,3%, nghĩ tới việc bỏ thuốc sau 12 tháng là 22,7%, sẽ bỏ thuốc trong một ngày nào đó không phải trong 12 tháng tới là 32,43, không quan tâm đến việc bỏ thuốc lá 31% [6]
“thuốc lá có hại cho sức khỏe” lên đến 99,7% Tuy nhiên, chỉ có 12% biết hút thuốc
HUPH
Trang 21lá có thể gây ra bệnh tim mạch, 39,1% biết hút thuốc lá có thể gây ra ung thư phổi
Tỷ lệ biết hút thuốc lá ảnh hưởng đến sức khỏe phụ nữ mang thai và trẻ được sinh
ra là 75,9% [2]
Điều tra GATS 2010 cho thấy, trong số những người từ 15 – 24 tuổi, tỷ lệ biết “hút thuốc lá gây bệnh nghiêm trọng” là 97,2%; gây đột quỵ là 75,3%; đau tim là 61,4%; ung thư phổi là 97,6% Đối với nhóm 15 – 24 tuổi có hút thuốc lá, các tỷ lệ này lần lượt là 92,5%; 70,4%; 52,4%và 91,3% so với tỷ lệ 97,9%; 76,1%; 62,8% và 98,5%
ở nhóm không hút thuốc lá[6]
Cũng theo kết quả GATS 2010, có 92,5% những người trưởng thành từ 15 - 24 tuổi trở lên tin rằng hít khói thuốc lá của người khác gây bệnh nghiêm trọng cho những người không hút thuốc Tỷ lệ những người hút thuốc (83,1%) tin rằng hít khói thuốc
lá của người khác gây bệnh nghiêm trọng cho nhữngngười không hút thuốc thấp hơn những người không hút thuốc (90,6%)[6].Có95,5% người trưởng thànhtừ 15 -
24 tuổi tin rằng thuốc lá gây nghiện (91,6% trongsố những người hút thuốc và
96,1% trong số những người không hút thuốc
4 Một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá
Một nghiên cứu về các yếu tố liên quan đến hút thuốc lá ở học sinh trung học tại Bangladesh đã chỉ ra rằng tỷ lệ hút thuốc lá tăng theo tuổi Học sinh nhóm tuổi 16
có nguy cơ hút thuốc lá cao gấp 2,4 lần so với học sinh ở độ tuổi 13 [26] Tương tự như vậy, nghiên cứu do Ngô Văn Toàn (2007) thực hiện tại Hà Nội đã chỉ ra mối liên quan giữa tuổi và hành vi hút thuốc lá Cụ thể là tuổi càng lớn thì nguy cơ hút thuốc lá càng cao [12]
Nghiên cứu do Lỗ Việt Phương thực hiện dựa trên số liệu của điều tra chọn mẫu đại diện về tình dục và sức khỏe sinh sản vị thành niên và thanh niên tại Hà Nội năm
2006 cho thấy có mối liên quan giữa độ tuổi và tỷ lệ từng hút thuốc lá ở nam vị thành niên và thành niên với tỷ lệ đã từng hút thuốc lá cao nhất trong nhóm từ 21 –
24 tuổi (60,2%) và giảm dần xuống tỷ lệ 40,5% và 19,1% ở nhóm 18 – 20 tuổi và nhóm 15 – 17 tuổi [9]
HUPH
Trang 22sinh trung học phổ thông tại hai huyện, thành phố tỉnh Thái Bình năm 2008” do Đỗ
Văn Lương và cộng sự thực hiện cho thấy trong những gia đình có bố hoặc anh em trai hút thuốc lá có tỷ lệ học sinh hút thuốc cao gấp 2,71 lần (KTC 95% 2,16 – 3,41)
và 3,66 lần (KTC 95% 2,67 – 5,01) so với những gia đình có bố hoặc anh em trai không hút thuốc [5] Thái độ của bố mẹ cương quyết cấm hút thuốc thì tỷ lệ học sinh không hút thuốc cao gấp 2,29 lần (KTC 95% 1,82 – 2,89)
Nghiên cứu do Ngô Văn Toàn (2007) thực hiện đã chỉ ra yếu tố bạn thân có hút thuốc lá thường gặp nhiều hơn ở nhóm học sinh có hút thuốc lá[12]
Nghiên cứu của Lỗ Việt Phương (2009) cho thấy nhóm bạn là một yếu tố có tác động tương đối mạnh đến mức độ hút thuốc lá của nam vị thành niên và thành niên Đối với nhóm bạn thân không hút thuốc lá thì khả năng hút thuốc lá trong vòng 30 ngày trước cuộc điều tra chỉ bằng 0,45 so với nhóm có bạn thân hút thuốc [9]
Kết quả “Nghiên cứu một số yếu tố liên quan đến hành vi hút thuốc lá ở nam học sinh trung học phổ thông tại hai huyện, thành phố tỉnh Thái Bình năm 2008” do Đỗ
Văn Lương và cộng sự thực hiện cho thấy khi có sự đồng tình của bạn thân về hút thuốc lá thì tỷ lệ học sinh hút thuốc cao gấp 2,26 lần (KTC 95% 1,7 – 3,01) so với nhóm không có sự đồng tình của bạn thân [5]
“Nghiên cứu thực trạng hút thuốc lá trong học sinh từ 13 - 15 tuổi tại 4 thành phố Việt Nam, 2007” đã chỉ ra mối liên quan giữa yếu tố bạn thân có hút thuốc lá và
hành vi hút thuốc lá của học sinh Tỷ lệ hút thuốc của nhóm học sinh có bạn thân hút thuốc lá cao hơn nhóm học sinh không có bạn thân hút thuốc lá 10,3 lần (KTC 95% 4,7 – 22,5) [3]
Phơi nhiễm với khói thuốc tại trường học và nơi công cộng có ý nghĩa trong việc gia tăng nguy cơ hút thuốc lá ở học sinh lên 1,53 lần và 1,37 lần so với nhóm không phơi nhiễm [26]
HUPH
Trang 23Phần 3.Khung lý thuyết về hành vi hút thuốc lá và các yếu tố liên quan
Câu hỏi nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình PRECEDE - PROCEED do Green (1991)[34] đề xuất cho rằng các chương trình giáo dục truyền thông sức khoẻ
có thể thay đổi hành vi (ví dụ: hút thuốc lá) thông qua các chiến lược giáo dục và thay đổi về mặt tổ chức Trên thế giới, mô hình PRECEDE – PROCEED đã được
áp dụng trong rất nhiều nghiên cứu về hành vi
Theo mô hình PRECEDE - PROCEED, các chiến lược nên tập trung vào ba yếu tố
quan trọng đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi hành vi, bao gồm:
Các yếu tố ảnh hưởng (Predisposing factors)
Là những tiền đề cung cấp lý do hay tạo động lực cho hành vi Các yếu tố này có thể là kiến thức của cá nhân hay cộng động, thái độ, niềm tin, các giá trị và nhận thức tạo điều kiện thuận lợi hay cản trở động lực cho sự thay đổi
Các câu hỏi sử dụng trong nghiên cứu được thiết kế để tìm hiểu, đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc lá, chẳng hạn như kiến thức về tác hại của hút thuốc lá tới sức khoẻ; các chuẩn mực xã hội và niềm tin về hành vi hút thuốc; hay tác động của các chương trình quảng cáo đến hành vi hút thuốc của thanh thiếu niên
Các yếu tố tạo điều kiện (Enabling factors)
Là những tiền đề cho phép một động lực được thực hiện Đó có thể là những kỹ năng, nguồn lực, hoặc các rào cản có khả năng giúp hoặc cản trở mong muốn thay đổi hành vi cũng nhưng các yếu tố môi trường Khả năng tiếp cận, nguyên tắc hoặc luật lệ cũng được coi là các yếu tố tạo điều kiện Các câu hỏi về khả năng tiếp cận
và sự sẵn có của thuốc lá được sử dụng để tìm hiểu tác động của các yếu tố tạo điều kiện tới khả năng duy trì hành vi hút thuốc lá
Các yếu tố tăng cường (Reinforcing factors)
Cung cấp sự khích lệ, khuyến khích hành vi diễn ra hoặc góp phần vào sự duy trì hành vi Hành vi hút thuốc lá của một học sinh được định hình từ sự hút thuốc lá thường xuyên của những người thân quen, những người mà các em thường xuyên tiếp xúc: đó có thể là bố, mẹ, anh chị em trong gia đình hoặc người bạn trong nhóm
HUPH
Trang 24tiếp theo và qua thời gian thói quen hút thuốc lá được hình thành
Một số câu hỏi nghiên cứu được thiết kế để tìm hiểu sự kết hợp giữa các yếu tố tăng cường với hành vi hút thuốc lá, như thái độ và hành vi của bạn cùng nhóm, giáo viên, cha mẹ hay các thành viên trong gia đình Tiếp xúc với quảng cáo thuốc lá
cũng có thể coi là một yếu tố tăng cường
HÀNH VI HÚT THUỐC LÁ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN
Hành vi hút thuốc lá
ở nam học sinh PTTH
- Kiến thức, thái độ, niềm tin và nhận thức về:
o Tác hại của hút thuốc lá chủ động
o Tác hại của hút thuốc lá thụ động
o Lợi ích của việc từ bỏ thuốc lá
- Tác động của các chương trình quảng cáo
thuốc lá đến hành vi hút thuốc lá
Các yếu tố tạo điều kiện
- Khả năng chi trả cho việc mua thuốc lá
- Khả năng tiếp cận/tính sẵn có của thuốc lá ở
Trang 25Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện tại, trên địa bàn huyện Lương Tài có 4 trường PTTH Trong đó, trường PTTH Lương Tài 1 đóng tại thị trấn Thứa - trung tâm của huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh – là trường PTTH lớn nhất trên địa bàn huyện Năm 2011, trường có 45 lớp học, chia đều cho cả ba khối lớp 10, 11 và 12 với gần 2000 học sinh (chiếm gần 70% tổng số học sinh PTTH trên địa bàn huyện Lương Tài), học sinh nam chiếm khoảng 45% tổng số học sinh đang theo học tại trường Có thể nói, quần thể học sinh tại trường PTTH Lương Tài 1 có tính đại diệntương đối cao cho quần thể học sinh PTTH trên địa bàn huyện Lương Tài
Để phù hợp với nguồn lực và thời gian tiến hành nghiên cứu, nhóm nghiên cứu
quyết định lựa chọn đối tượng nghiên cứu là: Nam học sinh đang học lớp 10, lớp
11 hoặc lớp 12 tại trường PTTH Lương Tài 1, huyện Lương Tài, Bắc Ninh
Tiêu chuẩn lựa chọn:
Nam giới;
Đang học lớp 10, lớp 11 hoặc lớp 12 tại trường PTTH Lương Tài 1;
Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chuẩn loại trừ
Đối tượng không đảm bảo đầy đủ 3 tiêu chuẩn lựa chọn bên trên
2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 02/2011 đến hết tháng 05/2012
Địa bàn nghiên cứu: Huyện Lương Tài, Bắc Ninh
HUPH
Trang 264 Phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu dự kiến:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ:
Với tỷ lệ p = 29% [14], d = 0,05, Z = 1,96 (tương đương với mức ý nghĩa 95%) và ước lượng hệ số an toàn khoảng 20%, ta có cỡ mẫu cần thiết cho
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu theo cụm
Do số lượng học sinh nam tại mỗi lớp gần tương đương nhau, nhóm nghiên cứu đã tiến hành chọn mẫu theo cụm với giả thuyết mỗi lớp học là 1 cụm.Một danh sách lớp học của từng khối được lập ra.Tại mỗi khối, chọn ngẫu nhiên ra 7 lớp học.Tổng cộng có 21/45 lớp học được lựa chọn vào danh sách.Để tránh sai số do tâm lý cảm thấy “bị” khác biệt khi tham gia nghiên cứu và khuyến khích người tham gia nghiên cứu cung cấp thông tin chính xác, nhóm nghiên cứu chọn toàn bộ học sinh nam của những lớp học đã được chọn ngẫu nhiên ở trên
Trên thực tế, tổng số học sinh đồng ý tham gia nghiên cứu là 411 em Trong quá trình giám sát thu thập số liệu, nhóm giám sát đã loại ra 3 phiếu không đạt yêu cầu giám sát Cuối cùng, cỡ mẫu sử dụng cho quá trình phân tích số liệu là 408 học
sinh
HUPH
Trang 275 Phương pháp thu thập thông tin
Số liệu định lượng được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền khuyết danh (Chi tiếtPhụ lục2)bao gồm 85 câu hỏi Đối tượng tham gia nghiên cứu cần khoảng 30 phút để
hoàn thành bộ câu hỏi này
Trước khi đưa vào sử dụng chính thức, nhóm nghiên cứu đã tiến thành thử nghiệm
bộ câu hỏi trên 45 em học sinh thuộc trường PTTH Lương Tài 2 Kết quả của cuộc thử nghiệm đã giúp cho nhóm nghiên cứu có cơ sở để tiến hành chỉnh sửa nội dung
bộ câu hỏi cho phù hợp với tình hình thực tế
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập số liệu vào giờ sinh hoạt cuối tuần Những học sinh nam đồng ý tham gia nghiên cứu đã được yêu cầu ở lại thêm khoảng 30 phút để tham gia quy trình thu thập số liệu Các giám sát viên (là cán bộ y tế thuộc Trung tâm Y tế huyện Lương Tài)theo dõi quá trình học sinh tự điền vào bộ câu hỏi
Các yếu tố tăng cường
Các yếu tố tạo điều kiện
Hành vi hút thuốc lá
HUPH
Trang 28Liên tục Bộ câu hỏi tự
Liên tục Bộ câu hỏi tự
điền
Lí do hút thuốc
Là những lí do chính thúc đẩy đối tượng nghiên cứu quyết định có hành vi hút thuốc lá
Định danh Bộ câu hỏi tự
Định danh Bộ câu hỏi tự
điền
Từ bỏ thuốc lá Tình trạng đã từng bỏ thuốc lá của
đối tượng tham gia NC Định danh
Bộ câu hỏi tự điền
Lí do từ bỏ Là những nguyên nhân chính thúc Định danh Bộ câu hỏi tự
HUPH
Trang 29Tên biến số Định nghĩa Phân loại PP thu thập
Đặc điểm nhân khẩu xã hội học
Tuổi
Là tuổi tính theo năm Dương lịch của đối tượng NC, được tính bằng cách lấy tháng và năm điều tra trừ
đi tháng và năm sinh của đối tượng NC
Liên tục Bộ câu hỏi tự
điền
Tôn giáo
Là tín ngưỡng mà đối tượng nghiên cứu đang theo đuổi, mô tả bằng các giá trị: Đạo phật, Thiên chúa giáo và Tôn giáo khác
Định danh Bộ câu hỏi tự
Thứ bậc Bộ câu hỏi tự
điền Thông tin về gia đình, bao gồm:
Số thành viên
Là tổng số người hiện đang sống cùng trong một nhà với đối tượng
NC tính tại thời điểm nghiên cứu
Liên tục Bộ câu hỏi tự
HUPH
Trang 30Liên tục Bộ câu hỏi tự
(chi tiết Phụ lục 6) và được
mô tả bằng các giá trị: Kiến thức cao, Kiến thức trung bình và Kiến thức thấp
Thứ bậc Bộ câu hỏi tự
điền
HUPH
Trang 31Tên biến số Định nghĩa Phân loại PP thu thập
tượng nghiên cứu và được lượng giá bằng kết quả trả lời 15 câu hỏi trong Phần 4 của bộ công cụ thu thập số
liệu (chi tiết Phụ lục 6) và
được mô tả bằng các giá trị: Kiến thức cao, Kiến thức trung bình và Kiến thức thấp
Ảnh hưởng của những người xung quanh tới hành vi hút thuốc lá
bè và thầy cô giáo tại trường của đối tượng nghiên cứu
Định danh Bộ câu hỏi tự
Định danh Bộ câu hỏi tự
điền
4.6.5 Tiếp cận với thuốc lá
HUPH
Trang 32Khả năng tiếp
cận với nguồn
cung cấp thuốc lá
Là mức độ khó khăn/dễ dàng khi tiếp cận với các nguồn cung cấp thuốc lá
Là mức độ chi trả cho việc
Bộ câu hỏi tự điền
4.6.6 Quảng cáo thuốc lá
Định danh Bộ câu hỏi tự
Thứ bậc Bộ câu hỏi tự
điền
Mức độ ảnh Là sự tự đánh giá tác động Thứ bậc Bộ câu hỏi tự
HUPH
Trang 33Tên biến số Định nghĩa Phân loại PP thu thập
hưởng của quảng
cáo thuốc lá tới
hành vi hút thuốc
lá
của quảng cáo thuốc lá tới hành vi hút thuốc của đối tượng NC
điền
7 Tiêu chuẩn đánh giá
Kiến thức liên quan đến hành vi hút thuốc lá
Được đo lường thông qua 18 câu hỏi với nội dung và cách cho điểm được trình bày trong bảng dưới đây
Bảng 1 Nội dung và thang điểm với các câu hỏi liên quan đến kiến thức về hút
thuốc lá
biết
1 Hút thuốc lá có thể gây ra các bệnh về đường hô hấp 1 0 0
3 Hút thuốc lá có gây ảnh hưởng đến những người xung
4 Những người hít phải khói thuốc trong bất kỳ tình
huống nào đêu có khả năng gây ra ung thư phổi 1 0 0
5 Hút thuốc nhưng không hít khói vào sẽ không ảnh
7 Hút thuốc lá có thể gây ra ung thư thanh quản 1 0 0
HUPH
Trang 348 Hút thuốc lá có thể gây ra ung thư vòm miệng 1 0 0
9 Hút thuốc lá có thể gây ra ung thư bàng quang 1 0 0
10 Hút thuốc lá có thể gây ra bệnh thiếu máu cục bộ ở tim 1 0 0
11 Phụ nữ mang thai hút thuốc lá không ảnh hưởng đến
12 Phụ nữ mang thai hút thuốc lá không ảnh hưởng đến thể
13 Thuốc lá chứa gần 4000 chất độc và chất gây ung thư 1 0 0
15 Chất nicotine trong thuốc lá có thể gây nghiện 1 0 0
16 Luật pháp Việt Nam cấm hút thuốc lá ở những nơi công
17 Tại Việt Nam, bán thuốc lá cho trẻ em dưới 18 tuổi là vi
18 Tại Việt Nam, thuốc lá được phép quảng cáo trên các
Điểm thấp nhất là 0 và cao nhất là 18.Mức độ hiểu biết về các kiến thức liên quan đến hút thuốc lá tỷ lệ thuận với tổng số điểm đạt được.Thang đo đánh giá kiến thức được phân chia thành 3 mức[32], [35]:
Thái độ liên quan đến hành vi hút thuốc lá
HUPH
Trang 35Được đo lường thông qua 15 câu hỏi với nội dung và cách cho điểm được trình bày trong bảng dưới đây
Bảng 2 Nội dung và thang điểm với các câu hỏi liên quan đến thái độ về hút thuốc
lá
ý
Không chắc
Không đồng ý
1 Các bệnh liên quan đến hút thuốc lá có thể dễ dàng
chữa khỏi
3
Hút thuốc lá không chỉ gây nguy hiểm cho người hút
thuốc mà còn ảnh hưởng đến những người xung
quanh
4 Các bệnh liên quan đến hút thuốc lá sẽ không xuất
hiện nếu không hút thuốc lá thường xuyên
5 Hút thuốc lá có thể làm giảm căng thẳng và lo lắng 1 2 3
7 Hút thuốc lá giúp người ta dễ giao tiếp xã hội hơn 1 2 3
8 Hút thuốc lá giúp con người làm việc trôi chảy hơn 1 2 3
10 Cha mẹ nên nghiêm cấm con cái họ hút thuốc lá 3 2 1
12 Theo ý kiến của bạn, những người hút thuốc lá trông
hấp dẫn hơn những người khác
14 Bất kỳ người hút thuốc nào cũng có thể cai nghiên 1 2 3
HUPH
Trang 36thuốc lá mà không gặp trở ngại gì
15 Hút một vài điếu thuốc sẽ không gây hại gì cho sức
khoẻ
Điểm thấp nhất là 15 và cao nhất là 45 Mức độ phản đối hành vi hút thuốc lá tỷ lệ thuận với tổng số điểm đạt được.Thang đo đánh giá thái độ đối với hành vi hút thuốc được phân chia thành 3 mức[32], [35]:
Số liệu định lượng được nhập bằng phần mềm EPI DATA.Để tránh sai số trong quá trình nhập dữ liệu, số liệu đã được nhập hai lần một cách độc lập, và sau đó so sánh với nhau.Những trái ngược trong dữ liệu đã được kiểm tra lại bằng cách đối chiếu
với phiếu trả lời
Phân tích số liệu
Số liệu định lượngđược phân tích bằng phần mềm STATA 10.0
Các bước phân tích số liệu định lượng:
Phân tích mô tả
Các đặc điểm nhân khẩu, xã hội học và 3 nhóm yếu tố tác động (ảnh hưởng, tăng cường và tạo điều kiện) được mô tả thông qua các đại lượng: tần số, tỷ lệ phần trăm, trung bình, trung vị, mode và độ lệch chuẩn
HUPH
Trang 37Phân tích đơn biến
Mối liên quan giữa biến độc lập và 1 biến phụ thuộc sẽ được mô tả bằng các sự dụng phân tích hồi quy logistic, kiểm định Pearson’s χ2 và Fisher’s Extract cho mối liên quan giữa hai biến phân loại, kiểm định Mann-Whitney U cho mối liên quan giữa biến liên tục và biến nhị phân
Phân tích đa biến
Mô hình kết hợp giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc sẽ được phân tích bằng cách sử dụng kỹ thuật phân tích hồi quy đa biến
9 Đạo đức nghiên cứu
Đề cương nghiên cứu đã được xem xét và phê duyệt bởi Hội đồng đạo đức trường ĐH Y tế Công cộng
Trước khi tiến hành phát vấn, đối tượng tham gia nghiên cứu đã được giải thích về mục đích của nghiên cứu và đã điền vào Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu
Trong trường hợp đối tượng nghiên cứu không sẵn sàng tham gia nghiên cứu này, họ có thể từ chối bất kỳ lúc nào mà không phải chịu bất kỳ ảnh hưởng nào Tên và danh tính của đối tượng tham gia nghiên cứu không được ghi nhận lại tại bất kỳ văn bản nào
Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu.HUPH
Trang 38KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu trình bày trong chương này được chia thành ba phầntheo hai mục tiêu nghiên cứu Phần 1mô tả các đặc điểm nhân khẩu – xã hội học của đối tượng nghiên cứu Phần 2 cung cấp thông tin về hành vi hút thuốc lá, kiến thức và thái độ về thuốc lá củađối tượng nghiên cứu Phần 3 xác định mối liên quan giữa các yếu tố ảnh hưởng, các yếu tố tăng cường và các yếu tố tạo điều kiện và hành vi hút thuốc lá của đối tượng tham gia nghiên cứu
Phần 1 Đặc điểm nhân khẩu – xã hội học của đối tƣợng nghiên cứu
1 Thông tin chung
Các thông tin chung đối tượng nghiên cứu bao gồm tần số và tỷ lệ phần trăm phân
bố theo tuổi, trình độ học vấn, tôn giáo và chi tiêu cá nhân hàng tháng được trình
Trang 39Đặc điểm Tần số (n) Tỷ lệ (%)/Giá trị
Chi tiêu hàng tháng (nghìn đồng)
Khoảng giá trị [0 – 2.000] KTC 95% của trung bình [168 – 216]
[16,6 – 16,9] tuổi) Nhóm tuổi từ 16 và 17 chiếm tỷ lệ gần như nhau (khoảng 35%)
Nhìn chung, tỷ lệ học sinh của ba khối lớp 10, lớp 11 và lớp 12 tham gia nghiên cứu tương đối đồng đều, trong đó tỷ lệ học sinh lớp 11 tham gia nghiên cứu nhỉnh hơn
so với tỷ lệ tham gia ở hai khối lớp còn lại (35,3% so với 34,1% và 30,6%)
Liên quan đến tôn giáo của đối tượng nghiên cứu, tỷ lệ trả lời theo Phật giáo hoặc không theo bất kỳ tôn giáo nào rất cao (47,3% và 45,6%) Chỉ có một số ít người
được hỏi cho biết mình theo Thiên chúa giáo (7,1%)
Chi tiêu trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu được tính là toàn bộ tiền tiêu vặt trung bình trong vòng một tháng, không bao gồm tiền học thêm, tiền học phí hoặc tiền ăn.Chi tiêu trung bình hàng tháng của một học sinh nam vào khoảng hơn 200.000 đồng(KTC 95% của trung bình [168 - 216] nghìn đồng) Nhóm có chi tiêu
dưới 100.000 đồng chiếm 56,9%
2 Thông tin gia đình
Bảng 4.Thông tin chung về gia đình của đối tượng nghiên cứu
HUPH
Trang 40Sống cùng Bố hoặc Mẹ hoặc Anh/Chị 17 4,2
HUPH