1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và yếu tố ảnh hưởng ở một số trung tâm và khoa lâm sàng bệnh viện e năm 2016

120 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực trạng Quản lý Chất Thải Rắn Y Tế Và Yếu Tố Ảnh Hưởng Ở Một Số Trung Tâm Và Khoa Lâm Sàng Bệnh Viện E Năm 2016
Tác giả Nguyễn Văn Huynh
Người hướng dẫn GS.TS. Lê Ngọc Thành, Ths. Phùng Xuân Sơn
Trường học Trường Đại học Y tế Công cộng
Chuyên ngành Quản lý bệnh viện
Thể loại Luận văn Thạc sĩ
Năm xuất bản 2016
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải chưa cao, một số khâu tỷ lệ nhân viên trả lời đúng còn thấp, cụ thể như: Tỷ lệ nhâ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO-BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

- -

NGUYỄN VĂN HUYNH

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở MỘT SỐ TRUNG TÂM VÀ KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN E, NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Mã số: 60.72.07.01 HUPH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO-BỘ Y TẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG

- -

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG Ở MỘT SỐ TRUNG TÂM VÀ KHOA LÂM SÀNG BỆNH VIỆN E, NĂM 2016

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau 2 năm học tập, giờ đây khi cuốn luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Quản lý bệnh

viện đang được hoàn thành, tận đáy lòng mình, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới

các thầy, cô giáo trường Đại học Y tế Công cộng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn,

giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề

tài nghiên cứu

Với tất cả tình cảm sâu sắc nhất, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn tới thầy hướng dẫn:

GS.TS Lê Ngọc Thành, giám đốc bệnh viện E người đã giúp đỡ tôi từ khi xác định

vấn đề nghiên cứu, viết đề cương, chia sẻ thông tin và hoàn thành luận văn này Thầy

Ths Phùng Xuân Sơn, Trường đại học y tế công cộng, đã hỗ trợ tôi kiến thức để tôi

từng bước hoàn thành luận văn, cùng với sự tận tình trong giảng dạy của các thầy, cô

đã giúp tôi có được những kiến thức, kinh nghiệm qúy báu trong nghiên cứu khoa học

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới Ban giám đốc bệnh viện E, các khoa

phòng, đặc biệt Trung tâm Tim mạch - nơi tôi đang công tác, đã tạo điều kiện giúp

đỡ, cung cấp số liệu, góp ý, hướng dẫn và tham gia vào nghiên cứu này

Xin cảm ơn các bậc sinh thành, vợ và những người thân trong gia đình tôi đã

chịu nhiều hy sinh, vất vả, luôn động viên tôi trong suốt quá trình học tập và phấn

đấu

Xin cảm ơn tất cả các bạn đồng môn trong lớp cao học Quản lý bệnh viện khóa

7 đã cùng nhau chia sẻ kinh nghiệm và giúp đỡ tôi trong 2 năm học qua

Cuối cùng, với những kết quả trong nghiên cứu này, tôi xin chia sẻ với tất cả

các bạn đồng nghiệp nhất là những ai quan tâm đến lĩnh vực này

Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà nội, ngày 15 tháng 10 năm 2016

Tác giả

HUPH

Trang 4

MỤC LỤC

MỤC LỤC ii

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế 4

1.1.1 Các khái niệm 4

1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 5

1.1.3 Các văn bản pháp luật liên quan tới quản lý CTRYT tại Việt Nam 7

1.1.4 Quản lý CTRYT theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT 8

1.1.5 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT 11

1.1.6 Những nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe 13

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 16

1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 18

1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế 18

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành về quản lý CTRYT 21

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý chất thải y tế 22

1.5 Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại Bệnh viện E 24

1.6 Khung lý thuyết 30

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Đối tượng nghiên cứu 31

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 31

2.3 Thiết kế nghiên cứu .31

2.4 Cỡ mẫu 31

2.5 Phương pháp thu thập số liệu 32

2.6 Xử lý và phân tích số liệu 34

HUPH

Trang 5

2.7 Các biến số nghiên cứu 34

2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 44

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45

3.1 Thực trạng về công tác quản lý chất thải rắn y tế 45

3.1.1 Thực trạng về công tác phân loại chất thải rắn y tế 45

3.1.2 Thực trạng về công tác thu gom chất thải rắn y tế 49

3.1.3 Thực trạng về công tác vận chuyển chất thải rắn y tế 51

3.1.4 Thực trạng về công tác lưu giữ chất thải rắn y tế 53

3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế 57

3.2.1 Yếu tố kinh phí và sự quan tâm của lãnh đạo bệnh viện 57

3.2.2 Ảnh hưởng từ các văn bản quy phạm pháp luật đến quản lý chất thải 58

3.2.3 Yếu tố tập huấn, đào tạo và thói quen của nhân viên đến quản lý chất thải 59

3.2.4 Ảnh hưởng từ kiểm tra, giám sát đến quản lý chất thải 59

3.2.5 Ảnh hưởng từ chế độ, lương thưởng đến quản lý chất thải 60

Chương 4: BÀN LUẬN 61

4.1 Thực trạng về công tác quản lý chất thải rắn y tế 61

4.1.1 Thực trạng về công tác phân loại chất thải rắn y tế 61

4.1.2 Thực trạng về công tác thu gom chất thải rắn y tế 63

4.1.3 Thực trạng về công tác vận chuyển chất thải rắn y tế 64

4.1.4 Thực trạng về công tác lưu giữ chất thải rắn y tế 65

4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế 66

4.2.1 Yếu tố kinh phí và sự quan tâm của lãnh đạo 66

4.2.2 Ảnh hưởng từ các văn bản quy phạm pháp luật đến quản lý chất thải 67

4.2.3 Yếu tố tập huấn, đào tạo và thói quen của nhân viên đến quản lý chất thải .68

4.2.4 Ảnh hưởng từ kiểm tra, giám sát đến quản lý chất thải 68

4.2.5 Ảnh hưởng từ chế độ, lương thưởng đến quản lý chất thải 69

4.3 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu 69

4.3.1 Ưu điểm của nghiên cứu 69

HUPH

Trang 6

Chương 5: KẾT LUẬN 72

5.1 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn tại bệnh viện 72

5.1.1 Thực trạng trang thiết bị, cơ sở vật chất về quản lý chất thải rắn tại bệnh viện 72

5.1.2 Thực trạng trang về kiến thức, thực hành của NVYT về phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ chất thải 72

5.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế 72

Chương 6: KHUYẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

PHỤ LỤC 76

HUPH

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1: Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn 14

Bảng 2: Nguy cơ các vật sắc nhọn 15

Bảng 3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới 18

Bảng 4 : Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới 18

Bảng 5 : Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam……….20

Bảng 6 : Một số hoạt động về chuyên môn……… 25

Bảng 7 : Số lượng chất thải rắn y tế……… 26

Bảng 8 : Phương pháp thu thập số liệu……… 32

Bảng 9: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phân loại chất thải rắn y tế 45

Bảng 10: Thông tin chung về đối tượng phỏng vấn 46

Bảng 11: Thông tin được đào tạo, tập huấn của đối tượng phỏng vấn 47

Bảng 12: Kiến thức về phân loại CTRYT của đối tượng phỏng 48

Bảng 13: Phân loại CTRYT của đối tượng phỏng vấn 48

Bảng 14: Trang thiết bị thu gom chất thải rắn 49

Bảng 15: Kiến thức về thu gom CTRYT của đối tượng phỏng vấn 50

Bảng 16 : Trang thiết bị vận chuyển chất thải rắn 51

Bảng 17: Kiến thức về vận chuyển CTRYT của đối tượng phỏng vấn 52

Bảng 18: Lưu giữ chất thải rắn 53

Bảng 19: Kiến thức về lưu giữ CTRYT của đối tượng phỏng vấn 54

HUPH

Trang 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 1: Quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện E………… ……… 27 Biểu đồ 1: Kiến thức đạt về phân loại, thu gom,vận chuyển , lưu giữ chất thải………… ……… 55 Biểu đồ 2: Kiến thức quản lý chất thải rắn y tế………… ……… 56 Biểu đồ 3: Thực hành phân loại chất thải rắn y tế………… ……… 56

HUPH

Trang 9

GMHS : Gây mê hồi sức

HBV : Hepatitis B virus (Vi rút viêm gan B)

HCV : Hepatitis C virus (Vi rút viêm gan C)

HIV : Human Immunodeficiency Virus (Vi rút gây suy giảm miễn

dịch ở người) HSTC : Hồi sức tích cực

NVYT : Nhân viên y tế

KSNK : Kiểm soát nhiễm khuẩn

IPCS : Chương trình toàn cầu về an toàn hóa chất

IRTPC : Tổ chức đang ký toàn cầu về hóa chất độc tiềm tàng

QLCT : Quản lý chất thải

TĐCM : Trình độ chuyên môn

TCYTTG : Tổ chức Y tế Thế Giới

TNHH : Trách nhiệm hữu hạn

TTCXK Trung tâm cơ xương khớp

TTTM : Trung tâm Tim mạch

QLCT : Quản lý chất thải

QLCTYT : Quản lý chất thải y tế

WHO : World Health Organization (Tổ chức Y tế Thế giới)

HUPH

Trang 10

TÓM TẮT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện E trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2016 nhằm: (i) Mô tả thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế ở một số Trung tâm và khoa lâm sàng Bệnh viện E, năm 2016, (ii) Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế ở một số Trung tâm và khoa lâm sàng Bệnh viện E, năm 2016 Bằng phương pháp mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng và định tính với các đối tượng nghiên cứu là hệ thống cơ sở vật chất trang thiết bị để quản lý chất thải rắn y tế, các cán bộ y tế bao gồm lãnh đạo các khoa, phòng, điều dưỡng trưởng, điều dưỡng viên và hộ lý của 3 Trung tâm và

4 khoa lâm sàng Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung công tác quản lý chất ban hành (theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT) cụ thể: cơ sở vật chất còn thiếu, nhân viên còn thực hiện sai quy định Kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải chưa cao, một số khâu tỷ lệ nhân viên trả lời đúng còn thấp, cụ thể như: Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải là 76,3% trong đó hiểu biết của nhân viên y tế về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn thấp Kiến thức về vận chuyển chất thải cao nhất đạt 84,8%, thấp nhất là kiến thức về thu gom chất thải 66,2% Tỷ lệ nhân viên y tế đạt thực hành phân loại chất thải là 78,9% Về yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng công tác quản lý CT thì yếu tố như kinh phí, sự quan tâm của lãnh đạo, tập huấn, kiểm tra giám sát ảnh hưởng đến hoạt động QLCTRYT Từ kết quả trên cho thấy để công tác quản lý chất thải rắn y tế ở Bệnh viện E tốt hơn cần phải: (i)Trang bị đầy đủ số lượng túi nilon, có in vạch giới hạn và biểu tượng trên bề mặt túi Trang bị thêm số lượng thùng đựng CT màu xanh và màu vàng Trang bị mới thùng đựng CT màu trắng và màu đen Trang bị thêm số lượng xe vận chuyển CT chuyên dụng đạt chuẩn theo quy định của Bộ Y tế để phục vụ công tác phân loại, thu gom, vận chuyển CT (ii)Tu sửa, xây mới nhà lưu CT thông thường để có mái che, cửa, khóa (iii)Tăng cường công tác đào tạo, tập huấn cho tất cả các nhân viên

y tế về kiến thức, thực hành quản lý chất thải, đặc biệt là nhân viên trẻ mới vào làm việc

HUPH

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tất cả các Bệnh viện khi hoạt động đều tạo ra chất thải, ngoài chất thải dạng lỏng, chất thải dạng khí thì còn chất thải rắn, một loại chất thải đặc thù khác với các xí nghiệp hay nhà máy mà chỉ trong bệnh viện mới có, đó là bơm tiêm, kim tiêm, bông, gạc…các vật tư qua sử dụng nhưng dính dịch tiết, dính máu của người bệnh Các nghiên cứu dịch tễ học trên thế giới đã chứng minh, quản lý chất thải rắn y tế không đúng cách sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người, cộng đồng dân cư

và gây ô nhiễm môi trường [39],[41]

Trong chất thải rắn y tế thường chứa một lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm, các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các con đường lây nhiễm như qua da (do trầy xước, tổn thương), qua niêm mạc (do giọt bắn), qua đường hô hấp hoặc qua đường tiêu hoá…[23] Các chất thải là vật sắc nhọn còn có khả năng vừa gây tổn thương do đâm xuyên, vừa có khả năng lây truyền các bệnh truyền nhiễm cho các đối tượng phơi nhiễm Các nghiên cứu đã cho thấy tỷ lệ nguy cơ lây nhiễm HBV khi bị tổn thương do kim tiêm là 30%, HCV là 1,8% và HIV là 0,3% Hiện nay xử lý chất thải chưa được quan tâm đúng mức Ở nhiều quốc gia trên thế giới, chất thải y tế kể cả chất thải y tế nguy hại vẫn được xử lý chung với các chất thải thông thường gây nên các nguy cơ sức khoẻ đối với con người

và môi trường xung quanh Kết quả đánh giá của tổ chức y tế thế giới (WHO) năm

2002 được tiến hành tại 22 nước đang phát triển cho thấy: 18 – 64% các cơ sở y tế

không sử dụng các phương pháp xử lý chất thải y tế thích hợp [46]

Tại Việt Nam, theo báo cáo của Cục Quản lý môi trường y tế – Bộ Y tế năm

2010, hiện nay bình quân mỗi ngày các cơ sở y tế trên cả nước thải ra khoảng 380 tấn chất thải rắn, trong đó có khoảng 45 tấn là chất thải rắn y tế nguy hại Năm 2015, lượng chất thải này tăng lên gần gấp đôi, khoảng 600 tấn/ngày và dự kiến đến năm

2020 là khoảng 800 tấn/ngày [26], [36] Tuy vậy, hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế trong số đó nhiều hệ thống xử lý đã xuống cấp nghiêm trọng Tỷ lệ các bệnh viện tuyến Trung ương chưa có hệ thống xử lý chất thải

y tế là 25%, tuyến tỉnh là gần 50% và ở bệnh viện tuyến huyện là trên 60% [36]

HUPH

Trang 12

Để khắc phục thực trạng trên và để đảm bảo thực hiện đúng luật bảo vệ môi trường, ngày 30 tháng 11 năm 2007, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 43/2007/QĐ-BYT về Quy chế quản lý chất thải y tế Quy chế này được áp dụng đối với tất cả các

cơ sở khám, chữa bệnh, nhà hộ sinh, trạm y tế, các bệnh viện và các cá nhân tham gia vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải y tế [5]

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa hạng I, trực thuộc BYT Bệnh viện có quy mô 610 giường kế hoạch nhưng số giường thực kê là 825 giường, với 814 nhân viên y tế, mỗi năm bệnh viện điều trị cho khoảng 30,000 người bệnh nội trú, khám cho khoảng 40,000 người bệnh ngoại trú [1] Trong quá trình hoạt động số lượng chất thải rắn y tế trung bình hàng tháng của bệnh viện là 28 tấn/tháng chất thải, trong đó số lượng chất thải lây nhiễm và độc hại là 3,9 tấn/tháng, chất thải thông thường và chất thải tái chế khoảng 24,1 tấn/tháng, con số này tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển và hoạt động tăng dần về chuyên môn của bệnh viện So với các bệnh viện đa khoa hạng I khác, hay so với các bệnh viện trong khu vực nội thành Hà Nội thì cơ sở vật chất của bệnh viện E còn nhiều hạn chế đó là: cơ sở hạ tầng là các tòa nhà cũ, hiện đang tu sửa

và xây mới, các nhà chứa chất thải không được đảm bảo, các thùng đựng chất thải còn thiếu thốn cả về số lượng, màu sắc, kinh phí hoạt động nói chung và kinh phí cho quản

lý chất thải nói riêng còn thiếu Trong quá trình kiểm tra giám sát thấy nhiều nhân viên vẫn làm không đúng quy định về quản lý chất thải: như phân loại sai, lưu trữ không đúng, vận chuyển chưa đảm bảo Để đánh giá đúng thực trạng quản lý chất thải rắn y

tế của bệnh viện như thế nào? Có đáp ứng được các yêu cầu được quy định tại quyết định 43/2007/QĐ-BYT của Bộ Y tế được ban hành ngày 30 tháng 11 năm 2007 không? Yếu tố nào ảnh hưởng đến hoạt động quản lý chất thải của bệnh viện? Bệnh viện E đã đi vào hoạt động đến nay được gần 50 năm mà chưa có một nghiên cứu chính thức nào về quản lý chất tải rắn y tế nên chúng tôi thực hiện đề tài đánh giá:

“ Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và yếu tố ảnh hưởng ở một số Trung tâm

và khoa lâm sàng tại bệnh viện E, năm 2016”

HUPH

Trang 13

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1 Mô tả thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế ở một số Trung tâm và khoa lâm sàng Bệnh viện E, năm 2016

2 Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn y tế ở một số Trung tâm và khoa lâm sàng Bệnh viện E, năm 2016

HUPH

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải y tế

Chất thải y tế thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hoá học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ

Chất thải y tế nằm trong Danh mục A của danh mục chất thải nguy hại và có mã

và kiểm tra, giám sát việc thực hiện

Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong cơ sở y tế

Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát sinh, tới nơi

xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu huỷ

Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới nơi lưu giữ hoặc tiêu huỷ

Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khoẻ của con người và môi trường

HUPH

Trang 15

1.1.2 Phân loại chất thải y tế

1.1.2.1 Phân loại theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)

Theo WHO, chất thải y tế được phân thành 8 loại:

- Chất thải nhiễm trùng

Là chất thải có chứa mầm bệnh như vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng với số lượng đủ để gây bệnh cho những người dễ bị cảm nhiễm, bao gồm các loại:

+ Môi trường nuôi cấy từ phòng thí nghiệm

+ Chất thải từ phòng mổ, nhất là phòng mổ tử thi và bệnh nhân bị nhiễm trùng + Chất thải từ phòng cách ly bệnh nhân bị nhiễm trùng

+ Súc vật được tiêm, truyền trong phòng thí nghiệm

+ Dụng cụ hoặc vật tiếp xúc với bệnh nhân bị truyền nhiễm

- Chất thải sắc nhọn

Là chất thải có thể làm rách hoặc tổn thương da bao gồm: bơm kim tiêm, dao mổ, bộ tiêm truyền

- Thuốc thải loại

Là thuốc quá hạn, thuốc không dùng hoặc các loại vaccin, huyết thanh, kể cả chai, lọ đựng chúng

- Chất thải có tính độc với tế bào

Là chất thải có thể làm biến đổi gen, gây quái thai như các chất chống ung thư

- Chất thải chứa kim loại nặng, độc: chất thải chứa kim loại như chì, thủy ngân, asen

- Các bình chứa khí nén: được dùng trong y tế dưới dạng khí như oxy, khí gây mê

- Chất phóng xạ: không thể phát hiện bằng các giác quan, chúng thường gây ảnh

hưởng lâu dài (gây ion hóa tế bào) như tia X, tia α, tia β [44]

HUPH

Trang 16

1.1.2.2 Phân loại theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế

Bao gồm 5 loại:

 Chất thải lây nhiễm

+ Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế

+ Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải có thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly

+ Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm

+ Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm

 Chất thải hóa học nguy hại

+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng

+ Chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế

+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết của ngưới bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu

+ Chất thải kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), Cadimi (từ pin ắc quy), Chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

 Chất thải thông thường

Là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ bao gồm:

HUPH

Trang 17

+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh

+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai, lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại

+ Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim

+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh [5]

1.1.3 Các văn bản pháp luật liên quan tới quản lý CTRYT tại Việt Nam

Cùng với công tác khám chữa bệnh, công tác quản lý CTRYT được nhà nước quan tâm thông qua các điều luật, các quyết định, thông tư hướng dẫn về quản lý CTYT, đặc biệt từ năm 2007 đến nay có một số văn bản sau:

- Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007 của BYT về Quy chế quản lý chất thải y tế: quy định chi tiết các nhóm CTRYT, các phương tiện, dụng cụ để phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT [5]

- Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008 của Bộ trưởng BYT chỉ đạo tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế [6]

- Thông tư 18/2009/TT-BYT ngày 14/10/2009 của BYT “Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh”: Trang

bị đầy đủ phương tiện vệ sinh môi trường thích hợp và chuyên dụng, tổ chức thực hiện việc quản lý chất thải y tế theo đúng quy định, có cơ sở hạ tầng đảm bảo xử lý an toàn chất thải rắn theo quy định về quản lý CTRYT [7]

- Quyết định 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17/12/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến 2050: Phân công BYT chịu trách nhiệm tăng cường công tác kiểm tra, giám sát các cơ sở y tế thực hiện nghiêm túc quy định về quản lý CTYT trên toàn quốc [32]

- Quyết định số 2038/2011/QĐ-TTg ngày 15/11/2011 về việc phê duyệt Đề án tổng thể xử lý chất thải y tế giai đoạn 2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020: 100% các cơ sở y tế tuyến Trung ương và tuyến tỉnh, 70% các cơ sở y tế tuyến huyện

HUPH

Trang 18

chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường [33]

- Quyết định số 170/2012/QĐ - TTg ngày 8/2/2012 về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể hệ thống xử lý CTRYT nguy hại đến năm 2025: 100% lượng CTRYT nguy hại tại các cơ sở y tế được thu gom, phân loại và vận chuyển đến các cơ sở xử lý, trong đó 70% lượng CTRYT nguy hại được xử lý đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường [34]

- Thông tư số 31/2013/ TT-BYT Quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện Trong đó có nội dung về quan trắc CTRYT gồm nguồn phát thải, tên, số lượng, thành phần và phương pháp phân loại, thu gom, xử lý CT [8]

- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường Theo đó các cơ sở y tế vi phạm về quản lý CT nguy hại sẽ bị phạt tối thiểu 5 triệu đồng cho đến hàng 100 triệu đồng [11]

- Luật Bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13, tại chương VII, Điều 72 có quy định bảo

vệ môi trường đối với bệnh viện và cơ sở y tế là thực hiện phân loại CTRYT tại nguồn, thực hiện thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTRYT đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường [27]

- Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu Tại Điều 5, Chương

II có ghi CT nguy hại phải được phân định theo mã và phân loại trước thời điểm lưu giữ và đưa đi xử lý [12]

- Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT về quản lý chất thải nguy hại Trong đó có quy định CTYT nguy hại phải được phân định, phân loại trước khi đưa vào lưu giữ và trước khi chuyển giao đi xử lý [3]

- Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải y

tế Thông tư này thay thế cho Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về quản lý chất thải từ ngày 01 tháng 4 năm 2016 [9]

1.1.4 Quản lý CTRYT theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT

* CTRYT được chia thành 5 nhóm:

- Chất thải lây nhiễm

- Chất thải hóa học nguy hại

HUPH

Trang 19

- Chất thải phóng xạ

- Bình chứa áp suất

- Chất thải thông thường

* Mã màu sắc

- Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm

- Màu đen đựng chất thải hóa học nguy hại và chất thải phóng xạ

- Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ

- Màu trắng đựng chất thải tái chế

* Túi đựng chất thải

- Túi màu vàng và màu đen phải làm bằng nhựa PE hoặc PP, không dùng nhựa PVC

- Túi đựng chất thải y tế có thành dầy tối thiểu 0,1mm, kích thước túi phù hợp với lượng chất thải phát sinh, thể tích tối đa của túi là 0,1m3

- Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức 3/4 túi và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

* Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn

- Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn

+ Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng

+ Có khả năng chống thấm

+ Kích thước phù hợp

+ Có nắp đóng mở dễ dàng

+ Miệng hộp đủ lớn để cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy

+ Có dòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

+ Màu vàng

+ Có quai hoặc kèm hệ thống cố định

+ Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài

- Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu

* Thùng đựng chất thải

- Phải làm bằng nhựa có tỷ trọng cao, thành dầy và cứng hoặc làm bằng kim loại có nắp đậy mở bằng đạp chân Những thùng thu gom có dung tích từ 50 lít trở lên cần có bánh xe đẩy

HUPH

Trang 20

- Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại

- Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh

- Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng

- Bên ngoài thùng phải có vạch báo hiệu ở mức 3/4 thùng và ghi dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”

* Biểu tượng chỉ loại chất thải:

- Túi, thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học

- Túi, thùng màu đen đựng chất thải gây độc tế bào có biểu tượng chất gây độc tế bào kèm dòng chữ “CHẤT GÂY ĐỘC TẾ BÀO”

- Túi, thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng chất phóng xạ và có dòng chữ “CHẤT THẢI PHÓNG XẠ”

- Túi, thùng màu trắng đựng chất thải để tái chế có biểu tượng chất thải có thể tái chế

* Xe vận chuyển chất thải

Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp, có đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ làm khô

* Phân loại chất thải rắn

- CTRYT được phân loại ngay tại nơi phát sinh chất thải

- Từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã màu kèm biểu tượng theo đúng quy định

* Thu gom chất thải rắn trong cơ sở y tế

- Mỗi khoa, phòng phải định rõ vị trí đặt thùng đựng chất thải y tế cho từng loại chất thải, nơi phát sinh chất thải phải có loại thùng thu gom tương ứng

- Nơi đặt thùng đựng chất thải phải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom

- Sử dụng thùng đựng chất thải theo đúng tiêu chuẩn quy định và phải được vệ sinh hàng ngày

- Túi sạch thu gom chất thải phải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để thay thế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyển về nơi lưu giữ tạm thời chất thải của cơ sở y tế

- Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã màu quy định và phải có nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải

- Các chất thải y tế nguy hại không được để lẫn trong chất thải thông thường Nếu vô tình để lẫn chất thải y tế nguy hại vào chất thải thông thường thì hỗn hợp chất thải đó phải được xử lý và tiêu hủy như chất thải y tế nguy hại

- Tần suất thu gom: Hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịu trách nhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường từ nơi chất thải phát sinh

về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và khi cần

- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao trước khi thu gom về nơi tập trung chất thải của

cơ sở y tế phải được xử lý ban đầu tại nơi phát sinh chất thải

HUPH

Trang 21

* Vận chuyển chất thải rắn trong cơ sở y tế

- Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phát sinh tại các khoa/phòng phải được vận chuyển riêng về nơi lưu giữ chất thải của cơ sở y tế ít nhất một lần một ngày

* Lưu giữ chất thải rắn trong các cơ sở y tế

- Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt

- Chất thải để tái sử dụng, tái chế phải được lưu giữ riêng

- Nơi lưu giữ chất thải tại các cơ sở y tế phải có đủ các điều kiện sau:

+ Cách xa nhà ăn, buồng bệnh, lối đi công cộng và khu vực tập trung đông người tối thiểu là 10 mét

+ Có đường để xe chuyên chở chất thải từ bên ngoài đến

+ Nhà lưu giữ chất thải phải có mái che, có hàng rào bảo vệ, có cửa và có khóa Không

để súc vật, các loài gậm nhấm và người không có nhiệm vụ tự do xâm nhập

+ Diện tích phù hợp với lượng chất thải phát sinh của cơ sở y tế

+ Có phương tiện rửa tay, phương tiện bảo hộ cho nhân viên, có dụng cụ, hóa chất làm

vệ sinh

+ Có hệ thống cống thoát nước, tường và nền chống thấm, thông khí tốt

+ Khuyến khích các cơ sở y tế lưu giữ chất thải trong nhà có bảo quản lạnh

- Thời gian lưu giữ chất thải y tế nguy hại tại cơ sở y tế

- Thời gian lưu giữ chất thải trong các cơ sở y tế không quá 48 giờ

- Lưu giữ chất thải trong nhà bảo quản lạnh hoặc thùng lạnh: thời gian lưu giữ có thể đến 72 giờ (Phụ lục 10)

1.1.5 Quản lý CTRYT theo Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT

* CTRYT được phân thành 3 nhóm:

- Chất thải lây nhiễm

- Chất thải nguy hại không lây nhiễm

- Chất thải y tế thông thường

* Mã màu sắc

- Màu vàng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm

HUPH

Trang 22

- Màu đen đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải nguy hại không lây nhiễm

- Màu xanh đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế thông thường

- Màu trắng đối với bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải tái chế

* Phân loại chất thải y tế

- CTRYT phải phân loại để quản lý ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh

- Từng loại chất thải y tế phải phân loại riêng vào trong bao bì, dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải

- Mỗi khoa, phòng, bộ phận phải bố trí vị trí để đặt các bao bì, dụng cụ phân loại chất thải y tế và có hướng dẫn cách phân loại và thu gom chất thải

* Thu gom chất thải y tế

- Chất thải lây nhiễm phải thu gom riêng từ nơi phát sinh về khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- Trong quá trình thu gom, túi đựng chất thải phải buộc kín, thùng đựng chất thải phải

có nắp đậy kín, bảo đảm không bị rơi, rò rỉ chất thải trong quá trình thu gom

d) Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phải xử lý sơ bộ trước khi thu gom về khu lưu giữ, xử lý chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- Tần suất thu gom chất thải lây nhiễm từ nơi phát sinh về khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế ít nhất 01 (một) lần/ngày

- Chất thải nguy hại không lây nhiễm được thu gom, lưu giữ riêng tại khu lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- Thu gom chất thải y tế thông thường: Chất thải y tế thông thường phục vụ mục đích tái chế và chất thải y tế thông thường không phục vụ mục đích tái chế được thu gom riêng

* Lưu giữ chất thải y tế

- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải y tế nguy hại tại khu lưu giữ phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

+ Có thành cứng, không bị bục vỡ, rò rỉ dịch thải trong quá trình lưu giữ chất thải + Có biểu tượng loại chất thải lưu giữ theo quy định

+ Dụng cụ, thiết bị lưu chứa chất thải lây nhiễm phải có nắp đậy kín và chống được sự xâm nhập của các loài động vật

- CTYT nguy hại và CTYT thông thường phải lưu giữ riêng tại khu vực lưu giữ chất thải trong khuôn viên cơ sở y tế

- CT lây nhiễm và CT nguy hại không lây nhiễm phải lưu giữ riêng trừ trường hợp các loại chất thải này áp dụng cùng một phương pháp xử lý

HUPH

Trang 23

- CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế và CTYT thông thường không phục

vụ mục đích tái chế được lưu giữ riêng

- Thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm: Đối với chất thải lây nhiễm phát sinh tại cơ sở

y tế, thời gian lưu giữ chất thải lây nhiễm tại cơ sở y tế không quá 02 ngày trong điều kiện bình thường Trường hợp lưu giữ chất thải lây nhiễm trong thiết bị bảo quản lạnh dưới 8°C, thời gian lưu giữ tối đa là 07 ngày

* Vận chuyển CTRYT

- Phương tiện vận chuyển: sử dụng xe thùng kín hoặc xe bảo ôn chuyên dụng để vận

- Dụng cụ, thiết bị lưu chứa CTYT nguy hại trên phương tiện vận chuyển phải đáp ứng các yêu cầu sau:

+ Có thành, đáy, nắp kín, kết cấu cứng, chịu được va chạm, không bị rách vỡ bởi trọng lượng chất thải, bảo đảm an toàn trong quá trình vận chuyển

+ Có biểu tượng về loại chất thải lưu chứa theo quy định

+ Được lắp cố định hoặc có thể tháo rời trên phương tiện vận chuyển và bảo đảm không bị rơi, đổ trong quá trình vận chuyển chất thải

+ Chất thải lây nhiễm trước khi vận chuyển phải được đóng gói trong các thùng, hộp hoặc túi kín, bảo đảm không bị bục, vỡ hoặc phát tán chất thải trên đường vận chuyển

* Giảm thiểu chất thải y tế

- Lắp đặt, sử dụng các thiết bị, dụng cụ, thuốc, hóa chất và các nguyên vật liệu phù hợp, bảo đảm hạn chế phát sinh chất thải y tế

- Đổi mới thiết bị, quy trình trong hoạt động y tế nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải y

tế

- Quản lý và sử dụng vật tư hợp lý và hiệu quả

* Quản lý CTYT thông thường phục vụ mục đích tái chế

- Không được sử dụng vật liệu tái chế từ chất thải y tế để sản xuất các đồ dùng, bao gói

1.1.6 Những nguy cơ của chất thải rắn y tế đối với sức khỏe

1.1.6.1 Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn

Các vật thể trong thành phần của chất thải rắn y tế có thể chứa đựng một lượng lớn tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm [21], [23]

Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ thể con người thông qua các

HUPH

Trang 24

Bảng 1: Những nguy cơ của chất thải nhiễm khuẩn [25]

Nhiễm khuẩn đường tiêu

hóa

Các vi khuẩn đường tiêu hóa: Samonella, Shigella, Vibrio cholera, trứng giun

sinh dục

Viêm gan B và C Virus viêm gan B và C Máu và dịch cơ thể

1.1.6.2 Nguy cơ của các vật sắc nhọn

Các vật sắc nhọn không những có nguy cơ gây thương tích cho những người phơi nhiễm mà qua đó còn có thể truyền bệnh nguy hiểm Theo số liệu thống kê tại Nhật Bản, nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn đâm xuyên qua da như sau: nhiễm HIV là 0,3%, nhiễm viêm gan B là 3%, viêm gan C là 3 – 5%

Ở Hoa Kỳ, tháng 6/1994, Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) đã phát hiện được 39 trường hợp mắc HIV/AIDS nghề nghiệp trong đó có 32 trường hợp do bị kim tiêm nhiễm khuẩn đâm qua da; 1 trường hợp do dao mổ cắt qua da, 1 trường hợp bị tổn thương do vỏ của ống thủy tinh [40] Cũng theo nguồn số liệu của CDC tình trạng nhiễm virut viêm gan có liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn gây ra như sau:

HUPH

Trang 25

Bảng 2: Nguy cơ các vật sắc nhọn [25]

sắc nhọn (người/năm)

Số ca bị viêm gan (người/năm)

Nhân viên vệ sinh bệnh

Nhân viên phụ giúp nha sĩ

Số liệu Bảng 2 cho thấy, hầu hết các đối tượng nhân viên y tế đều bị tổn thương

do vật sắc nhọn gây ra, các đối tượng liên quan, tiếp xúc trực tiếp với chất thải nhiều

có tần số bị tổn thương cao hơn Tỷ lệ nhiễm viêm gan tập trung chủ yếu ở hai đối

tượng: điều dưỡng viên và nhân viên vệ sinh bệnh viện

1.1.6.3 Nguy cơ của các chất thải hóa học và dược phẩm

Các chất thải hóa học có thể gây hại cho sức khỏe con người do các tính chất:

ăn mòn, gây độc, dễ cháy, gây nổ, gây sốc hoặc ảnh hưởng đến di truyền Các chất thải này thường chiếm số lượng nhỏ trong chất thải y tế, với số lượng lớn hơn có thể tìm thấy khi chúng quá hạn, dư thừa hoặc hết tác dụng cần vứt bỏ Các chất này có thể gây nhiễm độc khi tiếp xúc cấp tính và mạn tính, gây ra các tổn thương như bỏng, ngộ độc

Sự nhiễm độc này có thể là kết quả của quá trình hấp thụ hóa chất hoặc dược phẩm

HUPH

Trang 26

với các chất dễ cháy, dễ ăn mòn, các chất gây phản ứng có thể gây nên những tổn thương tới da, mắt hoặc niêm mạc đường hô hấp Các tổn thương hay gặp và phổ biến nhất là các vết bỏng

Các chất khử trùng là những thành phần đặc biệt quan trọng của nhóm này, chúng thường được sử dụng với số lượng lớn và thường là những chất ăn mòn Cũng cần phải lưu ý rằng, những loại hóa chất gây phản ứng có thể hình thành nên các hỗn hợp thứ cấp có độc tính cao [23]

1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới

Nghiên cứu về chất thải y tế đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Canada các công trình nghiên cứu quan tâm đến nhiều lĩnh vực như quản lý chất thải y tế (biện pháp giảm thiểu chất thải, biện pháp tái sử dụng, các phương pháp xử lý chất thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải ), tác hại của chất thải y tế đối với môi trường, biện pháp giảm thiểu tác hại của chất thải y tế và phòng chống tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe cộng đồng [19], [25], [28], [29] Gần đây, nghiên cứu về chất thải y

tế được quan tâm ở nhiều khía cạnh:

- Sự đe dọa của chất thải nhiễm khuẩn tới sức khỏe cộng đồng

- Ảnh hưởng của nước thải y tế đối với việc lan truyền bệnh dịch trong và ngoài bệnh viện

- Những vấn đề liên quan của y tế công cộng với chất thải y tế

- Chất thải y tế nhiễm xạ với sức khỏe

- Tổn thương nhiễm khuẩn ở điều dưỡng, hộ lý và nhân viên thu gom chất thải, nhiễm khuẩn bệnh viện, nhiễm khuẩn ngoài bệnh viện đối với người thu gom chất thải, vệ sinh và cộng đồng

- Nguy cơ phơi nhiễm với HIV, HBV, HCV ở nhân viên y tế

Hiện nay trên thế giới đã có nhiều cơ quan quốc tế như IRPTC (tổ chức đăng ký toàn cầu về hoá chất độc tiềm tàng), IPCS (chương trình toàn cầu về an toàn hoá chất), WHO (Tổ chức Y tế thế giới) đã xây dựng và quản lý các dữ liệu thông tin về an toàn hoá chất

Tùy từng điều kiện kinh tế xã hội và mức độ phát triển khoa học kỹ thuật cùng

HUPH

Trang 27

với nhận thức về quản lý chất thải mà mỗi nước có những cách xử lý chất thải của riêng mình Cũng cần nhấn mạnh rằng các nước phát triển trên thế giới thường áp dụng đồng thời nhiều phương pháp để xử lý chất thải rắn, trong đó có chất thải rắn nguy hại, tỷ lệ xử lý chất thải rắn bằng các phương pháp như đốt, xử lý cơ học, hóa/lý,

sinh học, chôn lấp rất khác nhau Qua số liệu thống kê về tình hình xử lý chất thải

rắn của một số nước trên thế giới cho thấy, Nhật Bản là nước sử dụng phương pháp thu hồi chất thải rắn với hiệu quả cao nhất (38%), sau đó đến Thụy Sỹ (33%), trong khi đó Singapore chỉ sử dụng phương pháp đốt, Pháp lại sử dụng phương pháp xử lý vi

sinh nhiều nhất (30%) Các nước sử dụng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh nhiều

nhất trong xử lý chất thải rắn là Phần Lan (84%), Thái Lan (84%), Anh (83%), Liên

Bang Nga (80%) và Tây Ban Nha (80%) [31], [38]

* Hoạt động quản lý

Theo WHO [44], để đạt được những mục tiêu trong quản lý chất thải y tế các cơ sở y

tế cần có những hoạt động cơ bản sau:

- Đánh giá thực trạng phát sinh chất thải tại bệnh viện (khối lượng, thành phần)

- Đánh giá khả năng kiểm soát và các biện pháp xử lý chất thải

- Thực hiện phân loại chất thải theo các nhóm

- Xây dựng các quy trình, quy định để quản lý chất thải (nơi lưu giữ, màu sắc dụng cụ, đặc điểm các túi, thùng thu gom và nhãn quy định )

- Nhân viên phải được tập huấn có kiến thức về quản lý chất thải và có các phương tiện bảo hộ đảm bảo an toàn khi làm việc

- Các cơ sở y tế phải chiụ trách nhiệm về các hoạt động quản lý chất thải

- Lựa chọn các biện pháp xử lý thích hợp

* Thực trạng phát sinh chất thải y tế

Khối lượng chất thải y tế thay đổi theo từng khu vực địa lý, theo mùa và phụ thuộc các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật, dịch bệnh, quy mô bệnh viện, lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, điều kiện kinh tế, xã hội của khu vực, phương pháp

và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám, điều trị, chăm sóc, số lượng người nhà được phép đến thăm bệnh nhân

HUPH

Trang 28

Các số liệu thống kê cho thấy, khối lượng chất thải hàng năm thay đổi theo mức thu nhập như sau:

Bảng 3: Lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới

Mức thu nhập của

từng nước

Tổng lượng CTYT bệnh viện (kg/đầu người)

Lượng CTYT nguy hại (kg/đầu người)

Bảng 4: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện trên thế giới

1.3 Các nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu quản lý chung về chất thải rắn y tế

Đa số (81,25%) bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải ngay tại nguồn phát sinh nhưng việc phân loại còn phiến diện và kém hiệu quả Hoạt động phân loại chất thải còn tồn tại một số vấn đề như: chưa tách vật sắc nhọn ra khỏi chất thải y tế, còn để lẫn nhiều chất thải thông thường với chất thải y tế và ngược lại Hệ thống ký hiệu, màu sắc của túi và thùng đựng chất thải chưa đầy đủ và thống nhất Tình trạng nhiều bệnh viện (45%) chưa tách riêng các vật sắc nhọn ra khỏi chất thải rắn y tế đang làm tăng nguy cơ rủi ro cho những người trực tiếp vận chuyển và tiêu hủy chất thải Trong số bệnh viện đã tách riêng vật sắc nhọn, vẫn còn một số bệnh viện (11,4%) thu gom vật sắc nhọn vào các hộp chưa an toàn (vẫn có khả năng đâm, xuyên), còn lại đa số các

HUPH

Trang 29

bệnh viện (88,6%) thường đựng chất thải sắc nhọn vào các vật tự tạo như chai truyền dịch, chai nhựa đựng nước khoáng [21]

Kết quả nghiên cứu của một số tác giả cho thấy: tỷ lệ cán bộ y tế hiểu biết đầy

đủ về cách thức phân loại chất thải thành 5 nhóm chưa cao, hiểu biết về mã màu sắc, dụng cụ đựng chất thải y tế chưa đầy đủ, bên cạnh đó công tác đào tạo, tập huấn của các bệnh viện chưa nhiều, do vậy hoạt động phân loại chất thải chưa đạt được kết quả như mong đợi [25], [38]

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất thải

y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả nghiên cứu cho thấy thấy hầu hết dụng cụ đựng chất thải tại 2 bệnh viện đều không có đủ các mã màu sắc theo quy định, công tác phân loại, thu gom chất thải của cả 2 bệnh viện còn nhiều vấn đề tồn tại, chưa thực hiện đúng với các quy định của Bộ y tế [19]

Năm 2004, Dương Thị Hương và cộng sự nghiên cứu tình hình vệ sinh môi trường tại 11 cơ sở y tế trên địa bàn thành phố Hải Phòng, kết quả nghiên cứu cho thấy: việc tổ chức phân loại, thu gom tập trung tại các bệnh viện đều chưa thực hiện tốt Hệ thống trang thiết bị thu gom, vận chuyển chất thải không được cung cấp đầy

đủ, khu vực lưu giữ chất thải chưa đáp ứng được các quy định của BYT ban hành [13]

Năm 2007, Đào Ngọc Phong nghiên cứu tình hình quản lý chất thải tại các bệnh viện huyện thuộc 4 tỉnh Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Ngãi, Cần Thơ,kết quả nghiên cứu

đã đưa ra nhiều kết luận về thực trạng quản lý chất thải y tế, tình hình ô nhiễm môi trường của các bệnh viện gây ra và các kết quả áp dụng mô hình quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện tuyến huyện [24]

Năm 2008 – 2009, Nguyễn Duy Bảo và các cộng sự đã nghiên cứu thực trạng môi trường và hoạt động quản lý chất thải y tế của 22 bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh thuộc khu vực phía Bắc, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: công tác quản

lý, xử lý chất thải rắn y tế đã được các bệnh viện quan tâm và thực hiện nghiêm túc theo Quy chế quản lý chất thải y tế tại Quyết định 43/2007/QĐ-BYT, tuy nhiên còn phổ biến tình trạng thực hiện không đúng về mặt kỹ thuật theo quy định của BYT, nguyên nhân chủ yếu được cho là thiếu kinh phí thực hiện

HUPH

Trang 30

Năm 2011, Hoàng Giang nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y

tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện Hữu nghị Việt đức, kết quả cho thấy vẫn còn 14,7% đến 64,7% các khoa phân loại chất thải sai, 3,1% nhân viên y tế phân loại chất thải sai với quy định [14]

Nghiên cứu của Hồ Thị Nga năm 2013 về Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế

và một số yếu tố liên quan tại bệnh viện đa khoa Gia Lộc, tỉnh Hải Dương cho thấy công tác quản lý chất thải rắn y tế thực hiện khá tốt đáp ứng hầu hết các tiêu chí của

Bộ y tế ban hành kèm theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT [20]

Kết quả từ một nghiên cứu đánh giá hiện trạng quản lý chất thải ở 80 bệnh viện trong cả nước, kết quả cho thấy lượng chất thải rắn phát sinh tăng dần từ bệnh viện tuyến huyện, đến tuyến tỉnh và cao nhất ở tuyến trung ương (Bảng 5) [21]:

Bảng 5: Lượng chất thải phát sinh tại các tuyến bệnh viện Việt Nam

Tuyến bệnh viện

(Kg/giường bệnh)

Tổng lượng CTYT (Kg/giường bệnh)

CTYT nguy hại (Kg/giường bệnh)

Báo cáo thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện năm 2009 của Cục Quản lý Khám chữa bệnh cho thấy: tổng lượng chất thải thông thường phát sinh trong một ngày của các bệnh viện trực thuộc Sở Y tế là 104.227kg, trung bình là 0,76kg/giường bệnh/ngày, tổng lượng chất thải lây nhiễm cần được xử lý trong 1 ngày

là 24.776kg, trung bình là 0,18kg/giường bệnh/ngày Ngoài ra còn có các loại chất thải

y tế nguy hại khác: chất thải hóa học, chất thải phóng xạ, bình áp suất [17]

* Thu gom chất thải bệnh viện

Hầu hết các chất thải y tế đều được các bệnh viện thu gom, vận chuyển ngay trong ngày (90,9%) Tuy nhiên tỷ lệ thu gom chất thải đúng theo quy định chỉ đạt 50% trong tổng số các bệnh viện [26] Phương tiện thu gom chất thải như túi, thùng, xe vận chuyển chất thải của các bệnh viện hầu hết còn thiếu và chưa đạt chuẩn Trong khi đó hiểu biết của nhân viên trong bệnh viện đặc biệt là của các nhân viên thu gom về hoạt

HUPH

Trang 31

động này chưa cao Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, tỷ lệ các cán bộ y tế hiểu biết đầy

đủ về tác hại của chất thải y tế đối với sức khỏe còn thấp (46,2%), kiến thức về các đối tượng dễ bị ảnh hưởng của chất thải y tế không cao (24,6%), chính vì vậy hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa đảm bảo an toàn và chưa đúng quy trình của BYT

vẫn còn ở mức phổ biến [28] Ngoài công tác đào tạo trang bị kiến thức, hiểu biết cho

cán bộ nhân viên còn ít, vấn đề trang bị các phương tiện bảo hộ cho các nhân viên trực tiếp tham gia vào các hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải chưa được quan tâm

* Lưu giữ chất thải bệnh viện

Hầu hết các điểm tập trung chất thải đều nằm trong khu đất của bệnh viện, vệ sinh không đảm bảo, có nhiều nguy cơ gây rủi ro do vật sắc nhọn rơi vãi, nhiều côn trùng xâm nhập ảnh hưởng đến môi trường bệnh viện Một số điểm tập trung chất thải không có mái che, không có hàng rào bảo vệ, không có khóa vị trí ở khuất xa tầm kiểm soát của nhân viên nên các loại côn trùng, chuột, súc vật, người không có nhiệm

vụ dễ xâm nhập Chỉ có ít bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải đạt tiêu chuẩn quy định

* Vận chuyển chất thải ra ngoài cơ sở y tế

Theo các báo cáo gửi về Cục Quản lý Khám chữa bệnh [17], hiện có 34/36 bệnh viện trực thuộc BYT thực hiện ký hợp đồng thuê công ty môi trường đô thị vận chuyển chất thải y tế thông thường ra ngoài các cơ sở y tế để xử lý Đối với chất thải y

tế nguy hại, hiện có 8 bệnh viện có lò đốt còn lại 28/36 bệnh viện hợp đồng thuê Công

ty môi trường đô thị xử lý bằng lò đốt tập trung của cơ sở thiêu hủy trên địa bàn Các bệnh viện ký hợp đồng với các công ty thu gom, vận chuyển chất thải y tế là tương đối phổ biến (do số lượng các bệnh viện không có lò xử lý chất thải còn nhiều, kinh phí vận hành cho các lò hoạt động cao), tuy nhiên sự phối hợp liên ngành giữa hai bên chưa thực sự tốt Hầu hết các nhân viên y tế trong bệnh viện đều không biết các yêu cầu cần thiết của quy trình vận chuyển chất thải y tế ra ngoài bệnh viện đồng thời cũng

không quan tâm đến việc xử lý chất thải bên ngoài ra sao [18]

1.3.2 Các nghiên cứu về kiến thức, thực hành quản lý CTRYT

Năm 2003, Đào Nguyên Minh nghiên cứu đánh giá thực trạng quản lý chất thải

y tế tại hai bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, kết quả nghiên cứu cho

HUPH

Trang 32

thấy: chỉ có 9,4% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Nam và 22,0% cán bộ y tế ở bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi có kiến thức đúng về phân loại chất thải rắn y tế [19]

Một đánh giá về tình hình quản lý CTYT trên địa bàn huyện Long Thành năm

2010 cho thấy chỉ có 54,5% nhân viên có kiến thức chung đúng, 51,6% nhân viên có thái độ chung đúng, 46% nhân viên có thái độ chung đúng về quản lý CTYT

Trong kết quả nghiên cứu của Hoàng Giang tại bệnh viện Việt Đức năm 2011, cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế trong quản lý CTRYT là khá tốt, hầu hết nhân viên y tế nhận thức đúng và có thực hành đúng về quản lý CTYT theo quy định của Bộ Y tế

Cũng như trong nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Thúy ở viện đa khoa Đông Anh cho thấy kiến thức, thực hành của nhân viên y tế về các khâu phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải chưa cao, một số khâu tỷ lệ nhân viên trả lời đúng còn thấp, cụ thể: Tỷ lệ nhân viên y tế đạt kiến thức chung về quản lý chất thải là 86,8% trong đó hiểu biết của nhân viên y tế về các nhóm chất thải, các chất thải lây nhiễm còn thấp Kiến thức về vận chuyển chất thải cao nhất đạt 96,3%, thấp nhất là kiến thức

về thu gom chất thải 48,5%

1.4 Những yếu tố ảnh hưởng tới thực trạng quản lý chất thải y tế

 Trên thế giới

Theo TCYTTG, để công tác quản lý chất thải hoạt động tốt và có tính bền vững cần đảm bảo các yếu tố sau: thứ nhất, kinh phí là một trong những yếu tố ảnh hưởng nhiều đến hoạt động QLCT Việc tính toán một cách chính xác các chi phí trực tiếp và gián tiếp cho công tác quản lý chất thải là một vấn đề khó, tuy nhiên để có nguồn ngân sách ổn định và phát triển (đây chính là chìa khóa thành công cho một kế hoạch quản

lý chất thải lâu dài) cần tính toán và đảm bảo đủ nguồn ngân sách bằng cách huy động

từ các tổ chức đa phương hoặc cơ quan song phương Bên cạnh đó cần có sự cam kết thực hiện nghiêm túc của chính phủ và các bên liên quan

Hệ thống các văn bản pháp luật quy định và hướng dẫn công tác QLCT về cả quy trình lẫn cách thức thực hiện là một yếu tố quan trọng Các tiêu chuẩn thực hành quản lý chất thải phải được quy định rõ ràng trong các nghị định hướng dẫn, cũng như trong các quy định về chăm sóc sức khỏe, đây chính là biện pháp quản lý để đảm bảo

HUPH

Trang 33

an toàn trong tất cả các khâu của chu trình Các quy trình thực hiện phải đảm bảo tuân thủ đúng theo các quy định chung mà chính phủ ban hành cũng như các quy định cụ thể của các bệnh viện đề ra

Trang thiết bị, dụng cụ đầy đủ, thống nhất là một yếu tố đảm bảo việc thực hiện quản lý một cách chuẩn hóa Bên cạnh đó, cần tăng cường năng lực thể chế của các bên liên quan chính tham gia vào quy trình quản lý chất thải thông qua sự phát triển của chương trình đào tạo và giảng dạy Cuối cùng, xây dựng một kế hoạch giám sát bền vững, bao gồm kiểm tra và các thể chế sẽ giúp các cơ quan y tế tăng cường thực hiện quản lý chất thải an toàn [45]

 Tại Việt Nam

Hiện nay, chất thải bệnh viện đang trở thành vấn đề về môi trường và xã hội cấp bách ở nước ta Tuy nhiên, giải quyết vấn đề này không phải một sớm một chiều

vì thực trạng quản lý chất thải đang đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Bộ Y

tế đã ban hành Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế, Quyết định này quy định rõ từng khâu phân loại, thu gom và vận chuyển lưu giữ, tiêu hủy chất thải như thế nào [5] Cho đến ngày 01 tháng 4 năm 2016 Quyết định 43 được thay bằng Thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT, về cơ bản nội dung quản lý CTRYT không thay đổi nhiều, ngắn gọn hơn và nhấn mạnh phần giảm thiểu, tái chế CTYT [9]

Nguồn kinh phí đầu tư cho công tác quản lý chất thải y tế là rất lớn Theo ước tính sơ bộ, tổng kinh phí cho toàn bộ chương trình đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải (gồm chất thải rắn, lỏng, khí) vào khoảng 1.160 tỷ đồng chưa kể chi phí cho sử dụng đất, phương tiện thu gom, vận chuyển, kinh phí vận hành và bảo trì [21] Vốn đầu tư cần được huy động từ các nguồn ngân sách Nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, nguồn giúp đỡ của các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ Hiện nay các bệnh viện có lò đốt nhưng kinh phí để mua năng lượng vận hành, để xử lý tro, để trả lương cho nhân công còn chưa được quy định rõ ràng lấy từ nguồn ngân nào Kinh phí đầu tư để thực hiện đúng quy chế quản lý chất thải là rất lớn, trong khi đó, các bệnh viện không thể tự nâng giá khám chữa bệnh để bù vào chi phí quản lý chất thải của

HUPH

Trang 34

mình Vì vậy có bệnh viện đã được trang bị lò xử lý chất thải nhưng vẫn không vận hành vì không có đủ kinh phí

Bên cạnh đó, kiến thức về quản lý chất thải trong cán bộ y tế, nhân viên trực tiếp làm công tác xử lý chất thải và bệnh nhân còn chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phân loại, thu gom, vận chuyển và tiêu hủy chất thải Một số lãnh đạo bệnh viện chưa thực sự quan tâm đến các hoạt động này Việc tuyên truyền giáo dục ý thức cộng đồng chưa sâu rộng, đôi khi dư luận qua báo chí còn làm nhân dân hoang mang, gây tâm lý quá lo sợ đối với chất thải bệnh viện từ đó gây sức ép không đáng có

lên các cơ quan quản lý chuyên ngành [21]

Môi trường thực hiện pháp chế chưa thuận lợi Mặc dù đã có luật Bảo vệ Môi trường, Quy chế quản lý chất thải nguy hại do Thủ tướng Chính phủ ban hành và Quy chế chất thải y tế do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành nhưng các văn bản pháp quy này chưa thấm sâu vào đời sống Việc thực hiện tốt Quy chế quản lý chất thải y tế mới chỉ

có ở một số ít bệnh viện, còn phần lớn các bệnh viện chưa được quan tâm đầu tư kinh phí và phương tiện để thực hiện Quy chế quản lý chất thải y tế

1.5 Hiện trạng quản lý chất thải rắn tại bệnh viện E

1.5.1 Thông tin chung về bệnh viện

Bệnh viện E là bệnh viện đa khoa Trung ương, trực thuộc Bộ Y tế, thành lập từ tháng 10/1967 theo quyết định số 175/TTg với nhiệm vụ điều trị và chăm sóc sức khỏe cho cán bộ từ chiến trường miền Nam ra Bắc chữa bệnh Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, bệnh viện chuyển sang khám, chữa bệnh cho cán bộ đóng tại

Hà nội Từ năm 1993 xóa bỏ chế độ bao cấp, bệnh viện nhận điều trị cho các đối tượng có thẻ Bảo hiểm Y tế (BHYT) Đến năm 2002 bệnh viện được Bộ y tế nâng lên bệnh viện hạng I với 340 giường bệnh [22]

Với diện tích mặt bằng 37.000m2 nằm trên địa bàn phường Nghĩa Tân, quận Cầu Giấy, Hà Nội, có thể nói đây là khuôn viên rộng so với các bệnh viện trên địa bàn như Việt Đức, Việt – Xô, Saint Paul, Thanh Nhàn…

Trải qua gần 50 năm hoạt động, đến nay bệnh viện đã phát triển thành bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh với 610 giường kế hoạch (thực kê là 828 giường) và tổng

HUPH

Trang 35

số có 42 khoa khoa lâm sàng, trong đó có 3 trung tâm chuyên môn sâu là Trung tâm Tim mạch, Trung tâm cơ xương khớp và Trung tâm tiêu hóa Bệnh viện phục

vụ khám, chữa bệnh cho nhân dân trên địa bàn Hà nội cũng như trong cả nước Đặc điểm cấu trúc của Bệnh viện: ngoài 3 Trung tâm (tim mạch, tiêu hóa, cơ xương khớp) là mới còn lại các tòa nhà cũ và xuống cấp trầm trọng Xu hướng quy hoạch và phát triển đến năm 2020 theo quyết định số 119/QĐ-BYT ngày 16/01/2012 là cải tạo và xây dựng mới toàn bộ các khu nhà cũ, đưa số giường bệnh lên 900- 1000 giường phục vụ chủ yếu cho nhân dân phía tây của Hà Nội cũng như nhân dân cả nước [30]

 Thông tin về hoạt động chuyên môn

Bảng 6: Một số hoạt động về chuyên môn

Nội dung

Chỉ số hoạt động Trong năm

1.5.2 Quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện E

Kết quả báo cáo 6 tháng một lần của Khoa kiểm soát nhiễm khuẩn và của phòng Hành chính quản trị bệnh viện E, số lượng chất thải rắn y tế phát sinh tăng dần những năm gần đây, trung bình một tháng của bệnh viện như sau: chất thải lây nhiễm

HUPH

Trang 36

3,900kg/tháng, chất thải tái chế và chất thải thông thường là 24,100 kg/tháng Thành phần và khối lượng các loại chất thải có sự khác nhau giữa các khoa phòng

HUPH

Trang 37

GĐ: Xử lý CT

Sơ đồ 1: Quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện E

HUPH

Trang 38

 Phân loại chất thải: tất cả các nhân viên trong bệnh viện đều thực hiện phân

loại các chất thải ngay sau khi chất thải phát sinh, các chất thải này được đựng trong các dụng cụ, bao bì thu gom thích hợp Vật sắc nhọn được đựng vào hộp cứng, chuyên dụng Công việc này phần lớn là do điều dưỡng thực hiện

 Thu gom chất thải: hiện nay thu gom chất thải của các khoa lâm sàng trong

bệnh viện được tiến hành bởi các nhân viên hộ lý và nhân viên của công ty vệ sinh môi trường Để đảm bảo thu gom hết lượng chất thải, tất cả các khoa trong bệnh viện đều được trang bị hệ thống các thùng thu gom có dung tích đủ lớn đảm bảo thu gom hết các loại chất thải trong ngày

 Vận chuyển chất thải: sau khi thu gom chất thải, tại mỗi khoa lâm sàng có nơi

để tập trung và lưu giữ tạm thời, rồi hộ lý và nhân viên của công ty vệ sinh môi trường thực hiện vận chuyển chất thải về nhà lưu giữ của bệnh viện Thời gian vận chuyển chất thải được tiến hành vào 4 thời điểm: 7h30 sáng, 11h30 trưa, 14h chiều và 16h30 chiều Chất thải rắn y tế tại các khoa lâm sàng được vận chuyển tập trung tại nhà lưu giữ, không để qua ngày

 Lưu giữ chất thải: các chất thải y tế được lưu giữ tại nhà lưu giữ tập trung của

bệnh viện, nhà lưu giữ chất thải thông thường không có cửa, không có người trực thường xuyên Nhà lưu giữ chất thải lấy nhiễm thì nhỏ, không có điều hòa

để bảo quản chất thải mỗi khi chất thải để quá 48h theo quy định

 Xử lý chất thải: bệnh viện không tự xử lý chất thải mà hợp đồng với công ty

môi trường (URENCO 10) xử lý, cứ hai ngày vào khoảng 21h xe của URENCO

10 vào vận chuyển đi một lần Còn công ty Tây Đô cứ thứ 6 hàng tuần vào chở chất thải tái chế 1 lần

Để thực hiện tốt công tác quản lý chất thải rắn y tế, bệnh viện đã xây dựng hệ thống các quy trình, quy định quản lý, giao cho khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn mua trang thiết bị phục vụ cho việc phân loại, thu gom và vận chuyển chất thải Phòng hành chính quản trị có trách nhiệm hợp đồng với công ty môi trường URENCO 10 để xử lý chất thải cho bệnh viện Hội đồng kiểm soát nhiễm khuẩn sẽ kiểm tra và đôn đốc việc thực thực hiện cho tốt

HUPH

Trang 39

Hiện nay công tác quản lý chất thải của bệnh viện đang tồn tại nhiều khó khăn

do thiếu kinh phí, bệnh viện đang chú trọng nhiều về phát triển chuyên môn Ngoài các kinh phí đầu tư mua sắm các dụng cụ thu gom, vận chuyển thì kinh phí chi xử lý chất thải rắn của bệnh viện ước tính khoảng 700 triệu đồng/năm Nguồn kinh phí này chiếm

tỷ trọng khá lớn trong kinh phí vận hành bệnh viện Bên cạnh đó vấn đề nhận thức và thực hành của cán bộ nhân viên y tế trong bệnh viện về công tác quản lý chất thải chưa cao, sự phối hợp trong các khâu làm việc vẫn chưa tốt điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng các hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải y tế Công tác quản lý chất thải hiện nay chưa thực sự được quan tâm đúng mức, cơ chế đãi ngộ cho nhân viên quản lý chất thải chưa tương xứng với đặc thù công việc

HUPH

Trang 40

1.6 Khung lý thuyết

Cơ sở vật chất

Trang thiết bị: Phân loại, thu

gom, vận chuyển và lưu giữ

chất thải (túi, thùng, xe,…)

Kho lưu giữ chất thải

Lối đi vận chuyển rác thải

Nhân viên

Kiến thức, thực hành, đào tạo, tập huấn, nghề nghiêp, học vấn, thâm niên công tác…

HUPH

Ngày đăng: 26/07/2023, 23:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bệnh viện E (2015), Báo cáo tổng kết năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết năm 2015 và phương hướng nhiệm vụ năm 2016
Tác giả: Bệnh viện E
Năm: 2015
2. Bộ tài nguyên và môi trường (2006), Danh mục chất thải nguy hại, Ban hành kèm theo Quyết định số 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh mục chất thải nguy hại
Tác giả: Bộ tài nguyên và môi trường
Nhà XB: Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2006
3. Bộ tài nguyên và môi trường (2015), Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT về quản lý chất thải nguy hại, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 36/2015/TT- BTNMT về quản lý chất thải nguy hại
Tác giả: Bộ tài nguyên và môi trường
Năm: 2015
4. Bộ y tế (2000), Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quản lý chất thải y tế, Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, Tr. 26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quản lý chất thải y tế, Tài liệu hướng dẫn thực hành quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2000
6. Bộ Y tế (2008), Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008 của Bộ trưởng BYT chỉ đạo tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số 7164/BYT-KCB ngày 20/10/2008 của Bộ trưởng BYT chỉ đạo tăng cường triển khai thực hiện quản lý và xử lý chất thải y tế chủ biên
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2008
7. Bộ Y tế (2009), Thông tư số: 18/2009/TT- BYT hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số: 18/2009/TT- BYT hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2009
8. Bộ Y tế (2013), Thông tư số 31/2013/ TT-BYT Quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 31/2013/ TT-BYT Quy định về quan trắc tác động môi trường từ hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện, chủ biên
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
9. Bộ Y tế và Bộ tài nguyên và môi trường (2015), Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải y tế, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 58/2015/ TTLT-BYT-BTNMT Quy định về quản lý chất thải y tế
Tác giả: Bộ Y tế, Bộ tài nguyên và môi trường
Năm: 2015
10. Trần Thị Lân và Cấn Mạnh Hùng (2010), “Đánh giá nhận thức, thực hành và chi phí cho công tác quản lý chất thải y tế rắn tại bệnh viện 105”, Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội Điều Dưỡng Việt Nam, Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà Nội, tr 134-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu đề tài nghiên cứu khoa học điều dưỡng kỷ niệm 20 năm ngày thành lập Hội Điều Dưỡng Việt Nam
Tác giả: Trần Thị Lân, Cấn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nhà xuất bản Giao thông vận tải
Năm: 2010
11. Chính phủ (2013), Nghị định số 179/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 179/2013/NĐ-CP Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2013
12. Chính phủ (2015), Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu, chủ biên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2015
13. Đồng Trung Kiên và Dương Thị Hương (2004), “Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành Y tế thành phố Hải Phòng”, Báo cáo khoa học toàn văn, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr. 714 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng tình hình vệ sinh môi trường ngành Y tế thành phố Hải Phòng
Tác giả: Đồng Trung Kiên, Dương Thị Hương
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2004
14. Hoàng Giang (2011), Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2011, Thạc sỹ, Trường Đại học y tế công cộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại các khoa lâm sàng bệnh viện hữu nghị Việt Đức năm 2011
Tác giả: Hoàng Giang
Nhà XB: Trường Đại học y tế công cộng
Năm: 2011
15. Nguyễn Thị Hoài (2014), Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đan Phượng, Thạc sĩ, Trường Đại học y tế công cộng Hà Nội.HUPH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế và kiến thức, thực hành của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Đan Phượng
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài
Nhà XB: Trường Đại học y tế công cộng Hà Nội
Năm: 2014
5. Bộ Y tế (2007), Quyết định số: 43/2007/QĐ- BYT về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế, chủ biên Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm