1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021

97 4 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang năm 2021
Tác giả Nguyễn Thanh Hồng
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Thúy Quỳnh
Trường học Trường Đại học Y tế Cộng đồng
Chuyên ngành Y tế Công cộng
Thể loại Luận văn thạc sỹ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU (12)
    • 1.1. Một số khái niệm, thuật ngữ (12)
    • 1.2. Tuân thủ quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt (13)
    • 1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình làm sạch dụng cụ (20)
    • 1.4. Thông tin tóm tắt về địa bàn nghiên cứu (22)
    • 1.5. Khung lý thuyết (24)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (25)
    • 2.1. Đối tượng nghiên cứu (25)
    • 2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu (25)
    • 2.3. Thiết kế nghiên cứu (25)
    • 2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (25)
    • 2.5. Phương pháp thu thập số liệu (27)
    • 2.6. Các biến số nghiên cứu (30)
    • 2.7. Tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu (31)
    • 2.8. Phương pháp phân tích số liệu (32)
    • 2.9. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu (33)
    • 2.10. Sai số và biện pháp khắc phục sai số (34)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (35)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (35)
    • 3.2. Thực hành về làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các (36)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (50)
    • 4.1. Thực hành về làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các (50)
    • 4.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang, năm 2021 (56)
    • 4.3. Hạn chế của nghiên cứu (59)
  • KẾT LUẬN (61)
  • PHỤ LỤC (66)

Nội dung

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng được thực hiện bởi đội ngũ điều dưỡng tại 9 khoa lâm sàng của Bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang, bao gồm các khoa: Phụ sản, Cấp cứu, Ngoại tổng hợp, Ngoại tiết niệu - Nhi, Ngoại chấn thương chỉnh hình - Bỏng, Ngoại thần kinh - Lồng ngực, Phẫu thuật - Gây mê hồi sức, Hồi sức tích cực - Chống độc, và Răng.

- Đại diện Ban Giám Đốc bệnh viện

- Điều dưỡng trưởng khoa Ngoại Chấn thương chỉnh hình - Bỏng

- Điều dưỡng trưởng khoa Phẫu thuật - Gây mê hồi sức

- Điều dưỡng tham gia làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt tại 9 khoa lâm sàng tham gia nghiên cứu định lượng

Tiêu chuẩn loại trừ bao gồm những điều dưỡng không có mặt trong thời gian nghiên cứu, chẳng hạn như đang nghỉ thai sản hoặc đi học, cũng như những điều dưỡng không đồng ý tham gia nghiên cứu.

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2021

- Địa điểm nghiên cứu: Tại 09 khoa lâm sàng của Bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang.

Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang kết hợp định lượng và định tính.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu định lượng: áp dụng công thức tính cỡ mẫu một tỷ lệ:

+ n: cỡ mẫu nghiên cứu (số điều đưỡng tối thiểu cần có)

+ Z(1- α /2): hệ số tin cậy (với độ tin cậy 95%, Z(1- α /2)= 1,96)

Tỷ lệ điều dưỡng thực hành đúng trong việc làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt được ước lượng là p=0,35, dựa trên kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Vi tại Trung tâm y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2018, cho thấy tỷ lệ tuân thủ quy trình xử lý dụng cụ ban đầu của điều dưỡng tại khoa là 34,8%.

+ d : Sai số cho phép (lấy d = 0,09, độ chính xác của ước lượng 91%)

Tại thời điểm nghiên cứu, 120 điều dưỡng từ 9 khoa lâm sàng đã được chọn để thực hiện quy trình làm sạch dụng cụ, do đó toàn bộ 120 điều dưỡng này đã tham gia vào nghiên cứu với giá trị n = 108.

Mỗi điều dưỡng tham gia trực tiếp vào việc làm sạch DCTYCN sẽ được chọn mẫu thuận tiện để có cơ hội quan sát thực hành.

Mỗi điều dưỡng có 2 cơ hội quan sát trong ngày, với tổng số cơ hội quan sát của nghiên cứu là 240 (cơ hội), tính từ 120 điều dưỡng nhân với 2 buổi làm việc (sáng và chiều).

Bảng 2.1 Số điều dưỡng và cơ hội quan sát tại từng khoa

STT Khoa Số điều dưỡng Cơ hội quan sát

5 Ngoại chấn thương chỉnh hình - Bỏng 9 18

6 Ngoại thần kinh - Lồng ngực 9 18

7 Phẫu thuật- Gây mê hồi sức 23 46

8 Hồi sức tích cực – Chống độc 16 32

Nghiên cứu định tính sử dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích nhằm thu thập thông tin đầy đủ về các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại khoa lâm sàng.

- Tiến hành 3 cuộc phỏng vấn sâu (PVS):

+ 01 cuộc PVS Phó Giám đốc bệnh viện phụ trách chuyên môn kiểm soát nhiễm khuẩn

+ 01 cuộc PVS Điều dưỡng trưởng Khoa Ngoại chấn chương chỉnh hình - Bỏng + 01 cuộc PVS Điều dưỡng trưởng của Khoa Phẫu thuật- Gây mê hồi sức

- Tiến hành thảo luận nhóm (TLN) có trọng tâm: mỗi khoa chọn ngẫu nhiên 1 điều dưỡng, 09 điều dưỡng được chọn chia thành 2 nhóm có đặc điểm tương đồng:

+ 01 cuộc TLN của các khoa: Phụ sản, Cấp cứu, Phẫu thuật- Gây mê hồi sức, Răng Hàm Mặt

+ 01 cuộc TLN của các khoa: Ngoại tổng hợp, Ngoại tiết niệu- Nhi, Ngoại chấn thương chỉnh hình - Bỏng, Ngoại thần kinh - Lồng ngực, Hồi sức tích cực - Chống độc.

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Công cụ thu thập số liệu:

Phiếu quan sát thực hành (Phụ lục 2) là công cụ thu thập số liệu được thiết kế dựa trên ý kiến của các chuyên gia về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và đã được điều chỉnh qua quá trình thử nghiệm quan sát 04 cơ hội thực hành của điều dưỡng Phiếu này bao gồm 02 phần.

- Phần 1: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu, gồm các thông tin: tuổi, giới tính, thâm niên công tác, trình độ chuyên môn, tập huấn

Phần 2 của bài viết trình bày bảng kiểm quan sát thao tác quy trình làm sạch DCTYCN, bao gồm 5 bước và 21 thao tác, dựa trên quy trình hướng dẫn làm sạch ban đầu cho dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt tại Bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang, được xây dựng theo hướng dẫn của Bộ Y tế Mỗi cơ hội thực hành sẽ được đánh giá thực tế, với từng thao tác được xác định ở mức “có” hoặc “không”.

Hướng dẫn phỏng vấn sâu (phụ lục 3) được thiết kế cho đại diện Ban Giám đốc và điều dưỡng trưởng các khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình-Bỏng, Phẫu thuật - Gây mê hồi sức Mục tiêu là tìm hiểu tầm quan trọng của quy trình làm sạch DCTYCN tại các khoa lâm sàng trước khi KKTK tại khoa KSNK của bệnh viện, đồng thời đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hành làm sạch DCTYCN của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng.

Hướng dẫn thảo luận nhóm (phụ lục 4) dành cho điều dưỡng trực tiếp thực hiện quy trình làm sạch DCTYCN, nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của các yếu tố đến thực hành của điều dưỡng Bài viết cũng đề cập đến những mong muốn của điều dưỡng về sự hỗ trợ từ bệnh viện để nâng cao hiệu quả thực hiện quy trình làm sạch DCTYCN tại các khoa lâm sàng.

2.5.2 Cách thức tổ chức thu thập số liệu:

- Lựa chọn và tập huấn cho ĐTV: Đội ngũ ĐTV gồm nghiên cứu viên chính,

Tại bộ phận hành chính – giám sát của Khoa KSNK của bệnh viện, NVYT có kiến thức và kỹ năng cần thiết để giám sát, kiểm tra và đánh giá thực hành theo quy trình kỹ thuật chuyên môn ĐTV hiểu rõ đối tượng quan sát, thực hiện công việc một cách kín đáo để không gây nghi ngờ hay ảnh hưởng đến nghiên cứu ĐTV được đào tạo trong 01 ngày với cả lý thuyết và thực hành về cách sử dụng công cụ thu thập số liệu.

Lập danh sách các điều dưỡng trực tiếp thực hiện quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt, bao gồm thông tin chung và lịch phân công nhiệm vụ cho từng điều dưỡng.

- Tiến hành thu thập thông tin bằng phương pháp quan sát trực tiếp:

Lãnh đạo các khoa lâm sàng đã được thông báo về mục đích và thời gian nghiên cứu, nhưng không biết chính xác thời gian quan sát thực hành của điều dưỡng Để đảm bảo quan sát trực tiếp tại phòng xử lý dụng cụ mà không bị phát hiện, ĐTV được chọn là cán bộ hành chính của Khoa KSNK, người có kiến thức phù hợp.

HUPH phát triển kỹ năng giám sát, kiểm tra và đánh giá thực hành theo quy trình kỹ thuật chuyên môn ĐTV chọn vị trí quan sát không làm ảnh hưởng đến công việc của nhân viên y tế (NVYT) và biết rõ đối tượng quan sát mà không gây nghi ngờ hay sự chú ý Trước khi tiến hành đánh giá, ĐTV thường xuyên xuất hiện tại khoa để thực hiện các công việc được giao hoặc trao đổi với NVYT khác, giúp quá trình quan sát diễn ra tự nhiên Người được quan sát, là các điều dưỡng thực hiện thao tác trong quy trình làm sạch DCTYCN, không biết thời điểm và lần xử lý nào sẽ được chọn để quan sát.

Sử dụng bảng kiểm để quan sát quy trình làm sạch DCTYCN của điều dưỡng, mỗi điều dưỡng thực hiện một lần thực hành với một bảng kiểm Mỗi điều dưỡng được quan sát hai lần, một lần vào buổi sáng và một lần vào buổi chiều, trong khoảng thời gian từ 8h00 đến 10h30 và từ 14h00 đến 16h30 ĐTV hoàn chỉnh phiếu điều tra ngay sau khi quan sát Nếu ĐTV nghi ngờ đối tượng nghiên cứu nhận biết mình đang bị quan sát và cố tình thực hiện đúng thao tác, bảng kiểm sẽ bị hủy bỏ và ĐTV sẽ tiến hành giám sát lại vào một ngày khác nhưng vẫn trong cùng khung giờ buổi sáng hoặc chiều.

Hình 2.1 Điều dưỡng thực hiện làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt tại khoa

Các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) được tiến hành độc lập với quá trình thu thập dữ liệu định lượng Nghiên cứu viên, là học viên, sẽ trực tiếp liên hệ và thống nhất thời gian cũng như địa điểm tổ chức PVS và TLN với từng đối tượng phỏng vấn và thảo luận.

- Mục đích tiến hành PVS và TLN được giới thiệu trước cho đối tượng

Mỗi cuộc phỏng vấn sâu (PVS) và thảo luận nhóm (TLN) kéo dài từ 45 đến 60 phút, tùy thuộc vào diễn biến thực tế Cuộc PVS và TLN chỉ kết thúc khi nghiên cứu viên đã thu thập đầy đủ ý kiến và câu trả lời cho các câu hỏi đã chuẩn bị, không còn câu hỏi mới được đưa ra, và người tham gia không có thêm ý kiến nào khác.

- Nghiên cứu viên ghi âm và ghi chép nhanh nội dung thông tin thu được trong các cuộc PVS và TLN

Hình 2.2 Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với điều dưỡng trưởng của các khoa lâm sàng

(Một số hình ảnh về quá trình thu thập số liệu tại Phục lục 5).

Các biến số nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu trong bài viết này là các điều dưỡng viên, với các thông tin quan trọng như nhóm tuổi, giới tính, thâm niên công tác, khoa làm việc, trình độ học vấn và các khóa tập huấn đã tham gia.

Thực hành làm sạch DCTYCN bao gồm quy trình 5 bước và 21 thao tác quan trọng Kết quả cho thấy tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác và từng bước trong quy trình đạt yêu cầu, đảm bảo hiệu quả trong việc làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt.

HUPH đã thực hiện quy trình điều dưỡng toàn diện tại 09 khoa lâm sàng, với tỷ lệ điều dưỡng thực hành đúng trong từng cơ hội được quan sát.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bao gồm: yếu tố cá nhân như tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thâm niên công tác, kiến thức và thái độ của điều dưỡng; yếu tố cơ sở hạ tầng và trang thiết bị như số lượng dụng cụ cần làm sạch, sự sẵn có dụng cụ hỗ trợ, thời gian và khu vực làm sạch; yếu tố quản lý liên quan đến quy trình, quy định về kiểm tra, giám sát, hỗ trợ, thi đua, khen thưởng và xử phạt; cùng với các yếu tố khác có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc trở thành rào cản trong việc tuân thủ quy trình làm sạch dụng cụ.

(Danh mục biến số nghiên cứu tại phụ lục 1)

Tiêu chuẩn đánh giá sử dụng trong nghiên cứu

Nghiên cứu này đánh giá thực hành làm sạch DCTYCN của điều dưỡng thông qua việc xem xét từng thao tác và tỷ lệ thực hành đúng trong quy trình gồm 05 bước với 21 thao tác Thực hành của điều dưỡng được đánh giá qua quan sát bằng bảng kiểm tra, xác định việc thực hiện hoặc không thực hiện các thao tác Các tiêu chuẩn đánh giá được sử dụng trong nghiên cứu này rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quy trình làm sạch.

- Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác = (số quan sát có thực hiện thao tác/tổng số quan sát) x 100%

- Tỷ lệ thực hành đúng ở từng bước = (số quan sát có thực hiện đủ các thao tác của bước đó/tổng số quan sát) x 100%

+ Tỷ lệ thực hành đúng bước 1 (có 7 thao tác) = (số quan sát có thực hiện đủ 7/7 thao tác/tổng số quan sát) x 100%

+ Tỷ lệ thực hành đúng bước 2 (có 5 thao tác) = (số quan sát có thực hiện đủ 5/5 thao tác/tổng số quan sát) x 100%

+ Tỷ lệ thực hành đúng bước 3 (có 2 thao tác) = (số quan sát có thực hiện đủ 2/2 thao tác/tổng số quan sát) x 100%

+ Tỷ lệ thực hành đúng bước 4 (có 2 thao tác) = (số quan sát có thực hiện đủ 2/2 thao tác/tổng số quan sát) x 100%

+ Tỷ lệ thực hành đúng bước 5 (có 2 thao tác) = (số quan sát có thực hiện đủ 5/5 thao tác/tổng số quan sát) x 100%

- Tỷ lệ tuân thủ thực hành chung = (số quan sát có thực hiện đủ 21/21 thao tác/tổng số quan sát) x 100%

Mỗi điều dưỡng được coi là “Thực hành đạt” khi thực hiện đầy đủ 21/21 thao tác trong quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt tại khoa trong cả 2/2 cơ hội quan sát Nếu cả hai cơ hội quan sát đều được đánh giá là “tuân thủ thực hành chung”, điều dưỡng sẽ được công nhận là “thực hành đạt” Ngược lại, nếu không có cơ hội quan sát nào hoặc chỉ có một cơ hội quan sát được đánh giá, điều dưỡng sẽ không đạt yêu cầu.

“tuân thủ thực hành chung” thì điều dưỡng được đánh giá là “thực hành chưa đạt”).

Phương pháp phân tích số liệu

- Số liệu được nhập bằng phần mềm Epidata 3.1

- Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 20.0

- Các thuật toán thống kê được sử dụng gồm:

Mục tiêu 1 của nghiên cứu là đánh giá thực hành làm sạch DCTYCN của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng của Bệnh viện Đa khoa khu tỉnh An Giang trong năm 2021 Nghiên cứu sử dụng thuật toán thống kê mô tả tần số và tỷ lệ phần trăm để phân tích dữ liệu, bao gồm thông tin chung về điều dưỡng, tỷ lệ thực hành đúng ở từng thao tác, tỷ lệ thực hành đúng từng bước, tỷ lệ tuân thủ thực hành chung trong tổng số cơ hội quan sát, và tỷ lệ điều dưỡng có thực hành đạt trong tổng số điều dưỡng được đánh giá.

Mục tiêu 2 của nghiên cứu là phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng của bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang năm 2021 Nghiên cứu sử dụng thuật toán thống kê suy luận với kiểm định Chi-square để so sánh tỷ lệ giữa hai nhóm độc lập, đồng thời tính toán tỷ số chênh OR, khoảng tin cậy 95% CI và mức ý nghĩa  = 0,05 Mối liên quan đơn biến giữa thực hành của điều dưỡng và các yếu tố như tuổi, giới, trình độ chuyên môn, vị trí làm việc, thâm niên công tác, và việc được tập huấn về KKTK sẽ được làm rõ.

- Tất cả nội dung được ghi âm trong các cuộc PVS và TLN đều được gỡ băng thành văn bản

- Sử dụng phương pháp phân tích theo chủ đề để nhóm các thông tin thu được theo các nhóm chủ đề quan tâm:

+ Yếu tố cá nhân của điều dưỡng: tuổi, giới tính, trình độ học vấn, thâm niên công tác, kiến thức, thái độ, được tập huấn…;

Yếu tố cơ sở hạ tầng, phương tiện và trang thiết bị đóng vai trò quan trọng trong quy trình làm sạch, bao gồm số lượng dụng cụ cần được làm sạch, sự sẵn có của các dụng cụ hỗ trợ, thời gian cần thiết cho việc làm sạch, và việc có khu vực làm sạch riêng biệt.

+ Yếu tố về quản lý: quy trình, quy định về KKTK; kiểm tra, giám sát, hỗ trợ; thi đua, khen thưởng, xử phạt…;

Nội dung được phân tích và phân loại theo các nhóm chủ đề quan tâm, nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng đến thực hành của điều dưỡng, bao gồm các điều kiện thuận lợi, rào cản và khó khăn.

- Mỗi người tham gia được gán nhãn (09 nhãn trong TLN và 03 nhãn trong PVS) Những ý kiến tiêu biểu được trích dẫn để minh họa cho chủ đề tương ứng.

Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của trường Đại học Y tế công cộng chấp thuận theo văn bản số 34/2021/YTCC-HD3 ngày 08 tháng 02 năm 2021, đảm bảo tuân thủ các quy định về đạo đức nghiên cứu trong suốt quá trình thực hiện.

Trước khi tiến hành phỏng vấn, đối tượng nghiên cứu sẽ được giải thích rõ ràng về mục đích và nội dung của nghiên cứu Việc phỏng vấn chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý tham gia của đối tượng nghiên cứu.

Tất cả thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu sẽ được bảo mật và mã hóa Dữ liệu và thông tin thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu.

- Nội dung nghiên cứu phù hợp, được Ban giám đốc bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang đồng ý và quan tâm, ủng hộ

Kết quả nghiên cứu sẽ được báo cáo tới Ban giám đốc bệnh viện và các cán bộ quản lý, nhân viên y tế tại khoa lâm sàng và cận lâm sàng Tài liệu này sẽ cung cấp số liệu và thông tin khoa học cần thiết, hỗ trợ cho các hoạt động của khoa và bệnh viện, từ đó nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân.

Sai số và biện pháp khắc phục sai số

Sai số của nghiên cứu:

Nghiên cứu định lượng có thể gặp sai số do kỹ năng quan sát thực hành của điều tra viên (ĐTV) Khi quan sát thực hành tuân thủ làm sạch DCTYCN, đối tượng nghiên cứu có thể cải thiện hành vi của mình vì biết mình đang bị quan sát, dẫn đến kết quả tốt hơn so với thực tế hàng ngày Ngoài ra, sai số cũng có thể phát sinh trong quá trình nhập liệu.

Nghiên cứu định tính có thể gặp sai số do quá trình dẫn dắt và ghi chép, trong đó thông tin thu được có thể không khách quan do ảnh hưởng của yếu tố tâm lý và thái độ không hợp tác từ đối tượng nghiên cứu.

Biện pháp khắc phục sai số:

Sử dụng nhân viên y tế (NVYT) từ khoa Kiểm soát Nhiễm khuẩn (KSNK) làm điều tra viên (ĐTV) là một bước quan trọng Cần tập huấn kỹ lưỡng cho ĐTV, thống nhất các bước thực hiện, thử nghiệm bộ công cụ và rút ra kinh nghiệm trước khi tiến hành quan sát thực tế.

Cuối mỗi ngày, nghiên cứu viên chính tiến hành kiểm tra toàn bộ phiếu thu được để đảm bảo thông tin đầy đủ Để giảm thiểu sai sót trong quá trình nhập liệu, họ ngẫu nhiên rà soát 10% số phiếu đã nhập nhằm xác nhận tính chính xác của dữ liệu.

Thông báo trước lịch PVS hoặc TLN cho các đối tượng nghiên cứu là cần thiết để họ có thể sắp xếp thời gian hợp lý Đồng thời, cần giải thích rõ ràng mục đích và tính bảo mật của nghiên cứu, nhằm tạo ra một không khí thoải mái và cởi mở trong suốt quá trình thực hiện.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

Bảng 3.1 Đặc điểm tuổi, giới tính, trình độ học vấn của điều dưỡng Đặc điểm Số lượng

Trong nghiên cứu với 120 điều dưỡng, 56,7% người tham gia dưới 30 tuổi, 38,3% trong độ tuổi từ 30 đến 39, 69,2% là nữ, 62,5% có trình độ trung cấp và 13,3% có trình độ đại học.

Biểu đồ 3.1 chỉ ra rằng 45,8% điều dưỡng tham gia nghiên cứu có thâm niên công tác từ 5 năm trở xuống Tỷ lệ điều dưỡng có thâm niên công tác trên 5 năm cũng được ghi nhận.

Biểu đồ 3.1 Phân bố đối tượng nghiên cứu theo thâm niên công tác (n0)

≤ 5 năm 6-10 năm 11-15 năm 16-20 năm ≥ 21 năm

Thực hành về làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các

Bảng 3.2 Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác ở Bước 1 - Chuẩn bị

Thứ tự trong cả quy trình

Các thao tác ở Bước 1 Số lượng

Thao tác 1 Vệ sinh khu vực rửa dụng cụ 201 83,8

Thao tác 2 - Chuẩn bị chậu (thùng) đựng hóa chất có nắp đậy kín 207 86,3

Thao tác 3 - Chuẩn bị bàn chảy, chổi cọ rửa, ống bơm rửa các cỡ 210 87,5

Thao tác 4 - Chuẩn bị dung dịch enzyme 205 85,4

Thao tác 5 Pha 10ml enzyme vào 1 lít nước 196 81,7

Thao tác 6 Rửa tay nhanh 172 71,7

Thao tác 7 Mang PTPHCN: găng tay, mũ, kính, tạp dề 185 77,1

Bảng 3.2 trình bày kết quả quan sát 240 cơ hội thực hành của điều dưỡng trong giai đoạn chuẩn bị quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt, bao gồm 7 thao tác Kết quả cho thấy tỷ lệ thực hành đúng cao ở 4 thao tác đầu, đạt trên 85%, với thao tác “Chuẩn bị bàn chảy, chổi cọ rửa, ống bơm rửa các cỡ” có tỷ lệ thực hành đúng cao nhất (87,5%) Tuy nhiên, hai thao tác cuối của bước 1 có tỷ lệ thực hành đúng thấp dưới 80%, trong đó “Rửa tay nhanh” là thao tác có tỷ lệ thực hành đúng thấp nhất (71,7%).

Bảng 3.3 Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác ở Bước 2 - Cọ rửa dụng cụ

Thứ tự trong cả quy trình Các thao tác ở Bước 2

Thao tác 8 Mở dụng cụ có khớp nối 183 76,3

Thao tác 9 Ngâm ngập dụng cụ trong dung dịch enzyme trong 5 phút 206 85,8

Thao tác 10 Dùng bàn chải để cọ rửa bên ngoài dụng cụ 201 83,8

Giữ bàn chải dưới mặt nước để ngăn ngừa sự phát sinh các hạt nhỏ và chú ý đến khe kẽ của dụng cụ Sử dụng chổi (bơm) để làm sạch bên trong lòng ống.

Kết quả từ bảng 3.3 cho thấy trong 05 thao tác ở Bước 2, hai thao tác “Ngâm ngập dụng cụ trong dung dịch enzyme trong 5 phút” và “Giữ bàn chải dưới mặt nước để tránh phát sinh các hạt nhỏ, chú ý tới khe kẽ dụng cụ” có tỷ lệ thực hành đúng cao nhất, đạt 85,8% Trong khi đó, hai thao tác “Dùng chổi (bơm) làm sạch bên trong lòng ống” và “Mở dụng cụ có khớp nối” có tỷ lệ thực hành đúng thấp nhất, lần lượt là 77,1% và 76,3%.

Biểu đồ 3.2 cho thấy tỷ lệ thực hành đúng các thao tác trong quy trình làm sạch dụng cụ Cụ thể, ở Bước 3 - Làm sạch với nước máy, tỷ lệ đạt trên 85% cho cả hai thao tác “Cọ rửa lại mặt ngoài và mặt trong dụng cụ” Ở Bước 4 - Lau khô dụng cụ, tỷ lệ thực hành đúng cho thao tác “Lau khô dụng cụ bằng khăn (gạc) sạch” đạt 87,1%, trong khi thao tác “Kiểm tra bề mặt, khe khớp, loại bỏ hoặc sửa chữa các dụng cụ bị gãy, hỏng” đạt 76,3%.

Biểu đồ 3.2 Tỷ lệ thực hành đúng các thao tác ở Bước 3 và Bước 4 (n$0)

Bảng 3.4 Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác ở Bước 5 - Bàn giao dụng cụ cho Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn

Thứ tự trong cả quy trình Các thao tác ở Bước 5 Số lượng

Thao tác 17 Cho dụng cụ vào thùng 198 82,5

Thao tác 18 Vệ sinh khu vực xung quanh 203 84,6

Thao tác 20 Rửa tay thường quy 170 70,8

Thao tác 21 Bàn giao dụng cụ cho khoa KSNK 190 79,2

Trong Bảng 3.4, kết quả cho thấy trong 05 thao tác ở Bước 5, nhóm 03 thao tác đầu có tỷ lệ thực hành đúng cao trên 80%, với thao tác “Vệ sinh khu vực xung quanh” đạt tỷ lệ cao nhất là 84,6% Ngược lại, thao tác “Rửa tay thường quy” có tỷ lệ thực hành đúng thấp nhất, chỉ đạt 70,8%.

Biểu đồ 3.3 chỉ ra rằng trong số 21 thao tác, thao tác có tỷ lệ thực hành đúng cao nhất là thao tác 3 “Chuẩn bị bàn chảy, chổi cọ rửa, ống bơm rửa các cỡ” với tỷ lệ 87,5%, trong khi thao tác 20 “Rửa tay thường quy” có tỷ lệ thấp nhất là 70,8%.

Biểu đồ 3.3 Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác của quy trình làm sạch (n$0)

Bảng 3.5 Tỷ lệ thực hành đúng ở từng bước của quy trình làm sạch

Thứ tự Các bước trong quy trình Số lượng

Bước 2 Cọ rửa dụng cụ 145 60,4

Bước 3 Làm sạch với nước máy 191 79,6

Bước 4 Lau khô dụng cụ 167 69,6

Bước 5 Bàn giao dụng cụ cho khoa KSNK 142 59,2

Trong 240 cơ hội quan sát 05 bước làm sạch DCTYCN tại các khoa lâm sàng, tỷ lệ thực hành đúng cao nhất là ở bước 3 “Làm sạch với nước máy” với 79,6%, trong khi bước 1 “Chuẩn bị” có tỷ lệ thấp nhất là 57,1%.

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tuân thủ thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt đạt 51,3%, trong khi tỷ lệ không tuân thủ là 48,7% (Biểu đồ 3.4).

Biểu đồ 3.4 Tỷ lệ tuân thủ thực hành chung quy trình làm sạch (n$0)

Bảng 3.6 Phân bố tỷ lệ tuân thủ thực hành chung theo khoa lâm sàng

Có tuân thủ thực hành chung

3 Ngoại thần kinh - Lồng ngực 18 7 38,9

7 Hồi sức tích cực – Chống độc 32 19 59,4

8 Phẫu thuật- Gây mê hồi sức 46 28 60,9

9 Ngoại chấn thương chỉnh hình - Bỏng 18 15 83,3

Kiểm định so sánh giữa các khoa χ 2 ,6 p = 0,017

Bảng 3.6 chỉ ra rằng Khoa Ngoại chấn thương chỉnh hình - Bỏng có tỷ lệ tuân thủ thực hành quy trình làm sạch cao nhất, đạt 83,3%.

Trong nghiên cứu, 5 trong số 9 khoa lâm sàng cho thấy tỷ lệ tuân thủ thực hành chung của điều dưỡng dưới 50%, bao gồm Khoa Phụ sản, Khoa Ngoại tổng hợp, Khoa Ngoại thần kinh – Lồng ngực, Khoa Răng-Hàm-Mặt và Khoa Ngoại tiết niệm-Nhi, với Khoa Phụ sản có tỷ lệ thấp nhất là 33,3% Sự khác biệt về tỷ lệ tuân thủ giữa các khoa này có ý nghĩa thống kê (p0,05).

3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang, năm 2021

Nghiên cứu định lượng đã chỉ ra mối liên quan đơn biến giữa một số yếu tố và thực hành làm sạch DCTYCN của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Đồng thời, nghiên cứu định tính đã phân tích sâu hơn các yếu tố ảnh hưởng đến thực hành này Các ý kiến thu được được phân loại thành hai nhóm chính: những yếu tố tạo thuận lợi và những yếu tố tạo rào cản, ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thực hành của điều dưỡng.

3.3.1 Ảnh hưởng của một số yếu tố cá nhân đến thực hành của điều dưỡng

Bảng 3.9 Mối liên quan giữa một số yếu tố và thực hành của điều dưỡng (n0) Yếu tố cá nhân

Thực hành chưa đạt Thực hành đạt Kiểm định χ 2

Không đáp ứng điều kiện kiểm định

Bảng 3.9 chỉ ra rằng tỷ lệ thực hành làm sạch DCTYCN cao hơn ở các nhóm điều dưỡng có độ tuổi trên 35 (61,1%), nam giới (54,1%), thâm niên công tác trên 15 năm (69,2%), trình độ đại học (62,5%) và đã được tập huấn về KKTK (47,9%) Tuy nhiên, sự khác biệt giữa các nhóm không đạt ý nghĩa thống kê (p>0,05).

BÀN LUẬN

Thực hành về làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các

Thực hành quy trình chung :

Nghiên cứu khảo sát 240 cơ hội trên 120 điều dưỡng tại các khoa lâm sàng có thực hiện phẫu thuật cho thấy tỷ lệ tuân thủ chung đạt 51,3%, trong khi tỷ lệ thực hành đạt của 120 điều dưỡng là 47,5% Kết quả này cao hơn nhiều so với tỷ lệ thực hiện đúng toàn bộ quy trình làm sạch chỉ 1,4% trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Cánh (2019) tại bệnh viện E So với nghiên cứu tại Trung tâm y tế huyện Phú Tân, tỉnh An Giang năm 2018 của Bùi Quang Vi, với tỷ lệ tuân thủ quy trình xử lý dụng cụ ban đầu chỉ 34,8%, sự khác biệt này phản ánh nỗ lực cải thiện đáng kể của khoa KSNK của bệnh viện từ năm 2012 đến nay trong việc nâng cao tỷ lệ thực hành đúng xử lý và làm sạch dụng cụ của điều dưỡng.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng vẫn còn nhiều bước điều dưỡng chưa được thực hiện đúng trong quy trình làm sạch dụng cụ, với tỷ lệ sai sót lên tới 48,7% Kết quả này cao hơn so với nghiên cứu của Lưu Ngọc Đoàn Hùng năm 2018 tại bệnh viện Triều An, trong đó tỷ lệ sai sót trong quy trình khử khuẩn và tiệt khuẩn ống nội soi mềm bằng tay chỉ là 18,3% sau 120 cơ hội thực hành được quan sát.

Mặc dù chưa có nhiều nghiên cứu tại Việt Nam để so sánh, nhưng các kết quả nghiên cứu hiện có đã hỗ trợ cho nhận định của Bộ Y tế về những nguyên nhân thất bại trong tiệt khuẩn dụng cụ chịu nhiệt Cụ thể, các bước làm sạch ban đầu không được thực hiện đầy đủ, như việc ngâm dụng cụ không ngập, không mở hết các khớp nối, và không chà mặt trong dụng cụ.

Kết quả nghiên cứu cho thấy có 05 bước quan trọng trong quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt tại các khoa lâm sàng, với tỷ lệ thực hành đáng chú ý.

Bước 3 “Làm sạch với nước máy” đạt tỷ lệ thực hiện đúng cao nhất (79,6%), tiếp theo là bước 4 “Lau khô dụng cụ”, trong khi bước 1 “Chuẩn bị” (57,1%) và bước 5 “Bàn giao dụng cụ cho khoa KSNK” có tỷ lệ thấp nhất Sự khác biệt về tỷ lệ thực hành đúng giữa các bước có thể do số lượng và độ khó của các thao tác: Bước 1 có 7 thao tác, là bước có nhiều thao tác nhất; Bước 5 có 5 thao tác, trong khi Bước 3 và Bước 4 chỉ có 2 thao tác Điều này cho thấy điều dưỡng dễ bỏ sót thao tác ở các bước có nhiều thao tác hơn.

Thực hành Bước 1 “Chuẩn bị”:

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thực hành đúng thao tác “Chuẩn bị bàn chảy, chổi cọ rửa, ống bơm rửa các cỡ” đạt 87,5%, trong khi nghiên cứu của Nguyễn Thị Cánh tại bệnh viện E đạt 100% Thao tác này rất quan trọng, yêu cầu điều dưỡng kiểm tra tính đầy đủ của trang thiết bị bệnh viện cho hoạt động làm sạch dụng cụ Kết quả cũng phản ánh sự quan tâm của lãnh đạo khoa và điều dưỡng trưởng trong việc giám sát, theo dõi và kịp thời bổ sung các dụng cụ làm sạch.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ quan sát về việc "chuẩn bị phương tiện chậu (thùng) đựng hóa chất có nắp đậy kín" đạt 86,3%, cao hơn so với nghiên cứu của Biniyam Sahiledengle Geberemariyam tại Addis Ababa, Ethiopia năm 2018 (83,3%), nhưng thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Cánh tại bệnh viện E năm 2019, nơi tỷ lệ này đạt 100%.

Trong nghiên cứu, tỷ lệ thực hành đúng thao tác “Chuẩn bị dung dịch enzyme” chỉ đạt 85,4%, thấp hơn so với bệnh viện E (100%) Kết quả cho thấy một số khoa lâm sàng chưa được cung cấp dung dịch enzyme để làm sạch dụng cụ Nguyên nhân là do chi phí cao của dung dịch enzyme, khiến việc trang bị cho tất cả các khoa phòng trở nên tốn kém Một số khoa, như khoa Phụ sản, có ít dụng cụ tiếp xúc với máu và dịch tiết cơ thể, chỉ sử dụng dung dịch làm sạch nhóm Amoni (Hexanios) thay vì dung dịch enzyme.

Tỷ lệ thực hành đúng thao tác "Pha dung 10ml dịch enzyme vào 1 lít nước" đạt 81,7% trong 240 quan sát, thấp hơn so với nghiên cứu của Biniyam Sahiledengle Geberemariyam tại Addis Ababa, Ethiopia năm 2018, với tỷ lệ 89,6%.

Theo khuyến cáo của nhà sản xuất, việc pha dung dịch làm sạch dụng cụ cần tuân thủ đúng liều lượng và nhiệt độ nước để đảm bảo chất lượng Pha hóa chất đúng cách là rất quan trọng; nếu nồng độ không đủ, dụng cụ sẽ không được làm sạch hoàn toàn, trong khi pha quá nồng độ có thể gây ăn mòn dụng cụ và tăng chi phí làm sạch.

Trong một nghiên cứu quan sát 240 cơ hội thực hiện quy trình làm sạch, có đến 77,1% cơ hội điều dưỡng sử dụng các phương tiện bảo vệ cá nhân (PTPHCN) như găng tay, mũ, kính và tạp dề, tỷ lệ này cao hơn nhiều so với nghiên cứu tại Addis Ababa, Ethiopia năm 2018 (22,6%) Sự gia tăng này có thể do sự chú trọng đến PTPHCN đã tăng lên sau đại dịch COVID-19 Mặc dù bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn về xử lý dụng cụ và quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK), nhưng việc sử dụng PTPHCN trong quá trình xử lý dụng cụ vẫn chưa đạt yêu cầu, với nhân viên y tế thường không sử dụng đầy đủ các loại PTPHCN như kính, tạp dề và găng tay cao su, cũng như quy trình mặc và tháo PTPHCN chưa đúng cách.

Tỷ lệ thực hiện thao tác “Vệ sinh khu vực rửa dụng cụ” chỉ đạt 83,8%, cho thấy một số khoa vẫn chưa có phòng riêng để làm sạch dụng cụ, dẫn đến việc vệ sinh khu vực này chưa được chú trọng đúng mức.

Nghiên cứu cho thấy rằng một số khoa chưa trang bị đầy đủ dung dịch vệ sinh tay, và nhân viên y tế thường không thực hiện đủ 6 bước rửa tay Điều này dẫn đến tỷ lệ thực hành đúng thao tác "Rửa tay nhanh" chỉ đạt 71,7%, cần cải thiện bằng cách cung cấp đầy đủ dung dịch rửa tay cho điều dưỡng Tuy nhiên, tỷ lệ này vẫn cao hơn so với khảo sát của Bùi Quang Vi năm 2018, khi tỷ lệ tuân thủ chỉ đạt 45,1%.

Thực hành Bước 2 “Cọ rửa dụng cụ”:

Kết quả cho thấy hơn 75% cơ hội quan sát thực hiện đầy đủ các thao tác ở bước 2, tương đồng với nghiên cứu của Bùi Quang Vi (dao động từ 50% đến 70%) Đây là một trong những bước quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của quy trình làm sạch.

Các khớp nối dụng cụ là khu vực khó tiếp cận để làm sạch, và nếu không được mở ra, nguy cơ tồn đọng chất hữu cơ như dịch máu và vi khuẩn sẽ rất cao Nhiều cơ sở vẫn chưa thực hiện bước quan trọng này, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng làm sạch dụng cụ.

“Mở dụng cụ có khớp nối” chiếm tỷ lệ thấp nhất 76,3% Tỷ lệ này trong nghiên cứu tại bệnh viện E là 100%(22)

Một số yếu tố ảnh hưởng đến thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng, bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh An Giang, năm 2021

Nghiên cứu của chúng tôi áp dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để mô tả mối liên quan đơn biến giữa các yếu tố và thực hành của điều dưỡng, đồng thời sử dụng nghiên cứu định tính để phân tích sâu hơn về ảnh hưởng của các yếu tố đến thực hành làm sạch DCTYCN Phương pháp nghiên cứu tương tự như của Lưu Đoàn Ngọc Hùng tại bệnh viện Triều An, nhưng chúng tôi phân nhóm các yếu tố ảnh hưởng khác biệt, giữ nguyên các nhóm yếu tố và phân tích chiều hướng, cách thức ảnh hưởng đến thực hành của điều dưỡng Các nhóm yếu tố được phân tích theo khung lý thuyết bao gồm: “các yếu tố cá nhân”, “các yếu tố cơ sở hạ tầng, phương tiện và trang thiết bị”, và “yếu tố về quản lý”.

Nghiên cứu định lượng cho thấy tỷ lệ thực hành cao hơn ở các nhóm điều dưỡng trên 35 tuổi, nam giới, có thâm niên công tác trên 15 năm, trình độ đại học và đã được tập huấn về KKTK Tuy nhiên, sự khác biệt này giữa các nhóm không có ý nghĩa thống kê Kết quả này tương tự với nghiên cứu của Imad Fashafsheh và cộng sự (2015) tại các bệnh viện công ở các quận vùng Tây Bắc của Palestine.

HUPH thích nhờ những thông tin thu được từ nghiên cứu định tính

Phân tích ý kiến từ PVS và TLN cho thấy các yếu tố như “tuổi”, “thâm niên công tác tại khoa”, “trình độ chuyên môn”, “được đào tạo”, “có kiến thức về KKTK” và “thái độ làm việc” đều ảnh hưởng đến thực hành của điều dưỡng theo hai hướng Đa số ý kiến cho rằng tuổi đời và thâm niên công tác cao sẽ mang lại nhiều kinh nghiệm, từ đó cải thiện thực hành nếu có trình độ chuyên môn và thái độ tích cực Nghiên cứu của Biniyam Sahiledengle Geberemariyam (2017) và các nghiên cứu khác tại Việt Nam đã chỉ ra xu hướng này Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng sự dày dạn kinh nghiệm có thể dẫn đến sự chủ quan và thói quen, gây ra việc bỏ sót thao tác, như được nêu trong nghiên cứu của Nguyễn Lan Phương và Nguyễn Đỗ Nguyên (2006).

Trong quá trình thu thập thông tin định tính qua PVS và TLN, có sự ghi nhận các luồng thông tin trái chiều về cùng một yếu tố, cho thấy tại bệnh viện vẫn tồn tại các nhóm điều dưỡng chịu ảnh hưởng của cùng một yếu tố nhưng thực hành khác nhau Kết hợp số liệu định lượng và thông tin định tính, nhóm nghiên cứu nhận định rằng tại bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang, các yếu tố cá nhân ảnh hưởng tích cực đến thực hành làm sạch DCTYCN của điều dưỡng tại khoa lâm sàng Ngoài ra, các yếu tố cơ sở hạ tầng, phương tiện và trang thiết bị cũng có tác động đến thực hành làm sạch DCTYCN của điều dưỡng.

Nghiên cứu chỉ ra rằng "điều kiện cơ sở hạ tầng" và "sự đầy đủ, sẵn có của các phương tiện, thiết bị, dụng cụ cần thiết" có ảnh hưởng lớn đến thực hành của điều dưỡng Nếu các yếu tố này được đáp ứng tốt, chúng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho công việc của nhân viên y tế.

Nếu không được đáp ứng, các yếu tố này sẽ trở thành rào cản và hạn chế Kết quả này tương đồng với nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ quy trình xử lý và KKTK dụng cụ.

Thông tin định tính về thực trạng phương tiện, thiết bị và điều kiện cơ sở hạ tầng tại một số khoa lâm sàng của Bệnh viện ĐKKV tỉnh đã được thu thập.

Bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang chưa có phòng riêng biệt để làm sạch dụng cụ, và một số khoa thiếu các dụng cụ, hóa chất cần thiết cho quy trình này Điều này dẫn đến tỷ lệ tuân thủ thực hành chỉ đạt 51,3% trong 240 cơ hội quan sát, trong khi tỷ lệ thực hành của 120 điều dưỡng chỉ đạt 47,5% Các yếu tố quản lý có thể ảnh hưởng đến thực hành làm sạch dụng cụ y tế của điều dưỡng.

Nghiên cứu định tính chỉ ra rằng một số yếu tố quản lý ảnh hưởng đến thực hành của điều dưỡng bao gồm quy định và hướng dẫn rõ ràng về quy trình làm sạch ban đầu tại các khoa lâm sàng, công tác đào tạo và giám sát thường xuyên, cùng với chế độ khen thưởng và xử phạt hợp lý Tài liệu tổng quan cũng nhấn mạnh vai trò quan trọng của "yếu tố quy trình" và "yếu tố kiểm tra, giám sát" trong việc thúc đẩy tuân thủ quy trình làm sạch và kiểm tra, khử trùng dụng cụ.

Bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang đã thực hiện tốt các yếu tố cần thiết để tăng cường sự tuân thủ trong công tác kiểm soát nhiễm khuẩn, bao gồm việc ban hành quy trình và hướng dẫn cụ thể về làm sạch dụng cụ Mặc dù đã tổ chức tập huấn định kỳ cho nhân viên y tế về quy trình KSNK, nhưng vẫn còn thiếu các lớp đào tạo tại một số khoa Ngoài ra, bệnh viện chưa áp dụng chế độ khen thưởng và xử phạt cụ thể cho nhân viên y tế trong việc tuân thủ quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu.

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy rằng cán bộ lãnh đạo và quản lý của Bệnh viện, cũng như các khoa thực hiện phẫu thuật và thủ thuật, đều nhận thức rõ về các yếu tố ảnh hưởng đến quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu.

HUPH ảnh hưởng đến việc tuân thủ quy trình, nhưng do các yếu tố khách quan và chủ quan, các biện pháp tăng cường tuân thủ của điều dưỡng chưa được thực hiện hiệu quả Nghiên cứu này nhằm thúc đẩy hành động của nhân viên y tế trong quy trình làm sạch DCTYCN, cũng như sự tham gia của lãnh đạo, quản lý Khoa và Ban Giám đốc bệnh viện Mục tiêu là triển khai và thực hiện hiệu quả các biện pháp theo hướng dẫn của Bộ Y tế, đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và nhân viên y tế tại bệnh viện.

Hạn chế của nghiên cứu

Tài liệu hiện có về tuân thủ quy trình làm sạch DCTYCN tại Việt Nam và trên thế giới còn hạn chế, dẫn đến việc tổng quan và bàn luận về vấn đề này gặp nhiều khó khăn.

Nghiên cứu chỉ được thực hiện tại 9 trong 23 khoa lâm sàng và cận lâm sàng của Bệnh viện ĐKKV tỉnh An Giang, do đó, kết quả chỉ mang tính mô tả và không thể áp dụng cho toàn bộ bệnh viện hoặc các bệnh viện tương tự.

Mặc dù số lượng điều dưỡng tham gia nghiên cứu định lượng đã đáp ứng công thức tính cỡ mẫu và bao gồm toàn bộ số điều dưỡng của 9 khoa, nhưng để đảm bảo kết quả có giá trị và tính đại diện cao hơn, cần thực hiện những nghiên cứu với quy mô lớn hơn và sự tham gia của nhiều điều dưỡng hơn.

Với nguồn lực hạn chế, nghiên cứu chỉ thực hiện phỏng vấn sâu (PVS) với 02 điều dưỡng trưởng và thảo luận nhóm (TLN) với 09 điều dưỡng trưởng từ 9 khoa lâm sàng được chọn, mà không mở rộng TLN cho nhiều điều dưỡng hơn.

Nghiên cứu có sự tham gia của 120 điều dưỡng, điều này có thể ảnh hưởng đến tính đại diện của kết quả Tuy nhiên, nhóm điều dưỡng trưởng được chọn là những nhân viên y tế vừa thực hiện công tác chuyên môn, vừa đảm nhiệm vai trò quản lý, giám sát sự tuân thủ của các điều dưỡng khác trong việc làm sạch dụng cụ Do đó, tính phong phú và tính đại diện của thông tin định tính thu được vẫn được đảm bảo ở mức độ chấp nhận được.

Nghiên cứu chỉ tập trung vào việc quan sát thực hành và đánh giá thông qua bảng kiểm đơn giản, nhằm xác định sự hiện diện của thao tác và ghi chú các sai sót dễ dàng.

HUPH quan sát thấy rằng chưa có đánh giá đầy đủ về chất lượng thao tác của điều dưỡng trong việc làm sạch dụng cụ Nghiên cứu đã sử dụng từ “đạt” thay cho “đúng” để kết luận về thực hành của điều dưỡng Quy trình làm sạch DCTYCN được chia thành 21 thao tác đơn giản, và thực tế cho thấy nếu điều dưỡng thực hiện thì thao tác thường đạt yêu cầu Tuy nhiên, vấn đề tồn tại là điều dưỡng thường bỏ sót một số thao tác.

Nghiên cứu hiện tại chưa đánh giá kết quả đầu ra của quá trình làm sạch DCTYCN tại khoa lâm sàng, mà chỉ tập trung vào chất lượng dụng cụ sau khi làm sạch trước khi bàn giao cho khoa KSNK để tiến hành KKTK Để cải thiện cho các nghiên cứu tiếp theo, cần xây dựng nội dung và thiết kế bộ công cụ chi tiết hơn, áp dụng phương pháp quan sát với thang điểm thứ bậc để đánh giá quy trình theo từng thao tác Ngoài ra, cần có câu hỏi đánh giá về kiến thức và thái độ của nhân viên y tế (NVYT) trong quá trình làm sạch dụng cụ, đồng thời mở rộng nhóm đối tượng nghiên cứu bao gồm cả NVYT của khoa KSNK, những người tham gia vào công tác vô khuẩn đối với các dụng cụ y tế sử dụng nhiều lần.

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:47

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.2. Quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt sau khi sử dụng tại khoa (1) - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Sơ đồ 1.2. Quy trình xử lý dụng cụ chịu nhiệt sau khi sử dụng tại khoa (1) (Trang 14)
Bảng 1.1. Các bước quy trình làm sạch ban đầu dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 1.1. Các bước quy trình làm sạch ban đầu dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt (Trang 16)
Sơ đồ 1.3. Khung lý thuyết - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Sơ đồ 1.3. Khung lý thuyết (Trang 24)
Bảng 3.1. Đặc điểm tuổi, giới tính, trình độ học vấn của điều dưỡng - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.1. Đặc điểm tuổi, giới tính, trình độ học vấn của điều dưỡng (Trang 35)
Bảng 3.2. Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác ở Bước 1 - Chuẩn bị - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.2. Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác ở Bước 1 - Chuẩn bị (Trang 36)
Bảng 3.4 cho thấy trong 05 thao tác ở Bước 5, nhóm 03 thao tác đầu có tỷ lệ  thực hành đúng cao trên 80%, trong đó cao nhất là “Vệ sinh khu vực xung quanh”  (84,6%) - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.4 cho thấy trong 05 thao tác ở Bước 5, nhóm 03 thao tác đầu có tỷ lệ thực hành đúng cao trên 80%, trong đó cao nhất là “Vệ sinh khu vực xung quanh” (84,6%) (Trang 38)
Bảng 3.4. Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác ở Bước 5 - Bàn giao dụng cụ - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.4. Tỷ lệ thực hành đúng từng thao tác ở Bước 5 - Bàn giao dụng cụ (Trang 38)
Bảng  3.5  cho  thấy  trong  240  cơ  hội  quan  sát  05  bước  trong  quá  trình  làm  sạch DCTYCN tại các khoa lâm sàng, tỷ lệ thực hành đúng ở bước 3 “Làm sạch với  nước máy” cao nhất (79,6%) và thấp nhất ở bước 1 “Chuẩn bị” (57,1%) - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
ng 3.5 cho thấy trong 240 cơ hội quan sát 05 bước trong quá trình làm sạch DCTYCN tại các khoa lâm sàng, tỷ lệ thực hành đúng ở bước 3 “Làm sạch với nước máy” cao nhất (79,6%) và thấp nhất ở bước 1 “Chuẩn bị” (57,1%) (Trang 39)
Bảng 3.5. Tỷ lệ thực hành đúng ở từng bước của quy trình làm sạch - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.5. Tỷ lệ thực hành đúng ở từng bước của quy trình làm sạch (Trang 39)
Bảng 3.6. Phân bố tỷ lệ tuân thủ thực hành chung theo khoa lâm sàng - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.6. Phân bố tỷ lệ tuân thủ thực hành chung theo khoa lâm sàng (Trang 40)
Bảng 3.8. Tỷ lệ thực hành đạt của điều dưỡng theo khoa - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.8. Tỷ lệ thực hành đạt của điều dưỡng theo khoa (Trang 41)
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa một số yếu tố và thực hành của điều dưỡng (n=120)  Yếu tố cá nhân - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa một số yếu tố và thực hành của điều dưỡng (n=120) Yếu tố cá nhân (Trang 42)
Hình điều dưỡng thực hiện quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
nh điều dưỡng thực hiện quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt (Trang 75)
Hình điều dưỡng thực hiện quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
nh điều dưỡng thực hiện quy trình làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt (Trang 76)
Hình phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với điều dưỡng trưởng của các khoa - Thực hành làm sạch dụng cụ thiết yếu chịu nhiệt của nhân viên y tế tại bệnh viện đa khoa khu vực tỉnh an giang năm 2021
Hình ph ỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với điều dưỡng trưởng của các khoa (Trang 77)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w