Các khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
1.1.1 Khái niệm về tâm lý
Khái niệm TL không phải đơn giản Thực tế từ xa xưa đến nay con người đã tốn rất nhiều công sức để tìm hiểu khái niệm này
TL là tổng hợp các hiện tượng tinh thần phát sinh trong tâm trí con người, có vai trò gắn kết và điều phối mọi hành vi cũng như hoạt động của con người.
Tâm lý của con người bao gồm 3 mặt:
Nhận thức là quá trình tâm lý giúp con người nhận biết sự vật, hiện tượng và các mối quan hệ giữa chúng Nó được chia thành hai nhóm chính: nhận thức cảm tính, bao gồm cảm giác và tri giác, và nhận thức lý tính, chủ yếu là tư duy.
Đời sống tình cảm là lĩnh vực thể hiện mối quan hệ của chủ thể đối với các sự vật hiện tượng, nhưng chỉ liên quan đến những sự vật hiện tượng có liên quan đến sự thỏa mãn nhu cầu của chủ thể Đây là lĩnh vực mang tính tổng thể, bao gồm nhiều thành tố khác nhau, từ màu sắc cảm xúc của cảm giác đến tình cảm Trong lĩnh vực này, sự tách biệt giữa quá trình, trạng thái và thuộc tính chỉ mang tính tương đối Quan hệ của chủ thể với các sự vật hiện tượng trong đời sống tình cảm là quan hệ đa chiều, phong phú và phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa chủ thể và thế giới khách quan.
Ý chí là khía cạnh năng động của ý thức, thể hiện khả năng thực hiện các hành động có mục đích và yêu cầu nỗ lực vượt qua khó khăn Đây là hình thức tâm lý điều chỉnh hành vi tích cực nhất ở con người, giúp chuyển đổi từ nhận thức và cảm xúc sang hành động thực tiễn Ý chí luôn gắn liền với hành động, do đó lĩnh vực này còn được gọi là hành động ý chí.
1.1.2 Khái niệm về nhu cầu và đáp ứng nhu cầu
Trong ngôn ngữ hàng ngày, "nhu cầu" thường chỉ các thuộc tính hoặc kết quả mong muốn cụ thể Trẻ em có thể nói rằng chúng cần một món đồ chơi, trong khi thanh thiếu niên có thể cần một chiếc điện thoại thông minh để kết nối với bạn bè Thuật ngữ này thể hiện sự hiện diện của mong muốn hoặc sở thích, thường xuất phát từ sự thiếu hụt của mỗi cá nhân Những mong muốn và sở thích này khác nhau giữa các cá nhân.
Theo Ryan và Deci (2017), nhu cầu tự lực (TL) được định nghĩa một cách cụ thể và hẹp hơn như một chất dinh dưỡng cần thiết cho sự điều chỉnh, tính toàn vẹn và tăng trưởng của mỗi cá nhân Một mong muốn chỉ có thể được gán cho tình trạng cụ thể của nhu cầu TL cơ bản khi sự thỏa mãn của nó không chỉ có lợi mà còn cần thiết cho hạnh phúc cá nhân, trong khi sự thất vọng làm tăng nguy cơ thụ động và kém cỏi Không phải tất cả các động cơ hay mong muốn đều phù hợp với định nghĩa này; ví dụ, việc mua sắm vật chất không nhất thiết làm tăng phúc lợi, mặc dù có thể có mong muốn mạnh mẽ Deci và Ryan xác định các nhu cầu về quyền tự chủ, năng lực và sự liên quan là những nhu cầu TL cơ bản.
Sự thỏa mãn các nhu cầu TL cơ bản là yếu tố quan trọng dẫn đến sự phát triển và khác biệt trong tính cách của mỗi cá nhân Những nhu cầu này đóng vai trò như nguồn lực thiết yếu, giúp cá nhân tự tổ chức, điều chỉnh và phát triển Nghiên cứu về nhu cầu TL không chỉ có ý nghĩa lớn đối với sự phát triển và sức khỏe của cá nhân mà còn ảnh hưởng đến cộng đồng Hơn nữa, nó còn cung cấp nền tảng khoa học quan trọng cho việc hoạch định các chính sách xã hội.
Các nội dung liên quan đến mục tiêu nghiên cứu
Theo định nghĩa của Hội Chữ thập đỏ - Trăng Lưỡi liềm đỏ và Liên Hợp Quốc, hỗ trợ nhân đạo được mô tả là bất kỳ hoạt động nào nhằm cung cấp sự giúp đỡ cho những người cần thiết trong các tình huống khẩn cấp.
Để cải thiện hoạt động sống của những người đang trải qua mức độ căng thẳng bất thường, cần áp dụng 6 biện pháp hiệu quả Hỗ trợ tâm lý sớm và đầy đủ không chỉ ngăn chặn sự đau khổ mà còn giúp ngăn chặn những vấn đề nghiêm trọng hơn có thể phát sinh Điều này sẽ giúp những người bị ảnh hưởng đối phó tốt hơn và nhanh chóng trở lại cuộc sống bình thường Mục tiêu của hỗ trợ tâm lý là nâng cao chất lượng cuộc sống cho những người dễ tổn thương, bằng cách huy động sức mạnh của con người, giúp họ vượt qua cảm giác mất mát và tái thiết cuộc sống của mình.
Hỗ trợ tâm lý không chỉ có tác dụng phòng ngừa mà còn chữa trị các vấn đề sức khỏe tâm thần Nó giúp giảm nguy cơ phát triển các vấn đề này và hỗ trợ cá nhân, cộng đồng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống Hai khía cạnh này của hỗ trợ tâm lý đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khả năng phục hồi cho người bệnh khi đối mặt với khủng hoảng và hoàn cảnh khó khăn.
Theo Hội Chữ thập đỏ - Trăng Lưỡi liềm đỏ, những người hỗ trợ TL cần có kỹ năng tốt, được đào tạo bài bản, và phải thể hiện sự quan tâm cũng như sẵn sàng giúp đỡ những người cần hỗ trợ.
Theo Trần Thị Minh Đức trong Giáo trình tham vấn TL năm 2011, "Hỗ trợ TL là hoạt động giúp đỡ những người gặp khó khăn TL để họ đạt được mong muốn trong cuộc sống." Hoạt động này bao gồm cả sự hỗ trợ từ những người không chuyên và các chuyên gia như nhà TL học, nhà tham vấn, nhân viên công tác xã hội, bác sĩ tâm thần và nhà giáo dục.
Theo Trần Thùy Dương và cộng sự, “hỗ trợ TL” trong bệnh viện là quá trình tương tác giữa nhà tâm lý, nhân viên công tác xã hội và bệnh nhân, nhằm khơi dậy tiềm năng và nội lực của bản thân bệnh nhân để họ có thể giải quyết các vấn đề của mình.
TL của mình, nâng cao hiệu quả của quá trình điều trị” (13,27,28) Ý nghĩa của hỗ trợ tâm lý:
- Ngăn ngừa sự đau khổ và những diễn biến nghiêm trọng hơn do cảm giác đau khổ mang lại (như tư tưởng tự hủy hoại bản thân và XH…)
- Giúp mọi người đối phó tốt hơn và trở nên hòa hợp với cuộc sống hàng ngày
- Giúp những người thụ hưởng trở lại cuộc sống bình thường của họ
- Đáp ứng nhu cầu nhất định do cộng đồng xác định (22,24,27)
Với những BN mắc bệnh mãn tính, hỗ trợ TL làm giảm đáng kể căng thẳng, phát triển các kỹ năng tự lực và sự tự tin
Chúng tôi chọn khái niệm “Hỗ trợ TL” theo Trần Thị Minh Đức, định nghĩa rằng “Hỗ trợ TL là hoạt động giúp đỡ những người gặp khó khăn tài chính để họ đạt được mong muốn trong cuộc sống.” Khái niệm này bao gồm cả công việc của những người không chuyên và những chuyên gia như nhà tâm lý học, nhà tham vấn, nhân viên công tác xã hội, bác sĩ tâm thần và nhà giáo dục.
1.2.2 Đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Nhu cầu về sức khỏe tâm thần của người bệnh ngày càng được chú trọng, dẫn đến việc triển khai nhiều chính sách và chương trình giáo dục-đào tạo Năm 2011, Chính phủ Anh đã đưa ra chiến lược “Không có sức khỏe tâm thần - Không có sức khỏe” nhằm bình đẳng hóa sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần Hướng dẫn thực hành của chiến lược này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giải quyết các nhu cầu liên quan đến điều kiện vật chất để đạt được kết quả bền vững Các hướng dẫn từ Viện Sức khỏe và Lâm sàng Quốc gia Anh cũng khẳng định vai trò quan trọng của dịch vụ hỗ trợ sức khỏe tâm thần đối với người bệnh.
Theo Thomas Currid, cần thiết phải có sự hợp tác giữa các chính sách nhà nước và các chuyên gia để đáp ứng nhu cầu điều trị tâm lý của bệnh nhân Các cán bộ y tế, đặc biệt là điều dưỡng và y tá, cần được trang bị kiến thức và kỹ năng để cung cấp dịch vụ chăm sóc toàn diện Họ cần được hỗ trợ và đào tạo về các rối loạn tâm lý, nhằm phát triển khả năng phát hiện những khó khăn mà bệnh nhân gặp phải và nhu cầu hỗ trợ của họ.
Melanie Jane Legg nhấn mạnh rằng điều dưỡng/y tá đóng vai trò quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý xã hội của bệnh nhân ung thư, vì họ là những người gần gũi nhất với bệnh nhân Điều này cho phép y tá theo dõi tình trạng và nhu cầu của bệnh nhân, đồng thời là nguồn thông tin và sự hỗ trợ đầu tiên mà bệnh nhân tìm kiếm Tuy nhiên, để thực hiện tốt vai trò này, y tá cần được đào tạo bài bản.
Theo WHO, chính sách và luật pháp là nền tảng quan trọng để thúc đẩy quyền của người khuyết tật về thể lực, trí tuệ và nhận thức, đồng thời cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cần thiết cho họ WHO khuyến khích các quốc gia phát triển và thực hiện các chính sách, luật pháp về chăm sóc sức khỏe tâm thần phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế và nhân quyền, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật (CRPD) Kể từ khi CRPD được thông qua vào năm 2006, nhiều quốc gia đã nỗ lực cải cách luật pháp và chính sách nhằm thúc đẩy quyền hòa nhập cộng đồng, nhân phẩm, quyền tự chủ và phục hồi cho người khuyết tật.
Tình trạng sức khỏe tâm thần bao gồm các rối loạn tâm thần kinh và khuyết tật về trí tuệ, nhận thức và xã hội Hỗ trợ tâm lý là một hoạt động quan trọng nhằm cải thiện sức khỏe tâm thần cho người bệnh Kể từ năm 2008, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã hỗ trợ các quốc gia trong việc tích hợp chăm sóc sức khỏe tâm thần, bao gồm cả hỗ trợ tâm lý, vào hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu Sự kết hợp này không chỉ giúp tiết kiệm chi phí và nhân lực trong lĩnh vực y tế mà còn nâng cao hiệu quả chăm sóc cho người bệnh.
Viện Y tế Quốc gia về Chất lượng điều trị, Vương quốc Anh (NICE) cho rằng ngân sách hạn chế và áp lực tài chính trong các bệnh viện đã dẫn đến việc Y tá/ điều dưỡng có ít cơ hội học tập và thời gian để xác định nhu cầu điều trị của bệnh nhân Đặc biệt đối với bệnh nhân ung thư, NICE khuyến nghị cần cung cấp và đánh giá hỗ trợ cho bệnh nhân dựa trên phương pháp tiếp cận 4 cấp độ, tùy thuộc vào mức độ đau khổ của bệnh nhân.
- Cấp độ 1: Bao gồm các chuyên gia CS SK và XH, các trung tâm về nhu cầu CS tình cảm và nhân biết các nhu cầu TL
Cấp độ 2 bao gồm các chuyên gia trong lĩnh vực khoa học sức khỏe và xã hội, những người sở hữu kiến thức chuyên môn sâu rộng Họ có khả năng sàng lọc các chứng đau khổ tâm lý và tổ chức các can thiệp tâm lý hiệu quả.
Cấp độ 3 liên quan đến các chuyên gia được đào tạo và công nhận, có khả năng đánh giá, chẩn đoán tình trạng và cung cấp các biện pháp can thiệp cụ thể.
Giới thiệu về địa bàn nghiên cứu
Khu điều trị phong Bến Sắn, được thành lập vào năm 1959, trước đây được gọi là trại cùi Bến Sắn, nằm trên đồi cao giữa rừng rậm xã Khánh Bình, huyện Tân Uyên, tỉnh Sông Bé, hiện nay là tỉnh Bình Dương Khu vực này cách thành phố Hồ Chí Minh hơn 45 km và được quản lý bởi các nữ tu dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn.
Năm 1975, Nhà nước tiếp quản và đến năm 1979, Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã quản lý cơ sở này cho đến nay Mục đích của việc này là tạo ra một môi trường sống và hỗ trợ điều trị cho những người bệnh phong, giúp họ vượt qua mặc cảm bệnh tật và những định kiến sai lầm, khắc nghiệt từ gia đình.
XH, phải sống chui rúc trong các nghĩa địa, từ các vùng quê nghèo trên mọi miền đất nước
Nhân viên phục vụ ban đầu chủ yếu là nữ tu và một số người bệnh giúp việc Chiến tranh đã làm gián đoạn các hoạt động tài trợ từ thiện của các tổ chức nước ngoài, trong đó có tổ chức cứu trợ phong của Cộng Hòa Liên Bang Đức Đến năm 1990, Cộng Hòa Liên Bang Đức mới tái lập chương trình cứu trợ, tập trung vào hỗ trợ kinh tế xã hội, đặc biệt tại các cơ sở phong và lao Chương trình này góp phần cùng Nhà nước Việt Nam khắc phục hậu quả chiến tranh, cải thiện dinh dưỡng, nâng cao điều kiện sống của người bệnh, và tạo điều kiện để họ trở về với cộng đồng.
Trại phong Bến Sắn, dưới sự quản lý của Nhà nước từ năm 1979, đã phát triển ổn định với việc xây dựng thêm nhà ở cho bệnh nhân, tạo thành khu phục hồi Khu điều trị phong này hiện là quê hương thứ hai của 245 bệnh nhân đến từ khắp nơi trong nước, được chăm sóc và nuôi dưỡng bằng ngân sách của Thành phố Hồ Chí Minh Tất cả các sinh hoạt như điện, nước và đất đai đều nằm dưới sự quản lý của Khu Điều Trị Phong, nơi còn cưu mang hơn 650 người, bao gồm con cháu của bệnh nhân phong, với tổng cộng 165 hộ gia đình.
Khu điều trị phong tại Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương chủ yếu tập trung vào việc chăm sóc y tế và nuôi dưỡng bệnh nhân phong Tuy nhiên, đơn vị này không cung cấp chương trình hỗ trợ tâm lý cho người bệnh, và đội ngũ y bác sĩ chỉ thực hiện công tác chuyên môn Mặc dù có tổ công tác xã hội, nhưng hoạt động của họ chỉ giới hạn trong việc tư vấn sức khỏe và hỗ trợ vật chất Đáng chú ý, cán bộ tại Khu điều trị chưa được đào tạo về tâm lý, cả trong các khóa học ngắn hạn lẫn dài hạn.
Hoạt động của Khu điều trị Phong Bến Sắn
Khu điều trị phong hiện có 245 giường bệnh nội trú, được phân bổ cho các khoa như Nội, Ngoại, Phong Nhiễm, Tâm Thần, Dưỡng Lão Nam, Dưỡng Lão Nữ và Khoa Cấp Cứu Tại đây, có 125 nhân viên y tế, trong đó có 14 bác sĩ.
20 sỹ/y sỹ điều trị, 07 dược sỹ, 46 điều dưỡng/y tá, 6 kỹ thuật viên, 12 hộ lý/y công và
40 lao động khác; tỷ lệ bác sỹ (BB), y sỹ và điều dưỡng/ người bệnh là 1:4
Bên cạnh các Khoa điều trị chuyên môn, bệnh viện còn có các bộ phận cận lâm sàng như Buồng mổ, Xét nghiệm, Dược, Nha khoa và Phục hồi chức năng Ngoài ra, bếp ăn cũng được phục vụ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng cho bệnh nhân.
245 người bệnh và số người bệnh tàn tật nặng không tự túc được
Để nâng cao chất lượng khám và điều trị cho bệnh nhân, vào tháng 10/2020, Khu điều trị Phong đã thành lập mạng lưới Tổ công tác xã hội với sự tham gia của các điều dưỡng và nhân viên y tế tại chỗ Tuy nhiên, đội ngũ y tế tại đây chưa được đào tạo bài bản về chăm sóc tâm lý cho người bệnh, dẫn đến những khó khăn và hạn chế trong việc hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sức khỏe tâm thần cho bệnh nhân.
Khung lý thuyết nghiên cứu
Nguồn: The Impact of Organizational Factors on Psychological Needs and Their
Relations with Well-Being (16), Meeting the psychological needs of the physically ill (31)
Nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý
N hững l o ngạ i về s ự l o l ắng của những ngườ i t hâ n t hi ết đối vớ i bạ n
Cả m gi ác về c ái c hế t
G iữ m ột c ái nhì n t íc h c ự c
H ọc c ác h ki ểm s oá t tì nh hì nh
K hông c hắ c c hắ n về tươ ng la i
L o l ắng s ự l ây la n c ủa bệ nh
L o l ắng rằ ng k ết quả đ iề u t rị nằ m ngoà i t ầm k iể m s oá t
Cả m gi ác buồn bã
Cả m gi ác c há n n ản
Cả m gi ác lo l ắng và s ợ hã i N hững l o ngạ i về s ự l o l ắng của những ngườ i t hâ n t hi ết đối vớ i bạ n
Cả m gi ác về c ái c hế t
G iữ m ột c ái nhì n t íc h c ự c
H ọc c ác h ki ểm s oá t t ình hì nh
K hông c hắ c c hắ n về tươ ng la i
L o l ắng s ự l ây la n c ủa bệ nh
L o l ắng rằ ng k ết quả đ iề u t rị nằ m ngoà i t ầm k iể m s oá t
Cả m gi ác buồn bã
Cả m gi ác c há n n ản
Cả m gi ác lo l ắng và s ợ hã i
Giới thiệu khung lý thuyết:
Phần 1: Nhu cầu hỗ trợ TL- Mô tả nội dung của mục tiêu 1 Phần này dựa vào
10 phần Nhu cầu hỗ trợ TL trong bộ câu hỏi SCNS‐SF34 (49)
Phần 2: Mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ TL- Mô tả mục tiêu 2 Theo WHO và NICE, các dịch vụ hỗ trợ TL đóng vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng nhu cầu
Tài liệu này nhấn mạnh rằng các yếu tố như vật chất, chính sách xã hội, quy định của nhà nước, và nhân lực (bao gồm kỹ năng, kiến thức và năng lực của nhân viên y tế) đều đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tài liệu cho người bệnh Những khía cạnh này sẽ được làm rõ hơn trong mục 1.1.4.
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả 230 BN đang được chăm sóc, điều trị tại Khu Điều Trị Phong được chọn vào nghiên cứu thỏa mãn các tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân
- Tiêu chuẩn lựa chọn BN: Tất cả bệnh nhân phong đang điều trị và sinh sống trong khu điều trị phong
Tiêu chuẩn không lựa chọn bao gồm: bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu, bệnh nhân không có khả năng trả lời phỏng vấn, và bệnh nhân đang điều trị tại khoa Tâm thần.
- Bệnh nhân đang điều trị tại Khu điều trị phong Bến Sắn tại thời điểm nghiên cứu
- Đại diện Ban giám đốc
- Lãnh đạo và ĐD trưởng các khoa lâm sàng.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại khu điều trị bệnh phong Bến Sắn – trực thuộc
Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 5/2021 đến tháng 8/ 2021.
Thiết kế nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang, nghiên cứu kết hợp phương pháp định lượng và định tính
Nghiên cứu định lượng nhằm mô tả nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân phong tại Khu điều trị Phong Bến Sắn và khả năng đáp ứng nhu cầu này từ góc độ người bệnh Nghiên cứu được thực hiện bằng cách sử dụng bộ câu hỏi có sẵn, sau đó hoàn thiện công cụ thu thập dữ liệu Dựa trên kết quả định lượng, nghiên cứu tiến hành thu thập số liệu định tính từ bệnh nhân, cán bộ y tế và cán bộ quản lý khu điều trị để giải thích và làm rõ các kết quả đã thu được.
24 tính được tổng hợp, phân tích và từ đó đưa ra những đề xuất nhằm đáp ứng nhu cầu hỗ trợ TL của người bệnh.
Cỡ mẫu
2.4.1 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng
Tất cả 230 BN đang điều trị tại Khu Điều Trị Phong Bến Sắn thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn
2.4.2 Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính
- 07 lãnh đạo khoa của 7 khoa lâm sàng.
Phương pháp chọn mẫu
2.5.1 Phương pháp chọn mẫu định lượng
Người bệnh phong có hồ sơ bệnh án được quản lý tại khu điều trị phong Bến Sắn và đang được chăm sóc, điều trị
2.5.2 Phương pháp chọn mẫu định tính
- Bệnh nhân: chọn mẫu có chủ đích đa dạng độ tuổi, giới tính, thời gian điều trị, tình trạng hôn nhân…
- Lãnh đạo khoa lâm sàng: chọn mẫu có chủ đích đa dạng độ tuổi, giới tính, thời gian công tác
- Ban giám đốc: chọn chủ đích phó giám đốc khu điều trị, chịu trách nhiệm điều hành chung toàn đơn vị.
Phương pháp thu thập số liệu
2.6.1 Thu thập số liệu định lượng
Người bệnh sẽ trả lời bộ câu hỏi được thiết kế sẵn bằng cách tự điền thông tin vào bảng câu hỏi Đối với những người không biết chữ hoặc không thể viết, điều tra viên sẽ hỗ trợ bằng cách đọc câu hỏi và ghi chép lại thông tin.
2.6.2 Thu thập số liệu định tính
- Phiếu hướng dẩn phỏng vấn sâu nhu cầu của bệnh nhân bằng phiếu hướng dẫn dành cho người bệnh (phục lục 3 – trang 85)
- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý người bệnh dành cho lãnh đạo khoa lâm sàng (phục lục 4 – trang 88)
- Phiếu hướng dẫn phỏng vấn sâu về khả năng đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân dành cho Ban giám đốc (phục lục 5 – trang 91)
Các biến số nghiên cứu
2.7.1 Biến số nghiên cứu định lượng (mục tiêu 1)
Nhóm thông tin chung về người bệnh bao gồm năm sinh, giới tính, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, địa bàn cư trú, bảo hiểm y tế, tình trạng bệnh và thời gian nằm viện.
- Nhóm biến số về Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh: gồm 10 biến theo bộ câu hỏi SCNS 34
- Nhóm biến số về mức độ đáp ứng nhu cầu tâm lý của khu điều trị: gồm 10 biến
Bảng biến số chi tiết xin xem tại (phụ lục 1.1, 1.2 – trang 70, 74)
2.7.2 Các nội dung nghiên cứu định tính (mục tiêu 2)
Các nội dung của nghiên cứu định tính thu thập từ các ĐTNC cho hai mục tiêu bao gồm:
- Mục tiêu 1 : Phân tích sâu hơn về nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh tại Khu điều tị phong Bến Sắn
- Mục tiêu 2: Phân tích mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ TL của người bệnh tại Khu Điều Trị Phong Bến Sắn.
Tiêu chuẩn đánh giá
2.8.1 Thang điểm nhu cầu hỗ trợ tâm lý
Có 5 mức độ tùy chọn trên:
(1) = Không có nhu cầu Đây không phải vấn đề của tôi
(2) = Có nhu cầu nhưng đã được đáp ứng đủ Tôi đã cần giúp đỡ nhưng nhu cầu của tôi đã được thỏa mãn tại thời điểm đó
(3) = Nhu cầu trợ giúp thấp Vấn đề này khiến tôi không mấy lo lắng hay khó chịu Tôi không cần thêm trợ giúp
(4) = Nhu cầu trợ giúp trung bình Vấn đề này khiến tôi lo lắng hoặc khó chịu Tôi có một số nhu cầu để được trợ giúp thêm
(5) = Nhu cầu trợ giúp cao Vấn đề này gây ra cho tôi rất nhiều lo lắng hoặc khó chịu Tôi rất cần được trợ giúp thêm
Đối tượng được xem là "Có nhu cầu" khi trả lời ở mức 3, 4 hoặc 5, trong khi đó, nếu họ trả lời ở mức 2 thì nhu cầu đã được đáp ứng đủ Ngược lại, nếu đối tượng trả lời ở mức 1, họ sẽ được xác định là "Không có nhu cầu".
2.8.2 Thang điểm đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý
• Có 4 mức độ như sau:
- Mức độ 1: không được hỗ trợ (1 điểm)
- Mức độ 2: được hỗ trợ rất ít (2 điểm)
- Mức độ 3: được hỗ trợ mức độ trung bình (3 điểm)
- Mức độ 4: được hỗ trợ chu đáo (4 điểm)
2.8.3 Các kỹ thuật phân tích sử dụng trong nghiên cứu
- Kiểm định sự khác biệt nhu cầu tâm lý dùng Krusawallis test
- Kiểm định sự khác biệt đáp ứng tâm lý dùng Krusawallis test
- Dùng Skewness/Kurtosis tests for Normality
- Hồi quy giữa nhu cầu và đáp ứng nhu cầu
Phương pháp phân tích số liệu
Sau khi thu thập, dữ liệu được kiểm tra bởi các nghiên cứu viên để phát hiện lỗi trước khi phân tích Số liệu đã được làm sạch và nhập vào máy tính bằng phần mềm Excel, sau đó được phân tích bằng phần mềm STATA 14.0 để cung cấp các thông tin mô tả.
- Thống kê nhu cầu cần hỗ trợ tâm lý: tần số và tỷ lệ phần trăm
- Thống kê mức độ đáp ứng nhu cầu: Tần số nhu cầu cần đáp ứng theo từng mức độ và tỷ lệ phần trăm
Thống kê kiểm định được thực hiện bằng cách sử dụng kiểm định phần trăm cho từng nhu cầu, dựa trên tổng số tần số nghiên cứu, nhằm xác định tần số đáp ứng cho từng nhu cầu cụ thể.
- Sử dụng thống kê mô tả để phân tích
2.9.2 Các số liệu định tính:
Bài viết được gỡ băng và đánh máy dưới dạng văn bản Word, áp dụng phương pháp phân tích theo chủ đề với mã hóa và trích dẫn thông tin tương ứng Kết quả phân tích thông tin định tính nhằm bổ sung và giải thích cho kết quả định lượng, đồng thời minh họa cho kết quả nghiên cứu.
2.9.3 Sai số và khắc phục sai số
Người bệnh phong thường gặp khó khăn về cả thể chất lẫn tinh thần, đặc biệt là ở nhóm tuổi lớn Việc phỏng vấn để thu thập thông tin chính xác từ họ là một thách thức lớn, mặc dù nhóm nghiên cứu đã nỗ lực khắc phục Tuy nhiên, không thể tránh khỏi sai sót, điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu.
Một số bệnh nhân phong gặp khó khăn trong giao tiếp, do đó không thể tham gia phỏng vấn Đối tượng này chủ yếu là người lớn tuổi, có nhu cầu hỗ trợ tài liệu cao, điều này có thể ảnh hưởng đến điểm số đánh giá nhu cầu hỗ trợ tài liệu chung trong nghiên cứu.
Đối với những bệnh nhân không thể ghi chép do không biết chữ hoặc bị cụt tay, các nghiên cứu viên cần hỗ trợ bằng cách đọc câu hỏi cho họ và ghi lại thông tin trả lời của bệnh nhân.
Đạo đức của nghiên cứu
Nghiên cứu này đã được Hội đồng Đạo đức trong nghiên cứu Y sinh học của Trường ĐH Y tế công cộng phê duyệt theo Quyết định số 196/2021/YTCC-HD3, đảm bảo tuân thủ các vấn đề đạo đức trong nghiên cứu y sinh Ngoài ra, Hội đồng Khoa học công nghệ và ban lãnh đạo Khu điều trị Phong Bến Sắn cũng đã đồng ý bằng văn bản cho phép thực hiện nghiên cứu này.
Các nghiên cứu viên đã được đào tạo bài bản về các phương pháp thu thập dữ liệu và tổ chức thảo luận, nhằm đảm bảo không gây tổn thương đến đối tượng nghiên cứu.
Nghiên cứu viên đã cung cấp thông tin nghiên cứu một cách rõ ràng thông qua Bản thông tin nghiên cứu dành cho đối tượng tham gia và tư vấn trực tiếp, trước khi thu thập phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu.
- Nghiên cứu chỉ được tiến hành khi đối tượng tham gia nghiên cứu đồng ý và đồng ý bằng văn bản (ký vào phiếu chấp thuận tham gia nghiên cứu)
- Các đối tượng tham gia nghiên cứu có quyền được ra khỏi nghiên cứu với bất cứ lý do gì
Tất cả thông tin cá nhân của người tham gia nghiên cứu được mã hóa và bảo mật để đảm bảo quyền riêng tư Dữ liệu thu thập chỉ được sử dụng cho mục đích nghiên cứu, không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào khác.
- Kết quả nghiên cứu được phản hồi và báo cáo cho lãnh đạo Khu điều trị Phong Bến Sắn
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1 Thông tin chung về BN tại khu điều trị phong Bến Sắn (n#0)
Biến số Đặc điểm Số người
Trung cấp/ Cao đẳng 3 1,3 Địa bàn cư trú Thành phố 153 66,5
Khác (không có việc làm) 201 87,3
Trình trạng hôn nhân Đã kết hôn 150 65,2
Tỷ lệ có BHYT Có 226 98,2
Thời gian nằm viện đợt này (cho đến thời điểm điều tra)
Số lần nằm viện trong 1 năm qua
Các bệnh khác kèm theo
Tim mạch 109 47,3 Đái tháo đường 64 27,8
Có 102 BN trên 70 tuổi (chiếm tỷ lệ cao nhất là 44,35%), chỉ có 22 BN dưới
50 tuổi (chiếm tỷ lệ thấp nhất 9,7%)
Phần lớn bệnh nhân chỉ có trình độ học vấn tiểu học (44,3%) hoặc mù chữ (31,7%) Chỉ có 1,3% bệnh nhân đạt trình độ trung học hoặc cao đẳng, và không có bệnh nhân nào có trình độ đại học trở lên.
Tỷ lệ BN ở thành phố cao nhất chiếm 66,5%
Tỷ lệ bệnh nhân không có việc làm đạt 87,3%, cho thấy sự khó khăn trong việc tìm kiếm công việc phù hợp Nhiều bệnh nhân tàn tật gặp trở ngại lớn do ngoại hình không giống người bình thường, dẫn đến những thách thức khi tìm việc ngoài xã hội.
Trong số các bệnh nhân, 65,2% đã kết hôn, chiếm tỷ lệ cao nhất, trong khi 18,7% sống độc thân và chỉ 2,1% là người ly hôn Đáng chú ý, hầu hết bệnh nhân đều có bảo hiểm y tế, với tỷ lệ lên tới 98,2%.
Tính đến thời điểm nghiên cứu, có 126 bệnh nhân nằm viện trên 10 năm, chiếm tỷ lệ cao nhất là 54,7% Tiếp theo, 13,0% bệnh nhân nằm viện từ 5 đến 10 năm, trong khi 54,7% bệnh nhân nằm viện dưới 5 năm.
Trong năm qua, tỷ lệ bệnh nhân phải nhập viện liên tục đạt 35,2%, trong khi tỷ lệ bệnh nhân nhập viện một lần, hai lần và ba lần trở lên lần lượt là 20,4%, 22,6% và 21,7%.
Tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, suy tim, xơ vữa động mạch và bệnh mạch vành chiếm 47,4%, trong khi 27,8% bệnh nhân bị đái tháo đường, 0,8% mắc lao phổi và 23,9% mắc các bệnh khác Đáng chú ý, không có bệnh nhân nào bị béo phì Một bệnh nhân chia sẻ: “Nằm tại Khoa Điều trị liên tục hơn 20 năm, tôi rất chán nản và lo lắng cho bệnh của mình, ngoài di chứng phong còn nhiều bệnh khác.”
Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân phong tại Khu Điều Trị Phong Bến Sắn
3.2.1 Các nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân phong
Bảng 3.2 Số lượng nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân (n#0)
Số lượng nhu cầu trợ giúp của BN n %
Không có nhu cầu – có 5 nhu cầu hỗ trợ 0 0
Có 6 nhu cầu hỗ trợ 18 7,8
Có 7 nhu cầu hỗ trợ 20 8,7
Có 8 nhu cầu hỗ trợ 31 13,5
Có 9 nhu cầu hỗ trợ 34 14,8
Có 10 nhu cầu hỗ trợ 127 55,2
Nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh được đánh giá qua 10 lĩnh vực khác nhau, tương ứng với 10 câu hỏi trong thang đo Mỗi câu hỏi có 5 mức độ từ không có nhu cầu đến nhu cầu cao Bệnh nhân được xem là có nhu cầu tâm lý khi chọn mức độ hỗ trợ từ thấp đến cao Ngược lại, nếu họ chọn mức độ không có nhu cầu hoặc đã được đáp ứng đủ, họ sẽ được coi là không có nhu cầu hỗ trợ tâm lý trong lĩnh vực đó.
Tất cả người bệnh đều có nhu cầu hỗ trợ tâm lý, với ít nhất 6 nhu cầu cùng lúc Tỷ lệ bệnh nhân có 6, 7, 8 và 9 nhu cầu hỗ trợ tâm lý lần lượt là 7,8%, 8,7%, 13,5% và 14,8% Đặc biệt, số bệnh nhân có 10 nhu cầu hỗ trợ tâm lý chiếm tỷ lệ cao nhất, lên đến 55,2%.
Trong quá trình phỏng vấn sâu, người bệnh cho biết rằng hầu hết họ có thời gian điều trị kéo dài và gặp nhiều vấn đề tâm lý, do đó cần được hỗ trợ nhiều Lãnh đạo khoa cũng nhấn mạnh rằng bệnh nhân phong không chỉ phải đối mặt với các khuyết tật thể chất mà còn chịu đựng nhiều tổn thương tâm lý Vì vậy, trong số 10 yếu tố tâm lý đã được nêu, gần như tất cả các vấn đề đều cần sự hỗ trợ từ phía y tế.
Bảng 3.3 Tỷ lệ các nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân tại khu điều trị phong Bến Sắn (n#0)
Không có nhu cầu Có nhu cầu nhưng đã được đáp ứng đầy đủ
Có nhu cầu cần đáp ứng n % n % n %
1 Cảm giác lo lắng và sợ hãi 2 0,9 13 5,7 215 93,5
4 Lo lắng sự lây lan của bệnh 10 4,3 18 8,3 201 87,4
5 Lo lắng rằng kết quả điều trị nằm ngoài tầm kiểm soát 0 0,0 8 3,5 222 96,5
6 Không chắc chắn về tương lai 1 0,4 1 0,9 228 99,1
7 Học cách kiểm soát tình hình của bạn 6 2,6 10 3,9 214 93,0
8 Giữ cách nhìn tích cực 1 0,4 7 3,0 222 96,5
9 Cảm giác về cái chết 5 2,2 11 4,8 214 93,0
10 Những lo ngại về sự lo lắng của những người thân thiết đối với mình 8 3,5 32 13,9 190 82,6
Trong phân tích nhu cầu hỗ trợ tâm lý (TL) của người bệnh, ba nhu cầu hàng đầu được xác định là: cảm giác không chắc chắn về tương lai (99,1%), lo lắng về kết quả điều trị ngoài tầm kiểm soát (96,5%), và cần hỗ trợ tâm lý để duy trì cái nhìn tích cực (96,5%) Ngoài ra, các nhu cầu khác cũng đáng chú ý như cảm giác chán nản (93,9%), lo lắng và sợ hãi (93,5%), cần học cách kiểm soát tình hình bản thân (93,5%), cảm giác về cái chết (93%), lo lắng về sự lây lan của bệnh (87,4%), và cảm giác buồn rầu (83%).
TL vì những lo ngại về sự lo lắng của người thân đối với mình (82,6%)
Kết quả phỏng vấn cho thấy bệnh nhân đều cảm thấy buồn rầu và lo lắng về tương lai của mình Họ bày tỏ sự chán nản khi phải nằm viện liên tục mà không thấy ánh sáng hy vọng nào Một bệnh nhân chia sẻ rằng họ cảm thấy không kiểm soát được cuộc sống của mình và rất cần sự hỗ trợ về tương lai Nỗi lo lớn nhất của họ là về tương lai của bản thân và con cái, đặc biệt khi không có chế độ hỗ trợ cho gia đình trong thời gian họ điều trị.
Bảng 3.4 Mức độ các nhu cầu hỗ trợ tâm lý cần đáp ứng của bệnh nhân phong (n#0)
TT Các nhu cầu hỗ trợ TL
Có nhu cầu nhưng đã được đáp ứng đủ
Nhu cầu trợ giúp thấp
Nhu cầu trợ giúp trung bình
Nhu cầu trợ giúp cao Điểm trung bình n % n % n % n % n % TB SD
1 Cảm giác lo lắng và sợ hãi 2 0,9 13 5,7 29 12,6 18 7,8 168 73,0 3,7 0,7
4 Lo lắng sự lây lan của bệnh 10 4,3 19 8,3 19 8,3 31 13,5 151 65,7 3,7 0,9
Lo lắng rằng kết quả điều trị nằm ngoài tầm kiểm soát
6 Không chắc chắn về tương lai 1 0,4 2 0,9 7 3,0 10 4,3 210 91,3 3,9 0,4
7 Học cách kiểm soát tình hình của bạn 6 2,6 9 3,9 30 13,0 10 4,3 175 76,1 3,6 0,8
8 Giữ cách nhìn tích cực 1 0,4 7 3,0 10 4,3 20 8,7 192 83,5 3,8 0,5
9 Cảm giác về cái chết 5 2,2 11 4,8 30 13,0 19 8,3 165 71,7 3,6 0,8
Những lo ngại về sự lo lắng của những người thân thiết đối với mình
8 3,5 32 13,9 10 4,3 22 9,6 158 68,7 3,8 0,8 Điểm nhu cầu TL chung của các BN 37,5 ± 3,2
Khi đánh giá nhu cầu hỗ trợ tâm lý (TL) của người bệnh trên thang điểm từ 1-5, tổng điểm trung bình cho 10 nhu cầu là 37,5 ± 3,2, với điểm cao nhất là 42 và thấp nhất là 28 Hai nhu cầu hỗ trợ TL có mức độ cao nhất là cảm giác buồn rầu và sự không chắc chắn về tương lai, với điểm trung bình đạt 3,9 Tiếp theo, nhu cầu hỗ trợ do lo lắng về sự lo lắng của người thân và lo lắng không giữ được cách nhìn tích cực đều có điểm trung bình là 3,8.
Kết quả phỏng vấn BN cũng khẳng định những nhu cầu này “Những vấn đề
Nhiều bệnh nhân bày tỏ sự chán nản và lo lắng về tương lai của họ khi phải nằm viện liên tục Một bệnh nhân chia sẻ: “Tôi cảm thấy buồn rầu và không thấy tương lai của mình ở đâu.” Họ cũng nhấn mạnh sự thiếu kiểm soát về cuộc sống của bản thân, như một bệnh nhân nói: “Tôi rất cần được hỗ trợ về tương lai.” Một mối lo lớn khác là sự an toàn cho con cái, khi một bệnh nhân lo lắng: “Con cái đang sống chung nhưng không có chế độ bệnh, đây là vấn đề tôi trăn trở nhiều nhất.”
Khi so sánh các mức độ nhu cầu hỗ trợ tâm lý (TL), nhu cầu ở mức cao là phổ biến nhất, với tỷ lệ bệnh nhân dao động từ 65,7% đến 91,3% Hai lĩnh vực nhu cầu chính bao gồm sự không chắc chắn về tương lai và nhu cầu hỗ trợ để duy trì cái nhìn tích cực.
TL có tỉ lệ bệnh nhân có nhu cầu hỗ trợ ở mức cao là nhiều nhất, tỉ lệ lần lượt là 91,3% và 83,5%
Nhiều bệnh nhân thường xuyên cảm thấy mặc cảm về bệnh tật, đặc biệt là khi bị xã hội xa lánh Họ chia sẻ rằng bệnh phong không chỉ làm biến dạng cơ thể mà còn gây khó khăn trong lao động và giao tiếp hàng ngày Sự xa lánh từ người thân và xã hội khiến cuộc sống của họ trở nên khó khăn hơn, buộc họ phải sống dựa vào trợ cấp của nhà nước.
37 quý ân nhân, TL của tôi không được ổn định, hay buồn phiền, cuộc sống hàng ngày quá khó khăn, cảm thấy không hạnh phúc” (PVS 01 - người bệnh)
Bác sỹ, điều dưỡng và lãnh đạo khoa phòng tại khu điều trị Phong Bến Sắn đều nhận thấy rằng bệnh nhân phong có nhu cầu hỗ trợ tâm lý rất cao Họ đến từ nhiều nơi khác nhau, thường mang theo những gánh nặng từ cuộc sống tha phương, nghèo khổ và bị miệt thị Do đó, việc cung cấp hỗ trợ tâm lý cho họ là vô cùng cần thiết.
Theo Ban Giám đốc khu điều trị, bệnh nhân phong điều trị tại đây thường có thời gian kéo dài từ 5 đến hơn 50 năm Trong suốt quá trình này, họ sống cùng gia đình trong khu điều trị và có con cái Tuy nhiên, con cái của họ không được nhà nước nuôi dưỡng và họ cũng không có quyền sở hữu nhà cửa, đất đai, điều này khiến họ lo lắng về tương lai của bản thân và con cái Do đó, nhu cầu hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân tại đây rất cao.
3.2.2 Nhu cầu hỗ trợ tâm lý theo đặc điểm bệnh nhân
3.3 Mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh tại Khu Điều Trị Phong Bến Sắn
3.3.1 Các mức độ hỗ trợ tâm lý của bệnh nhân phong về mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý của Khu điều trị Phong Bến Sắn
Bảng 3.6 Số lượng các nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh được đáp ứng (n#0)
Trong số lượng các nhu cầu hỗ trợ tài liệu của bệnh nhân, có 55,22% bệnh nhân được đáp ứng 4 nhu cầu hỗ trợ, trong khi 19,57% được đáp ứng 5 nhu cầu Chỉ có 3,04% bệnh nhân được đáp ứng 1 nhu cầu, 6,52% được đáp ứng 2 nhu cầu, và 3,91% được đáp ứng 3 nhu cầu Ngoài ra, 11,30% bệnh nhân nhận được 6 nhu cầu hỗ trợ, và chỉ 0,43% bệnh nhân được đáp ứng 7 nhu cầu.
Mức độ đáp ứng nhu cầu hỗ trợ tâm lý được đánh giá qua 10 lĩnh vực, sử dụng thang đo 4 mức độ: không được hỗ trợ (mức 1), hỗ trợ ít (mức 2), hỗ trợ trung bình (mức 3) và hỗ trợ chu đáo (mức 4) Nhu cầu tâm lý được xem là được đáp ứng khi điểm đánh giá từ mức 2 đến mức 4.
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có bệnh nhân nào không được đáp ứng nhu cầu tâm lý, tuy nhiên cũng không có bệnh nhân nào được đáp ứng đồng thời từ 8 nhu cầu trở lên Tỷ lệ bệnh nhân được đáp ứng đồng thời từ 1 đến 7 nhu cầu hỗ trợ tâm lý lần lượt là 3,04%, 6,52%, 3,91%, 55,22%, 19,57%, 11,3% và 0,43%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân được đáp ứng đồng thời 4 nhu cầu hỗ trợ tâm lý cao nhất, đạt 55,22%.
3.2.2 Mức độ đáp ứng từng nhu cầu cần hỗ trợ tâm lý bệnh nhân
Bảng 3.7 Mức độ các nhu cầu đáp ứng được
TT NHU CẦU ĐÁP ỨNG (n)
MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG KẾT QUẢ MỨC ĐỘ ĐÁP ỨNG
Không được đáp ứng (1) Được đáp ứng ít rất ít
(2) Được đáp ứng mức độ trung bình (3) Được đáp ứng chu đáo
Không được đáp ứng Được đáp ứng n % n % n % n % n % n %
1 Cảm giác lo lắng và sợ hãi 215 11 5,1 26 12,1 159 74,0 19 8,8 11 5,1 204 94,9
4 Lo lắng sự lây lan của bệnh 201 3 1,5 26 12,9 145 72,1 27 13,4 3 1,5 198 98,5
Lo lắng rằng kết quả điều trị nằm ngoài tầm kiểm soát 222 15 6,8 20 9,0 165 74,3 22 9,9 15 6,8 207 93,2
6 Không chắc chắn về tương lai 228 170 74,6 5 2,2 38 16,7 15 6,6 170 74,6 58 25,4
7 Học cách kiểm soát tình hình của bạn 214 150 70,1 38 17,8 17 7,9 9 4,2 150 70,1 64 29,9
8 Giữ cách nhìn tích cực 222 31 14,0 163 73,4 14 6,3 14 6,3 31 14,0 191 86,0
9 Cảm giác về cái chết 214 32 15,0 42 19,6 135 63,1 5 2,3 32 15,0 182 85,0
Những lo ngại về sự lo lắng của những người thân thiết đối với bạn 190 HUPH 112 59,0 41 21,6 3 1,6 34 17,9 112 58,9 78 41,1
Trong phân tích nhu cầu hỗ trợ tâm lý của người bệnh, có 10 nhu cầu chính, trong đó 3 nhu cầu có tỷ lệ đáp ứng thấp nhất Cụ thể, tỷ lệ người bệnh không chắc chắn về tương lai là 25,4%, học cách kiểm soát tình hình là 29,9%, và lo lắng về sự lo âu của người thân là 41,1% Ngược lại, người bệnh được hỗ trợ tốt nhất trong việc lo lắng về sự lây lan của bệnh (98,5%), cảm giác lo lắng và sợ hãi (94,4%), lo lắng rằng kết quả điều trị nằm ngoài tầm kiểm soát (93,2%), cảm giác chán nản (88,4%), cảm giác buồn rầu (87,4%), giữ cách nhìn tích cực (86%), và cảm giác về cái chết (85%).