Đối tượng nghiên cứu
- Bệnh nhân sau phẫu thuật tại khoa Ngoại Tổng hợp Bệnh Viện Đa Khoa Vùng Tây Nguyên
- Hồ sơ bệnh án của bệnh nhân
- Người nhà bệnh nhân (Đối với bệnh nhân nhi 7 ngày) trước PT 31 8,5
Trong số 365 người tham gia nghiên cứu, có 5 người mắc bệnh tiểu đường, tương ứng 1,4%, 92 người mắc các bệnh suy giảm miễn dịch (ung thư, lao ), chiếm 25,2%,
55 người mắc các bệnh khác 15.1%) 42 người có tiền sử hoạt động (11,3%) có 2 người bệnh nặng trước mổ chiếm 0,5% và 31 bệnh nhân nằm viện trên 7 ngày trước mổ là 8,5%
Bảng 3.4 Đặc điểm phẫu thuật của người bệnh Đặc điểm Tần số
Có dùng KS dự phòng 64 17,5
Có dùng KS sau mổ 365 100
Trong nghiên cứu, có 240 bệnh nhân mổ cấp cứu, chiếm 65,8%, trong khi 125 bệnh nhân mổ phiên chiếm 34,2% Phân loại phẫu thuật cho thấy phẫu thuật sạch nhiễm chiếm tỷ lệ lớn nhất với 289 người, tương đương 79,2% Cả phẫu thuật nhiễm và bẩn đều có 8 người, mỗi loại chiếm 2,2%.
Thời gian mổ 60 có 105 bệnh nhân, với 11 bệnh nhân NKVM, tỷ lệ cao nhất đạt 42,3%.
Trong nghiên cứu, có 218 bệnh nhân nam tham gia, nhiều hơn so với 147 bệnh nhân nữ Trong số đó, có 21 trường hợp nhiễm khuẩn viêm màng não (NKVM) ở nam giới, chiếm tỷ lệ 80,8%, trong khi có 5 trường hợp NKVM ở nữ giới, chiếm tỷ lệ 19,2%.
Bảng 3.8 Mối liên quan giữa nhóm tuổi, tình trạng dinh dưỡng và điểm ASA Đặc điểm NKVM n(%)
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa nhiễm trùng vết mổ và chỉ số BMI Bệnh nhân có BMI thuộc nhóm gầy hoặc thừa cân có nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 3,1 lần so với những người có BMI bình thường (CI 95% của OR: 1,36-7,05) Ngoài ra, bệnh nhân có điểm ASA trước mổ ≥ 3 có nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 6,2 lần so với những người có điểm ASA < 3 (p7 ngày) trước
Nhóm bệnh nhân mắc tiểu đường có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) cao hơn so với nhóm không mắc tiểu đường, với nguy cơ nhiễm trùng tăng lên đến 9,3 lần Sự liên quan giữa NKVM và bệnh tiểu đường là có ý nghĩa thống kê, với khoảng tin cậy 95% của tỷ lệ odds (OR) nằm trong khoảng từ 1,48 đến 58,6.
Nhóm bệnh nhân mắc bệnh khác có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) cao hơn so với nhóm không mắc bệnh khác, cho thấy có mối liên hệ giữa NKVM và sự hiện diện của các bệnh lý khác.
HUPH có nguy cơ nhiễm trùng lên đến 2,8 lần với những bệnh nhân không mắc bệnh khác, có ý nghĩa thống kê (CI 95% của OR: 1,14-6,71)
Nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ giữa nhiễm trùng vết mổ và nhóm bệnh nhân đã từng phẫu thuật Cụ thể, bệnh nhân đã từng phẫu thuật có nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 3,2 lần so với những bệnh nhân chưa từng phẫu thuật, với kết quả có ý nghĩa thống kê (CI 95% của OR: 1,26-8,15).
Nhóm bệnh nhân có tình trạng điều trị dài ngày có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn 3,8 lần so với nhóm có tình trạng điều trị ngắn ngày, với kết quả này có ý nghĩa thống kê (CI 95% của OR: 1,39-10,23).
Nhiều yếu tố gây ra nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM), trong đó tiền sử mắc bệnh của bệnh nhân là yếu tố quan trọng, bao gồm cao huyết áp, tiểu đường, thừa cân và những bệnh nhân đã từng phẫu thuật Những yếu tố này làm giảm sức đề kháng của bệnh nhân trước phẫu thuật, dẫn đến tăng tỷ lệ NKVM.
3.3.2 Yếu tố phẫu thuật và điều trị
Bảng 3.10 Phân loại phẫu thuật với hình thức phẫu thuật Hình thức
PT sạch PT sạch nhiễm
PT nhiễm PT bẩn Tổng
Trong tổng số 240 bệnh nhân mổ cấp cứu, có 209 ca phẫu thuật sạch nhiễm, chiếm tỷ lệ cao nhất là 87,1% Đối với 125 bệnh nhân mổ phiên, có 80 trường hợp mổ sạch nhiễm, tương đương 64%, trong khi chỉ có 2 ca phẫu thuật bẩn, chiếm 1,6%, và không có ca phẫu thuật nhiễm nào.
Bảng 3.11 Mối liên quan giữa đặc điểm phẫu thuật và nhiễm khuẩn vết mổ Đặc điểm NKVM n(%)
Mổ phiên 8(6,4) 117(93,6) 125 Phân loại phẫu thuật
Phẫu thuật sạch- sạch nhiễm
Nhóm phẫu thuật nhiễm-bẩn có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) lên đến 81,2%, cao hơn nhiều so với nhóm phẫu thuật sạch-sạch nhiễm chỉ 3,7% Có mối liên hệ rõ ràng giữa NKVM và phân loại mổ, với nguy cơ nhiễm trùng ở bệnh nhân nhóm phẫu thuật nhiễm-bẩn cao gấp 22,4 lần so với nhóm phẫu thuật sạch-sạch nhiễm (CI 95% của OR: 0,002-0,04).
Nhóm bệnh nhân có thời gian mổ từ 120 phút trở lên có tỷ lệ nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) cao hơn 37,5% so với nhóm có thời gian mổ dưới 120 phút, cho thấy có mối liên hệ giữa thời gian mổ và nguy cơ NKVM.
120 phút có nguy cơ gấp 6,5 lần so với những bệnh nhân có thời gian mổ 0,05 Tuy nhiên, người bệnh lớn tuổi có sức đề kháng yếu hơn với vi khuẩn, dẫn đến nguy cơ nhiễm trùng vết mổ cao hơn Do đó, việc chuẩn bị phẫu thuật cho bệnh nhân cao tuổi cần được thực hiện cẩn thận nhằm giảm thiểu nguy cơ nhiễm trùng.
Bệnh nhân có chỉ số BMI thuộc nhóm bất thường có nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 3,1 lần so với nhóm bình thường, với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thị Lai.
Tình trạng bệnh trước mổ ảnh hưởng lớn đến quá trình điều trị sau mổ, với mối liên hệ rõ ràng giữa nhiễm trùng vết mổ và điểm ASA Bệnh nhân có điểm ASA ≥ III trước mổ có nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 6,2 lần so với bệnh nhân có điểm ASA < III (P< 0,05) Nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với khuyến nghị của Hiệp hội Gây mê và Hồi sức Thế giới, cũng như các nghiên cứu trong nước và quốc tế Cụ thể, điều tra của Trần Đỗ Hùng và Dương Văn Hoành cho thấy điểm ASA càng cao thì tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ càng tăng, với ASA = IV, nguy cơ nhiễm trùng tăng gấp 4 lần so với bệnh nhân có ASA bình thường Ngoài ra, nghiên cứu của Nguyễn Thị Lài chỉ ra rằng tỷ lệ nhập viện ở bệnh nhân ASA ≥ 3 cao hơn so với bệnh nhân ASA < 3, với ý nghĩa thống kê rõ ràng.
Nhóm bệnh nhân tiểu đường và các bệnh đi kèm khác có tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn so với nhóm bệnh nhân không bị đái tháo đường, đặc biệt là những người đã từng phẫu thuật, mắc bệnh nặng trước mổ và nằm viện điều trị dài ngày.
Nghiên cứu của Nguyễn Quốc Anh (2008) và Đặng Hồng Thanh (2011) cho thấy mối liên hệ giữa bệnh đi kèm và tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ, đặc biệt ở bệnh nhân phẫu thuật có các bệnh lý như tiểu đường, tiền sử phẫu thuật, và các bệnh nghiêm trọng khác Những yếu tố này có thể làm suy yếu hệ miễn dịch và kéo dài thời gian nằm viện Để giảm nguy cơ nhiễm trùng, việc kiểm soát các bệnh đi kèm trước phẫu thuật là rất quan trọng, đặc biệt là việc duy trì mức đường huyết ổn định cho bệnh nhân tiểu đường Ngoài ra, các biện pháp phục hồi chức năng cũng góp phần nâng cao thể trạng và tăng cường hệ miễn dịch cho bệnh nhân.
Bệnh nhân đã từng phẫu thuật có nguy cơ nhiễm trùng cao gấp 3,2 lần so với những bệnh nhân chưa phẫu thuật, với ý nghĩa thống kê P < 0,05 Điều này cho thấy rằng những bệnh nhân có tiền sử phẫu thuật thường có sức đề kháng thấp hơn, dẫn đến nguy cơ nhiễm trùng cao hơn.
Bệnh nhân có tình trạng bệnh nặng trước khi phẫu thuật có tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn 13,5 lần so với nhóm không có tình trạng bệnh nặng, với mức ý nghĩa thống kê P < 0,05.
Bệnh nhân có tình trạng điều trị dài ngày có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn 3,8 lần so với những bệnh nhân có tình trạng điều trị ngắn ngày, với sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P < 0,05).
Không tìm thấy điểm khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhiễm trùng vết mổ và bệnh nhân suy giảm miễn dịch (P> 0,05)
Phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn có tỷ lệ nhiễm trùng lên đến 81,2%, cao hơn nhiều so với nhóm phẫu thuật sạch- sạch với tỷ lệ chỉ 3,7% Nguy cơ nhiễm trùng ở nhóm phẫu thuật nhiễm và bẩn cao gấp 22,4 lần so với nhóm phẫu thuật sạch- sạch Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Trần Thế Duy (2017) và Nguyễn Thị Lai (2018) Theo hướng dẫn phòng chống nhiễm trùng vết mổ của Bộ Y tế, các ca phẫu thuật bẩn- nhiễm có nguy cơ nhiễm trùng lớn hơn so với các ca phẫu thuật sạch- sạch.
Thời gian mổ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nguy cơ nhiễm trùng vết mổ Cụ thể, phẫu thuật kéo dài trên 120 phút có tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn 37,5% so với phẫu thuật dưới 120 phút, với nguy cơ tăng lên đến 6,5 lần Kết quả này khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Thị Lai (2018) và Nguyên Tuấn Anh (2014), khi không tìm thấy mối liên quan giữa thời gian mổ và nhiễm trùng.
Mổ cấp cứu có nguy cơ nhiễm trùng cao hơn so với mổ phiên do thiếu thời gian chuẩn bị Nghiên cứu của chúng tôi không phát hiện mối liên quan giữa nhiễm khuẩn vết mổ (NKVM) và các yếu tố hình thức phẫu thuật (P>0.05) Ngoài ra, không có sự liên quan giữa nhiễm trùng vết mổ và việc có dẫn lưu, điều này khác với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam.
4.2.3 Yếu tố vi sinh vật Ở bệnh viện, người bệnh tiếp xúc với nhiều mầm bệnh, nhưng không phải cứ tiếp xúc giữa người bệnh với sinh vật là dẫn đến nhiễm trùng vết mổ Vi sinh vật gây bệnh đưa vào các yếu tố như: Số lương, khả năng bám và độc lực Ngoài ra, việc kháng thuốc của vi khuẩn cũng là làm tăng nguy cơ nhiễm trùng cho bệnh nhân, đây cũng là một
HUPH là một trong những yếu tố quan trọng giúp vi khuẩn tồn tại và gây bệnh Sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cần được chăm sóc và điều trị bằng kháng sinh, đồng thời được theo dõi liên tục để đảm bảo sức khỏe.
Không khí ô nhiễm là yếu tố quan trọng trong sự phát triển của bệnh nhiễm trùng vết mổ, đồng thời là con đường lây truyền chính Bàn tay của cán bộ y tế đóng vai trò trung gian trong việc truyền bệnh sang bệnh nhân Do đó, việc giám sát và kiểm tra dụng cụ thay băng cần được thực hiện nghiêm ngặt và tuân thủ đúng quy trình.
Kết quả nghiên cứu cho thấy Ban Giám đốc rất chú trọng đến việc nâng cao ý thức và kiến thức về kiểm soát nhiễm khuẩn (KSNK) cho nhân viên y tế Trong thời gian giãn cách xã hội, bệnh viện đã tổ chức các lớp đào tạo trực tuyến về KSNK cho bác sĩ và điều dưỡng, nhằm đảm bảo an toàn trong điều trị bệnh nhân trong bối cảnh dịch bệnh Việc duy trì công tác KSNK và phòng chống dịch là vô cùng quan trọng.