1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc tày tại huyện na hang tỉnh tuyên quang năm 2016

83 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc Tày tại huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang năm 2016
Tác giả Hà Thanh Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Văn Tường, TS. Trần Thị Tuyết Hạnh
Trường học Trường Đại học Y tế công cộng
Chuyên ngành Y tế công cộng
Thể loại Luận văn chuyên khoa
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: Tổng quan tài liệu (13)
    • 1.1. Khái niệm chăm sóc trước sinh (13)
    • 1.2. Chương trình chăm sóc trước sinh (13)
      • 1.2.1. Sơ đồ chăm sóc trước sinh (13)
      • 1.2.2. Khám thai (13)
      • 1.2.3. Tiêm phòng uốn ván (15)
    • 1.3. Thực trạng sử dụng các dịch vụ chăm sóc trước sinh (15)
      • 1.3.1. Trên thế giới (15)
      • 1.3.2. Tại Việt Nam (15)
    • 1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh (18)
    • 1.5. Hướng dẫn chi tiết chăm sóc trước sinh (21)
      • 1.5.1. Các xét nghiệm cần thiết (23)
      • 1.5.2. Tiêm phòng uốn ván (23)
      • 1.5.3. Cung cấp thuốc thiết yếu (24)
      • 1.5.4. Giáo dục sức khỏe (24)
      • 1.5.5. Ghi chép sổ và phiếu khám thai, phiếu hẹn (25)
      • 1.5.6. Kết luận - dặn dò (26)
        • 1.5.6.1. Với thai ba tháng đầu (26)
        • 1.5.6.2. Với thai ba tháng giữa (26)
        • 1.5.6.3. Với thai ba tháng cuối (26)
    • 1.6. Khung lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng dịch vụ chăm sóc trước (26)
    • 1.7. Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu (28)
  • Chương 2: Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu (32)
    • 2.1 Đối tượng nghiên cứu (0)
    • 2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu (32)
    • 2.3 Thiết kế nghiên cứu (32)
    • 2.4 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu (32)
    • 2.5 Phương pháp thu thập số liệu (34)
    • 2.6 Biến số nghiên cứu (35)
      • 2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng (35)
      • 2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính (38)
        • 2.6.2.1. Chủ đề nghiên cứu định tính đối với cán bộ y tế (38)
        • 2.6.2.2. Chủ đề nghiên cứu định tính đối với bà mẹ (38)
    • 2.7 Phương pháp phân tích số liệu (39)
    • 2.8 Hạn chế của nghiên cứu (39)
      • 2.8.1. Hạn chế của nghiên cứu (39)
      • 2.8.2. Biện pháp khắc phục (39)
    • 2.9 Đạo đức nghiên cứu (40)
  • Chương 3: Kết quả nghiên cứu (41)
    • 3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu (0)
    • 3.2. Chăm sóc trước sinh (44)
    • 3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ CSSKSS trước sinh của bà mẹ dưới 1 tuổi (47)
      • 3.3.1. Về phía các bà mẹ dân tộc Tày có con dưới 1 tuổi (47)
      • 3.3.2. Về phía TYT xã cung cấp dịch vụ CSSKSS trước sinh (50)
      • 3.3.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý CSCKSS tại tỉnh Tuyên Quang năm 2016 (54)
  • Chương 4: Bàn luận (56)
    • 1. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại tỉnh Tuyên Quang năm 2016 (56)
    • 2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại tỉnh Tuyên Quang năm 2016 (58)
  • KẾT LUẬN (64)
    • 1. Đối với Sở Y tế, Trung tâm CSSKSS, Trung tâm y tế huyện, TYT xã (65)
    • 2. Đối với chương trình nâng cao sức khỏe bà mẹ trẻ em (65)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (66)
  • PHỤ LỤC (69)

Nội dung

Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 đến tháng 10 năm 2016 tại Huyện Na Hang tỉnh Tuyên Quang.

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, sử dụng kết hợp phương pháp định lượng và định tính.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

 Cỡ mẫu nghiên cứu định lượng: Chọn mẫu các bà mẹ có con dưới 1 tuổi

Z = 1,96 (với mức ý nghĩa α = 0,05) Theo nghiên cứu của CCIPH 1/2016, ước tính tỉ lệ bà mẹ sử dụng đủ dịch vụ trước sinh là 50%, tức là p = 0,5 Độ chính xác mong muốn (mức sai số cho phép) là 0,07, và n là số người bệnh sẽ được điều tra.

Như vậy, cỡ mẫu cần là: n = 196, thêm 10% người bỏ cuộc nghiên cứu thì tổng số mẫu cho nghiên cứu định lượng là 216 người

Phương pháp chọn mẫu định lượng:

Huyện Na Hang có 13 Trạm Y tế xã, và chúng tôi đã lựa chọn 5 xã dựa trên điều kiện kinh tế, bao gồm Thanh Tương, Thị trấn, Năng Khả, Sơn Phú và Đạ Vị, với các mức độ kinh tế khá, vừa và kém.

Bước 2: Lấy danh sách các bà mẹ có con dưới 01 tuổi tại các TYT xã để tính số mẫu cần lấy tại mỗi xã:

Xã Số bà mẹ Tỷ lệ Số bà mẹ cần điều tra

+ Bước 3: Tính khoảng cách của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi:

Xã Số bà mẹ Tỷ lệ Khoảng cách

Chọn ngẫu nhiên bà mẹ có con dưới 1 tuổi đầu tiên và thứ hai của mỗi xã, với số lượng bà mẹ có con dưới 1 tuổi đầu cộng với khoảng cách mẫu của xã đó Tiến hành thu thập cho đến khi đạt đủ mẫu nghiên cứu cho mỗi xã.

 Cỡ mẫu nghiên cứu định tính:

Phỏng vấn sâu: 12 người o Nhóm đối tượng là đại diện lãnh đạo cơ sở y tế và CBYT: 08 người

- Đại diện lãnh đạo trung tâm y tế huyện: 01 người

- Đại diện lãnh đạo TYT xã/phường: 05 người

- CBYT là Bác sỹ/ Y sỹ/ Nữ hộ sinh/ Cô đỡ thôn bản: 02 người o Nhóm đối tượng là bà mẹ dự kiến gồm 04 người, bao gồm:

- 02 bà mẹ thực hành tốt chăm sóc trước sinh

- 02 bà mẹ thực hành không tốt chăm sóc trước sinh

Thảo luận nhóm: 02 cuộc gồm 17 người

- CBYT là Bác sỹ/ Y sỹ/ nữ Hộ sinh/ Cô đỡ thôn bản: 07 người

- Bà mẹ thực hành tốt và không tốt chăm sóc trước sinh: 10 người

Phương pháp thu thập số liệu

2.5.1 Thu thập số liệu định lượng

- Phỏng vấn trực tiếp tại nhà các bà mẹ được chọn đưa vào nghiên cứu

- Bộ câu hỏi đã được nghiên cứu viên điều tra thử trên 10 bà mẹ có con dưới

01 tuổi trước khi tiến hành

- Tiến hành điều tra trên quần thể nghiên cứu, sau đó có chỉnh sửa cho phù hợp

Sau khi hoàn thiện bộ câu hỏi, chúng tôi đã tổ chức tập huấn cho các điều tra viên về nội dung, phương pháp phỏng vấn và cách ghi chép vào phiếu phỏng vấn, đồng thời thực hành đóng vai để giúp các điều tra viên hiểu rõ hơn.

- Giám sát quá trình thu thập số liệu do nghiên cứu viên chính thực hiện với tỷ lệ 5%

2.5.2 Thu thập thông tin định tính

Thông tin định tính được thu thập qua phỏng vấn sâu với lãnh đạo cơ sở y tế và cán bộ y tế Các cuộc phỏng vấn diễn ra tại phòng làm việc của đối tượng nghiên cứu, kéo dài từ 45 đến 60 phút Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu cho cán bộ y tế được trình bày trong Phụ lục 2.

3) sẽ được sử dụng để PVS đại diện lãnh đạo cơ sở y tế và cán bộ y tế

Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng là bà mẹ, với các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện tại nhà của họ Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30 đến 45 phút và sẽ được ghi âm sau khi có sự đồng ý của đối tượng Hướng dẫn nội dung phỏng vấn sâu dành cho bà mẹ (Phụ lục 4) sẽ được sử dụng trong quá trình phỏng vấn.

Mỗi cuộc phỏng vấn sẽ được thực hiện bởi hai người, bao gồm một nghiên cứu viên chính và một học viên lớp chuyên khoa II Tổ chức quản lý y tế của trường Đại học Y tế công cộng Nghiên cứu viên chính sẽ tiến hành phỏng vấn, trong khi học viên hỗ trợ bằng cách ghi chép nội dung, ghi âm và nhắc nhở nghiên cứu viên về những điểm cần hỏi thêm hoặc chưa được đề cập.

Biến số nghiên cứu

2.6.1 Biến số nghiên cứu định lượng

Nhóm biến số nghiên cứu định lượng bao gồm:

STT Tên biến Định nghĩa Loại biến Phương pháp thu thập

1 Tuổi Tính theo năm dương lịch Liên tục Phỏng vấn

2 Dân tộc Là dân tộc của bà mẹ Định danh Phỏng vấn

3 Trình độ học Bậc học cao nhất của Phỏng vấn

STT Tên biến Định nghĩa Loại biến Phương pháp thu thập vấn bà mẹ tại thời điểm phỏng vấn

4 Nghề nghiệp Nghê nghiệp hiện tại của bà mẹ Danh mục Phỏng vấn

5 Tôn giáo Tôn giáo hiện tại của bà mẹ Danh mục Phỏng vấn

Trạng thái hôn nhân của bà mẹ Danh mục Phỏng vấn

7 Số con Số lượng con của bà mẹ Liên tục Phỏng vấn

Tính theo năm dương lịch Rời rạc Phỏng vấn

9 Tiền sử sản khoa Là số thai chết lưu/sảy thai Rời rạc Phỏng vấn

10 Kinh tế hộ gia đình

Là xếp loại hộ gia đình theo phân loại thu nhập của địa phương

11 Bảo hiểm y tế Có hay không BHYT Nhị phân Phỏng vấn

12 Khoảng cách từ nhà đến CSYT gần nhất

Là khoảng cách từ nhà đến cơ sở y tế gần nhất Rời rạc Phỏng vấn

13 Địa chỉ Nơi đăng kí thường trú tạm trú Ký tự Phỏng vấn

14 Số lần cần khám thai khi mang thai

Là số lần khám thai cần thiết khi mang thai Danh mục Phỏng vấn

STT Tên biến Định nghĩa Loại biến Phương pháp thu thập

15 Số lần khám thai Số lần khám thai trong lần mang thai vừa rồi Thứ bậc Phỏng vấn

16 Người khám thai Là người khám thai cho lần mang thai này Danh mục Phỏng vấn

17 Lý do không đi khám thai

Là lý do không đi khám thai Danh mục Phỏng vấn

18 Dấu hiện nguy hiểm trong khi mang thai

Là những dấu hiệu nguy hiểm trong khi mang thai

19 Biếu hiện bất thường trong khi mang thai

Là các dấu hiệu bất thường khi mang thai Danh mục Phỏng vấn

20 Xử trí khi có biểu hiện bất thường trong khi mang thai

Là cách xử trí khi có các biểu hiện bất thường khi mang thai Danh mục Phỏng vấn

21 Lý do không đi khám thai khi có dấu hiệu bất thường

Là lý do bà mẹ không đi khám thai khi có biểu hiện bất thường Danh mục Phỏng vấn

Là bà mẹ có hay không tiêm phòng uốn ván Nhị phân Phỏng vấn

23 Nguồn thông tin về CSSKSS

Là các nguồn cung cấp thông tin cho bà mẹ

24 Mong muốn của bà mẹ về thông tin CSSKSS

Là mong muốn nhận được thông tin từ các nguồn của bà mẹ

2.6.2 Chủ đề nghiên cứu định tính

2.6.2.1 Chủ đề nghiên cứu định tính đối với cán bộ y tế:

(1) Nhận xét chung về việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh

(2) Tình hình quản lý công tác CSSKSS bà mẹ trước sinh:

- Nhân lực thực hiện? Công tác phối hợp thực hiện? Sự đồng thuận, ủng hộ của các cấp lãnh đạo?

- Cơ sở hạ tầng? Trang thiết bị có đáp ứng không?

- Sự sẵn có của cơ sở y tế? Trình độ của CBYT? Thời gian chờ đợi tiếp cận dịch vụ?

- Dịch vụ chăm sóc bà mẹ trẻ em sẵn có tại huyện Na Hang

Nhân lực đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bà mẹ và trẻ em, bao gồm cán bộ và cộng tác viên có trình độ phù hợp Việc tập huấn về nội dung này là cần thiết để nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành, đặc biệt trong chăm sóc trước sinh Phương thức hoạt động hiệu quả sẽ góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho bà mẹ và trẻ em.

 Vât lực (số trạm y tế có dịch vụ, các phương tiến sẵn có để chăm sóc BMTE cụ thể trước sinh)

 Tài chính cho nội dung này…

 Các hoạt động đã làm cho nội dung này

 Công tác kiểm tra, theo dõi, giám sát các hoạt động thực hiện

- Dịch vụ CSSKSS trước sinh có thể triển khai thành công tại cộng đồng không?

Quản lý bà mẹ trước sinh gặp nhiều khó khăn, bao gồm điều kiện giao thông không thuận lợi, phương tiện đi lại hạn chế, và thời tiết bất lợi Sự hợp tác của gia đình và bà mẹ đối với dịch vụ y tế cũng đóng vai trò quan trọng Thêm vào đó, vấn đề về nhân lực, trình độ chuyên môn và đào tạo của đội ngũ y tế cần được cải thiện để nâng cao chất lượng dịch vụ.

(4) Đề xuất những giải pháp cải thiện chất lượng cung cấp dịch vụ để nâng cao công tác quản lý CSSKSS trước sinh của bà mẹ

2.6.2.2 Chủ đề nghiên cứu định tính đối với bà mẹ:

(1) Lý do lựa chọn dịch vụ: lý do chọn nơi khám thai

(2) Lý do không sử dụng dịch vụ: lý do không đi khám thai

(3) Nhu cầu sử dụng dịch vụ CSSKSS trước sinh

(4) Chất lượng dịch vụ CSSKSS có đảm bảo không?

(5) Khó khăn, thuận lợi trong quyết định lựa chọn sử dụng dịch vụ

(6) Khuyến nghị đối với công tác quản lý, cung cấp dịch vụ CSSKSS.

Phương pháp phân tích số liệu

 Phương pháp phân tích các số liệu định lượng:

- Số liệu định lượng sẽ được nhập bằng phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng SPSS 16.0

- Phần thống kê mô tả: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả phù hợp cho các biến số và đáp ứng mục tiêu nghiên cứu

 Phương pháp phân tích số liệu định tính:

Băng ghi âm các cuộc phỏng vấn sâu (PVS) sẽ được chuyển đổi thành văn bản Word Nghiên cứu viên sẽ đọc và mã hóa thông tin từ các cuộc phỏng vấn Phương pháp phân tích theo chủ đề sẽ được áp dụng để làm rõ và bổ sung cho kết quả định lượng Một số thông tin từ đối tượng nghiên cứu sẽ được trích dẫn để minh họa cho kết quả nghiên cứu.

Hạn chế của nghiên cứu

2.8.1 Hạn chế của nghiên cứu

- Nghiên cứu có những hạn chế của một nghiên cứu cắt ngang nên chỉ đánh giá các yếu tố liên quan tại một thời điểm nghiên cứu

Đề tài này chỉ tập trung vào việc đánh giá thực trạng sử dụng dịch vụ của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi trước sinh tại huyện, do đó có thể không phản ánh đầy đủ tình hình của tỉnh hay toàn quốc.

- Sai số nhớ lại, do đối tượng nghiên cứu quên

- Sai số phỏng vấn do kỹ năng phỏng vấn của điều tra viên

- Sai số do nhập liệu

- Tập huấn kỹ cho các điều tra viên

- Tiến hành thử nghiệm trên 10 đối tượng và chỉnh sửa lại bộ công cụ trước khi tiến hành phát vấn thu thấp số liệu chính thức

- Bộ số liệu được rà soát và làm sạch cẩn thận để loại bỏ một cách tối đa những sai sót và thông tin không nhất quán

- Khai thác tối đa các thông tin sẵn có cả định tính và định lượng nhằm phục vụ cho mục tiêu nghiên cứu

Địa điểm phỏng vấn sâu được chọn lựa cẩn thận để đảm bảo sự riêng tư, giúp các đối tượng nghiên cứu định tính không bị hạn chế và ảnh hưởng tâm lý Điều tra viên sẽ có mặt thường xuyên để hỗ trợ và giám sát quá trình phỏng vấn.

Đạo đức nghiên cứu

- Nghiên cứu đã được Hội đồng Đạo đức - Trường Đại học Y tế công cộng thông qua

- Tất cả các thông tin của đối tượng nghiên cứu được đảm bảo giữ bí mật và chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu

Bà mẹ cần ký vào phiếu chấp nhận tham gia trước khi phỏng vấn Trong suốt quá trình phỏng vấn, bà mẹ có quyền từ chối trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà mình không muốn.

Kết quả nghiên cứu

Chăm sóc trước sinh

Bảng 3 3 Kiến thức về chăm

Nội dung Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Kiến thức về số lần cần khám thai

Số lần khám thai trong lần mang thai này

Người thực hiện khám thai

Y tá/nữ hộ sinh/điều dưỡng 104 48,1

Lý do không đi khám thai Đường xa 11 5,1 Đi lại khó khăn 5 2,3

Dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai

Ra máu âm đạo 172 79,6 Đau bụng 176 81,5

Nghiên cứu cho thấy 55,1% đối tượng nhận thức rằng cần khám thai 3 lần, trong khi 35,2% cho rằng cần khám thai nhiều hơn 3 lần và 9,7% cho rằng dưới 3 lần Thực tế, 39,8% bà mẹ khám thai từ 4 lần trở lên, 32,4% khám dưới 3 lần, và chỉ 27,8% khám đúng 3 lần Đối tượng thực hiện khám thai chủ yếu là bác sĩ (80,1%), tiếp theo là y tá/nữ hộ sinh/điều dưỡng (48,1%), và y tế thôn bản (4,6%).

Một nghiên cứu cho thấy 5,2% phụ nữ không đi khám thai do khoảng cách xa và 2,3% gặp khó khăn trong việc di chuyển Qua thảo luận nhóm với các bà mẹ, nhiều người chia sẻ rằng thời điểm mang thai, họ phải đối mặt với những khó khăn về giao thông, như thiếu đường bê tông và phương tiện đi lại Họ thường gặp khó khăn khi cần đi khám, như không có xe hoặc đường đi khó khăn, thậm chí phải đi bộ một quãng đường dài, mất cả buổi mới đến được trạm xá.

Nghiên cứu cho thấy rằng kiến thức của các bà mẹ về các dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai rất quan trọng Cụ thể, 81,5% bà mẹ nhận biết đau bụng là dấu hiệu nguy hiểm, trong khi 79,65% cho biết ra máu âm đạo cũng là một triệu chứng cần lưu ý Ngoài ra, 17,6% bà mẹ nhận diện các dấu hiệu khác, 9,7% cho biết co giật, 7,4% nhận thấy phù mặt, tay, chân, và 5,1% bà mẹ cảnh giác với tình trạng thở nhanh, khó thở.

Tiêm phòng uốn ván của các bà mẹ thì có 90,3% các bà mẹ thực hiện tiêm phòng uốn ván và có 9,7% bà mẹ không tiêm phòng uốn ván

Bảng 3 4 Dấu hiệu bất thường và cách xử trí của các ĐTNC

Nội dung Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Các dấu hiệu bất thường trong lần mang thai này

Ra máu âm đạo 28 12,9 Đau bụng 47 21,8

Xử trí khi có dấu hiệu bất thường

Lý do không đi khám thai

Không có/không kịp thời gian 0 0 Đi lại khó khăn 0 0

Trong lần mang thai này, 21,8% bà mẹ gặp phải dấu hiệu bất thường như đau bụng, 12,9% bị ra máu âm đạo, và 2,3% bị ngất Tuy nhiên, 59,3% các bà mẹ không có dấu hiệu bất thường nào trong quá trình mang thai.

Khi gặp các dấu hiệu bất thường, 52,8% các bà mẹ chọn đến bệnh viện để khám, trong khi 35,2% đến trạm y tế và 12,0% đến phòng khám tư Tất cả các bà mẹ đều đi khám thai khi có dấu hiệu bất thường.

Bảng 3 5 Thông tin và nguồn thông tin về CSSKSS

Nội dung Tần số (n) Tỉ lệ (%)

Nguồn thông tin về CSSKSS

Mong muốn nhận được thông tin từ

Nguồn thông tin của các bà mẹ về CSSKSS chủ yếu từ TYT xã chiếm 57,9%, từ CBYT chiếm 19,0%, từ cô đỡ thôn bản chiếm 15,3% và từ loa chiếm 12,5%

100% các bà mẹ đều mong muốn nhận được thông tin về CSSKSS, chủ yếu từ 65,7%, tiếp theo là từ CBYT chiếm 35,6% và mong muốn nhận được thông tin ít

Một bà mẹ chia sẻ rằng, tại HUPH, thông tin từ Trung tâm Y tế huyện chủ yếu được truyền đạt qua loa của thôn, và chỉ được thông báo trong các cuộc họp Người dân mong muốn có nhiều thông tin hơn được tuyên truyền qua loa, vì họ không có thời gian để xem TV do bận rộn với công việc đồng áng Họ thường vừa làm việc vừa nghe thông tin từ loa đài, vì thời gian ở nhà chủ yếu dành cho việc nấu ăn và chăm sóc gia đình.

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ CSSKSS trước sinh của bà mẹ dưới 1 tuổi

3.3.1 Về phía các bà mẹ dân tộc Tày có con dưới 1 tuổi

Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy rằng tại Huyện Na Hang, các bà mẹ mang thai đều tham gia khám định kỳ và tiêm phòng uốn ván Trước đây, việc tiêm phòng được khuyến khích càng sớm càng tốt, nhưng hiện nay, các bà mẹ cần tiêm mũi đầu tiên khi thai được 6 tháng rưỡi đến 7 tháng.

Nếu bạn 17 tuổi và chưa được tiêm, hãy tiêm 2 mũi trong lần mang thai này Ngoài ra, cần được tư vấn về chế độ sinh hoạt phù hợp với thai kỳ và số lần khám thai cần thiết trong suốt thời gian mang thai.

Trong thời gian mang thai, phụ nữ cần tránh làm việc nặng và không nên phun thuốc trừ sâu Họ cũng nên giữ tinh thần thoải mái, không lo lắng quá nhiều Đặc biệt, việc khám thai ít nhất 3 lần trong suốt thai kỳ là rất quan trọng.

Các tai biến sản khoa giảm và nhu cầu CSSKSS ngày càng tăng

Công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) trước sinh cho các bà mẹ hiện nay đang nhận được sự quan tâm ngày càng cao từ các bà mẹ có con, theo đánh giá của các cán bộ y tế tại địa bàn Số lượng tai biến sản khoa rất ít, và nhu cầu về dịch vụ CSSKSS cũng gia tăng, đặc biệt là trong các trường hợp mang bệnh lý tim mạch Trong suốt 20 năm làm việc, công tác tư vấn đã đạt được kết quả tốt, không ghi nhận ca tai biến sản khoa nào, và các trường hợp tiền sản giật hay phù đều được giới thiệu về tuyến huyện Hiện nay, nhiều bà mẹ đã chọn đến bệnh viện tuyến tỉnh thay vì quay về huyện.

Công tác tiêm phòng uốn ván đã mang lại hiệu quả thiết thực cho các bà mẹ trong khu vực, với việc không còn trường hợp nào bị uốn ván Trước đây, có những ca uốn ván xảy ra, nhưng hiện tại đã không còn thấy nữa Những bà mẹ sinh con đều được tiêm phòng, và điều này thể hiện sự quan tâm của nhà nước khi cung cấp vaccine miễn phí, góp phần nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

Nhiều xã gần bệnh viện huyện đã chọn cách đến bệnh viện trực tiếp để đảm bảo an toàn cho việc sinh đẻ Sự gần gũi với bệnh viện khiến các cặp vợ chồng ngày càng quan tâm đến việc sinh con, thường chỉ sinh 1-2 con Họ ưu tiên lựa chọn nơi sinh an toàn, như bệnh viện, và nếu không thể sinh thường, họ sẽ được chỉ định mổ.

Do đặc điểm vùng núi và trình độ dân trí thấp, nhiều bà mẹ, đặc biệt là người dân tộc Mông, thiếu kiến thức về sinh sản và gặp khó khăn trong việc giao tiếp bằng tiếng dân tộc Một số bà mẹ có kiến thức tốt, nhưng vẫn còn nhiều người không hiểu biết gì về vấn đề này.

Do điều kiện kinh tế khó khăn và phương tiện đi lại hạn chế, người dân ở khu vực này gặp nhiều trở ngại trong việc tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) Chẳng hạn, người dân tộc Mông ở thôn bản Thốc phải đối mặt với chi phí cao khi di chuyển đến huyện để siêu âm, dẫn đến việc họ ngần ngại không muốn đi Thêm vào đó, điều kiện thời tiết cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng tiếp cận dịch vụ của các bà mẹ Một trường hợp gần đây cho thấy, một sản phụ suýt sinh con bên bờ sông do không thể qua sông khi thủy điện xả nước Thôn Nà Mu có điều kiện gần hơn, nhưng thôn Nà Cọi lại rất khó khăn trong việc di chuyển, đặc biệt là khi trời mưa, do đường chưa được bê tông hóa hoàn toàn.

Hiện nay, việc mời Thầy Mo cúng khi ốm đau vẫn tồn tại, nhưng đã giảm nhiều so với trước đây Mặc dù vẫn còn, nhưng thường chỉ xảy ra sau khi người bệnh đã đi bệnh viện hoặc cơ sở y tế và được chẩn đoán là mắc bệnh nặng, không thể khỏi Trong những trường hợp này, việc cúng bái được thực hiện nhằm động viên và tạo niềm tin cho người ốm Tóm lại, tình trạng này vẫn có nhưng ít hơn.

Vấn đề sinh đẻ tại nhà của các bà mẹ có con dưới 01 tuổi

Hiện nay, tình trạng đẻ ở nhà đã giảm đáng kể nhờ sự thay đổi trong phong tục tập quán Trước đây, nhiều bà mẹ do ảnh hưởng của phong tục lạc hậu đã không đến cơ sở y tế để sinh con, dẫn đến nhiều bệnh tật và hậu quả nghiêm trọng Tuy nhiên, với sự quan tâm của các cấp ngành và sự tuyên truyền tích cực từ y tế thôn bản, nhận thức của người dân đã được cải thiện Hiện tại, chỉ còn một số ít trường hợp sinh con tại nhà, chủ yếu là do không kịp đến bệnh viện.

Hai năm trước, tại thôn Nà Khá, xã Năng Khả, đã xảy ra một trường hợp sinh tại nhà do quá trình sinh diễn ra nhanh chóng, không kịp đến trạm y tế xã Tuy nhiên, sản phụ đã nhận được sự hỗ trợ kịp thời từ y tá thôn bản.

Bác sĩ khuyên rằng chưa nên sinh con ngay, nên về nhà tắm giặt sạch sẽ để chuẩn bị cho ngày mai Tuy nhiên, vào khoảng 1 giờ đêm, khi thấy đau bụng, người mẹ đã gọi chồng nhưng anh không có xe Sau đó, họ đã nhờ bố mẹ đẻ đưa đi, nhưng do chưa dậy kịp, người mẹ đã sinh ngay ngoài cổng Một bà hàng xóm đã giúp đỡ và sau đó gọi y tá thôn bản đến, nhưng y tá phải can thiệp để lấy rau ra Tại xã Đà Vị, nơi xa nhất huyện Na Hang, vẫn còn tình trạng sinh con tại nhà, đặc biệt là trong cộng đồng người Mông Năm nay, trong số 40 ca sinh, có 2-3 ca sinh tại nhà do ngại đi trạm y tế và các bà mẹ thường cảm thấy thoải mái hơn khi có người quen hỗ trợ Một trường hợp gần đây đã dự định xuống trạm nhưng không thể đi vì trời mưa.

CBYT đã tư vấn sức khỏe và tuyên truyền về tác hại của việc đẻ ở nhà, khuyến khích các bà mẹ đến TYT để sinh Mặc dù có tư vấn, nhiều bà mẹ vẫn hỏi về việc sinh tại nhà và lo lắng khi gặp phải tình huống khẩn cấp như chảy máu Họ được khuyến khích đến TYT để được hỗ trợ mà không phải trả phí Đặc biệt, các bà mẹ người Mông thường không biết cách vệ sinh khi sinh, vì vậy cần hướng dẫn họ sử dụng bỉm và các vật dụng cần thiết Trước đây, họ thường sinh mà không có sự chuẩn bị, không sử dụng băng vệ sinh hay quần lót, dẫn đến việc cần hỗ trợ mua sắm các vật dụng này.

3.3.2 Về phía TYT xã cung cấp dịch vụ CSSKSS trước sinh

Dịch vụ chăm sóc sức khỏe trước sinh cho các bà mẹ tại Trạm Y tế xã Thanh Tương đã được triển khai một cách bài bản và thường xuyên Đại diện trạm cho biết, các hoạt động như khám thai, quản lý thai nghén, tiêm phòng uốn ván và tư vấn chế độ dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai vẫn diễn ra bình thường và được tuyên truyền rộng rãi.

Tại các Trạm Y tế xã, có đội ngũ cán bộ được đào tạo chuyên ngành Sản - Nhi, bao gồm Y sĩ Sản Nhi và điều dưỡng, đảm nhiệm công tác Kế hoạch hóa gia đình Những cán bộ này sẽ quản lý và hỗ trợ các bà mẹ mang thai, nhờ vào chuyên môn của họ, điều này tạo thuận lợi cho việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản trước sinh.

Bàn luận

Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại tỉnh Tuyên Quang năm 2016

Nghiên cứu cho thấy 90,3% các bà mẹ tin rằng cần khám thai từ 3 lần trở lên, với 55,1% cho rằng 3 lần là đủ Điều này cho thấy sự hiểu biết của các bà mẹ về tầm quan trọng của việc khám thai, giúp họ chủ động hơn trong việc chăm sóc sức khỏe sinh sản và tiếp cận dịch vụ làm mẹ an toàn.

Trong nghiên cứu này, 67,6% các bà mẹ đã đi khám thai từ 3 lần trở lên, trong đó 39,8% khám từ 3 lần và 32,4% khám dưới 3 lần Tỷ lệ này thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà và cộng sự (2004) tại xã Hợp Thành, Phủ Lý, Ôn Lương tỉnh Thái Nguyên, nơi có 88,6% các bà mẹ thực hiện khám thai.

Tỷ lệ các bà mẹ được khám thai ít nhất 3 lần trong suốt thai kỳ tại huyện Na Hang là 90,5%, thấp hơn so với nghiên cứu của Nguyễn Hạnh Nguyên (2014) Sự khác biệt này có thể do yếu tố địa lý, thiết kế nghiên cứu và điều kiện đi lại khó khăn tại huyện miền núi Na Hang, nơi có ít điểm cung cấp dịch vụ y tế.

Trong nghiên cứu này, 80,1% bà mẹ được khám thai bởi Bác sĩ, 48,1% bởi Y tá/ nữ Hộ sinh/ Điều dưỡng, và 4,6% bởi Y tế thôn bản Điều này cho thấy sự tiếp cận của các bà mẹ với nhân viên y tế, đặc biệt là Bác sĩ, khi khám thai Tỷ lệ này tương đồng với báo cáo của Tổng cục thống kê (2011) và Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2015 của Bộ Y tế, trong đó Bác sĩ là người khám thai chính, chiếm tới 80,6%.

Nhiều bà mẹ không đi khám thai do khoảng cách xa (5,1%) và khó khăn trong việc di chuyển (2,3%) Tại một số thôn xa, việc đi lại trở nên khó khăn hơn khi không thể sử dụng ô tô, buộc họ phải di chuyển bằng xe máy, thậm chí phải qua sông hoặc đi đò.

Nghiên cứu về kiến thức của các bà mẹ về các dấu hiệu nguy hiểm khi mang thai cho thấy phần lớn các bà mẹ đều nhận thức được một số dấu hiệu nguy hiểm.

HUPH hiểm khi mang thai là điều mà mọi bà mẹ đều biết, cho thấy họ đã tiếp cận thông tin về CSSKSS Các dấu hiệu phổ biến mà các bà mẹ nhận biết bao gồm đau bụng (81,5%) và ra máu âm đạo (79,6%) Tuy nhiên, một số dấu hiệu nguy hiểm khác như phù (7,4%), thở nhanh, khó thở (5,1%) và co giật (9,7%) lại ít được biết đến Điều này có thể do chúng ít gặp và không thường xuyên xảy ra Do đó, cần tăng cường truyền thông về CSSKSS để nâng cao nhận thức cho các bà mẹ.

Tỷ lệ tiêm phòng uốn ván ở huyện Na Hang đạt 90,3%, trong đó 90,3% các bà mẹ tiêm đủ 2 mũi, chỉ 9,7% không tiêm hoặc tiêm 1 mũi So với nghiên cứu của Đinh Thanh Huề và Dương Thu Hương (2002) với tỷ lệ 88,3% tiêm đủ 2 liều, và nghiên cứu tại tỉnh Bo Lị Khăm Xay Lào chỉ đạt 52,0%, tỷ lệ này cho thấy sự cải thiện đáng kể trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản Nguyên nhân có thể do việc tiêm phòng uốn ván cho các bà mẹ mang thai hiện nay hoàn toàn miễn phí tại các trạm y tế, dẫn đến việc sử dụng dịch vụ cao hơn.

Trong nghiên cứu về các dấu hiệu bất thường trong thai kỳ, 21,8% bà mẹ gặp phải đau bụng, 12,9% ra máu âm đạo và 2,3% bất tỉnh/ngất Những triệu chứng này thường gặp và dễ xảy ra khi mang thai Đáng chú ý, 52,8% bà mẹ đã đến bệnh viện và 35,2% tới trạm y tế khi có dấu hiệu bất thường, cho thấy sự quan tâm đến sức khỏe của họ Không có trường hợp nào tìm đến thầy cúng hoặc bỏ qua việc khám khi có triệu chứng lạ, điều này phản ánh nhận thức ngày càng cao của các bà mẹ về vấn đề sinh sản.

Nguồn thông tin về chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) của các bà mẹ tại trạm y tế xã chiếm tỷ lệ cao nhất với 57,9%, tiếp theo là từ cán bộ y tế (CBYT) với 19,0% và từ cô đỡ thôn bản với 15,3% Những kênh truyền thông này không chỉ cung cấp thông tin đầy đủ mà còn có trình độ chuyên môn cao, gần gũi với nơi cư trú của người bệnh, tạo dựng niềm tin vững chắc cho các bà mẹ.

Tất cả các bà mẹ đều mong muốn được cung cấp thông tin về sức khỏe sinh sản, với 65,7% mong muốn nhận thông tin từ trạm y tế xã và 35,7% từ cán bộ y tế Điều này cho thấy nhu cầu cung cấp thông tin uy tín và chất lượng là rất cần thiết trong thời kỳ mang thai Ngoài ra, 28,2% các bà mẹ cũng muốn nhận thông tin qua loa truyền thông, vì họ chủ yếu làm ruộng và không có nhiều thời gian để xem ti vi, giúp họ tiếp cận thông tin một cách thuận tiện hơn.

Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại tỉnh Tuyên Quang năm 2016

Nghiên cứu trên 216 bà mẹ có con dưới 1 tuổi tại huyện Na Hang cho thấy 57,4% trong độ tuổi từ 25 – 34, trong khi đó, tỷ lệ bà mẹ trên 35 tuổi chỉ chiếm 13,9% Điều này cho thấy nhu cầu chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) có mối liên hệ với độ tuổi, với phụ nữ lớn tuổi có khả năng sử dụng dịch vụ CSSKSS trước sinh cao hơn so với nhóm phụ nữ trẻ.

Phụ nữ trong độ tuổi 24 – 28 thường có khả năng sử dụng dịch vụ y tế cao hơn nhờ vào kinh nghiệm và hiểu biết về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Họ cũng thường có quyền ra quyết định trong gia đình lớn hơn so với phụ nữ trẻ, đặc biệt là thanh thiếu niên, điều này góp phần nâng cao khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế.

Trình độ học vấn của phụ nữ chủ yếu là trung học phổ thông trở lên, chiếm 87,9%, tương đồng với nhiều nghiên cứu khác Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng trình độ học vấn ảnh hưởng đến việc chăm sóc sức khỏe sinh sản; phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn có xu hướng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh nhiều hơn Điều này dễ hiểu, vì những bà mẹ có trình độ học vấn cao thường có nhận thức và kiến thức về sinh sản tốt hơn, dẫn đến việc họ tìm kiếm các dịch vụ chăm sóc trước sinh chất lượng hơn so với những bà mẹ có trình độ học vấn thấp.

Tại huyện Na Hang, 46,8% các bà mẹ làm nghề nông, trong khi chỉ 16,2% làm việc trong các ngành nghề nhà nước Nghiên cứu cho thấy phụ nữ tham gia vào công việc nông nghiệp có khả năng sử dụng dịch vụ thấp hơn Đặc điểm địa lý chủ yếu là đồi núi khiến cư dân nơi đây phụ thuộc vào nghề làm ruộng để sinh sống.

Trong lĩnh vực kinh tế hộ gia đình, 72,7% các bà mẹ có kinh tế từ trung bình trở lên, trong khi đó, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo chỉ chiếm 27,3% Nghiên cứu cho thấy phụ nữ từ các hộ gia đình nghèo thường gặp khó khăn trong việc chi trả cho các dịch vụ như đi lại, thuốc men, và các chi phí khác, điều này cản trở họ tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản an toàn.

Một nghiên cứu cho thấy phụ nữ trong hộ gia đình có thu nhập trung bình và trên trung bình có khả năng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh cao gấp 2,3 lần và khả năng sử dụng đầy đủ cả 3 dịch vụ cao gấp 2,1 lần so với phụ nữ có điều kiện kinh tế nghèo hoặc cận nghèo (p

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Y tế (2001), Chăm sóc sức khỏe sinh sản, Tài liệu dùng cho cán bộ y tế cơ sở, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăm sóc sức khỏe sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2001
2. Bộ Y tế (2009), Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2009
3. Bộ Y tế (2010), Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2015, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011-2015
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2010
4. Bộ Y tế (2012), Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, Nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, Nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Hà nội
Năm: 2012
5. Trung tâm CSSKSS (2015), Báo cáo tổng kết năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2015, phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Trung tâm CSSKSS
Năm: 2015
6. Đinh Thanh Huề và Dương Thu Hương (2002), "Tìm hiểu sự hiểu biết và thực hành chăm sóc trước sinh của phụ nữ mang thai xã Hương Long, Thành phố Huế", Tạp chí nghiên cứu Y học. 26(6), tr. 141-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự hiểu biết và thực hành chăm sóc trước sinh của phụ nữ mang thai xã Hương Long, Thành phố Huế
Tác giả: Đinh Thanh Huề, Dương Thu Hương
Nhà XB: Tạp chí nghiên cứu Y học
Năm: 2002
7. Nguyễn Hải Hà Đỗ Thị Phương, Ngô Đức Kỷ (2004), "Đánh giá kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi ở 3 xã huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên", Tạp chí Y học thực hành(10), tr. 50-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kiến thức và thực hành về chăm sóc sức khỏe sinh sản của các bà mẹ có con dưới 1 tuổi ở 3 xã huyện Phú Lương tỉnh Thái Nguyên
Tác giả: Nguyễn Hải Hà Đỗ Thị Phương, Ngô Đức Kỷ
Nhà XB: Tạp chí Y học thực hành
Năm: 2004
8. Trang thông tin điện tử Huyện Na Hang (2015), Diện tích và dân số, truy cập ngày 11-4-2016, tại trang web http://nahang.tuyenquang.gov.vn/Gioi-thieu/gioi-thieu-chung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diện tích và dân số
Tác giả: Trang thông tin điện tử Huyện Na Hang
Năm: 2015
9. Hoàng Thanh Cần (2009), Kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước sinh của bà mẹ mang thai tại huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2008- 2009, Trung tâm Y tế Nam Đông, Thừa Thiên Huế, truy cập ngày 11-04-2016, tại trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc trước sinh của bà mẹ mang thai tại huyện Nam Đông tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2008- 2009
Tác giả: Hoàng Thanh Cần
Nhà XB: Trung tâm Y tế Nam Đông
Năm: 2009

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.2.1. Sơ đồ chăm sóc trước sinh - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc tày tại huyện na hang tỉnh tuyên quang năm 2016
1.2.1. Sơ đồ chăm sóc trước sinh (Trang 13)
Bảng 1.2. Số lần khám thai và chất lượng bảo vệ thai - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc tày tại huyện na hang tỉnh tuyên quang năm 2016
Bảng 1.2. Số lần khám thai và chất lượng bảo vệ thai (Trang 14)
Bảng 3. 1. Đặc điểm nhân khẩu học - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc tày tại huyện na hang tỉnh tuyên quang năm 2016
Bảng 3. 1. Đặc điểm nhân khẩu học (Trang 41)
Bảng 3. 2. Các đặc điểm về mang thai, sinh sản của đối tƣợng nghiên cứu - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc tày tại huyện na hang tỉnh tuyên quang năm 2016
Bảng 3. 2. Các đặc điểm về mang thai, sinh sản của đối tƣợng nghiên cứu (Trang 43)
Bảng 3. 3. Kiến thức về chăm - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc tày tại huyện na hang tỉnh tuyên quang năm 2016
Bảng 3. 3. Kiến thức về chăm (Trang 44)
Bảng 3. 5. Thông tin và nguồn thông tin về CSSKSS - Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc trước sinh của các bà mẹ dân tộc tày tại huyện na hang tỉnh tuyên quang năm 2016
Bảng 3. 5. Thông tin và nguồn thông tin về CSSKSS (Trang 46)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w