ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
- Bác sỹ, phẫu thuật viên và phụ mổ đang tham gia mổ đẻ tại BVĐK tỉnh Ninh Thuận
- Tiêu chuẩn loại trừ: Cán bộ không có mặt tại bệnh viện trong thời gian nghiên cứu do nghỉ thai sản, đi học dài hạn
Lãnh đạo bệnh viện cùng với Trưởng khoa KSNK, các cán bộ quản lý như Bác sĩ Trưởng khoa và Điều dưỡng Trưởng khoa, cũng như bác sĩ, hộ sinh và điều dưỡng viên đang tham gia vào quy trình mổ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: từ tháng 04 đến tháng 06/2018
- Địa điểm nghiên cứu: BVĐK tỉnh Ninh Thuận
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp định lượng với định tính.
Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu
Để đánh giá việc thực hành tuân thủ vệ sinh tay ngoại khoa ở PTV mổ đẻ, chúng tôi sẽ tiến hành quan sát dựa trên bảng kiểm và áp dụng công thức chọn mẫu 1 tỷ lệ.
Trong đó, với z = 1,96 (khoảng tin cậy 95%) và d = 0,1
- Tỷ lệ tuân thủ VST trung bình của NVYT theo nghiên cứu của Đặng Thị Vân Trang [3], p = 0,30
- Cỡ mẫu n tính được n = 81, với dự phòng 10%, chúng tôi làm tròn và dự
Cỡ mẫu dự kiến cho nghiên cứu HUPH sẽ nằm trong khoảng 90-100 lượt quan sát, với sự tham gia của 16 bác sỹ PTV và 18 phụ mổ trong quá trình mổ đẻ Mỗi bác sỹ sẽ được quan sát 3 lượt vào các thời điểm: 1) Trước khi vào phòng mổ với thực hành vệ sinh tay ngoại khoa, 2) Sau khi vào để mổ đẻ với thực hành vệ sinh tay ngoại khoa, và 3) Trước/sau khi khám, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh ở phòng hậu phẫu với thực hành vệ sinh tay thường quy Do đó, cỡ mẫu dự kiến là 102, nhưng trong quá trình thu thập, số lần quan sát chính thức đã tăng lên 108.
* Ph ươ ng pháp ch ọ n m ẫ u:
- Ngày lẻ: r =1, sẽ thứ tự là 3,5,7
- Ngày chẵn: r = 2, sẽ thứ tự là 4,6,8
- Chọn theo thứ tự các ca mổ đẻ trong ngày, bắt đầu từ 7 giờ sáng hôm trước đến 7 giờ sáng hôm sau
Mỗi ngày, chúng tôi sẽ đánh giá khoảng 3 PTV và phụ mổ thông qua việc quan sát trực tiếp thực hành VST Đánh giá này dựa trên bảng kiểm, trong đó PTV và phụ mổ thực hiện quy trình vệ sinh tay thường quy và ngoại khoa tại BVĐKTNT.
● Lãnh đạo khoa/phòng: Phỏng vấn sâu (PVS)
Chúng tôi đã chọn mẫu chủ đích bao gồm lãnh đạo bệnh viện, trưởng phòng hoặc phó khoa sản, khoa Gây mê - phẫu thuật, khoa KSNK và Điều Dưỡng Trưởng, với mục tiêu thực hiện 6 cuộc phỏng vấn sâu tại 2 khoa.
Tiêu chí lựa chọn cán bộ y tế tham gia nhóm thảo luận bao gồm: (1) Là bác sĩ phẫu thuật viên phụ mổ đang làm việc tại khoa sản hoặc khoa gây mê - phẫu thuật của bệnh viện; (2) Đã được đào tạo về các quy trình vệ sinh tay ngoại khoa; (3) Thường xuyên thực hiện quy trình trước mổ MLT.
(4) Đồng ý tham gia nghiên cứu
● Bác sỹ, hộ sinh và điều dưỡng viên đang tham gia mổ đẻ: Thảo luận nhóm
Thực hiện 02 cuộc thảo luận nhóm với 4-5 cán bộ y tế tham gia mổ đẻ Tổng cộng thực hiện 2 cuộc thảo luận nhóm với 10 cán bộ y tế.
Phương pháp thu thập số liệu
Nhân lực và đào tạo là yếu tố quan trọng trong việc thực hiện mổ lấy thai, cùng với cơ sở vật chất và trang thiết bị cần thiết Việc sử dụng thuốc thiết yếu cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình mổ và phòng chống nhiễm khuẩn vết mổ sau khi thực hiện mổ lấy thai.
- Các văn bản, hướng dẫn thực hiện Quyết định số: 3916/QĐ-BYT ngày 28/8/2017 của Bộ trưởng Bộ Y Tế
- Số liệu để đo lường kỹ năng thực hành tuân thủ VST của NVYT
- Các thông tin về thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện các quy trình VST thường quy và ngoại khoa
2.5.2 Phương pháp thu thập số liệu
Bảng 2.1: Tóm tắt đối tượng và phương pháp nghiên cứu
STT Phương pháp thu thập thông tin Đối tượng và Cỡ mẫu Mục tiêu
1 Quan sát lâm sàng VST trước mổ
Bác sỹ PTV và phụ mổ thực hiện
(102 lượt NVYT thực hành VST)
QS kỹ năng thực hành quy trình VST
Lãnh đạo bệnh viện, Khoa sản, khoa KSNK, gây mê-phẫu thuật và Điều Dưỡng Trưởng 2 khoa
Thu thập thông tin về thuận lợi, khó khăn đến việc thực hiện
Cuộc thảo luận nhóm với cán bộ y tế và bà mẹ sau mổ lấy thai
Thu thập thông tin về thuận lợi, khó khăn đến việc thực hiện
Cách ti ế n hành thu th ậ p s ố li ệ u:
● Nhân lực, CSVC, TTB, thuốc và văn bản, hướng dẫn
Điều tra viên HUPH đã gặp bác sĩ trưởng khoa và nhân viên y tế trưởng khoa để thu thập dữ liệu về nhân lực và đào tạo Họ đã xem xét danh sách nhân viên y tế được đào tạo, đồng thời quan sát thực tế cơ sở vật chất, trang thiết bị và thuốc thiết yếu tại phòng mổ Kết quả được ghi chép vào bảng kiểm đánh giá nhân lực, cơ sở vật chất và trang thiết bị.
● Quan sát NVYT thực hành: hai quan sát viên và điền vào 2 bảng kiểm riêng biệt
Yêu cầu phòng đẻ thông báo cho nhóm nghiên cứu về các ca mổ đẻ sắp diễn ra, đồng thời phân công người giám sát đến phòng mổ chờ để thực hiện nhiệm vụ quan sát.
Trong quá trình quan sát, cặp quan sát viên di chuyển linh hoạt để đảm bảo có cái nhìn rõ ràng mà không làm gián đoạn công việc của cán bộ y tế, đồng thời không can thiệp hay phát ngôn trong các hoạt động của họ.
Trong quá trình quan sát VST trước mổ lấy thai, mỗi người tham gia ghi lại kết quả vào bảng kiểm cho từng lần quan sát Cuối buổi, họ so sánh kết quả với nhau; nếu có điểm không phù hợp, cần thảo luận và đối chiếu với hướng dẫn để đưa ra kết luận cuối cùng Thực tế cho thấy chỉ có một vài bước không thống nhất giữa hai người, và tất cả đều có thể được giải quyết sau khi thảo luận.
● Phỏng vấn sâu Lãnh đạo bệnh viện, Khoa sản, khoa KSNK, khoa gây mê- phẫu thuật và Điều Dưỡng Trưởng 2 khoa
Để tiến hành phỏng vấn sâu trong lĩnh vực NVYT, cần thực hiện các bước sau: gửi thư đề nghị, lựa chọn địa điểm phỏng vấn phù hợp, tốt nhất là tại phòng làm việc Trong buổi phỏng vấn, cần gặp gỡ và trình bày rõ mục đích, sau đó ghi nhận sự đồng ý của người tham gia Nội dung phỏng vấn cần được nêu rõ, ghi chép kết quả và có thể ghi âm để đảm bảo thông tin được lưu trữ chính xác.
Công cụ thu thập: Sổ, bút, máy ghi âm ghi
Cách ti ế n hành th ả o lu ậ n nhóm: Đề nghị trưởng khoa chọn 4-5 cán bộ tham gia VST trước mổ đẻ
- Nghiên cứu viên nêu mục đích nghiên cứu, bảo mật thông tin, ghi nhận sự đồng ý tham gia thảo luận
- Nghiên cứu viên nêu từng chủ đề nội dung gợi ý thảo luận, 1 NHS tổng hợp ghi ý kiến thảo luận, ghi âm nếu có
- Đọc lại ghi chép kết quả thảo luận và ghi nhận sự thống nhất của các thành viên tham gia
Nội dung phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm (phụ lục 4)
2.5.3 Công cụ thu thập số liệu
Bảng kiểm được phát triển dựa trên bộ công cụ và quy trình đánh giá tuân thủ rửa tay của Bộ Y tế, theo Quyết định 3916/QĐ-BYT năm 2017 Quyết định này cung cấp hướng dẫn kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, đặc biệt là quy trình vệ sinh tay ngoại khoa, được nêu rõ trong Phụ lục 1.
- Hướng dẫn thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu (Phụ lục 2).
Các biến số nghiên cứu
Bảng 2.2: Biến số nghiên cứu
TT Tên biến số Khái niệm biến số Phân loại
I Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
1 Tuổi Tuổi dương lịch Liên tục Thứ cấp
2 Giới Giới tính Nhị phân Thứ cấp
3 Nghề nghiệp Chức danh công tác Định danh
4 Trình độ học vấn Trình độ học vấn cao nhất Thứ bậc Thứ cấp
II Thực hành tuân thủ RT ngoại khoa ở CBYT
5 Số cơ hội thực hành rửa tay
Là số cần thực hiện rửa tay khi có cơ hội/chỉ định rửa tay Phân loại Bảng kiểm
6 Thực hiện rửa Là số cần thực hiện rửa tay Phân loại Bảng kiểm
TT Tên biến số Khái niệm biến số Phân loại
Phương pháp thu thập tay ngoại khoa bằng nước và xà phòng khi có cơ hội/chỉ định rửa tay
RT ngoại khoa của NVYT
Tỷ lệ tuân thủ rửa tay theo các cơ hội/thời điểm rửa tay trong phạm vi nghiên cứu
* Chủ đề phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cán bộ y tế:
- Yếu tố nào thúc đẩy NVYT tăng cường tuân thủ rửa tay ngoại khoa
- Yếu tố nào là rào cản, cản trở tuân thủ rửa tay ngoại khoa của NVYT
- Mong muốn của NVYT khi thực hiện rửa tay ngoại khoa.
Tiêu chuẩn đánh giá
Quy trình r ử a tay th ườ ng quy:
- Đạt: thực hiện thứ tự 6 bước, thời gian trên 3 phút
- Không đạt: thực hiện không đúng 2 yêu cầu trên
Quy trình r ử a tay ngo ạ i khoa:
Đạt yêu cầu thực hiện đúng quy trình rửa tay, bao gồm việc chà tay bằng bàn chải ít nhất 30 giây và rửa tay bằng xà phòng vô khuẩn hai lần, với tổng thời gian tối thiểu là 3 phút.
- Không đạt: không thực hiện đúng 3 yêu cầu trên
Các tiêu chuẩn đánh giá được quy định bởi khoa KSNK tại bệnh viện tỉnh Ninh Thuận, cùng với Hướng dẫn vệ sinh tay trong các cơ sở khám chữa bệnh năm 2017 của Bộ Y tế, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và đảm bảo an toàn cho bệnh nhân.
Phương pháp phân tích số liệu
Số liệu sau khi thu thập được làm sạch và nhập liệu bằng phần mềm Epidata
Sử dụng phần mền SPSS 16.0 để phân tích số liệu theo mục tiêu nghiên cứu OR
HUPH được áp dụng để phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố cá nhân, kiến thức, thái độ và tỷ lệ tuân thủ rửa tay ngoại khoa của nhân viên y tế Kiểm định khi bình phương (χ2) được sử dụng để đánh giá mối tương quan này.
Sau khi thu thập, các số liệu định tính được đọc lại và phân tích thông qua việc mã hóa, ghi nhớ và phân loại theo các chủ đề phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.
Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
- Đề cương nghiên cứu đã được Hội Đồng đạo đức trường đại học YTCC thông qua, số 277/2018/YTCC-HD3 ngày 23 tháng 04 năm 2018
- Nghiên cứu được thực hiện với sự đồng ý của BVĐK tỉnh Ninh Thuận
- Các đối tượng nghiên cứu được thông báo rõ về mục đích nghiên cứu và đều đồng ý tham gia nghiên cứu
- Các thông tin cá nhân về đối tượng được giữ bí mật bằng cách mã hoá.
Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục
2.10.1 Hạn chế của nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian và nhân lực, nghiên cứu chỉ thực hiện qua một điều tra cắt ngang, dẫn đến việc kết quả chỉ phản ánh tại thời điểm nghiên cứu Việc đánh giá thực hành vệ sinh tay qua quan sát trực tiếp gặp khó khăn do bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Thuận không có camera, điều này làm giảm độ tin cậy của phương pháp, vì tỷ lệ tuân thủ khi quan sát qua camera thường thấp hơn Nhiều nhân viên y tế không tuân thủ vệ sinh tay nhưng lại thực hiện khi có người quan sát Nghiên cứu chỉ xác định tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay ngoại khoa mà chưa đánh giá hiệu quả của quy trình, và nghiên cứu hiệu quả sẽ cần một quy mô lớn hơn Ngoài ra, nghiên cứu định tính chưa khai thác hết các yếu tố ảnh hưởng đến việc tuân thủ rửa tay thường quy trong bệnh viện.
2.10.2 Sai số và biện pháp khắc phục sai số
Việc thu thập thông tin từ nhân viên y tế có thể bị sai lệch do họ có xu hướng cải thiện hành vi khi biết mình đang bị quan sát Để giảm thiểu tác động này, người quan sát cần chọn vị trí phù hợp nhằm tránh gây chú ý cho đối tượng trong quá trình quan sát.
Nghiên cứu định tính thường gặp khó khăn về thông tin do kỹ năng phỏng vấn sâu và điều hành thảo luận còn hạn chế Để khắc phục điều này, người phỏng vấn và điều hành thảo luận cần nắm rõ các hướng dẫn và xây dựng chúng dựa trên tiêu chí đảm bảo rõ ràng, dễ hỏi và dễ hiểu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.3: Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu Đặc điểm
Số đối tượng nghiên cứu: n = 34 Tần số Tỷ lệ %
Tuổi trung bình ± SD (Nhỏ nhất-lớn nhất) 36 ± 16 (26 – 60)
Bằng cấp chuyên môn cao nhất
Sau Đại học 6 17,6 Đại học 7 20,1
Nghiên cứu được thực hiện trên 34 nhân viên y tế tham gia mổ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận, trong đó nữ giới chiếm 61,8% (21/34) và nam giới chiếm 38,2%.
Tuổi trung bình của đối tượng nghiên cứu là 36 tuổi (SD: 16), NVYT trẻ nhất là
26 tuổi, và cao tuổi nhất là 60 tuổi Phần lớn thuộc nhóm tuổi dưới 35 tuổi (19 nhân
HUPH viên chiếm tỷ lệ 55,8%); tiếp đến nhóm tuổi 35-45 tuổi (20,6%) và nhóm từ 45 tuổi trở lên (23,5%)
Trong nhóm nhân viên y tế, tỷ lệ cao nhất là những người có thâm niên công tác dưới 10 năm, chiếm 73,5% với 25 nhân viên Nhóm có thâm niên từ 15-20 năm có 6 nhân viên, chiếm 16,6%, trong khi nhóm có thâm niên trên 20 năm chỉ chiếm 8,8%.
Trong số nhân viên NVYT, tỷ lệ người có trình độ trung học và cao đẳng chiếm ưu thế với 21 nhân viên, tương đương 61,8% Tiếp theo, nhóm có trình độ đại học và sau đại học mỗi nhóm đều chiếm tỷ lệ 17,6%.
Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của phẫu thuật viên mổ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Bảng 3.4: Tỷ lệ có rửa tay trong số lần được quan sát Kết quả quan sát
Số lần quan sát được (a)
Số lần quan sát có rửa tay (b)
Tỷ lệ % có rửa tay (b/a*100)
1 Trước khi vào phòng mổ đẻ 36 35 97,2
3 Trước/ sau khi khám, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh ở phòng hậu phẫu 37 32 86,5
Trong nghiên cứu, tổng số lần quan sát là 108, với tỷ lệ rửa tay đạt 94,4% Đặc biệt, tỷ lệ rửa tay cao nhất được ghi nhận sau khi mổ đẻ, đạt 100% đối tượng thực hiện.
Kết quả này nhất quán với quan điểm của cán bộ phụ trách khoa sản, cán bộ phụ trách kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) và các nhân viên tham gia cung cấp dịch vụ mổ đẻ, được thể hiện qua các cuộc phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm.
Cán bộ y tế cần tuân thủ nghiêm ngặt quy định rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân, đặc biệt là trước và sau khi thực hiện mổ đẻ Tuy nhiên, trong quá trình khám ở phòng hậu phẫu, việc tuân thủ quy định này vẫn chưa đạt 100%.
Chúng tôi luôn tuân thủ vệ sinh tay trước, trong và sau khi thực hiện các thủ thuật Việc này không chỉ là thói quen mà còn rất quan trọng đối với nhân viên y tế Rửa tay đúng cách là một yếu tố thiết yếu trong quy trình chăm sóc sức khỏe.
Trong 86,5% các lần quan sát, đối tượng nghiên cứu không rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với bà mẹ tại phòng hậu phẫu Kết quả từ thảo luận nhóm cho thấy nhiều bác sĩ và điều dưỡng vẫn chưa thực hiện việc rửa tay do quên, nguyên nhân chủ yếu là do khối lượng công việc quá lớn.
Trong quá trình làm việc, đôi khi chúng tôi quên hoặc vội vàng do có nhiều bệnh nhân hoặc phải tham gia họp Việc sát khuẩn tay trước khi tiếp xúc với bệnh nhân mất khoảng 3 – 5 phút, điều này khiến nhiều người cảm thấy ngại.
Trong quá trình thăm khám, bác sĩ thường chuyển từ bệnh nhân này sang bệnh nhân khác mà không có sẵn dung dịch vệ sinh tay Mặc dù ai cũng nhận thức được tầm quan trọng của việc rửa tay, nhưng do sự tiện lợi, nhiều khi điều dưỡng và bác sĩ vẫn chưa thực hiện việc này.
Bảng 3.5: Dung dịch được sử dụng khi vệ sinh tay
Bằng nước Bằng nước và xà phòng
1 Trước khi vào phòng mổ đẻ (N6) 2 5,5 2 5,5 32 88,9
3 Trước/ sau khi khám, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh ở phòng hậu phẫu (N7)
Rửa tay bằng cồn và dung dịch chứa cồn là phương pháp phổ biến nhất, chiếm 84,3% với 91 lần quan sát, trong khi rửa tay bằng nước và xà phòng chỉ chiếm 11,1% với 12 lần Việc rửa tay chỉ với nước chiếm 6,5% (7 lần) Đặc biệt, nước và xà phòng được sử dụng nhiều nhất trước và sau khi khám, cũng như khi tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân ở phòng hậu phẫu, chiếm gần 30% Tuy nhiên, qua thảo luận nhóm, các bác sĩ vẫn chưa hình thành thói quen sát khuẩn tay nhanh.
Mặc dù Bệnh viện đã đặt dung dịch sát khuẩn nhanh ở những vị trí dễ tiếp cận như bồn rửa tay và phát cho nhân viên, nhưng nhiều nhân viên vẫn chưa quen với việc sử dụng sản phẩm này để vệ sinh tay.
Hình 3.4: Tỷ lệ rửa tay trước/ sau khi khám, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh ở phòng hậu phẫu đúng cách Đạt 86,5%
Tỷ lệ rửa tay đúng cách khi tiếp xúc với bệnh nhân ở phòng hậu phẫu
Hình 3.5: Tỷ lệ rửa tay ngoại khoa đúng cách
Hình 3.3 và 3.4 cho thấy tỷ lệ rửa tay thường quy và rửa tay ngoại khoa đúng cách của đối tượng nghiên cứu Tổng cộng, 18% nhân viên y tế vẫn chưa thực hiện rửa tay đúng cách, điều này phù hợp với nhận định của Trưởng khoa Ngoại Sản về thực trạng tuân thủ rửa tay của cán bộ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận.
Các cán bộ của chúng tôi thực hiện việc rửa tay khá tốt, tuy nhiên, do quy trình yêu cầu thời gian rửa tay từ 3-5 phút, nên nhiều khi họ vẫn chưa hoàn thành đúng yêu cầu.
Bảng 3.6: Tỷ lệ thực hiện đạt quy trình rửa tay tại trước/ sau khi khám, tiếp xúc trực tiếp với người bệnh ở phòng hậu phẫu Kết quả quan sát
1 Bước 1: Làm ướt 2 lòng bàn tay bằng nước Lấy xà phòng và chà 2 lòng bàn tay vào nhau
Tỷ lệ rửa tay ngoại khoa đúng cách
2 Bước 2: Chà lòng bàn tay này lên mu và kẽ ngoài các ngón tay của bàn tay kia và ngược lại
3 Bước 3: Chà 2 lòng bàn tay vào nhau, miết mạnh các kẽ trong ngón tay
4 Bước 4: Chà mặt ngoài các ngón tay của bàn tay này vào lòng bàn tay kia
5 Bước 5: Dùng bàn tay này xoay ngón cái của bàn tay kia và ngược lại
6 Bước 6: Xoay các đầu ngón tay này vào lòng bàn tay kia và ngược lại Rửa sạch tay dưới vòi nước chảy đến cổ tay và làm khô tay
Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng bảng kiểm rửa tay thường quy để đánh giá hành vi rửa tay trước và sau khi khám bệnh tại phòng hậu phẫu là cần thiết Tuy nhiên, nhiều cán bộ y tế vẫn chưa thực hiện đầy đủ 6 bước rửa tay Đặc biệt, tỷ lệ thực hiện bước 5 và bước 6, bao gồm việc xoay ngón tay và rửa sạch tay dưới vòi nước chảy, còn rất thấp, chỉ đạt 40,5%.
Kết quả này phản ánh đúng nhận định của cán bộ phụ trách và lãnh đạo bệnh viện về tình hình tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận.
Rửa tay trước và sau khi tiếp xúc với bệnh nhân hoặc thực hiện thủ thuật là rất quan trọng, nhưng chất lượng thực hiện vẫn còn nhiều vấn đề Mặc dù mỗi lần rửa tay mất từ 3-5 phút, nhưng không phải lúc nào các cán bộ cũng thực hiện đúng cách.
Nhiều cán bộ mặc dù đã hiểu biết nhưng lại cho rằng chỉ cần áp dụng kinh nghiệm là đủ, mà không chú trọng đến việc thực hiện các biện pháp cần thiết như rửa tay đúng cách.
HUPH phải theo đủ 6 bước đâu Cần phải tập huấn và có chính sách phù hợp mới được”_TLN
Bảng 3.7: Tỷ lệ thực hiện đạt quy trình rửa tay ngoại khoa
- Làm ướt bàn tay, lấy 3 – 5ml dd khử khuẩn trải đều khắp lòng bàn tay
- Chà sạch kẻ móng tay của từng bàn tay trong 30 giây
Lấy 3- 5ml dd khử khuẩn
- Chà lòng bàn tay (5 lần)
- Chà mu bàn tay (5 lần)
3 Bước 3: Chà cổ tay, cẳng tay khuỷu tay 63/71
Một số yếu tố liên quan đến thực hành rửa tay của phẫu thuật viên mổ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Hình 3.6: Tỷ lệ tuân thủ rửa tay ngoại khoa theo giới tính
Kết quả từ Hình 3.5 cho thấy tỷ lệ tuân thủ của nhân viên nam đạt 85,4%, cao hơn so với tỷ lệ 80,6% của nhân viên nữ.
Không tuân thủ Có tuân thủ
Hình 3.7: Tỷ lệ tuân thủ rửa tay ngoại khoa theo chuyên môn
Hình 3.6 cho thấy mối liên hệ giữa trình độ học vấn và tỷ lệ tuân thủ, trong đó bác sĩ có tỷ lệ tuân thủ gần 90%, trong khi nhóm điều dưỡng và nữ hộ sinh chỉ đạt 75%.
Bảng 3.8: Mối liên quan giữa một số yếu tố với tuân thủ rửa tay ngoại khoa ở nhóm đối tượng nghiên cứu
Không tuân thủ vệ sinh tay
Tuân thủ vệ sinh tay
OR (CI 95%) p Tần số % Tần số %
3 Bằng cấp chuyên môn cao nhất Đại học và sau đại học 3 8,1 34 91,9 0,3
Cao đẳng và trung học 16 22,5 55 77,5
4 Thâm niên công tác tại bệnh viện
Không tuân thủ vệ sinh tay
Tuân thủ vệ sinh tay
OR (CI 95%) p Tần số % Tần số %
(0,1 – 1,3) 0.112 Điều dưỡng/ nữ hộ sinh 20 25,0 60 75,0
Bảng 3.8 trình bày kết quả phân tích các yếu tố liên quan đến tuân thủ việc rửa tay trước/sau khi khám tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân ở phòng hậu phẫu Sử dụng kiểm định Khi bình phương (χ2), kết quả cho thấy nhóm tuổi trẻ hơn (< 35 tuổi) và thâm niên công tác thấp hơn (≤ 15 năm) thực hành rửa tay tốt hơn nhóm lớn tuổi (≥ 35 tuổi) và thâm niên cao hơn (> 15 năm) Ngoài ra, nhóm có học vấn cao hơn (đại học và sau đại học) cũng thực hành tốt hơn nhóm có trình độ thấp hơn (cao đẳng/trung cấp), và bác sĩ thực hành rửa tay tốt hơn điều dưỡng/nữ hộ sinh Tuy nhiên, không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong các kiểm định được sử dụng.
• Các y ế u t ố thúc đẩ y tuân th ủ r ử a tay ngo ạ i khoa ở cán b ộ y t ế
Nghiên cứu định tính cho thấy các yếu tố thúc đẩy rửa tay ngoại khoa bao gồm hoạt động tập huấn và tuyên truyền về phòng chống nhiễm khuẩn hàng năm, cùng với việc ban hành quy định về rửa tay thường quy Bệnh viện cũng áp dụng chế tài xử phạt đối với cán bộ không tuân thủ quy định này.
Hàng năm, chúng tôi tổ chức các buổi tập huấn và tuyên truyền về NKVM Trong quá trình kiểm tra giám sát, những ai vi phạm sẽ nhận được hỗ trợ, nhưng nếu không cải thiện thì sẽ bị xử phạt Chúng tôi cũng kết hợp thi đua theo khoa và đơn vị.
Bệnh viện đã ban hành quy định về thi đua, khen thưởng, tập huấn về rửa tay:
Để đảm bảo quy trình mổ đẻ diễn ra an toàn và hiệu quả, cần có sự trao đổi và hướng dẫn cụ thể về trách nhiệm của bác sĩ, điều dưỡng và nữ hộ sinh tham gia Tất cả các cán bộ tham gia phẫu thuật phải nắm rõ nhiệm vụ của mình.
Kiểm tra, giám sát thường xuyên giúp nhân viên y tế thực hành rửa tay tốt hơn:
Để đảm bảo chất lượng dịch vụ trong bối cảnh cạnh tranh hiện nay, việc tuân thủ quy trình giám sát và kiểm tra là rất quan trọng Nhân viên y tế cần ý thức rõ ràng về trách nhiệm của mình, vì nếu không thực hiện nghiêm túc, họ sẽ phải chịu hậu quả Sự giám sát thường xuyên sẽ thúc đẩy nhân viên chú tâm hơn vào công việc, giúp họ làm đúng quy trình và tránh bị phạt.
Hình thức khen thưởng đã được áp dụng tại bệnh viện nhưng chưa thường xuyên, phê bình và còn mang tính nể nang, hình thức:
Bệnh viện có cơ chế khen thưởng, nhưng thực tế mọi người vẫn gặp khó khăn trong việc thực hiện Việc làm nghiêm túc thường chỉ diễn ra trong các đợt kiểm tra, trong khi cán bộ chuyên trách lại không thực sự tham gia Tình trạng này dẫn đến sự thông cảm và nể nang giữa các nhân viên.
BÀN LUẬN
Thực trạng tuân thủ vệ sinh tay của phẫu thuật viên mổ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Nghiên cứu này bao gồm 34 bác sỹ và phụ mổ tại BVĐK Ninh Thuận, đánh giá quy trình rửa tay ngoại khoa, một trong những nghiên cứu thực tiễn hiếm hoi tại Việt Nam Trong số 34 nhân viên y tế tham gia, nữ giới chiếm 61,8% (21/34), trong khi nam giới chiếm 38,2% Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu trước đây về rửa tay tại Vĩnh Phúc.
[11] hay Hòe Nhai, Hà Nội [4]
Đối tượng nghiên cứu có tuổi trung bình là 36 tuổi, với cán bộ y tế trẻ nhất là 26 tuổi và cao tuổi nhất là 60 tuổi Kết quả phỏng vấn cho thấy, nhân viên y tế tại đây chủ yếu thuộc nhóm tuổi dưới 35, chiếm tỷ lệ 55,8% Tỷ lệ này cũng tương đồng với nghiên cứu của tác giả Phùng Văn Thủy tại BVĐK Vĩnh Phúc, với tỷ lệ 51%.
[11] hay nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền tại BVĐK Hòe Nhai với tỷ lệ 56% [4]
BVĐK tỉnh Ninh Thuận đang dần tự chủ và hội nhập, với định hướng lãnh đạo tập trung vào việc tuyển dụng nhân viên y tế trẻ để bổ sung cho đội ngũ có kinh nghiệm Nhóm phẫu thuật viên và phụ mổ có gần 75% là những người có thâm niên dưới 10 năm, trong khi khoảng 1/3 cán bộ sở hữu bằng cấp sau đại học và đại học Mô hình này tương đồng với các nghiên cứu khác, như của Hoàng Thị Xuân Hương tại Bệnh viện Đống Đa và Nguyễn Việt Hùng tại các bệnh viện phía Bắc.
Nghiên cứu quan sát trực tiếp cho thấy tỷ lệ tuân thủ vệ sinh tay của nhân viên y tế đạt 94,8% qua 108 lần vệ sinh Tỷ lệ này cao hơn nhiều so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Anh tại bệnh viện Xanh Pôn (58,3%) và nghiên cứu của Phùng Văn Thủy (41,7%), cũng như nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền tại BVĐK Hòe Nhai, Hà Nội.
Kết quả nghiên cứu này đạt mức cao, có thể do phương pháp đánh giá thực hành vệ sinh tay được thực hiện thông qua quan sát trực tiếp.
Nghiên cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận cho thấy việc quan sát thực hành vệ sinh tay qua camera là khách quan hơn, nhưng bệnh viện chưa lắp đặt camera Nhân viên y tế, đặc biệt là phẫu thuật viên, có ý thức cao về vệ sinh tay nhằm chống nhiễm khuẩn Năm 2017, bệnh viện đã tổ chức nhiều hoạt động tập huấn về Quyết định số 3916/QĐ-BYT, góp phần nâng cao tuân thủ vệ sinh tay Nghiên cứu đánh giá quy trình rửa tay ngoại khoa tại ba thời điểm: trước khi vào phòng mổ, sau khi mổ, và trước/sau khi khám hậu phẫu Kết quả cho thấy tỷ lệ tuân thủ cao sau khi mổ và trước khi vào phòng mổ, nhưng thấp hơn trong chăm sóc hậu phẫu, do nhân viên y tế cảm thấy ít nguy cơ hơn Mặc dù tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với các nghiên cứu trước đó, vẫn cần tăng cường nhận thức và thay đổi thái độ về rửa tay trong chăm sóc hậu phẫu.
Nghiên cứu cho thấy khoảng 20% nhân viên y tế vẫn chưa thực hiện rửa tay đúng cách Kết quả từ thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu cho thấy nhân viên y tế thiếu kiến thức về quy trình rửa tay đúng cách và chưa quan tâm đầy đủ đến việc thực hiện Mặc dù có sự cải thiện trong hành vi rửa tay nhờ nhận thức về nguy cơ nhiễm khuẩn, việc thực hiện đúng quy trình rửa tay vẫn rất quan trọng.
HUPH vết mổ và vết thương trong mổ đẻ có nguy cơ nhiễm khuẩn nếu quy trình rửa tay không được thực hiện đúng cách theo quy định của Bộ Y tế Điều này dự báo nguy cơ nhiễm khuẩn bệnh viện (NKBV) cho bệnh nhân do bàn tay của nhân viên y tế Phòng chống NKBV là một chuỗi các mắt xích cần được thực hiện nghiêm túc mọi lúc, mọi nơi Bệnh viện cần tăng cường nhắc nhở nhân viên y tế trong các buổi tập huấn và giám sát tỷ lệ tuân thủ quy trình rửa tay ngoại khoa, đặc biệt sau mổ đẻ Bệnh nhân có quyền được chăm sóc và điều trị an toàn, không bị lây nhiễm bệnh từ bệnh viện, do đó cần có giải pháp để nhân viên y tế tuân thủ quy trình rửa tay đúng và đủ, cùng với các biện pháp bảo vệ khác nhằm đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và nhân viên y tế.
Một số yếu tố liên quan tới tuân thủ vệ sinh tay của phẫu thuật viên mổ đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
đẻ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Thuận
Nghiên cứu cho thấy nhóm tuổi trẻ hơn (dưới 35 tuổi) và nhóm có thâm niên công tác thấp hơn (≤ 15 năm) thực hành rửa tay tốt hơn nhóm lớn tuổi hơn (≥ 35 tuổi) và nhóm có thâm niên > 15 năm Ngoài ra, nhân viên y tế có trình độ học vấn cao hơn (đại học và sau đại học) cũng thực hành tốt hơn so với những người có trình độ cao đẳng/trung cấp Các nghiên cứu của Phùng Văn Thủy tại BVĐK Vĩnh Phúc và Hoàng Thị Hiền tại BVĐK Hòe Nhai cũng chỉ ra rằng trình độ học vấn của nhân viên y tế có mối liên quan đến kiến thức về rửa tay thường quy, cho thấy nhân viên y tế có trình độ học vấn cao hơn sẽ có kiến thức tốt hơn về quy trình này.
Chúng tôi không phát hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các biến nhân khẩu học và việc tuân thủ rửa tay ngoại khoa trong nghiên cứu của mình, có thể do số lần quan sát rửa tay còn thấp Tương tự, nghiên cứu của Hoàng Thị Hiền và Phùng Văn Thủy cũng cho thấy sự chênh lệch giữa các nhóm nhân viên y tế với đặc tính nhân khẩu học khác nhau nhưng không tìm ra ý nghĩa thống kê.
BVĐK tỉnh Ninh Thuận đã triển khai nhiều biện pháp nhằm nâng cao ý thức tuân thủ rửa tay thường quy của nhân viên y tế, bao gồm việc ban hành quy định, kiểm tra giám sát thường xuyên, và thiết lập hệ thống thi đua khen thưởng Đào tạo và tập huấn về rửa tay cũng được thực hiện để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc này Theo Didier, việc tăng cường tập huấn là cần thiết để thay đổi hành vi và duy trì sự tuân thủ bền vững.
Tác giả Hoàng Thị Xuân Hương đã thực hiện can thiệp tập huấn về rửa tay thường quy, phát tờ rơi và bổ sung thiết bị vệ sinh, giúp tăng tỷ lệ tuân thủ rửa tay của nhân viên y tế từ 53,1% lên 60,4% Tập huấn cho nhân viên y tế và cung cấp phương tiện rửa tay là biện pháp khả thi để nâng cao tỷ lệ rửa tay Nội dung tập huấn bao gồm nhận thức về tầm quan trọng của rửa tay, mức độ lây truyền vi sinh vật, mối liên quan giữa rửa tay và nhiễm khuẩn bệnh viện, thời điểm rửa tay, hóa chất và kỹ thuật rửa tay đúng Phương pháp tập huấn kết hợp lý thuyết và thực hành sẽ mang lại hiệu quả cao, giúp cán bộ nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của rửa tay, từ đó nâng cao mức độ tuân thủ.
Nghiên cứu cho thấy rằng việc kiểm tra và giám sát có tác động tích cực đến việc tuân thủ quy trình rửa tay và nâng cao kiến thức về rửa tay cho nhân viên y tế Hiện tại, giám sát chủ yếu do phòng điều dưỡng và cán bộ kiểm soát nhiễm khuẩn đảm nhiệm Khi có sự hiện diện của cán bộ giám sát, nhân viên y tế thực hiện tốt quy trình rửa tay, nhưng khi không có, việc tuân thủ giảm sút Để cải thiện công tác giám sát, bệnh viện cần hỗ trợ nhân viên y tế, tìm hiểu những khó khăn mà họ gặp phải và đề xuất các giải pháp khắc phục, từ đó nâng cao tỷ lệ tuân thủ rửa tay trong toàn bệnh viện.
Kết quả phỏng vấn sâu chỉ ra rằng, các yếu tố như sự sắp xếp và bố trí hợp lý các phương tiện VST, cùng với việc trang bị đầy đủ thiết bị và hóa chất, là rất quan trọng để đảm bảo tính tiện lợi và hiệu quả trong công việc.
HUPH sẵn có, tiếp cận phương tiện VST, dễ dàng khi thực hành, ảnh hưởng tới tuân thủ VST.
Đóng góp và hạn chế của nghiên cứu
4.3.1 Đóng góp chính của nghiên cứu Đây là một trong số ít các nghiên cứu thực hành, theo hiểu biết của tác giả, thực hiện đánh giá quy trình vệ sinh tay ngoại khoa trên đối tượng bác sỹ PTV, phụ mổ tại Việt Nam Nghiên cứu này của chúng tôi góp phần đánh giá thực hành vệ sinh tay ngoại khoa từ đó giúp tăng cường công tác chống NKBV Nghiên cứu giúp chỉ ra các yếu tố tạo thuận cũng như cản trở việc thực hành đúng, đủ vệ sinh tay ngoại khoa chứ không chỉ là có vệ sinh tay
4.3.2 Hạn chế của nghiên cứu Đây là một nghiên cứu được thiết kế tại Bệnh viện thông qua quan sát lặp lại
3 lần trên 34 cán bộ y tế nên mẫu có thể thiếu tính đại diện cho các bệnh viện khác
Và do cỡ mẫu hạn hẹp nên nhiều các yếu tố liên quan chúng tôi không tìm thấy có ý nghĩa thống kê trong các kiểm định của nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài có hạn, do đó không thể tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện, phân tích và viết báo cáo.