Chính vì vậy, để đánh giá hiệu quả của chương trình KSNK, tập huấn VSTTQ cho nhân viên y tế đã được thực hiện ra sao, nghiên cứu “Tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại B
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG THỊ DIỆU LINH
TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH SƠN LA NĂM 2022
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 8720701
HÀ NỘI, 2022 HUPH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG THỊ DIỆU LINH
TUÂN THỦ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ
TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH SƠN LA NĂM 2022
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
Trang 4ii
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG BIỂU v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Mục tiêu nghiên cứu 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Đại cương về vệ sinh tay thường quy 4
1.1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 4
1.1.2 Tầm quan trọng của việc vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế 6
1.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trên thế giới và Việt Nam 7
1.2.1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trên thế giới 7
1.2.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Việt Nam 9
1.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế
10
1.3.1 Yếu tố cá nhân 10
1.3.2 Công tác kiểm tra, giám sát quy trình vệ sinh tay thường quy tại bệnh viện 13
1.3.3 Cường độ làm việc 14
1.3.4 Đào tạo, tập huấn vệ sinh tay thường quy 14
HUPH
Trang 5iii
1.3.5 Phương tiện vệ sinh tay thường quy 15
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 17
1.5 Khung lý thuyết 18
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu 19
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu 19
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.6 Quy trình thu thập số liệu 21
2.7 Các biến số nghiên cứu 22
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ vệ sinh tay thường quy 22
2.9 Xử lý và phân tích số liệu 24
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu 24
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25
3.1 Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu 25
3.2 Thực trang tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La 28
3.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy ở nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022 31
3.3.1 Kiến thức về vệ sinh tay thường quy ở nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022 31
HUPH
Trang 6iv
3.3.2 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy ở nhân viên y tế tại
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022 34
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 39
4.1 Thực trang tuân thủ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La 39
4.1.1 Thực trạng tuân thủ theo cơ hội vệ sinh tay thường quy 39
4.1.2 Thực trạng tuân thủ theo các bước vệ sinh tay thường quy 41
4.1.3 Thực trạng tuân thủ quy trình vệ sinh tay thường quy 42
4.2 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy ở nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La 44
4.2 Hạn chế nghiên cứu 48
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
PHỤ LỤC 1: QUY TRÌNH RỬA TAY THƯỜNG QUY 61
PHỤ LỤC 2: BỘ CÂU HỎI KHẢO SÁT KIẾN THỨC VỀ VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY TRONG CÁC CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH 62
PHỤ LỤC 3: PHIẾU QUAN SÁT THỜI ĐIỂM VỆ SINH TAY THƯỜNG QUY CỦA NVYT 68
PHỤ LỤC 4: CÁCH CHẤM ĐIỂM KIẾN THỨC VỀ TUÂN THỦ VSTTQ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ 70
PHỤ LỤC 4: BIẾN SỐ NGHIÊN CỨU 75
HUPH
Trang 7v
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 25
Bảng 3 2: Phân bố thực trạng tập huấn, kiểm tra, giám sát của bệnh viện 27
Bảng 3 3: Phân bố tỷ lệ VSTTQ theo cơ hội trong các lượt quan sát 28
Bảng 3 4: Tỷ lệ NVYT thực hiện VSTTQ theo các bước của QTVSTQ 30
Bảng 3 5: Tỷ lệ NVYT thực hiện VSTTQ đúng thời gian quy định 30
Bảng 3 6: Kiến thức đúng về tầm quan trọng của việc VSTTQ 31
Bảng 3 7: Phân bố tỷ lệ kiến thức đúng về lựa chọn cách thức VSTTQ phù hợp theo tình huống 32
Bảng 3 8: Phân bố tỷ lệ kiến thức đúng về lượng dung dịch sát khuẩn và thời gian cho một lần VSTTQ 33
Bảng 3 9: Mối liên quan giữa các yếu tố cá nhân đến tuân thủ VSTTQ của NYVT 34
Bảng 3 10: Mối liên quan giữa chính sách, quy định của Bệnh viện đến tuân thủ VSTTQ của NYVT 36
Bảng 3 11: Mối liên quan giữa kiến thức đến tuân thủ VSTTQ của NYVT 38
HUPH
Trang 8vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1: Phân bố khoa phòng làm việc của NVYT tại BVĐK tỉnh Sơn La 26
Biểu đồ 3 2: Phân bố loại hình VSTTQ theo cơ hội VST 29
Biểu đồ 3 3: Tỉ lệ ĐTNC tuân thủ VSTTQ tại BVĐK tỉnh Sơn La 31
Biểu đồ 3 4: Phân bố kiến thức về VSTTQ của NVYT BVĐK tỉnh Sơn La 34
HUPH
Trang 9vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Nhiễm khuẩn Bệnh viện đang là vấn đề y tế toàn cầu do làm tăng tỷ lê ̣ mắc
bệnh, tỷ lê ̣ tử vong, kéo dài thời gian điều tri ̣ và tăng chi phí điều tri ̣ và gia tăng tình trạng kháng kháng sinh trong cộng đồng Vệ sinh tay thường quy trước và sau khi tiếp xúc, chăm sóc mỗi người bệnh luôn được coi là biện pháp đơn giản và hiệu quả nhất trong phòng NKBV Nghiên cứu này nhằm nhằm đánh giá kiến thức và tỷ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT tại BVĐK tỉnh Sơn La, đồng thời tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới tỷ lệ này
Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang phân tích trên
350 NVYT đang thực hiện các công tác lâm sàng tại bệnh viện Mỗi nhân viên được tiến hành quan sát 1 lần trên 1 cơ hội thực hiện VSTTQ và sau đó phát vấn bộ câu hỏi thông tin chung và kiến thức VSTTQ
Kết quả nghiên cứu chỉ ra tỉ lệ tuân thủ VSTTQ của NVYT tại bệnh viện chiếm 60,6% Trong cơ hội được quan sát, 74% VST bằng cồn và dung dịch sát khuẩn, 2,9% không VSTTQ khi có cơ hội, còn lại là VSTTQ với nước và xà phòng Cơ hội VSTTQ phổ biến nhất là trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh với tỷ lệ chiếm 32,6 Tỉ lệ tuân thủ đúng các bước của quy trình VSTTQ nhiều nhất là ở bước 1 và 2, và bước 5,
6, các bước 1,2 có tỉ lệ không tuân thủ cao hơn Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố liên quan đến tuân thủ VSTTQ là chính sách, quy định của bệnh viện bao gồm quá tải bệnh nhân tại khoa phòng (OR= 2,36 ;95% KTC: 1,5- 3,7; p<0,05); triển khai giám sát công tác VSTTQ (OR= 2,01 ;95% KTC: 1,1- 3,9; p<0,05), kiến thức về VSTTQ (OR= 1,74
;95% KTC: 1,0- 2,8; p<0,05))
Nghiên cứu đưa ra khuyến nghị với ban lãnh đạo và các khoa phòng cần tạo điều kiện cho NVYT tham gia thường xuyên các khóa tập huấn, đào tạo về VSTTQ để tăng cường tuân thủ VSTTQ Các nghiên cứu tiếp theo cũng cần nghiên cứu rộng hơn,
HUPH
Trang 10viii
sâu hơn, vận dụng các kỹ thuật mới để có thể hạn chế tối đa các ảnh hưởng của quá trình quan sát tới kết quả đánh giá, hoặc có các nghiên cứu có thể đánh giá sự ảnh hưởng của việc quan sát công khai và bí mật với các kết quả đánh giá VSTTQ
HUPH
Trang 111
ĐẶT VẤN ĐỀ
Các vấn đề về nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) hiện nay được toàn xã hội chú trọng, đặc biệt là ngành y tế ở cả trong và ngoài nước Theo báo cáo từ Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tỉ lệ nhiễm khuẩn liên quan đến chăm sóc sức khỏe ở các nước đang phát triển dao động trong khoảng 3,5% đến 12% và tỉ lệ này ở Châu Âu trung bình là 7,1% (1) Các tác động xấu của NKBV như tăng khả năng tử vong, tăng tỷ
lệ mắc bệnh, kéo dài thời gian điều trị của người bệnh, và đặc biệt là gia tăng khả năng kháng kháng sinh của các tác nhân gây bệnh đã được chứng minh Các tác động này có thể dẫn tới tăng gánh nặng về chi phí, kéo dài thời gian chữa bệnh và phục hồi của người bệnh (2) NKBV có thể lây truyền qua nhiều nguồn, trong đó một trong những nguồn lây truyền chủ yếu là bàn tay nhân viên y tế (NVYT) Vì vậy, việc thực hiện tuân thủ quy trình vệ sinh tay thường quy (VSTTQ) đúng quy định trong công tác chăm sóc người bệnh được coi là biện pháp chính, có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhằm làm suy giảm tỷ lệ NKBV (3) WHO đã đưa ra khuyến cáo rằng đây là phương thức nên áp dụng do đạt hiệu quả cao với chi phí thấp trong vấn đề phòng NKBV (4)
Hiện nay, việc tuân thủ VSTTQ là những hoạt động cơ bản nhất trong công tác phòng, chống NKBV Cùng với đó, theo báo cáo của nhiều chuyên gia kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK), việc tuân thủ VSTTQ có thể ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm đã và đang diễn ra trong cộng đồng một cách hoàn toàn Thao tác VSTTQ theo đúng quy trình đã được chứng minh làm giảm nguy cơ mắc các bệnh nhiễm khuẩn như tiêu chảy 47%, giảm 19 - 45% nguy cơ nhiễm khuẩn đường hô hấp (5)
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La có quy mô 500 giường bệnh, được xếp hạng I theo Quyết định số 1703/QĐ-UBND ngày 14/7/2016 của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Sơn La Hiện Bệnh viện có 32 khoa, phòng và 1 trung tâm, gồm: 8 phòng chức năng, 20 khoa lâm sàng, trung tâm, 5 khoa cận lâm sàng với tổng số 478 cán bộ NVYT, trong đó có 350 NVYT thực hiện công tác chuyên môn, chăm sóc người bệnh trực tiếp (6) Theo báo cáo thực hiện hành động quốc gia tăng cường công tác kiểm soát nhiễm khuẩn năm 2019 tại bệnh viện, công tác thực hiện đầy đủ các nội
HUPH
Trang 122
dung theo Chương trình kế hoạch hành động về KSNK trong toàn bệnh viện chỉ hoàn thành dưới 80% và chưa có đánh giá quy mô toàn viện mới hơn Thêm vào đó, dịch COVID 19 đã khiến hoạt động VSTTQ của NVYT được chú trọng hơn rất nhiều để đạt được hiệu quả tối ưu trong việc phòng chống dịch bệnh Bệnh viện cũng đã triển khai chương trình phòng và kiểm soát lây nhiễm do COVID-19 trên toàn Bệnh viện cũng như công tác KSNK bệnh viện được chú trọng hơn Chính vì vậy, để đánh giá hiệu quả của chương trình KSNK, tập huấn VSTTQ cho nhân viên
y tế đã được thực hiện ra sao, nghiên cứu “Tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022 và một số yếu tố liên quan” nhằm đánh giá kiến thức và tỷ lệ tuân thủ VSTTQ, đồng thời tìm hiểu một số yếu tố liên quan tới tỷ lệ này, để từ đó đưa ra các khuyến nghị cần thiết nhằm nâng cao kiến thức và chất lượng tuân thủ VSTTQ trong KSNK tại bệnh viện
HUPH
Trang 133
Mục tiêu nghiên cứu 1) Mô tả thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại các
khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022
2) Phân tích một số yếu tố liên quan tới tuân thủ vệ sinh tay thường quy của
nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La năm 2022
HUPH
Trang 144
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Đại cương về vệ sinh tay thường quy
1.1.1 Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
Nhiễm khuẩn bệnh viện: Nhiễm khuẩn liên quan tới chăm sóc y tế (sau đây gọi
tắt là nhiễm khuẩn bệnh viện) là các nhiễm khuẩn xảy ra trong quá trình người bệnh được chăm sóc, điều trị tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh (7)
Vệ sinh tay: Là một thuật ngữ chung để chỉ hoặc rửa tay bằng xà phòng
thường, rửa tay bằng xà phòng khử khuẩn hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn (7, 8)
Vệ sinh tay thường quy là quy trình được chỉ định thường quy khi không có
chỉ định rửa tay phẫu thuật Mục đích để loại bỏ chất dơ và vi sinh vật vãng lai trên tay của nhân viên y tế (7)
Hóa chất vệ sinh tay: Mọi hóa chất VSTTQ sử dụng trong y tế phải được BYT
cấp phép sử dụng Các loại hóa chất VSTTQ thường được sử dụng hiện nay bao gồm xà phòng thường, xà phòng khử khuẩn, dung dịch VSTTQ chứa cồn (isopropanol, ethanol, n-propanol hoặc kết hợp hai trong các thành phần này hoặc kết hợp với 1 chất khử khuẩn) Bình cấp hóa chất VSTTQ cần kín, có bơm định lượng tự động hoặc bằng cần gạt hoạt động tốt, có nhãn ghi rõ loại dung dịch VSTTQ và còn hạn sử dụng, được gắn tại các vị trí thuận lợi cho người sử dụng Tại mỗi bồn rửa tay thường quy, ngoài xà phòng thường rửa tay cần trang bị đồng
bộ các phương tiện khác gồm quy trình rửa tay, khăn lau tay sử dụng một lần và thùng thu gom khăn đã sử dụng (nếu là khăn sợi bông sử dụng lại) hoặc thùng chất thải thông thường (nếu sử dụng khăn giấy dùng một lần) (7)
Cơ hội VSTTQ: Thời điểm cần VSTTQ trong các hoạt động chăm sóc, điều trị
để cắt đứt lan truyền mầm bệnh qua bàn tay (7)
Mọi đối tượng trực tiếp chăm sóc người bệnh cần rửa tay bằng nước và xà phòng thường hoặc chà tay bằng dung dịch vệ sinh tay chứa cồn vào những thời điểm sau:
HUPH
Trang 155
+ Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh
+ Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn
+ Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể
+ Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh
+ Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh
- Ngoài ra, các thời điểm chăm sóc sau cũng cần VSTTQ:
+ Khi chuyển từ chăm sóc bẩn sang chăm sóc sạch trên cùng người bệnh + Trước khi mang găng và sau khi tháo găng
+ Trước khi vào buồng bệnh và sau khi ra khỏi buồng bệnh
Vùng kề cận người bệnh: là vùng xung quanh người bệnh như giường bệnh,
bàn, ga trải giường, các dụng cụ thiết bị trực tiếp phục vụ người bệnh Vùng kề cận người bệnh thường ô nhiễm các vi sinh vật (VSV) có từ người bệnh
Tuân thủ được định nghĩa trong từ điển tiếng Việt là giữ và làm đúng quy
định Trong nghiên cứu này là: tuân thủ VSTTQ là kiến thức đúng và thực hành đúng quy định VSTTQ với nước, xà phòng hoặc dung dịch sát khuẩn tay chứa cồn/ cồn tại các thời điểm cần VSTTQ và thực hiện đúng đủ 6 bước của quy trình VSTTQ phải đạt từ 20-30 giây theo quyết định 3916/QĐ-BYT theo 6 bước (Hình ảnh minh họa các bước VSTTQ được trình bày tại Phụ lục 1) (7)
Khi thực hiện quy trình VSTTQ cần lưu ý một số điểm sau:
+ Lựa chọn đúng phương pháp VST: Nếu bàn tay nhìn rõ vết bẩn hoặc dính các dịch tiết của cơ thể phải VST bằng nước và xà phòng thường Chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn khi tay không trông rõ vết bẩn, sau tháo bỏ găng hoặc khi thăm khám giữa các người bệnh
+ Lấy đủ 3ml -5 ml dung dịch VST cho mỗi lần VST
+ Tuân thủ đúng kỹ thuật VST Chà tay cùng hóa chất VST theo đúng trình tự
từ bước 1 tới bước 6, mỗi bước chà 5 lần để bảo đảm hóa chất tiếp xúc đều trên toàn
bộ bề mặt bàn tay Trường hợp chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn, nếu chà đủ 6
HUPH
Trang 166
bước mà tay chưa khô thì lặp lại các bước cho tới khi tay khô Trường hợp VST bằng nước và xà phòng thì trước khi lấy dung dịch xà phòng cần mở vòi nước và làm ướt bàn tay; sau khi kết thúc 6 bước chà tay cần rửa lại tay dưới vòi nước để loại bỏ hoàn toàn hóa chất trên tay, lau khô tay bằng khăn sạch, khóa vòi nước bằng khăn vừa sử dụng, thải bỏ khăn vào thùng thu gom khăn
+ Tuân thủ đúng thời gian VST: Thời gian chà tay với hóa chất VST theo quy trình 6 bước phải đạt từ 20 giây-30 giây
+ Không rửa lại tay bằng nước và xà phòng sau khi đã chà tay bằng dung dịch VST chứa cồn
+ Tránh làm ô nhiễm lại bàn tay sau VST: Sử dụng nước sạch để rửa tay, sử dụng khăn sợi bông/khăn giấy sạch dùng 1 lần để lau khô tay, sử dụng khăn đã dùng lau khô tay để đóng vòi nước Không dùng một khăn lau tay chung cho nhiều lần rửa tay
+ Không sử dụng máy sấy tay để làm khô tay Xem xét lựa chọn loại găng tay không có bột talc để thuận lợi cho việc khử khuẩn tay bằng dung dịch VST chứa cồn
1.1.2 Tầm quan trọng của việc vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế
Trong môi trường bệnh viện, mọi nơi bàn tay đụng chạm vào đều có vi khuẩn trên đó Các tác nhân NKBV không chỉ có ở các vết thương nhiễm khuẩn, ở chất thải và dịch tiết của người bệnh mà thường xuyên có trên da lành của người bệnh Trong quá trình chăm sóc người bệnh, bàn tay NVYT thường xuyên bị ô nhiễm vi sinh vật có ở trên da bệnh nhân cũng như ở bề mặt môi trường bệnh viện và thời gian thao tác càng dài thì mức độ ô nhiễm bàn tay càng lớn Không VSTTQ trước khi chăm sóc người bệnh là nguyên nhân quan trọng làm lan truyền NKBV Nhiều nghiên cứu tại những khu vực lâm sàng khác nhau nhằm đánh giá hiệu quả phòng ngừa NKBV của thực hành VSTTQ thường quy đã cho thấy tỷ lệ NKBV giảm khi cải thiện tỷ lệ tuân thủ VSTTQ ở NVYT, đặc biệt ở những khu vực có nhiều thủ thuật xâm nhập như cấp cứu, hồi sức tích cực, ngoại khoa, nhi khoa Nhìn chung, thực hiện tốt VSTTQ có thể làm giảm từ 30% - 50% NKBV (7)
HUPH
Trang 177
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), chỉ với một động tác rửa tay sạch đã làm giảm tới 35% khả năng lây truyền vi khuẩn Bàn tay cũng chính là công cụ phổ biến nhất khiến virus lây lan từ người nay sang người kia Do đó, ngăn chặn virus xâm nhập vào cơ thể bằng việc rửa tay thường xuyên và sạch sẽ là hết sức quan trọng (12)
1.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trên thế giới và Việt Nam
1.2.1 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế trên thế giới
Nghiên cứu cắt ngang tại hai bệnh viện của Iran năm 2015 sử dụng bộ công cụ đánh giá kiến thức VSTTQ của WHO cho thấy: chỉ có 10,6% các điều dưỡng/trợ lý điều dưỡng có kiến thức tốt, mặc dù tất cả các NVYT đều có những kiến thức nhất định về VSTTQ (13) Tại bệnh viện đại học Shiraz, Iran khảo sát trước can thiệp ban đầu chỉ ra tỉ lệ NVYT tuân thủ còn thấp là 29,8% tại 14 khoa phòng lâm sàng (14) Nghiên cứu của Jawad Ahmed và cộng sự (2020) trên 304 NVYT tại cơ sở thực địa Karachi, Pakistan cho thấy tỉ lệ sử dụng chất khử trùng để VST trước và sau mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân chỉ ở mức 12,3% trong khi có tới 62,73% người tham gia biết về các hướng dẫn của WHO về VSTTQ và 65,56% nhận thức được các bệnh nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện Tuy nhiên, gần một nửa số người tham gia (45,75%) chưa bao giờ tham gia một bài giảng chính thức về chủ đề này
và hơn một nửa (62,26%) số người tham gia không được biết về các biến chứng của nhiễm trùng bệnh viện (15)
Thực trạng tuân thủ cơ hội vệ sinh tay thường quy
Một nghiên cứu cắt ngang tại bệnh viện Jugal, Ethiopia tháng 3 năm 2020 lại cho thấy tỉ lệ thực hành VSTTQ ở NVYT lại ở mức thấp khi chỉ có 6% NVYT sử dụng chất sát khuẩn có cồn để VSTTQ, 34,3% chỉ sử dụng nước và 59,5% sử dụng
xà phòng để VSTTQ Chỉ có 16,3% thực hành đúng về VSTTQ và 66,8% sử dụng khăn lau tay chung để làm khô tay sau khi VSTTQ (16)
HUPH
Trang 188
Cuộc khảo sát nội bộ diễn ra tại một bệnh viện chăm sóc đại học ở Phần Lan
từ năm 2013 đến năm 2018 cho thấy mức độ tuân thủ VSTTQ trung bình khoảng 76,4% Tuy nhiên vẫn có khoảng 11,5% lần VSTTQ không được thực hiện khi có
cơ hội (17)
Tương tự với khảo sát ở Tây nam Nigeria năm 2020 trên 368 bác sĩ và điều dưỡng đã chỉ ra rằng có tới 72,3% đối tượng ý thức được tầm quan trọng của VSTTQ, tỉ lệ VSTTQ trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân lần lượt là 44,6% với điều dưỡng và 56,2% với bác sĩ, trong đó có 52,4% số điều dưỡng đã được tập huấn
về VSTTQ trong 3 năm vừa qua (18)
Thêm vào đó, với sự ảnh hưởng của dịch bệnh COVID 19, các biện pháp phòng ngừa hiệu quả như VSTTQ được chú trọng hơn Theo nghiên cứu của M.Zhang và cộng sự tháng 2 năm 2020 trên 10 bệnh viện tại Hà Nam, Trung Quốc,
có 89,7% tuân thủ các thực hành đúng về COVID-19 về VSTTQ (19) Bên cạnh đó, nghiên cứu cắt ngang tại bệnh viện Jugal, Ethiopia tháng 3 năm 2020 lại cho thấy tỉ
lệ thực hành VSTTQ ở NVYT lại ở mức thấp khi chỉ có 6% NVYT sử dụng chất sát khuẩn có cồn để VSTTQ, 34,3% chỉ sử dụng nước và 59,5% sử dụng xà phòng để VSTTQ Chỉ có 16,3% thực hành đúng về VSTTQ và 66,8% sử dụng khăn lau tay chung để làm khô tay sau khi VSTTQ (16) Điều này cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các khu vực việc tuân thủ VSTTQ của các NVYT
Thực trạng tuân thủ các bước vệ sinh tay thường quy
Có thể thấy các hướng dẫn VSTTQ dành cho NVYT đã được khuyến cáo và thực hiện từ lâu, tuy nhiên việc tuân thủ VSTTQ của NVYT vẫn còn nhiều hạn chế Kết quả nghiên cứu về thực trạng tuân thủ VSTTQ đã được triển khai ở Bệnh viện
Y học cổ truyền Tây An (Trung Quốc) năm 2015 chỉ ra rằng, chỉ 66,27% đối tượng tuân thủ VSTTQ, trong đó chỉ có 47,75% NVYT thực hiện đúng quy trình (20) Tại Bệnh viện Đại học Shiraz, Iran khảo sát trước can thiệp ban đầu chỉ ra tỉ lệ NVYT tuân thủ còn thấp là 29,8% tại 14 khoa phòng lâm sàng (14)
HUPH
Trang 199
Theo đánh giá tuân thủ VSTTQ theo 6 bước của WHO tại bệnh viện ở Qatar năm 2016 trên 12.497 cơ hội được theo dõi, tuân thủ chà bàn tay là 100% ở mỗi lần quan sát ở bước 1 và bước 2 Tỉ lệ tuân thủ giảm dần xuống ở bước 3 còn 95,8%, bước 4 là 70,6%, bước 5 là 30,3% và đến bước 6 chỉ còn 30,3% (21) Tương tự với nghiên cứu Tschudin và Sutter A (2015) tại Bệnh viện Đại học Basel, Thụy Sĩ cũng cho thấy mức độ tuân thủ tổng thể các bước của quy trình VSTTQ vẫn còn thấp Mức độ tuân thủ tốt ở bước 1 và bước 2 và thấp nhất ở bước 5, 6 (21, 22)
1.2.2 Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Việt Nam
Thực trạng tuân thủ cơ hội vệ sinh tay thường quy
Tại Việt Nam cũng đã có nhiều các nghiên cứu tại các bệnh viện và cơ sở y tế
về vấn đề kiến thức, thực hành của NVYT nói chung Kết quả khảo sát 383 NVYT tại một số khoa lâm sàng Bệnh viện Quân y 103 năm 2013 cho thấy tỉ lệ tuân thủ VSTTQ tại 5 thời điểm: trước khi tiếp xúc người bệnh (15,78%); sau khi tỉếp xúc bề mặt các vật dụng trong buồng bệnh (47,32%); sau khi tỉếp xúc với người bệnh (70,86%); trước khi làm thủ thuật vô khuẩn (81,42%) và sau khi tỉếp xúc với dịch tỉết của người bệnh (93,65%) (23)
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương năm 2020 cho thấy tỉ lệ tuân thủ VSTTQ ở bác sĩ là 47,3% Trong 220 cơ hội VSTTQ được quan sát, chỉ có 55,0% tuân thủ VST Thời điểm được tuân thủ cao nhất là là thời điểm trước khi tiếp xúc bệnh nhân 44,4% (24) Mặt khác, trong nghiên cứu của Phạm Bá Toản trên NVYT tại bệnh viện Cư Jút, Đắk Nông 2020 lại cho thấy cơ hội VST thấp nhất ở thời điểm trước khi tiếp xúc với người bệnh là 56,52% Các cơ hội VSTTQ còn lại đều ở mức
từ 70,73% (sau khi tiếp xúc với vùng xung quanh người bệnh) đến 100% (trước khi làm thủ tục vô khuẩn và sau khi tiếp xúc với người bệnh) (25)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Liên và cộng sự về đánh giá thực hành rửa tay của NVYT bê ̣nh viê ̣n Nhi Đồng 2 năm 2013 trên 1554 NVYT lại cho thấy tỉ lê ̣ tuân thủ cơ hội VSTTQ khác nhau, thấp nhất là thời điểm sau tiếp xúc với môi trường xung quanh bệnh nhân (48,7%) và trước khi tỉếp xúc bệnh nhân (48,9%)
HUPH
Trang 20cơ thể là 90%, thứ 3 là thời điểm sau khi tiếp xúc với môi trường xung quanh người bệnh và sau khi tiếp xúc với người bệnh, tỉ lệ này là 49,12% Số cơ hội quan sát nhiều nhất là trước khi tiếp xúc với người bệnh (27)
Thực trạng tuân thủ các bước vệ sinh tay thường quy
Tương tự với các nghiên cứu trên thế giới, bước 1 và 2 của quy trình VSTTQ luôn được các NVYT tuân thủ chặt chẽ và đều ở mức 100% Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hương (2020) cũng chỉ ra rằng bước 5 và 6 của quy trình VSTTQ thường có tỉ lệ không tuân thủ cao nhất chỉ ở mức 62,3% cho bước 5 và 61,8% cho bước 6 (24) Kết quả này tương tự ở nghiên cứu của Phạm Bá Toàn (2020) với tỉ lệ tuân thủ đủ 6 bước là 43,52%, bước 5 chỉ ở mức 45,84% và bước 6 là 54,48% trong khi các bước 3, 4 đều trên 90% (25) Nghiên cứu của Phạm Thị Thủy (2019) trên
252 cơ hội được quan sát, tỉ lệ tuân thủ đầy đủ 6 bước của quy trình là 21,82% Trong đó bước thứ 1 và 2 của quy trình cũng có tỉ lệ tuân thủ cao nhất đều trên 97%, thấp nhất là bước 4 và 5 có tỉ lệ là 31%, bước 6 lại có tỉ lệ tuân thủ cao tới 84,52% (27)
1.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế
1.3.1 Yếu tố cá nhân
Tuổi
Tuổi là một trong các yếu tố liên quan kiến thức VSTTQ của NVYT Kết quả của cuộc điều tra kiến thức, thái độ và nhận thức về VSTTQ của nhân viên điều dưỡng làm việc trong các đơn vị chăm sóc đặc biệt của Đại học Khoa học Y tế Iran 2018-2019 cho thấy có mối liên quan giữa nhận thức về VSTTQ với tuổi của
HUPH
Trang 21về độ tuổi với việc tuân thủ VSTTQ (43)
Giới
Trong một nghiên cứu của Jonas P Cruz (2015) tại Ả Rập Xê Út, giới tính được xác định là một trong những yếu tố liên quan đến thực hành VSTTQ ở các NVYT được hỏi (p<0,001), không những vậy đây còn là yếu tố có ảnh hưởng lớn khi chiếm 4,1% phương sai thực hành VSTTQ Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nam giới có xu hướng thực hành VSTTQ tốt hơn nữ giới (28) Nghiên cứu khảo sát kiến thức, thực hành của điều dưỡng– nữ hộ sinh về rửa tay thường quy tại các khoa lâm sàng BVĐK Tịnh Biên năm 2015 của tác giả Lê Thanh Hiệp cho kết quả: nam giới thực hành VSTTQ đúng là 83,3% cao hơn nữ thực hành chung đúng là 69,7% không có sự khác biệt nhiều, và không có ý nghĩa thống kê với p > 0,05 (45)
Thâm niên công tác
Một số nghiên cứu chỉ ra rằng NVYT có số năm công tác nhiều hơn lại có xu hướng thiếu tuân thủ việc VSTTQ hơn Kết quả nghiên cứu của Liz M Kingston đã
HUPH
Trang 2212
chỉ ra điều đó khi có đến 90% các điều dưỡng viên có kinh nghiệm <2 năm thực hiện VSTTQ bằng dung dịch VSTTQ chứa cồn trong khi con số đó ở những điều dưỡng có từ 2-5 năm kinh nghiệm chỉ là 73% (29)
Ngược lại với kết quả trên, nghiên cứu của Đồng Thị Lan tại các khoa Lâm sàng BV Nhi đồng, Đồng Nai năm 2016 cho thấy NVYT có trên 5 năm kinh nghiệm thì tuân thủ VSTTQ tốt hơn những người có dưới 5 năm kinh nghiệm Tỉ lệ tuân thủ cũng tăng dần theo số năm công tác và cao nhất ở nhóm NVYT có từ 11-15 năm kinh nghiệm (30) Nghiên cứu của Trần Thị Thu Hà tại bệnh viện Nhi Đồng Cần Thơ (2015) cũng cho kết quả tương tự với nhóm điều dưỡng trên 5 năm kinh nghiệm có tỉ lệ tuân thủ VSTTQ cao nhất (71,4%) (31)
Nơi công tác
Tại các khoa phòng khác nhau, sự tuân thủ VSTTQ của điều dưỡng cũng khác nhau theo tính chất công việc, điều này thể hiện trong một nghiên cứu tại 21 khoa tại các bệnh viện (bao gồm 12 khoa nội, 6 khoa ngoại và 2 khoa hồi sức cấp cứu) tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2007 của tác giả Đặng Thị Vân Trang và Lê Thị Anh Thư Nghiên cứu cho thấy các điều dưỡng viên tại khoa hồi sức cấp cứu - khoa có cường
độ làm việc cao, lại có tỉ lệ tuân thủ VSTTQ cao nhất với 36,1%, các khoa ngoại ở
vị trí tiếp theo với 28,4% và tỉ lệ thấp nhất ở các khoa nội-nơi có cường độ làm việc thấp hơn, với 21,6% Một nghiên cứu khác tại Bệnh viện Nhi đồng 2 năm 2013 cũng cho thấy sự khác nhau này: Tỉ lê ̣ tuân thủ VSTTQ chung là 55,3%, 3 khoa có tỉ
lệ VST cao nhất: ngoại thần kinh (73,8%), sơ sinh (72,6%), ung bướu huyết học (71,4%), thấp nhất là nội tổng hợp (31%)
Kiến thức về vệ sinh tay thường quy và kiểm soát nhiễm khuẩn
Theo kết quả của nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong và ngoài nước cho thấy kiến thức của bản thân NVYT có liên quan rõ rệt với việc tuân thủ VSTTQ Ngoài việc NVYT chấp nhận và làm đúng hướng dẫn hay không phụ thuộc vào hiểu biết và nhận thức của họ về NKBV bao gồm các nguy cơ lây truyền
và hậu quả (32)
HUPH
Trang 2313
Nghiên cứu của Jawad Ahmed và cộng sự (2020) trên 304 NVYT cho thấy tỉ
lệ sử dụng chất khử trùng để VSTTQ trước và sau mỗi lần tiếp xúc với bệnh nhân chỉ ở mức 12,3% trong khi có tới 62,73% người tham gia biết về các hướng dẫn của WHO về VSTTQ và 65,56% nhận thức được các bệnh nhiễm trùng mắc phải tại bệnh viện Tuy nhiên, gần một nửa số người tham gia (45,75%) chưa bao giờ tham gia một bài giảng chính thức về chủ đề này và hơn một nửa (62,26%) số người tham gia không được biết về các biến chứng của nhiễm trùng bệnh viện (15) Tương tự với khảo sát ở Tây nam Nigeria năm 2020 trên 368 bác sĩ và điều dưỡng đã chỉ ra tỉ
lệ VSTTQ trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân lần lượt là 44,6% với điều dưỡng
và 56,2% với bác sĩ, trong đó có 52,4% số điều dưỡng đã được tập huấn về VSTTQ trong 3 năm vừa qua (18)
Nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (2014) tại bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cũng cho thấy NVYT có kiến thức đạt có tỉ lệ tuân thủ cao hơn so với những người không đạt, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p<0,001 (33)
1.3.2 Công tác kiểm tra, giám sát quy trình vệ sinh tay thường quy tại bệnh viện
Các yếu tố tăng cường thúc đẩy tuân thủ VSTTQ bao gồm các quy định chuyên môn của bệnh viện quy định NVYT phải tuân thủ VST, kiểm tra, giám sát thường xuyên của bệnh viện khiến NVYT tuân thủ VST thường xuyên hơn Tập huấn cập nhật kiến thức VSTTQ và tầm qua trọng của VSTTQ trong phòng chống NKBV từ đó có kiến thức và thực hành tuân thủ VST tốt hơn khi chăm sóc người bệnh (34)
Một nghiên cứu sử dụng công nghệ giám sát bằng Camera và chiếu kết quả VSTTQ của NVYT lên hành lang tại bệnh viện đại học Nort Shore, Hoa Kỳ đã cho kết quả tích cực sau 91 tuần giám sát Kết quả: tuân thủ VSTTQ đã tăng lên 81,6% (trước đó là 10%) Có thể thấy kiểm tra giám sát đã tạo ra sự cải thiện tích cực (35)
HUPH
Trang 2414
1.3.3 Cường độ làm việc
Tình trạng quá tải và thiếu nhân lực cũng thường được quan sát thất tại các cơ
sở chăm sóc sức khỏe, đặc biệt là các nước đang phát triển Việc làm việc với cường độ cao sẽ làm tăng các cơ hội VSTTQ nhưng kéo tho thời gian cho việc tuân thủ lại giảm đi Số lượng bệnh nhân ở các khoa khác nhau, cường độ làm việc của NVYT cũng khác nhau dẫn đến việc tuân thủ VSTTQ của các khoa cũng vì thế mà khác nhau Cường độ làm việc của NVYT càng cao thì số cơ hội cần VST càng nhiều, ngược lại thời gian dành cho VSTTQ càng ít đi, do vậy tuân thủ quy định sẽ khó khăn hơn Một số nghiên cứu cho thấy tỉ lệ tuân thủ VSTTQ giảm 5% khi tăng thêm 10 cơ hội VSTTQ trong 1 giờ Vì vậy lượng bệnh nhân của khoa, phòng cũng
là một trong những yếu tố ảnh hưởng đã được chứng minh trong một số nghiên cứu của Phùng Văn Thùy (2014) và Hoàng Thị Hiền (2015) (33)
1.3.4 Đào tạo, tập huấn vệ sinh tay thường quy
Nghiên cứu tại Bệnh viện Quốc gia Mulago nhằm đánh giá hiệu quả của một
dự án can thiệp gồm 3 giai đoạn, trong đó giai đoạn hai (gồm ba chiến lược: đào tạo, nhắc nhở và cung cấp thiết bị làm sạch tay), đã cho kết quả: sau khi thực hiện các chiến lược, VSTTQ được cải thiện Tỉ lệ tuân thủ tăng đáng kể trên tất cả các tiêu chí Tuy nhiên, việc sử dụng cồn để VSTTQ chỉ được cải thiện đến 66% Một nghiên cứu khác cũng cho kết quả: đào tạo kết hợp với các can thiệp hành vi tích cực đã cải thiện đáng kể việc tuân thủ VSTTQ sau tháng đầu tiên (χ² = 4,27; P = 0,039); tuy nhiên, sự cải thiện không được duy trì trong 6 tháng (36)
Nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền tại Bệnh viện Đa khoa Hòe Nhai năm 2015 cho thấy một trong những yếu tố thúc đẩy NVYT tuân thủ VSTTQ là tăng cường tập huấn về nội dung này và giám sát thực hiện đầy đủ, đồng thời cần cập nhật thường xuyên Đặc biệt, niềm tin và ý định của NVYT khi thực hiện quy trình có tác động lớn đến hành vi của họ Nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền cũng chỉ ra việc tăng cường tập huấn, cập nhật các nội dung liên quan đến VSTTQ và thực hiện giám sát thường xuyên, đầy đủ góp phần thúc đẩy NVYT làm theo các quy định VSTTQ (32)
HUPH
Trang 2515
Việc đào tạo về VSTTQ cũng như KSNK cũng cải thiện đáng kể kiến thức, qua đó thúc đẩy việc thực hành đúng tăng Như trong nghiên cứu tại khoa sản bệnh viện Hùng Vương năm 2017 cho thấy tuân thủ VSTTQ đã tăng từ 43,6% (95%CI= 41,1-46,1%) lên 63% (95%CI= 60,6-65,3%) Mô hình đào tạo này đã được nhân rộng và thực hiện tốt trong một khoảng thời gian dài ở các bệnh viện khác nhau (37)
Bài viết của tác giả Nguyễn Việt Hùng về VSTTQ trong phòng ngừa NKBV cũng cho rằng việc hoc tập nội dung quy định VSTTQ, NVYT cần hiểu rõ vai trò và tầm quan trọng của VSTTQ trong phòng ngừa và kiểm soát NKBV Những chương trình đào tạo, tập huấn, phổ biến thông tin bằng nhiều hình thức khác nhau như phát
tờ rơi, hội thảo cần được tiến hành thường xuyên trong Bệnh viện và mọi NVYT đều phải tham gia Việc đào tạo phải thực hiện hàng năm và mỗi khi tiếp nhận nhân viên mới đến làm việc, học tập tại bệnh viện (38)
1.3.5 Phương tiện vệ sinh tay thường quy
Ngoài sự tác động của các chính sách, hoạt động đào tạo tập huấn, bệnh viện cũng cần cung cấp đầy đủ cơ sở vật chất để phục vụ cho việc VSTTQ Thực tế nhiều nghiên cứu đã nhấn mạnh vào ảnh hưởng của cơ sở vật chất trong bệnh viện đối với sự tuân thủ VSTTQ của NVYT
Tác giả Katherine M White (2015) cho biết: rào cản chính đối với việc thực hiện VSTTQ là không thể tiếp cận bồn rửa và các sản phẩm vệ sinh tay, đây là một phát hiện phổ biến trong các nghiên cứu trước đây Còn trong nghiên cứu này, vấn
đề vòi cảm biến nhiều lần được coi là rào cản do lo ngại về việc lãng phí nước Điều
đó cho thấy rằng NVYT thiếu tuân thủ VSTTQ bởi lý do các thiết bị chưa thực sự tiết kiệm nước, mâu thuẫn với các giá trị môi trường (39)
Theo nghiên cứu của Lê Thị Anh Thư và cộng sự, tại Việt Nam, buồng bệnh
có bồn rửa tay chỉ đạt 37,6%, hầu hết bồn rửa tay không có khăn lau tay sử dụng một lần, ảnh hưởng đến thực hành VSTTQ ở NVYT Kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy: số lần rửa tay trung bình/NVYT/ngày khi sử dụng cồn là 7,9 lần, khi rửa
tay bằng xà phòng chỉ là 5,0 lần
HUPH
Trang 2616
Tác giả Nguyễn Việt Hùng cũng chỉ ra rằ ng trang bị phương tiện VSTTQ (bồn rửa tay, xà phòng, khăn lau tay sử dụng 1 lần…) tại buồng bệnh giúp cải thiện tuân thủ rửa tay ở NVYT Trang bị dung dịch sát khuẩn tay nhanh có chứa cồn/cồn tại buồng bệnh sẽ tiết kiệm được 2/3 tổng thời gian rửa tay, giúp NVYT tuân thủ quy định tốt hơn (38)
Trang bị phương tiện đầy đủ, điều dưỡng sẽ có nhiều cơ hội thực hiện rửa tay thường quy hơn Như trong khảo sát đánh giá thực trạng rửa tay thường quy của điều dưỡng viên tại bệnh viện trường Đại học Y Thái Nguyên năm 2012 của Nông Phương Mai và cộng sự cho thấy 79,2% được trang bị đầy đủ và không có việc điều dưỡng làm việc trong điều kiện trang thiết bị không đầy đủ, 91,5% điều dưỡng thực hiện kỹ thuật rửa tay chỉ ở mức độ trung bình (40)
Ngoài tính sẵn có thì chất lượng của phương tiện VSTTQ cũng ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình Bàn chải quá cứng sẽ làm tổn thương da tay và tạo cảm giác khó chịu hoặc nguồn nước quá lạnh khiến NVYT không tuân thủ thời gian VSTTQ
và thực hành không đúng quy trình (41)
Hiện nay có nhiều loại hoá chất được sử dụng cho việc VSTTQ của NVYT và việc nhạy cảm hay dị ứng với các hoá chất này cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ VSTTQ của NVYT Trong một nghiên cứu của Nicholson và cộng sự cho thấy: có 17% trường hợp các NVYT được báo cáo là bị kích ứng da do hoá chất rửa tay và tổn thương da ở 13% trường hợp Do đó hoá chất khử trùng tay
có thể dẫn đến việc nhiều NVYT không chấp nhận việc VSTTQ (42)
Xà phòng, iodine, iodophors, cồn ethanol hoặc chlorhexidine có thể gây kích ứng, khô da khi được sử dụng thường xuyên Vì vậy lo ngại hóa chất rửa tay làm khô da tay có thể trở thành một rào cản làm cho nhiều NVYT hạn chế rửa tay (42) Ngoài ra, hóa chất VSTTQ không đảm bảo chất lượng hoặc sử dụng không đúng liều lượng còn dẫn đến các vấn đề về sức khỏe của NVYT Như trong nghiên cứu của Trần Thị Hà (2017) cho thấy, dùng dung dịch sát khuẩn nhanh dễ bị Eczema bàn tay hơn, nhóm NVYT có dùng hóa chất VSTTQ có tỉ lệ bị bệnh
HUPH
Trang 2717
Eczema cao hơn nhóm không dùng (18,3% so với 5,1%) (43) Vì vậy bên cạnh việc trang bị các thiết bị VSTTQ, bệnh viện cũng cần hướng dẫn đầy đủ cho NVYT cách thức sử dụng, liều lượng và thành phần hoá chất trong các sản phẩm đó để NVYT
có thể yên tâm tuân thủ đầy đủ việc VSTTQ
1.4 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Bệnh viện đa khoa tỉnh Sơn La có quy mô 500 giường bệnh, được xếp hạng I theo Quyết định số 1703/QĐ-UBND ngày 14/7/2016 của UBND tỉnh Sơn La Hiện bệnh viện có 32 khoa, phòng và 1 trung tâm, gồm: 8 phòng chức năng, 20 khoa lâm sàng, trung tâm, 5 khoa cận lâm sàng Nhân lực y tế có tổng số 478 cán bộ với cán
bộ được cấp chứng chỉ hành nghề là 350 người Nhiều năm trở lại đây, bệnh viện đã
có nhiều thành tích nổi bật trong công tác khám, chữa bệnh phục vụ người dân Việc phòng chống NKBV, giám sát NKBV cũng như các quy trình/quy định
về NKBV luôn được chú trọng Theo báo cáo thực hiện đánh giá công tác thực hiện kiểm soát nhiễm khuẩn tháng 6 và kế hoạch thực hiện tháng 7/2021, bệnh viện đã tăng cường phối hợp giám sát triển khai với các khoa, phòng liên quan, đảm bảo an toàn phòng chống dịch, cũng như tăng cường hiệu quả xử lý khử khuẩn/tiệt khuẩn vô khuẩn dụng cụ phẫu thuật, thủ thuật, chăm sóc điều trị Cung cấp dụng cụ vô khuẩn, xử lý khử khuẩn/tiệt khuẩn dụng cụ bộ thay băng, chăm sóc, đồ vải phẫu thuật thủ thuật vô khuẩn cho các khoa trong toàn viện Công tác tập huấn cũng được chú trọng khi bệnh viện tham gia huấn luyện, đào tạo, phòng ngừa lây nhiễm trong bệnh viện cho toàn thể NVYT tại các khoa và đội điều trị theo quyết định 5188/QĐ- BYT ngày 14/12/2020 tại 2 cơ sở đảm bảo
an toàn phòng chống dịch
Tại Bệnh viện chưa có nghiên cứu nào đánh giá tuân thủ VSTTQ cũng như các yếu tố liên quan cho NVYT, đặc biệt là các NVYT tại các khoa lâm sàng, tỉ lệ phơi nhiễm cao với các yếu tố nguy cơ, nhất là trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19 hiện nay
HUPH
Trang 2818
1.5 Khung lý thuyết
Khung lý thuyết được xây dựng theo Quyết định 3961/QĐ-BYT của Bộ Y tế
về việc phê duyệt các hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám chữa bệnh và dựa trên cơ sở các nghiên cứu trong nước về vấn đề tuân thủ VSTTQ của NVYT (7, 44, 45)
- Thâm niên công tác
- Khoa, phòng ban công tác
Môi trường làm việc của
Trang 29- Các NVYT có thời gian công tác từ 1 năm trở lên của BVĐK
- Thực hiện công tác chuyên môn, chăm sóc người bệnh trực tiếp tại các khoa: Nội a, Nội 1, Nội 2, Tim mạch, Ngoại tổng hợp, Trung tâm chấn thương chỉnh hình, Cấp cứu, Nhi, Hồi sức tích cực chống độc, Thận nhân tạo, Xét nghiệm huyết học, Xét nghiệm hóa sinh, Chẩn đoán hình ảnh, khám bệnh, ung bướu, truyền nhiễm, phẫu thuật gây mê hồi sức, răng hàm mặt, tai mũi họng, mắt, y học cổ truyền, phục hồi chức năng
- Có mặt tại khoa phòng trong thời điểm thu thập số liệu
Tiêu chí loại trừ:
- Các NVYT hiện đang nghỉ phép dài hạn (nghỉ thai sản, chuyển công tác…)
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Thời gian: Toàn bộ thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01 năm 2022
đến tháng 10/2022 Thời gian thu thập số liệu từ tháng 3/2022 đến tháng 4/2022
- Địa điểm: Tại các khoa lâm sàng BVĐK tỉnh Sơn La
2.3 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứ u sử du ̣ng thiết kế nghiên cứu cắt ngang phân tích
2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Cỡ mẫu dùng cho đánh giá về tuân thủ VSTTQ ở các NVYT được tính toán theo công thức cỡ mẫu một tỷ lệ:
- n: mẫu nghiên cứu
HUPH
Trang 3020
- z: tham số thống kê với độ tin cậy α=95% thì z=1,96
- P = 0,755 (tham khảo từ tỷ lệ NVYT tuân thủ quy trình VSTTQ của NVYT tại Bệnh viện Quân y 103, Hà Nội của Trần Tuấn Thành năm 2020 là 75,5%) (25, 45)
- d: là sai số tuyệt đối d = 0,05
Thay số vào công thức, ta được cỡ mẫu là 284 Nghiên cứu tiến hành chọn toàn
bộ 350 NVYT đang thực hiện các công tác chuyên môn tại bệnh viện Mỗi đối tượng tiến hành quan sát 1 cơ hội VSTTQ của đối tượng và sau đó phát vấn bộ câu hỏi thông tin chung và kiến thức VSTTQ
2.5 Phương pháp thu thập số liệu
Quan sát thực hành VSTTQ
Quy trình thu thập được thực hiện theo phương pháp quan sát và không tham gia Quan sát được tiến hành vào ca làm việc buổi sáng khi bắt đầu công việc chăm sóc bệnh nhân Việc quan sát được kết hợp với công việc kiểm tra định kì của phòng KSNK trong mục giám sát tuân thủ phòng ngừa chuẩn và phòng ngừa cách ly, phòng
hộ cá nhân, vệ sinh cá nhân nhằm không gây sự chú ý ở mức độ tối đa nhất và tiến hành quan sát họ thực hiện thủ thuật, thao tác chăm sóc và điều trị cũng như các hành động rửa tay Các NVYT được quan sát hoàn toàn không biết về việc mình đang được quan sát khi thực hiện quy trình VSTTQ Hoạt động quan sát do cá nhân nghiên cứu viên và các nhân viên Phòng KSNK của Bệnh viện thực hiện để đảm bảo sự khách quan trong thu thập thông tin Dựa trên bảng kiểm đánh giá được xây dựng sẵn, có 5 quan sát viên đều là những người có kinh nghiệm và được tập huấn kỹ càng Những người này đã từng thực hiện các công việc kiểm tra, đánh giá, giám sát tuân thủ VSTTQ
Các điều tra viên quan sát các NVYT làm việc với các hoạt động chăm sóc, điều trị người bệnh tại phòng bệnh/giường bệnh Mỗi lần quan sát cần đảm bảo có một (01)
cơ hội mà các NVYT cần phải thực hiện VSTTQ (tùy thuộc vào các hoạt động chăm
HUPH
Trang 3121
sóc cho người bệnh) Các quan sát VSTTQ chỉ được ghi lại khi NVYT tiến hành VSTTQ ở các điểm VSTTQ của các khoa lâm sàng theo hướng dẫn Các quan sát được đánh giá đầy đủ cả 6 bước và thời gian thực hiện tương ứng với từng phương pháp theo quy định
Các quan sát được thực hiện vào các ca quan sát dựa vào giờ làm việc của các NVYT Bảng kiểm bao gồm 2 tiêu chí đánh giá: (1) cơ hội tuân thủ VSTTQ và (2) 06 bước VSTTQ
Phát vấn điều tra kiến thức về tuân thủ VSTTQ
Sau khi tiến hành quan sát, ĐTNC được yêu cầu điền một phiếu điều tra kiến thức tuân thủ VSTTQ Phiếu này được đánh mã số trùng với phiếu quan sát quy trình tuân thủ VSTTQ để đảm bảo việc liên kết số liệu Phiếu phát vấn được ĐTNC thực hiện khi
đã kết thúc quy trình chăm sóc bệnh nhân dưới sự giám sát của ĐTV
Sau khi quan sát 1 cơ hội VSTTQ, đối tượng nghiên cứu được mời đến thực hiện phát vấn bộ câu hỏi về kiến thức VSTTQ Kiến thức của đối tượng nghiên cứu đạt khi các nội dung đạt ≥ 70% tổng điểm; kiến thức chưa đạt khi các nội dung <70% tổng điểm Tham khảo theo tiêu chuẩn đánh giá đa ̣t kiến thức ta ̣i nghiên cứu về kiến thức vê ̣ sinh tay thường quy ta ̣i Bê ̣nh viê ̣n Quân y 103 của Trần Tuấn Thành (45, 46)
2.6 Quy trình thu thập số liệu
Bước 1: Lựa chọn điều tra viên là nhân viên khoa KSNK, đã có kinh nghiệm tham gia điều tra nghiên cứu
Bước 2: Tập huấn điều tra viên về bộ công cụ nghiên cứu và cách tiếp cận điều tra và thu thập số liệu
Bước 3: Tổ chức điều tra thử từ 15 - 20 đối tượng thông qua bộ câu hỏi đã thiết
kế và hoàn chỉnh
HUPH
Trang 3222
Bước 4: Tiến hành điều tra chính thức, nội dung quan sát thực hành VSTTQ do ĐTV quan sát trực tiếp đối tượng nghiên cứu và ghi lại kết quả Sau khi đã thực hiê ̣n xong 1 lầ n quan sát cơ hội VSTTQ, ĐTV thực hiện phát vấn (thông qua bộ câu hỏi phát vấn điều tra kiến thức) và có mặt tại điểm thu thập thông tin cho đến khi quá trình thu thập thông tin hoàn tất và nhắc nhờ không để người tham gia nghiên cứu trao đổi thông tin
Bước 5: Kiểm tra lại thông tin và thu lại phiếu điều tra
2.7 Các biến số nghiên cứu
Các nhóm biến số chính:
- Biến số cho mục tiêu 1: Mô tả tuân thủ VSTTQ của NVYT tại BVĐK tỉnh Sơn
La năm 2022:
+ Tuân thủ VSTTQ theo cơ hội VSTTQ: thực hiện VST khi có cơ hội
+ Tuân thủ VSTTQ theo các bước hướng dẫn của Bộ Y tế
+ Tuân thủ đủ thời gian VSTTQ theo quy định
- Biến số cho mục tiêu 2: Xác định một số yếu tố liên quan tới tuân thủ VSTTQ của NVYT:
+ Các yếu tố cá nhân: tuổi, trình độ học vấn, khoa phòng, chuyên môn công tác… + Kiến thức VSTTQ
+ Chính sách, quy định, thanh tra giám sát của bệnh viện
Chi tiết tại Phụ lục 4
2.8 Tiêu chuẩn đánh giá tuân thủ vệ sinh tay thường quy
Đánh giá tuân thủ VSTTQ : được thực hiện bằng phương pháp quan sát và điền
vào bảng kiểm theo mẫu của BYT (quan sát không tham gia)
Đối tượng tham gia nghiên cứu được quan sát 1 lần, trong đó, mỗi lần quan sát, người đánh giá sẽ đánh giá ĐTNC theo tiêu chí tuân thủ VSTTQ đúng
Tuân thủ VSTTQ đạt trong nghiên cứu bao gồm:
HUPH
Trang 3323
(1) Có VSTTQ khi có cơ hội cần VST theo 5 cơ hội VSTTQ:
+ Trước khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh
+ Trước khi thực hiện mỗi thủ thuật sạch/vô khuẩn
+ Ngay sau mỗi khi tiếp xúc với máu, dịch cơ thể
+ Sau khi tiếp xúc trực tiếp với mỗi người bệnh
+ Sau tiếp xúc với bề mặt đồ dùng, vật dụng trong buồng bệnh
(2) Phải VSTTQ với nước và xà phòng hoặc VSTTQ với dung dịch VSTTQ chứa cồn
(3) Thực hiện VST tuân thủ theo đúng 6 bước của quy trình VSTTQ của BYT và thời gian VSTTQ 20-30 giây, các cơ hội VSTQ trong phạm vi nghiên cứu được thực hiện theo Quyết định số 3916/QĐ-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2017 về việc phê duyệt các Hướng dẫn KSNK trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Không tuân thủ VSTTQ trong nghiên cứu gồm: (1) không VSTTQ khi có cơ
hội VST, hoặc (2) có VSTTQ khi có cơ hội VST nhưng không thực hiện đúng/đủ các bước theo hướng dẫn của Bộ Y tế
Đánh giá kiến thức VSTTQ của NVYT
Với mỗi câu trả lời đúng được tính 1 điểm, nếu trả lời sai sẽ không có điểm Tổng
bộ câu hỏi về kiến thức bao gồm 28 câu, ĐTNC trả lời đúng trên 70% số câu hỏi tức là trên 20 câu sẽ được tính là đạt về kiến thức VSTTQ Tỉ lệ này đã được sử dụng trong nhiều nghiên cứu tương tự trước đây như nghiên cứu của Nguyễn Hoài Thu (2019) và Đặng Thị Thúy (2019).(46) (41, 46)
Tuân thủ đạt chỉ khi ĐTNC thực hiện đúng và đủ 6 bước VSTTQ của Bộ Y tế và đảm bảo thời gian theo hướng dẫn Sai ở bất kì bước nào cũng không được tính là tuân thủ VSTTQ
Hướng dẫn chi tiết đánh giá kiến thức VSTTQ của NVYT xin xem Phụ lục 4
HUPH
Trang 34là thông tin cá nhân, kiến thức về quy trình VSTTQ, các yếu tố chính sách, quy định, thanh tra giám sát của bệnh viện với p<0,05 là có ý nghĩa thống kê (khoảng tin cậy 95%)
2.10 Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu tuân thủ quy trình xét duyệt của Hội đồng Đạo đức – Trường Đại học
Y tế công cộng và được Hội đồng phê duyệt số 5/2022/YTCC-HD3 ngày 11 tháng 1 năm 2022
Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của Ban Giám đốc, các phòng chức năng, các khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La
Đối tượng nghiên cứu được giải thích một cách rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu khi ĐTV thực hiện phỏng vấn điều tra kiến thức cho đối tượng nghiên cứu và chỉ tiến hành khi có sự đồng ý tự nguyện tham gia của đối tượng nghiên cứu Mọi thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu đều được mã hóa, giữ bí mật và báo cáo thông tin tổng hợp chung của toàn bộ đối tượng tham gia nghiên cứu Các số liệu, thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng cho bất kỳ mục đích nào khác
Trong quá trình trả lời phỏng vấn, các đối tượng có quyền bỏ qua bất kỳ câu hỏi nào mà họ không muốn trả lời
HUPH
Trang 3626
quá tải với khoa,
Nhận xét: Tổng số đối tượng tham gia vào nghiên cứu là 350 nhân viên y tế
đang làm việc tại BVĐK tỉnh Sơn La với tuổi trung bình là 34,35 ±8,9 tuổi Trong đó, nhóm tuổi từ 30-40 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 41,7% Số lượng nữ giới cao gấp đôi nam giới với tỉ lệ là 66,6% Trình độ học vấn của NVYT chiếm tỉ lệ cao nhất là trình
độ Cao Đẳng là 46,7%; trên Đại học là 32,3% và sau đại học là 13% Có tới 46%NVYT có kinh nghiệm làm việc dưới 5 năm 65,2% đối tượng tham gia nghiên cứu là điều dưỡng, nữ hộ sinh, hộ lý, tỉ lệ bác sĩ chiếm 27,4% 34% ĐTNC cho rằng lượng bệnh nhân tại khoa, phòng của mình đang bị quá tải
Biểu đồ 3 1: Phân bố khoa phòng làm việc của NVYT tại BVĐK tỉnh Sơn La
HUPH
Trang 3727
Trong 350 NVYT tham gia nghiên cứu, có 20,9% thuộc khoa nội, 16,6% thuộc khoa chấn thương chỉnh hình, chiếm tỉ lệ cao nhất là các chuyên khoa sản, nhi, răng hàm mặt, Y học cổ truyền và PHCN (36,6%)
Bảng 3 2: Phân bố thực trạng tập huấn, kiểm tra, giám sát của bệnh viện
Bệnh viên triển khai
kiểm tra, giám sát
HUPH
Trang 3828
3.2 Thực trang tuân thủ vệ sinh tay thường quy của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Sơn La
Bảng 3 3: Phân bố tỷ lệ VSTTQ theo cơ hội VSTTQ
Cơ hội thực hiện vệ sinh tay thường quy Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh 114 32,6
Sau khi tiếp xúc với máu, dịch của người bệnh 32 9,1
Sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung
Bảng 3.3 thể hiện kết quả phân bố tỷ lệ các cơ hội vệ sinh tay trong các lượt quan sát Kết quả cho thấy, tỷ lệ các cơ hội VSTTQ phân bố không đồng đều, cơ hội VSTTQ sau khi tiếp xúc với máu, dịch của người bệnh được quan sát thấy chiếm tỷ lệ thấp nhất với 9,1% Đứng thứ nhất là cơ hội VSTTQ trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh với tỷ lệ chiếm 32,6%, cơ hội vệ sinh tay trước khi làm thủ thuật vô khuẩn là 18,9% và
cơ hội VST sau khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh chiến 20,6%, tỷ lệ cơ hội vệ sinh tay sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt vùng xung quanh người bệnh quan sát thấy là
Trang 3929
Biểu đồ 3 2: Phân bố loại hình VSTTQ theo cơ hội VST
Trong 350 cơ hội VSTTQ, nhìn chung, 74,0% VSTTQ bằng cồn và dung dịch sát khuẩn, 2,9% không VSTTQ khi có cơ hội, không có trường hợp nào chỉ VSTTQ với nước, còn lại là VSTTQ với nước và xà phòng Có 114 cơ hội trước khi tiếp xúc trực tiếp với người bệnh, 7% số NVYT không thực hiện VSTTQ khi có cơ hội, 7,9% VSTTQ bằng nước và xà phòng, còn lại là VSTTQ bằng cồn hoặc dung dịch sát khuẩn Với cơ hội trước khi làm thủ tục vô khuẩn, 61,2% VSTTQ bằng nước và xà phòng Sau khi tiếp xúc với người bệnh 95,2% đối tượng VSTTQ bằng cồn và dung dịch sát khuẩn 71,9% VSTTQ với nước và xà phòng sau khi tiếp xúc với máu và dịch của người bệnh và 14,3% sử dụng tương tự sau khi tiếp xúc với đồ dùng, bề mặt xung quanh người bệnh
HUPH
Trang 40Bảng 3 5: Tỷ lệ NVYT thực hiện VSTTQ đúng thời gian quy định
Thời gian vệ sinh tay Tần số (n) Tỷ lệ (%)