ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tất cả điều dưỡng đang làm việc trực tiếp tại 43 khoa/trung tâm lâm sàng Bệnh viện K
Điều dưỡng cần có ít nhất 09 tháng kinh nghiệm làm việc để nắm vững các chính sách, quy định và quyền lợi tại bệnh viện, không phân biệt giới tính hay vị trí công việc.
- Điều dưỡng đi học, nghỉ thai sản, vắng mặt quá 3 tháng liên tục trong thời gian nghiên cứu.nghiên cứu
- Điều dưỡng từ chối tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Tại 03 cơ sở: Phan Chu Trinh, Tam Hiệp và Tân Triều - Bệnh viện K
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 586 điều dưỡng đang công tác tại các khoa lâm sàng thuộc Khối Nội, Ngoại, Xạ và Khám bệnh Thông tin về ĐLLV của các điều dưỡng được thu thập qua phiếu phát vấn dựa trên danh sách do phòng Tổ chức cán bộ cung cấp, chi tiết có trong phụ lục 3.
Công cụ và phương pháp thu thập số liệu
Để đánh giá ĐLLV của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng Bệnh viện K, các biến số về ĐLLV được xây dựng dựa trên lý thuyết của F Herzberg.
(55), bộ câu hỏi định lượng được tham khảo từ nghiên cứu của Mbindyo (2009)
Nghiên cứu của Mischa Willis-Shattuck và cộng sự (2008), Võ Văn Tài (2010), Nguyễn Văn Mạnh, Phạm Ngọc Hà, Nguyễn Trọng Hiếu, và Tạ Công Đạt đã chỉ ra các yếu tố liên quan đến ĐLLV Để phù hợp với địa bàn nghiên cứu, một mục mới về “nhận thấy bản thân và bệnh viện có chung mục tiêu, quan điểm trong công việc” đã được bổ sung Mục tiêu này nhằm đánh giá sự đồng thuận của các điều dưỡng về mục tiêu chung của bệnh viện Trước khi thu thập số liệu, bộ công cụ đã được kiểm tra thông qua phỏng vấn 10 điều dưỡng.
Thông tin chung về điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bao gồm tuổi, giới tính, đơn vị công tác, thâm niên trong ngành Y và tại bệnh viện, trình độ chuyên môn, cùng hình thức làm việc (Phụ lục 1).
Bộ công cụ đánh giá ĐLLV của điều dưỡng tại các khoa lâm sàng bao gồm 3 yếu tố và 10 tiểu mục (Phụ lục 1)
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Việc thu thập số liệu được thực hiện bởi một nghiên cứu viên và hai điều tra viên có kinh nghiệm Hai điều tra viên này là nhân viên của Trung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến của bệnh viện K, đã từng tham gia nghiên cứu khoa học, do đó họ có kiến thức và kỹ năng cần thiết cho công việc thu thập số liệu.
Nghiên cứu viên đã tổ chức một cuộc họp với ĐTV để thông báo về mục đích, kế hoạch và thời gian nghiên cứu ĐTV đã được đào tạo trong một ngày, bao gồm cả lý thuyết và thực hành về phương pháp thu thập số liệu.
Nghiên cứu viên đã đến các khoa lâm sàng để xin phép và thông báo về mục đích, kế hoạch, cũng như thời gian thực hiện nghiên cứu, đồng thời xin sự đồng ý tham gia từ trưởng khoa và các đối tượng nghiên cứu.
Phát vấn bộ câu hỏi có sẵn (Phụ lục 1): Đã tổ chức thu thập số liệu tại phòng hành chính mỗi khoa
Nghiên cứu viên đã có mặt tại điểm thu thập thông tin, phát bộ câu hỏi tự điền và giải thích các thắc mắc của đối tượng nghiên cứu Đồng thời, họ cũng nhắc nhở người tham gia không trao đổi thông tin với nhau trong quá trình nghiên cứu.
Khi người tham gia nghiên cứu nộp phiếu điều tra, nghiên cứu viên đã kiểm tra xem phiếu, sau đó tổng hợp phiếu giao cho nghiên cứu viên.
Các biến số nghiên cứu
Nhóm biến số bao gồm:
(1) Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, thâm niên công tác,…
(2) Đo lường ĐLLV của điều dưỡng tại các khoa
- Hài lòng với công việc: 3 tiểu mục
- Yếu tố cam kết với tổ chức: 4 tiểu mục
- Yếu tố sự tận tâm: 3 tiểu mục
(3) Yếu tố liên quan đến ĐLLV của điều dưỡng
- Điều kiện làm việc: 3 tiểu mục
- Quản trị và điều hành: 11 tiểu mục
- Thu nhập và chế độ đãi ngộ: 5 tiểu mục
- Quan hệ đồng nghiệp: 4 tiểu mục
- Đào tạo và phát triển: 6 tiểu mục
- Bản thân công việc: 8 tiểu mục
Tiêu chuẩn đánh giá
Thang điểm Likert 5 cấp độ phân chia thành hai nhóm: nhóm không có động lực với điểm dưới 4 và nhóm có động lực với điểm từ 4 trở lên Từ đó, tỷ lệ nhân viên các khoa lâm sàng có động lực làm việc (ĐLLV) được tính cho từng tiểu mục Điểm của mỗi yếu tố được xác định bằng tổng điểm của các tiểu mục trong yếu tố đó Mức điểm trung bình từ 4 trở lên được coi là “có động lực” cho từng yếu tố.
Bảng 2 1: Quy định điểm chuẩn đánh giá động lực làm việc
STT Tên nội dung Số tiểu mục
1 Hài lòng với công việc 3 ≥ 12 < 12
2 Cam kết với tổ chức 4 ≥ 16 < 20
3 Sự tận tâm 3 ≥ 12